1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa lạm phát và sức mạnh tài chính ngân hàng trung ương – mở rộng mô hình ở việt nam

94 676 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ giữa Lạm phát và Sức mạnh Tài chính Ngân hàng Trung ương – Mở rộng Mô hình ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế tài chính
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghiệm gần đây tranh luận rằng các NHTW cần duy trì một mức độ vừa đủ về sức mạnh tài chính để thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả và để đạt được các mục tiêu chính sách tiền

Trang 1

nghiệm gần đây tranh luận rằng các NHTW cần duy trì một mức độ vừa đủ về sức mạnh

tài chính để thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả và để đạt được các mục tiêu

chính sách tiền tệ cho nên trong bài nghiên cứu này, tác giả tập trung kiểm định mối quan

hệ thực nghiệm giữa CBFS và lạm phát ở các quốc gia mới nổi và các quốc gia phát triển

bằng cách sử dụng dữ liệu bảng không cân đối cho chọn mẫu thử Và từ đó, họ thấy rằng

có một mối quan hệ nghịch biến và có ý nghĩa thống kê giữa CBFS và lạm phát Ngoài ra,

tác giả nhấn mạnh rằng kết quả mà họ đề suất rằng việc tránh tổn thất kéo dài và việc duy

trì sự lành mạnh trong bảng cân đối kế toán của NHTW sẽ trở thành một điều kiện quan

trọng trước tiên cho các kết quả mong muốn từ chính sách của NHTW

Trang 2

Tóm tắt 1

Giới thiệu 2

1.Tổng quan nghiên cứu trước đây 5

1.1 Lý thuyết về CBFS 5

1.2 Mối quan hệ lạm phát và CBFS 7

1.3 Tổng quan các nghiên cứu 11

1.4 Lựa chọn mẫu 17

1.5 Các biến và mô hình 21

1.6 Phương pháp ước lượng 27

2.Các kết quả thực nghiệm và nghiên cứu 36

2.1 Thống kê mô tả và bằng chứng sơ bộ 36

2.2 Mô hình ước lượng 37

3.1 Lựa chọn mẫu 48

3.2 Các biến quan sát 50

3.3 Mô hình 53

3.4 Các kết quả thực nghiệm và thảo luận: 57

3.4.1 Thống kê mô tả và bằng chứng sơ bộ: 57

3.4.2 Mô hình ước lượng 59

3.5 Kết luận 73 3.6 Ưu điểm và Hạn chế Error! Bookmark not defined.

Trang 3

Tóm tắt

Ở bài nghiên cứu này tác giả cho rằng CBFS thường bị bỏ qua trong quá khứ mà đặc biệt là trong giai đoạn ổn định về tài chính Tuy nhiên, các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm gần đây tranh luận rằng các NHTW cần duy trì một mức độ vừa đủ về sức mạnh tài chính để thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả và để đạt được các mục tiêu chính sách tiền tệ cho nên trong bài nghiên cứu này, tác giả tập trung kiểm định mối quan

hệ thực nghiệm giữa CBFS và lạm phát ở các quốc gia mới nổi và các quốc gia phát triển bằng cách sử dụng dữ liệu bảng không cân đối cho chọn mẫu thử Và từ đó, họ thấy rằng

có một mối quan hệ nghịch biến và có ý nghĩa thống kê giữa CBFS và lạm phát Ngoài ra, tác giả nhấn mạnh rằng kết quả mà họ đề suất rằng việc tránh tổn thất kéo dài và việc duy trì sự lành mạnh trong bảng cân đối kế toán của NHTW sẽ trở thành một điều kiện quan trọng trước tiên cho các kết quả mong muốn từ chính sách của NHTW

Trang 4

Giới thiệu

Trong một khoảng thời gian dài trước đây, tài chính NHTW đã không được coi trọng1 vì một số nguyên nhân sau đây:

o Một mặt, mọi người từng nghĩ rằng NHTW về cơ bản khác với doanh

nghiệp tư nhân và do đó họ không cần yêu cầu bất cứ sức mạnh tài chính nào

o Mặt khác, một số quan điểm cho rằng NHTW không bị giới hạn và có khả năng không tốn chi phí trong việc phát hành nội tệ, cục ngân khố luôn đứng sau NHTW với quyền lực của mình theo luật định thuế  NHTW bị hiểu

lầm là 1 định chế tài chính vững mạnh, không thể sụp đổ

o NHTW không quan trọng với nền kinh tế vĩ mô, nó có yếu kém hay không cũng không ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu đề ra

