Chương này giới thiệu những nhóm và đơn vị đất của các nhóm: Ðất xám, đất đỏ, đất đen, đất nâu vùng bán khô hạn, đất đá bọt, đất tích vôi, đất mùn alit trên núi cao, đất Potzon, đất tầng
Trang 1Chương XVII ÐẤT VÙNG ĐỒI NÚI VIỆT NAM
bị thoái hoá xói mòn, rửa trôi, hoá chua, hình thành đá ong và sa mạc hoá (khô cằn hoá)
Kết quả nghiên cứu đất Việt Nam cho thấy vùng đồi núi gặp nhiều loại đất khác nhau, các nhóm và loại đất chính được thể hiện ở các bảng phân loại 1976, 1996 Chương này giới thiệu những nhóm và đơn vị đất của các nhóm: Ðất xám, đất đỏ, đất đen, đất nâu vùng bán khô hạn, đất đá bọt, đất tích vôi, đất mùn alit trên núi cao, đất Potzon, đất tầng mỏng
1 Nhóm đất xám (X) - Tên theo FAO - UNESCO: Acrisols(AC)
Diện tích 19.970.642 ha
Phân bố: Nhóm đất này rất phổ biến ở vùng đồi núi, ngoài ra còn gặp ở vùng giáp ranh giữa đồi núi với đồng bằng (vùng bán sơn địa) và vùng phù sa cũ
Nhóm đất xám trong bảng phân loại 1996 có nguồn gốc từ các nhóm: đất xám bạc màu, đất đỏ vàng (Feralit), đất mùn vàng
đỏ trên núi (Feralit - mùn trên núi) trong bảng phân loại đất 1976
Trang 21.1 Hình thành và phân loại
Nhóm đất xám được hình thành do sự tác động của một số quá trình: rửa trôi, tích luỹ Fe, Al; tích luỹ chất hữu cơ và mùn, hoá chua
Theo phương pháp phân loại định lượng, những đất có tầng
B Argic nằm trong nhóm đất chính Acrisols Phần lớn diện tích đất đỏ vàng, đất mùn vàng đỏ trên núi, đất xám bạc màu có tầng B Argic điển hình cùng nằm trong nhóm Acrisols
Trong bảng phân loại đất 1996, nhóm đất xám có 5 đơn vị:
- Ðất xám bạc màu điển hình (Xb) - Haplic Acrisols (ACh)
- Ðất xám có tầng loang lổ (Xl) - Plinthic Acrisols (ACp)
- Ðất xám glây (Xg) - Gleyic Acrisols (ACg)
- Ðất xám Feralit (Xf) - Ferralic Acrisols (ACf)
- Ðất xám mùn trênnúi (Xh) - Humic Acrisols (ACu)
Trang 3Hình 17.1 Hình thái đất xám bạc màu điển
hình (Nguồn: Các loại đất chính Việt Nam-
Viện Thổ nhưỡng - Nông hoá)
Ðại diện cho đơn vị đất này là phẫu diện BL4, đào tại xã Chơn Thành, huyện Bình Long, tỉnh Sông Bé Ðịa hình đồi lượn sóng, đất trồng cây điều
Cấu tạo phẫu diện:
0-19 cm: màu xám trắng (10 YR 6-7/2M); cát pha; khô; chặt; kết cấu hạt nhỏ, nhiều rễ cây điều; lẫn
ít than củi nhỏ; chuyển lớp
rõ về màu sắc
19-68 cm: màu xám vàng (10 YR 6-7/3M); khô; cát pha; chặt; nếu bóp thì tơi; ít rễ cây; kết cấu hạt to, cục hoặc tảng, có hang kiến mối
68-150 cm: màu nâu xám vàng (10 YR 8/6M); ẩm; thịt nhẹ; hơi chặt; kết cấu tảng đến hạt
Tính chất lý hoá học:
Nhìn chung, tầng đất mặt có thành phần cơ giới nhẹ, kết cấu kém, dễ bị chặt, bí, thường bị khô hạn
Ðất có phản ứng chua ít đến rất chua, pHKCl biến động từ 3,0-4,5, chủ yếu từ 4,0-4,5, hàm lượng Ca2+, Mg2+ trao đổi rất thấp Các chất dinh dưỡng tổng số và dễ tiêu rất thấp, hàm lượng mùn trong đất thấp, tầng mặt thay đổi từ 0,5 -1,5 %, mức độ
khoáng hoá diễn ra mạnh (tỷ lệ C/N<10)