Tuy nhiên, trong vòng vài thập niên vừa qua, hệ thống NHTW đã trải qua nhiều thay

đổi quan trọng (Sweidan, 2011) Một mặt, do ngày càng độc lập, NHTW đã có nhiều

quyền lực hơn trong việc ban hành các chính sách Hơn thế nữa, vai trò của NHTW ngày nay tập trung nhiều vào các chính sách ổn định vĩ mô, đặc biệt là các mục tiêu ổn định tài

chính (Goodhart,2011) Mặt khác, cũng trong vài thập niên ấy, rất nhiều NHTW đã phải

trải qua những khó khăn tài chính do thất bại nặng nề trong việc điều hành hoạt động và định giá Cụ thể, NHTW của các nước mới nổi đã thể hiện sự suy giảm trầm trọng này lên các bảng cân đối kế toán của họ2 Những khó khăn tài chính này đã làm gia tăng các vấn

đề nghiêm trọng liên quan đến việc tiến hành chính sách tiền tệ của NHTW và hiệu quả của các chính sách này Đặc biệt, các nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù những thay đổi nhỏ hay những chuyển biến nhất thời ở trong các điều kiện tài chính của NHTW là không đáng

kể, tuy nhiên những vấn đề tài chính quan trọng khi bị thay đổi sẽ làm suy giảm khả năng thực hiện chính sách cũng như hạn chế sự chọn lựa các chính sách sẵn có của một NHTW

2 Ở châu Mỹ Latinh, châu Á, châu Phi, Đông Âu và Trung Âu, NHTW đã phải đối mặt với sự khủng hoảng tài

chính nghiêm trọng (Stella và Lonnberg, 2008) Ngoài ra, nhìn chung thì các nước mới nổi phải đối mặt với những thiệt hại lớn(Sweidan và Maghyereh, 2006)

Trang 5

Quan trọng hơn là điều kiện tài chính yếu kém sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả của các chính sách mà NHTW đưa ra3 (Cukierman, 2008; Stella, 1997,2008)

Chính vì sự bỏ qua CBFS này đã dẫn đến một vài hậu quả xấu cho nền kinh tế và ảnh

hưởng đến tính hiệu quả của hệ thống NHTW cũng như là các chính sách tiền tệ.(Sweidan,

2011) Do đó, các điều kiện tài chính của NHTW đã được quan tâm nhiều hơn trong

những tài liệu gần đây Với sự phát triển trong hệ thống NHTW như hiện nay, để giảm thiểu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thì một bảng báo cáo tài chính rõ ràng và lành

mạnh được xem là khá quan trọng và cần thiết (Dalla Pellegrina và cộng sự 2013) Tuy

nhiên, mặc dù CBFS và việc thực thi các chính sách của nó gần đây đã được đánh giá là một vấn đề quan trọng nhưng lĩnh vực này phần lớn vẫn chưa được nghiên cứu sâu rộng

Một mặt, như Jeanne and Svensson(2007) đã nói, trong khi những người đứng đầu NHTW

dường như không quan tâm đến vấn đề này thì nó cũng không được nghiên cứu nhiều trong các tài liệu học thuật Mặt khác, mặc dù có một vài bài nghiên cứu về vấn đề này, ví

dụ như là Ize(2007) và Stella(2005,2008) cho thấy rằng tài chính NHTW yếu kém sẽ ảnh

hưởng bất lợi đến tính hiệu quả của việc thi hành những chính sách, tuy nhiên thì mối quan

hệ giữa CBFS và hiệu quả các chính sách vẫn chưa được rõ ràng và đang còn nhiều tranh cãi Điều này một phần là do số lượng bằng chứng kinh tế về mối quan hệ này vẫn còn

khá ít ỏi (Kluh và Stella, 2008) Trong bối cảnh đó, sự thiếu sót tồn tại trong các nghiên

cứu về CBFS và kết quả các chính sách là động lực chủ yếu thúc đẩy tác giả nghiên cứu sâu về vấn đề này

Thực tế các bài nghiên cứu trước đây như (Sweidan và Maghyereh, 2006) đã cho

thấy rằng NHTW của các nước mới nổi còn khá nhiều lỗ hổng và yếu kém Sự yếu kém này là do điều kiện tài chính của các NHTW và sự độc lập của chính ngân hàng đó phần

lớn là có liên quan với nhau (Cukierman, 2008) Hơn nữa rõ ràng là CBFS của một quốc

3 Sức mạnh tài chính cũng rất quan trọng để duy trì sự độc lập và uy tín của NHTW (Cargill, 2006; Sweidan

và Maghyereh, 2006) và để tránh vỡ nợ kỹ thuật tiềm ẩn (Stella và Lonnberg, 2008 )

Trang 6

gia phần lớn đã bị ảnh hưởng bởi chính chế độ tỷ giá hối đoái và chính sách tiền tệ áp dụng tại chính quốc gia đó4

Chính vì vậy mà bài nghiên cứu này sẽ tập trung giải quyết 4 câu hỏi sau:

- Có mối quan hệ nào giữa CBFS và việc kiểm soát lạm phát hay không?

-Liệu CBFS có tác động đến toàn bộ việc kiểm soát lạm phát hay không?

-Có gì khác nhau giữa các nước phát triển và các nước mới nổi về mức độ độc lập của NHTW hay không?

-Chế độ tỷ giá và chính sách tiền tệ khác nhau giữa các quốc gia có ảnh hưởng gì đến mối quan hệ này hay không?

Nói tóm lại, thông qua 4 câu hỏi này, tác giả sẽ trình bày kết quả thực nghiệm và cho thấy rằng có một mối quan hệ nghịch biến mạnh mẽ giữa CBFS và lạm phát Mối liên hệ giữa CBFS và lạm phát không phải do phát sinh từ nội lực hay từ những đặc điểm không

ai chú ý của một quốc gia Điều này đã được thể hiện rõ khi tác giả tiến hành sử dụng nhiều phương pháp ước lượng khác nhau Kết quả và kết luận về việc nghiên cứu này của tác giả sẽ giúp ích cho các cơ quan có liên quan và đặc biệt là cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế ở các nước mới nổi trong quá trình hoạch định tốt hơn chính sách tiền tệ

để tiến hành theo đuổi một nhiệm vụ quan trong đó là ổn định giá cả Đặc biệt, nghiên cứu của tác giả cho rằng các nhà hoạch định chính sách nên sớm nhận thức sự cần thiết để duy trì sức khỏe tài chính của bảng cân đối kế toán NHTW cho việc ổn định giá cả lâu dài Cuối cùng, tác giả ngụ ý rằng các biện pháp nhằm giảm tổn thất cũng như gia tăng sức mạnh tài chính của NHTW sẽ giúp giảm lạm phát

4

Có ý kiến cho rằng các nước mới nổi yêu cầu mô hình riêng biệt vì những vấn đề cơ bản và đặc biệt của chính mình như là các tổ chức tài chính và các chính sách tài chính yếu kém, sự tín nhiệm thấp đối với các tổ chức tiền tệ, hồ sơ xấu liên quan đến việc tiến hành các chính sách tiền tệ, dễ bị tổn thương đối với những thay đổi lớn

trong luân chuyển vốn… (Frankel, 2010; Sweidan,2010) Cũng có ý kiến cho rằng các lý thuyết áp dụng cho các

quốc gia tiên tiến, phát triển và có kinh nghiệm sẽ không áp dụng được ở các quốc gia mới nổi vì những vấn đề riêng

biệt chỉ có ở các quốc gia này (Sweidan and Widner, 2008) Những lập luận này cho thấy sự cần thiết để ước lượng

một mô hình riêng biệt cho các nước mới nổi Chúng tôi đặc biệt cảm ơn các đề nghị của trọng tài kinh tế về các điều kiện để áp dụng chính sách tiền tệ và sắp xếp tỷ giá hối đoái cũng như xem xét mức độ độc lập của NHTW trong việc phân tích mẫu con