Tầng B đạt các tiêu chuẩn chủ yếu của B.Argic: có ít nhất 8% sét, hàm lượng sét ở tầng B.Argic lớn hơn tầng trên 1-2 lần
Trang 4Bảng 17.1 Số liệu phân tích lý hoá học phẫu diện BL4
CEC (lđl/1 00g đất)
Cation trao đổi (lđl/100g
đất)
B
S (
% )
Thành phần
cơ giới (%)
15,
0
17,6 19
16,
6
28,4
18,
8
30,6
21,
4
29,6
Nhược điểm chính của đất xám bạc màu là chua, nghèo chất
dinh dưỡng, thường xuyên khô hạn Hướng sử dụng: trồng các
loại cây chịu hạn như ngô, khoai, sắn, lúa cạn, điều, cao su, các
cây họ đậu
b Ðất xám có tầng loang lổ (Xl) - Plinthic Acrisols (ACp)
Diện tích 221.300 ha
Phân bố: chủ yếu gặp ở vùng giáp ranh giữa đồng bằng với
vùng trung du Bắc Bộ, đất được hình thành chủ yếu trên phù sa
cổ Các địa phương gặp nhiều loại đất này là Sóc Sơn, Ðông Anh
Trang 5- Hà Nội, Mê Linh - Vĩnh Phúc, Việt Yên, Tân Yên, Hiệp Hoà - Bắc Giang
Về hình thái, lớp đất mặt có màu xám trắng hoặc xám, tầng
B có các vệt loang lổ vàng, vàng đỏ, có đặc tính plinthic điển hình Thành phần cơ giới thay đổi rất rõ theo chiều sâu phẫu diện, tầng mặt là cát pha hoặc thịt pha cát, tầng B thường là thịt mịn hoặc thịt pha sét Tầng canh tác cũng thường nghèo các chất dinh dưỡng và chua ở các mức độ khác nhau
Ðại diện cho đơn vị đất này là phẫu diện ÐA4 đào tại xã Bắc Hồng huyện Ðông Anh, thành phố Hà Nội Ðất trồng lúa, khoai tây, khoai lang
Cấu tạo phẫu diện ÐA4
0-15 cm: xám trắng (5YR 8/2M); cát pha thịt; hạt nhỏ, rời;
nhiều rễ lúa; hơi ẩm; chuyển lớp rõ
15-26 cm: Xám nâu (5YR 7/2M); thịt pha cát; cục nhỏ, chặt; còn ít rễ lúa; chuyển lớp
g đất)
CEC (lđl/100g đất)
Trang 6Ðơn vị đất này hiện được sử dụng gieo trồng nhiều loại cây khác nhau như lúa, ngô, khoai lang, sắn, thuốc lá, lạc, đậu đỗ, các loại rau Ðể cải tạo các tính chất xấu của đất cần bón đủ các loại phân theo yêu cầu của cây trồng Cung cấp đủ nước cho đất, tốt nhất là tưới bằng nước phù sa Có thể cày sâu xuống một phần tầng đế cày để lật sét và limon lên tầng canh tác
c Ðất xám glây (Xg) - Gleyic Acrisols (ACg)
Diện tích: 101.471 ha
Phân bố: gặp ở các huyện Ðông Anh, Sóc Sơn- thành phố
Hà Nội, Mê Linh-Vĩnh Phúc, Việt Yên - Bắc Giang
Ðất xám glây được hình thành từ đất xám bạc màu và được
sử dụng gieo trồng lúa nước trong thời gian dài
Tầng đất mặt có màu xám trắng khi khô, tầng B của phẫu diện có các đặc tính gleyic và plinthic, đặc tính gleyic chiếm ưu thế
Ðất có thành phần cơ giới nhẹ ở tầng canh tác (cát pha thịt hoặc thịt pha cát), không có kết cấu hay kết cấu kém bền, các tầng phía dưới có thành phần cơ giới nặng, kết cấu cục hoặc tảng
Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất nghèo, đất có phản ứng chua hoặc rất chua Nếu so với 2 đơn vị ACh và ACp thì đơn vị ACg có hàm lượng chất hữu cơ trong đất có khá hơn, tuy vậy ACg cũng là đơn vị đất có nhiều tính chất kém ở nước ta Ðại diện cho đơn vị đất này là phẫu diện HN3 đào tại xã Hiền Minh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội Ðộ cao tuyệt đối