Trang 7

1.Tổng quan nghiên cứu trước đây

1.1 Lý thuyết về CBFS

Các định chế tài chính phải duy trì một trình độ sức mạnh tài chính thích hợp, nói cách khác một mức độ vốn phù hợp để có thể đương đầu với bất kỳ thiệt hại nào khi đối mặt với các nghĩa vụ (nợ) tài chính Tuy nhiên, tầm quan trọng sức mạnh tài chính của

NHTW là không rõ ràng và cũng không được định nghĩa đầy đủ (Cargill, 2005) Thật vậy,

như đã đề cập ở trên, tài chính NHTW đã bị lãng quên trong một thời gian dài do nhiều lý

do Một mặt, mọi người từng nghĩ rằng NHTW về cơ bản khác với doanh nghiệp tư nhân

và do đó họ không cần yêu cầu bất cứ sức mạnh tài chính nào (Stella, 1997) Mặt khác,

một số quan điểm cho rằng NHTW không bị giới hạn và có khả năng không tốn chi phí

trong việc phát hành nội tệ (Goodhart,1999: Greenspan , 1997), cục ngân khố luôn đứng sau NHTW với quyền lực của mình theo luật định thuế (Stella and Lonnberg, 2008),

NHTW không có rủi ro của trường hợp không thể trả nợ… đã dẫn đến việc coi nhẹ các điều kiện tài chính của NHTW Thật vậy, NHTW đã thu được các khoản lợi nhuận truyền thống và chỉ có một trường hợp NHTW bị phá sản5 Mọi người cũng từng cho rằng tài chính NHTW là không quan trọng trong nền kinh tế vĩ mô và vì vậy, dẫu cho, NHTW yếu kém về mặt tài chính, nó cũng không ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu đặt ra Ví dụ, bất chấp những tổn thất trong thời gian dài, ngân hàng nhà nước Séc đã cáo buộc rằng lạm phát mục tiêu vẫn thành công

Tuy nhiên, NHTW cần phải có sức mạnh tài chính đủ mạnh vì một số lý do như sau Thứ nhất, giống như các định chế tài chính khác, NHTW có thể chịu các tổn thất do thua

lỗ thuần từ hoạt động kinh doanh và tổn thất thuần do đánh giá gây mất cân bằng bảng cân đối kế toán6 Thứ hai, mặc dù NHTW được đặc quyền tạo ra nợ tiền tệ để đáp ứng các

5 Một số trường hợp, NHTW không thể đáp ứng các chức năng cơ bản của chính mình do khủng hoảng tài

chính yêu cầu họ phải thay đổi chính sách để giảm thiểu tổn thất (Stella and Lonnberg, 2008) Trường hợp xấu nhất,

NHTW Philippines bị lâm vào tình thế bắt buộc giải thể và sau đó, năm 1993, một tổ chức mới, tức Bangko Sentral

ng Philippas (BSP) được thành lập theo “đạo luật NHTW đổi mới 1993”

6 Khó khăn tài chính có thể phát sinh do một số nguyên nhân như : giảm thuế lạm phát ( thu nhập từ thuế đúc tiền), tiến hành các hoạt động tiền tệ trong các điều kiện khó khăn, can thiệp vào các hoạt động ngoại hối để quản lý

tỷ giá hối đoái và gia tăng dự trữ ngoại hối, thực hiện các hoạt động tiền tệ dựa vào chứng khoán NHTW, mua một số

Trang 8

nghĩa vụ tài chính, từ góc độ kinh tế vĩ mô, có thể không đáng tin cậy khi phát hành tiền không giới hạn giống như thanh khoản quá mức gây ra các căn bệnh kinh tế vĩ mô bao gồm tăng trưởng nóng và áp lực lạm phát Vì vậy, tiền in ấn đem tài trợ cho những tổn

thất của NHTW là mâu thuẫn với các mục tiêu của chính sách tiền tệ (Sweidan, 2011)

Thứ ba, cục ngân khố hậu thuẫn có thể không phù hợp hoặc không phải một giải pháp đáng tin cậy Một mặt, cục ngân khố không can thiệp thường xuyên , hay nói cách khác là

không đúng thời điểm (Stella and Lonnberg, 2008)7 Mặt khác, sự giúp đỡ của chính phủ (trong các hình thức tái cấp vốn) có thể không phù hợp khi nó liên quan đến việc chuyển

giao nguồn lực tài chính cho NHTW (Stella, 1997) Cuối cùng, mặc dù NHTW không phải

là một tổ chức hoạt động vì lợi nhuận, nhưng nó không thể thua lỗ liên tục vì sẽ ảnh hưởng

đến hiệu quả và sự liên tục các chính sách của NHTW (Sweidan, 2011) Nói cách khác

NHTW đòi hỏi phải có một mức độ tài chính nhất định để cam kết các chính sách mục tiêu

được đưa ra là đáng tin cậy (Stella, 2005)

Sức mạnh tài chính của một NHTW rất khó để đo lường, đặc biệt là khi sử dụng một

số chỉ báo tiêu chuẩn riêng lẻ do nó phụ thuộc vào cấu trúc tài sản, chi phí cung cấp dịch

vụ tiền tệ, và các sự kiện kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTW (Cargill,

2006) Tuy nhiên, theo truyền thống, tài chính NHTW đã được bàn luận dựa trên mức độ

và cấu trúc vốn của NHTW (Stella, 1997) Vì vậy, CBFS chủ yếu được gọi là vốn

NHTW Tuy nhiên, cách đo lường vốn thông thường (đo lường theo kế toán) không cung cấp một thước đo đủ ý nghĩa hay bao quát hơn thước đo CBFS Điều này là do thuật ngữ sức mạnh tài chính liên quan đến năng lực tài chính tổng thể của NHTW để đạt được các chính sách mục tiêu và do đó, không chỉ đơn giản là một khoản mục trên bảng cân đối kế

toán Hơn nữa, theo Cargill (2005), cấu trúc vốn không xác định tình trạng sở hữu và cũng

không hàm ý sự độc lập của NHTW và do đó, là một thước đo CBFS không hiệu quả chủ

lượng lớn tài sản có lợi nhuận thấp trong giai đoạn sụt giảm giá trị tài sản và giảm phát kéo dài, thực hiện các hoạt

động bán tài chính khổng lồ, quá nhiều lợi nhuận chuyển cho chính phủ (Ize, 2007; Klüh and Stella, 2008; Stella

and Lonnberg, 2008; Sweidan, 2011; Sweidan and Maghyereh, 2006)

7 Trong lịch sử, chính phủ đã không hỗ trợ tài chính kịp thời cho NHTW Lý do là khó khăn của NHTW có quan hệ mật thiết với khó khăn tài chính và dường như nguyên nhân gốc rễ bắt nguồn từ các hoạt động bán tài chính

bị áp đặt bởi cục ngân khố (Stella, 2008)

Trang 9

yếu là do sự tồn tại các khoản nợ tiềm tàng Do đó, vốn thông thường là một số liệu thống

kê tóm tắt thiếu sót và gây hiểu nhầm cho CBFS (Stella, 2008)

Ngược lại, vốn ròng được coi là chỉ số hiệu quả hơn cho CBFS bởi nó tính vào khoản mục giá trị nhượng quyền của NHTW (giá trị pháp lý đặc biệt của NHTW cho phép in tiền

và áp dụng dự trữ bắt buộc đối với ngân hàng thương mại), và xem xét đến quyền và nghĩa

vụ ngoài bảng cân đối kế toán của NHTW (Bindseil và cộng sự 2004) Do đó, mặc dù lợi

nhuận không phải là mục tiêu chính của NHTW, thì lợi nhuận và các khoản lỗ vẫn là các yếu tố quan trọng quyết định giá trị ròng của NHTW8 Hơn nữa, để xác định chính xác CBFS cần chú ý đến hoạt động của NHTW đặc biệt là khi tài khoản không minh bạch Cho mục đích này, ‘các khoản mục ròng khác’ (OIN) trên bảng cân đối kế toán của

NHTW cho thấy bức tranh phù hợp hơn (Stella, 2008) OIN là mục còn lại sau khi tính