>10 m Ðịa hình bậc thang, thoát nước tốt Ðất trồng 2 lúa 1 màu
Cấu tạo phẫu diện HN3
Trang 733-70 cm: màu loang lổ đỏ vàng (10 YR 6/8 M) và xám hơi
xanh (10 YR 7/1M); sét pha; chặt bí; dẻo; kiến trúc tảng; glây trung bình
70 - 110 cm: màu xám xanh xen ít vệt loang lổ đỏ vàng; sét
pha; ướt; có mạch nước ngầm; glây trung bình
Hình thái phẫu diện cho thấy, các tầng đất dưới tầng mặt thường bị glây ở các mức độ khác nhau
Bảng 17.3 Số liệu phân tích lý hoá học phẫu diện HN3 Ð
CEC (lđl/1 00g đất)
Cation trao đổi (lđl/100g đất)
B
S (
% )
Thành phần cơ giới (%)
40,
2
8,
2 25
43,
8
10,8
41,
0
28,8
37,6
35,
8
37,8
Ðơn vị đất này hiện tại được sử dụng gieo trồng các cây hàng năm như lúa, ngô, khoai lang Năng suất cây trồng thấp và
Trang 8không ổn định Hiệu lực các loại phân bón trên đơn vị đất này cao
d Ðất xám Feralit (Xf) - Ferralic Acrisols (ACf)
Diện tích: 14.789.505 ha
Phân bố: gặp ở hầu hết các tỉnh trung du và miền núi nước
ta
Hình thành và phân loại
Ở miền Bắc, đất xám Feralít gặp ở độ cao từ 25 m đến 900
m, miền Nam ở độ cao từ 50 - 900 m, vùng cao nguyên gặp ở độ cao 1000 m, những giới hạn về độ cao là tương đối Ở phạm vi độ cao nêu trên, bất kỳ đá mẹ nào cũng bị phá huỷ để hình thành nên đất xám Feralit, do vậy đất xám Feralit có tính chất biến động mạnh tuỳ thuộc vào đá mẹ
Trong bảng phân loại đất Việt Nam năm 1976, đất xám Feralit nằm trong nhóm đất đỏ vàng (đất Feralit)
Ðất xám Feralit được hình thành là kết quả của một số quá trình hình thành và biến đổi diễn ra trong đất như: Quá trình tích luỹ chất hữu cơ và mùn; quá trình rửa trôi, quá trình tích luỹ
tương đối Fe, Al
Sự tích luỹ hữu cơ và mùn ở tầng A (lớp đất mặt) làm cho đất có màu nâu, nâu xám, xám, xám vàng Quá trình rửa trôi dẫn tới sự tích luỹ sét ở tầng B và đất bị hoá chua do mất các chất kiềm và kiểm thổ Quá trình tích luỹ tương đối Fe, Al diễn ra điển hình nên tầng B có màu vàng, vàng đỏ, đỏ vàng Kết quả định lượng tầng B cho thấy tầng B đạt các tiêu chuẩn của B.Argic theo phương pháp phân loại định lượng của FAO -UNESCO
Quá trình tích luỹ Fe, Al là một quá trình điển hình diễn ra trong đất vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Khi nghiên cứu quá trình tích luỹ Fe, Al ở vùng nhiệt đới, các nhà khoa học đất đã chia thành 2 quá trình: quá trình tích luỹ tương đối và quá trình tích luỹ tuyệt đối
+ Quá trình tích luỹ tuyệt đối Fe, Al: đây là quá trình hình thành kết von và đá ong trong đất Ngoài sắt nhôm có sẵn trong đất còn có sắt, nhôm di chuyển từ nơi khác đến tích luỹ lại theo 2 đường chính là nước nguồn và nước ngầm Trong nước nguồn (chảy từ dưới sâu trong lòng Trái Ðất nên thường nóng) và nước
Trang 9ngầm có chứa nhiều Fe2+, khi lớp đất mặt bị khô hạn, nước ngầm