đến các mục tài sản ( tài sản nước ngoài , các khoản quyết toán của NHTW, các khoản quyết toán của chính phủ, quyết toán của tổ chức tài chính , và các khoản quyết toán của khu vực tư nhân , vv), và các mục tránh nhiệm pháp lý ( tiền dự trữ , nợ nước ngoài , tiền gửi chính phủ, chứng khoán của nhà chức trách tiền tệ , vv.) Do đó, OIN bao gồm tài khoản đánh giá lại , giá trị ròng , vốn đầu tư ban đầu , dự trữ và tài sản hữu hình , và do đó, gồm các tài khoản phản ánh các khoản lỗ lũy kế hoặc dự trữ 'ẩn' Mặc dù có những tranh luận rằng OIN gồm những đặc điểm riêng nên không thể so sánh giữa các quốc gia, nhưng chúng ta vẫn mong muốn sử dụng nó vì nó bao gồm những thay đổi định giá và dự trữ,

được sử dụng như một chứng khoán đệm để bảo vệ nguồn vốn NHTW(Adler và cộng sự

2012) Trong phần tiếp theo, tác giả sẽ tiếp tục thảo luận về OIN dựa trên những đo lường

CBFS với lợi nhuận

Trang 10

đó lạm phát cao sẽ là một dấu hiệu rõ ràng cho sự thất bại của chính sách này Dù vậy, lạm phát cao lại là một nhân tố làm gia tăng doanh thu của NHTW thông qua thu nhập từ thuế đúc/in tiền hàm ý rằng có một đường truyền tiềm ẩn giữa mục tiêu vượt qua khủng hoảng tài chính của NHTW và kết quả của chính sách Nói cách khác, một NHTW có thể thiên

về việc cho phép mức lạm phát cao hơn để khôi phục những khoản lỗ Ví dụ, Vaez-Zadeh

(1991) đã cho thấy rằng các tài sản không mang lại thu nhập xuất hiện càng nhiều trong

bảng cân đối kế toán của NHTW thì động lực thúc đẩy NHTW tạo ra các “vụ nổ lạm phát bất ngờ” nhằm bù đắp cho các khoản lỗ của nó càng mạnh Điều này ngụ ý rằng tài chính của NHTW yếu ớt thì trực tiếp ảnh hưởng lên kết quả lạm phát

Tuy nhiên, như đã trình bày trong Klüh and Stella (2008), mối quan hệ lý thuyết

giữa sức mạnh tài chính NHTW (CBFS) và kết quả kinh tế vĩ mô (lạm phát) vẫn còn là

một đề tài đang được tranh luận Theo Klüh and Stella, ta có thể tranh luận rằng hầu như

không xuất hiện mối liên kết giữa các điều kiện tài chính của NHTW, chính sách tiền tệ và kết quả kinh tế vĩ mô; do đó, người ta có thể xem chúng như là những phán đoán không

thích hợp Nhằm xác định những góc nhìn về tính độc lập của CBFS, Klüh and Stella

(2008) đã áp dụng hai cách tiếp cận: (i) cách tiếp cận thực tiễn và (ii) xem xét về mặt lý

thuyết mối liên kết giữa CBFS và hiệu quả chính sách

Cách tiếp cận thực tiễn nhấn mạnh rằng với sự quan tâm của người đứng đầu NHTW về sức khỏe tài chính các định chế của họ, hạn chế tài chính có tiềm năng làm giảm đi sự gay gắt của chính sách chống lạm phát Bên cạnh đó, nó có thể dẫn đến các nỗ lực nhằm chuyển chi phí thu hồi lượng thanh khoản vượt trội trong hệ thống tài chính, do

đó gây ra một ảnh hưởng đối nghịch lên sự phát triển tài chính Cùng với đó, một vài động lực chẳng hạn như hành động vụ lợi của các nhân viên NHTW (ví dụ: vì danh tiếng, uy tín

và những cơ hội nghề nghiệp trong tương lai của họ) cùng với ý định tạo nên một dòng doanh thu ổn định từ thuế đúc/in tiền, có thể dẫn đến nhân tố CBFS, đặc biệt là trong các quyết định về chính sách tiền tệ Hơn thế, một bảng cân đối kế toán yếu có khả năng làm suy yếu mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và quyền lực khác, đặc biệt là ảnh hưởng đến độc lập tài chính của NHTW Dù sao điều này cũng dẫn đến giả định rằng độ mạnh tài