di chuyển từ dưới lên phía trên Fe2+ sẽ bị oxy hoá thành Fe3+ tích luỹ trong đất ở dạng Fe2O3 hoặc Fe2O3.nH2O Ở mức độ nhẹ tạo thành những đốm loang lổ đỏ vàng hoặc các ổ kết von đỏ vàng mềm, trong phân loại theo FAO-UNESCO được gọi là đất có đặc tính plinthic Ở mức độ điển hình, Fe2O3 và Fe2O3.nH2O tạo thành kết von sắt và đá ong, trong phân loại theo FAO - UNESCO gọi là đất có đặc tính Ferric Dựa vào hình dạng và nguyên nhân tạo kết von mà chia ra: Kết von tròn, kết von hình ống, kết von củ gừng, kết von gạc nai và kết von giả Kết von tròn có nhân ở giữa và oxyt sắt tạo thành những vòng cầu đồng tâm xung quanh nhân thường do kết tủa từ dung dịch thật Kết von sắt có màu nâu đen, đen, nếu kết von đen mềm là kết von MnO2 Kết von hình ống thường rỗng ở giữa Kết von giả là các mảnh đá hay các khoáng vật được oxyt sắt bao bọc xung quanh
Ðá ong có 3 loại: đá tổ ong, đá hạt đậu và đá phiến Thành phần chính của đá ong là oxyt và hydroxit sắt Ðá ong tổ ong rất rắn chắc thường gặp ở vùng đồi thấp tiếp giáp với đồng bằng thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hà Tây Sự xuất hiện kết von và đá ong là dấu hiệu của sự thoái hoá đất
+ Quá trình tích luỹ đất tương đối Fe, Al (còn gọi là quá trình Feralit): Sắt và nhôm được tích luỹ trong đất do sự rửa trôi các chất khác Các chất có trong đất đều bị rửa trôi, nhưng các hợp chất sắt và nhôm (dạng oxyt và hydroxit) khó bị rửa trôi hơn nên theo thời gian tỷ lệ tương đối của chúng chiếm thành phần chủ yếu trong đất Quá trình Feralit diễn ra phức tạp, trước tiên các khoáng vật và đá bị phong hoá tạo các khoáng thứ sinh là các loại keo sét, tiếp đó một phần keo sét bị phá huỷ tạo thành các hợp chất đơn giản hơn như các Oxyt Fe, Al, Si và các loại muối Các chất kiềm, kiềm thổ bị rửa trôi dễ nhất, một phần SiO2 cũng
bị rửa trôi nhưng các hợp chất của Fe, Al bị rửa trôi ít nên dần dần chiếm tỷ lệ chính trong đất Các nhà khoa học đất dựa vào tỷ
lệ SiO2/Al2O3, SiO2/Fe2O3 và SiO2/R2O3 để đánh giá quá trình Feralit, tỷ lệ càng nhỏ (theo V.M Fritland quá trình Feralit có SiO2/R2O3 2) thì quá trình Feralit diễn ra càng mạnh
Trang 10Quá trình Feralit diễn ra rất điển hình ở vùng đồi núi Việt Nam để hình thành nên đát Feralit có màu vàng, vàng đỏ hay đỏ vàng
Cùng với quá trình Feralit, một phần sét bị rửa trôi từ tầng A xuống tích luỹ ở tầng B Những kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy hầu hết đất đỏ vàng Việt Nam có tầng B.Argic nên nằm
trong nhóm đất chính Acrisols (theo giáo sư Vũ Cao Thái và cộng
sự, khoảng 90 % diện tích đất Feralit ở Việt Nam nằm trong nhóm Acrisols)
Ðất xám Feralit hình thành trên nhiều loại đá mẹ khác nhau nên có tính chất biến động rất mạnh và phụ thuộc khá chặt chẽ vào đá mẹ
Dựa vào đá mẹ và quá trình biến đổi, đất xám Feralit được chia thành 5 đơn vị phụ sau:
- Ðất xám Feralit phát triển trên đá sét và biến chất (Xfs)
- Ðất xám Feralit phát triển trên đá macma axit (Xfa)
- Ðất xám Feralit phát triển trên đá cát (Xfq)
- Ðất xám Feralit phát triển trên phù sa cổ (Xfp)
- Ðất xám Feralit biến đổi do trồng lúa nước (Xfe)
b Một số đơn vị phụ của đất xám Feralit
Do diện tích của đất xám Feralit rất lớn, để thấy
rõ sự biến động tính chất của đất, phần này mô tả một số đơn vị phụ của đất trên đá mẹ khác nhau:
Ðất xám Feralit phát triển trên đá phiến sét (Xfs):
Diện tích: 6.876.430
ha
Phân bố: Việt Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn, Tây Nguyên
Hình 17.2 Hình thái đất xám
Ferralit trên đá phiến sét
Trang 11Ðá mẹ: đá sét, đá phiến biến chất, gnai, phiến mica
Ðây là đơn vị phụ có diện tích lớn nhất trong đất xám
Feralit
a/ Cấu tạo phẫu diện:
Phẫu diện có đủ 3 tầng A, B, C; tầng B tích sét và có đặc tính của B.Argic khá điển hình
Phẫu diện TQ9 đào tại xã Yên Nguyên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, đá mẹ phiến sét, độ dốc chung 20-250, đất trồng chè, thoát nước tốt
0-25 cm: màu đỏ vàng (5 YR 5-4/2M), thịt pha sét; ẩm, không chặt, cục bé, xốp, nhiều rễ cây; chuyển lớp rõ về độ chặt 25-65 cm: màu đỏ vàng (2,5 YR 5/6M), thịt nặng; ẩm; hơi chặt; còn nhiều rễ cây; cục lớn; chuyển lớp không rõ
65-125 cm: màu đỏ (2,5 YR 5/8M); thịt nặng pha sét; ẩm; rắn chắc; cấu trúc tảng lớn; còn ít rễ cây
b/ Tính chất đất:
Ðất này có thành phần cơ giới trung bình và nặng, thường
có kết cấu cục, lớp đất mặt khá tơi xốp Ðộ dốc thay đổi từ
15-30o, tầng dầy xung quanh 1m
Hàm lượng mùn khá, nhưng các chất dinh dưỡng khác như lân và kali tổng số và dễ tiêu ở mức nghèo, riêng đất trên phiến thạch mica có hàm lượng kali tổng số và dễ tiêu ở mức khá Phản ứng của đất chua và rất chua, độ no bazơ < 50 %
Bảng 17.4: Số liệu phân tích lý, hoá học phẫu diện TQ9
CEC (lđl/100g đất)
Cation trao đổi (lđl/100g đất)
BS (%
on Sét 0-
21,3 1,8 0,2
9,0
0
19,5
10,
98
20,4
28,
84
25,9
4 45,
22
Trang 12Ðất xám Feralit phát triển trên đá macma axit Ferralic Acrisols:
(Xfa)-Diện tích: 4.464.747
ha Phân bố: gặp ở nhiều tỉnh như: Lào Cai, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Nam, Tây Nguyên
Ðá mẹ: chủ yếu là granit, riolit, phoocphia thạch anh
a/ Cấu tạo phẫu diện:
Phẫu diện điển hình
có đủ 3 tầng A, B, C
Phẫu diện QT14 đào gần cầu Dakrong, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị Ðộ cao nơi đào phẫu diện 400 m, sườn dốc 25 o Thảm thực vật gồm cỏ tranh, sim mua, lau lách
Ðá mẹ granit
0-20 cm: màu nâu vàng (10
YR 4/6M); cát pha; hơi chặt; nhiều rễ cỏ tranh; rời rạc; chuyển lớp rõ về màu sắc Hình 17.3 Hình thái đất xám Feralit
trên đá granit
Trang 1320-50 cm: màu nâu vàng (7,5 YR 5/4M); cát pha; ẩm; chặt; hạt thạch anh nhỏ (khoảng 20 %); còn ít rễ cây; chuyển lớp từ
từ về màu sắc
50-110 cm: màu nâu vàng tươi (7,5 YR 5/6M); cát pha limon; ẩm; chặt; hạt thạch anh nhỏ 30-50 %; cấu trúc rời rạc; còn ít rễ cây
b/ Tính chất đất:
Ðất này có thành phần cơ giới nhẹ, thường có kết cấu kém hoặc không có kết cấu, tầng đất mỏng do dễ bị rửa trôi