Trang 11

chính của NHTW là một sản phẩm phụ của vị thế tài khoá thống trị Với ý nghĩa đó, một bảng cân đối kế toán yếu của NHTW có thể được xem như là hậu quả hoặc chỉ báo cho một vấn đề cơ bản hơn, nghĩa là sự bất lực của chính phủ trong việc tự tài trợ một cách bền

vững Trong bối cảnh này, Klüh and Stella (2008) tranh luận rằng mối quan hệ thực

nghiệm giữa CBFS và hiệu quả chính sách có thể chỉ là giả mạo vì chúng sẽ chỉ đơn thuần phản ánh sự tương quan giữa nguyên nhân thực tế gây ra lạm phát và CBFS

Tuy nhiên, một thử nghiệm gần hơn cho thấy có một mối liên kết mạnh mẽ giữa CBFS và kết quả kinh tế vĩ mô, đặc biệt là lạm phát Về mặt lý thuyết, đang cố gắng liên kết CBFS với hiệu quả chính sách, thì hữu ích trong việc xác định quan hệ này Với kết

quả đó, qua việc thảo luận các kênh lý thuyết, Klüh and Stella (2008) lần đầu tiên tóm tắt

những cách thức mà một NHTW thua lỗ đang có thể sử dụng khi cục ngân khố không bơm vốn vào Lựa chọn đầu tiên, một NHTW có thể dựa vào những phương pháp có khuynh hướng hạ chi phí của hoạt động tiền tệ Ví dụ, các NHTW có thể dựa vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc tối thiểu hơn là các công cụ và hoạt động tiền tệ và nó sẽ tương đồng với việc thích ứng các chính sách áp chế tài chính Một lựa chọn thứ hai là sử dụng khả năng tạo ra tiền của NHTW nhằm chi trả cho các nghĩa vụ Dù vậy, nếu việc tạo ra thanh khoản dư thừa thông qua in tiền như vậy không được khử sạch , lãi suất trên thị trường tiền tệ sẽ giảm và kích thích áp lực lạm phát tăng thêm Hơn thế, xét ngược lại, nếu NHTW hút vào thanh khoản thừa tổng thể bằng cách phát hành các chứng chỉ nợ, nó sẽ phải gánh chi phí lãi suất tăng thêm và tiềm tàng sự thua lỗ nhiều hơn Cho nên các cản trở về mặt tài chính của NHTW có tiềm năng làm giảm sự gay gắt của các chính sách chống lạm phát và cũng làm giảm độc lập tài chính của NHTW, gây nên rủi ro lớn hơn khi can thiệp vào chính sách tiền tệ

Tổng hợp lại, những tranh luận của Klüh and Stella (2008) đã ủng hộ cho quan điểm

một NHTW có tình hình tài chính yếu sẽ phải đối mặt với những khó khăn trong việc đạt được cân bằng lạm phát thấp thông qua thực thi chính sách tiền tệ hiệu quả Tương tự,

Sweidan and Kalaji (2005) tranh luận cách thức chính sách tiền tệ trở nên không hiệu quả

khi NHTW thua lỗ hoạt động lớn trong quá trình hoạt động và giới hạn khả năng bù đắp

Trang 12

một cú sốc tổng cầu Sims (2005) cũng tranh luận rằng mối quan tâm về mức độ nguồn

vốn của NHTW có thể dẫn đến cân bằng siêu lạm phát tự thực hiện Điều này xảy ra khi NHTW quan tâm đến thuế in tiền và do đó không dám nâng lãi suất đủ cao để giảm đi số

dư tiền danh nghĩa giữa những con đường giá bùng nổ Mặc dù ảnh hưởng trực tiếp lên

lạm phát không được thử nghiệm, Adler và cộng sự (2012) vẫn cho thấy rằng việc xem xét

bảng cân đối kế toán tác động đến điều hành chính sách tiền tệ Đặc biệt, họ tranh luận rằng CBFS có