Hàm lượng mùn thấp, P2O5 tổng số và dễ tiêu thấp, K2O tổng số và trao đổi thấp, đất có phản ứng chua và rất chua, đơn vị đất này kém hẳn đơn vị Xfs
Bảng 17.5 Số liệu phân tích lý, hoá học phẫu diện QT14
CEC (lđl/10 0g đất)
Cation trao đổi (lđl/100g đất)
BS (
% )
Thành phần cơ giới (%)
Trang 14Ðất xám Feralit phát triển trên đá cát (Xfq) - Ferralic Acrisols (ACf)
Diện tích: 2.651.337
ha Phân bố: Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Quảng Bình, các tỉnh Tây Nguyên
Ðá mẹ: cát kết các loại, quăczit, phiến silic Ðơn vị đất này có một số tính chất chung như sau: thành phần cơ giới nhẹ, tỷ lệ cát trong đất cao, đất không có kết cấu hoặc kết cấu rất kém Tầng đất mỏng, độ dày thường <1
số và dễ tiêu rất thấp (0,02 -0,06% và 0,5-8,4 mg/100g đất), K2O tổng số và trao đổi thấp và trung bình Ðất có phản ứng rất chua,
pHKCl từ 3,8 - 4,3 Tóm lại đất xám Feralit phát triển trên đá cát có nhiều tính chất khá giống đất xám Feralit phát triển trên đá
Hình 17.4 Hình thái đất xám Feralit phát triển
trên đá cát (Nguồn: Các loại đất chính Việt
Nam- Viện Thổ nhưỡng - Nông hoá)
Trang 15Ðất xám Feralit phát triển trên phù sa cổ (Xfp) -
Ferralic Acrisols (ACf)
Diện tích: 455.402 ha
Phân bố: Nơi tiếp giáp giữa đồng bằng với trung du và miền núi Phía Bắc gặp ở các tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Tây Phía Nam gặp
ở Ðông Nam Bộ như tỉnh Ðồng Nai, Tây Nguyên gặp ở Ðắc Lắc
a/ Cấu tạo phẫu diện:
Ðại diện cho đơn vị đất là phẫu diện D.54 đào tại xã Tân Tiến, huyện Krông Pắc, tỉnh Ðắc Lắc Ðất trồng lạc, ngô, điều Ðịa hình lượn sóng, thoát nước tốt, độ dốc 8o
0-30 cm: màu nâu xám (7,5 YR 3/2M); ẩm; thịt pha cát; khá xốp;
bở tơi, hạt rời; ranh giới tầng đất rõ ràng Chuyển lớp rõ về màu sắc, từ từ về độ chặt và độ xốp
30-50 cm: màu nâu vàng (7,5 YR 5/4M); ẩm; chặt; thịt pha limon; xốp; rất bở; kết cấu hạt nhỏ
50-80 cm: Màu nâu vàng (7,5 YRR 5/4M); thịt pha limon; ẩm; xốp; bở; kết cấu hạt tời; chuyển lớp từ từ
80 - 120 cm: màu nâu vàng (7,5 YR 6/6M); thịt pha limon; ẩm; xốp; bở; kết cấu hạt rời
Ở những vùng khác nhau cấu tạo nên phẫu diện
có những nét khác nhau khá
rõ Ví dụ: ở phía bắc, trong tầng B thường có kết von sắt, thậm chí gặp đá ong, điều này chứng tỏ trong đất
đã diễn ra cả quá trình tích luỹ tuyệt đối Fe Những bằng chứng về nguồn gốc phù sa cổ, lũ tích cổ còn để
Hình 17.5 Hình thái đất xám Feralit trên phù
sa cổ (Nguồn: Các loại đất chính Việt Nam-
Viện Thổ nhưỡng - Nông hoá)
Trang 16lại trong đất thường là tầng cuội sỏi tròn nhẵn có kích thước khác nhau và có thành phần không giống đá gốc
b/ Tính chất đất:
Ðất có thành phần cơ giới nhẹ, kết cấu kém hoặc không có kết cấu, tầng đất mặt dễ bị rửa trôi hay xói mòn nên hàm lượng cấp hạt sét ở tầng dưới cao hơn tầng đất mặt
Ðất có phản ứng chua, độ no bazơ thường <50 %
Hàm lượng mùn thấp xấp xỉ 1%, P2O5 tổng số và dễ tiêu rất thấp, K2O tổng số và trao đổi cũng rất thấp
Bảng 17.6 Số liệu phân tích lý, hoá học phẫu diện D.54
CEC (lđl/10 0g đất)
Cation trao đổi (lđl/100
g đất)
BS (
% )
56
Trang 175
Trên đất này hiện đã được sử dụng vào sản xuất nông lâm nghiệp với hàng loạt các loại cây trồng khác nhau như chè, ngô, khoai, lúa nương, cà phê và trồng rừng Chú ý chống xói mòn
và bón bổ sung các loại phân bón cho cây trồng nông nghiệp
e Ðất xám mùn trên núi (Xh) - Humic Acrisols (ACu)
đỏ trên núi cao trong bảng phân loại đất theo phát sinh của Việt Nam
Trên bản đồ đất tỷ lệ 1/1.000.000 đơn vị đất này được chia thành:
- Ðất xám mùn trên núi phát triển trên đá phiến sét Humic Acrisols (ACu)
(Xhs) Ðất xám mùn trên núi phát triển trên đá philit (Xhp)(Xhs)
(Xhp)-Humic Acrisols (ACu)
- Ðất xám mùn trên núi phát triển trên đá macma axit Humic Acrisols (ACu)
Tính chất đất
Lấy đơn vị đất xám mùn trên núi phát triển trên macma axit đại diện cho đất xám mùn trên núi
Cấu tạo phẫu diện đất:
Ðại diện cho đơn vị đất này là phẫu diện LC25 đào tại đỉnh đèo Fanxipan, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, rừng tự nhiên, độ dốc
20o
0-25 cm: màu xám đỏ thẫm (7,5 YR 4/1M); thịt pha limon; kết cấu hạt có đường kính 1-2mm, khá xốp; chuyển lớp từ từ
Trang 1825-42 cm: màu xám đỏ thẫm; thịt pha limon; kết cấu viên đường kính 1-2mm; không chặt; khá xốp (15-40 %); chuyển lớp từ
Thay đổi thuỳ thuộc vào đá gốc và vị trí khác nhau Nếu đá
mẹ là phiến sét thì đất có thành phần cơ giới nặng, nếu là đá
macma axit đất có thành phần cơ giới trung bình và nhẹ
Hàm lượng mùn trong đất cao, lân tổng số cao, lân dễ tiêu giàu, kali tổng số và trao đổi thay đổi tuỳ thuộc vào đá mẹ Ðất phát triển trên đá phiến philit có hàm lượng kali tổng số và dễ tiêu rất cao
CEC (lđl/1 00g đất)
Cation trao đổi (lđl/10 0g đất)
B
S (
% )
Trang 19Ðất xám mùn trên núi hiện được sử dụng trồng rừng là chủ yếu, ngoài ra có thể trồng một số cây trồng nông nghiệp như lúa nương, ngô, các loại cây ăn quả hoặc trồng cỏ để chăn nuôi Chú
2.1 Hình thành, phân loại, tính chất chung của nhóm
Ðất đỏ được hình thành trên nhiều loại đá mẹ khác nhau như bazan, điabaz, gabro, đá vôi Ðất đỏ gặp ở nhiều dạng địa hình khác nhau: cao nguyên lượn sóng, dốc thoải, dốc và chia cắt mạnh
Những quá trình chính hình thành nên đất: quá trình tích luỹ chất hữu cơ và mùn; quá trình rửa trôi; quá trình tích luỹ tương đối Fe, Al Quá trình tích luỹ sắt nhôm diễn ra rất điển hình, các hợp chất sắt ở tầng A át cả màu đen của mùn làm cho đất có màu
đỏ, đỏ nâu, nâu đỏ suốt phẫu diện Tầng B tích luỹ sét những có các đặc tính của B Ferralic nên đất nằm trong nhóm Ferralsols theo phương pháp phân loại định lượng của FAO-UNESCO Trong phân loại theo phát sinh, đất đỏ nằm trong nhóm đất
đỏ vàng (đất Feralit) với các tên như đất đỏ trên đá bazan, đất đỏ trên đá vôi Trong phân loại theo FAO-UNESCO, nhóm đất đỏ
có 3 đơn vị: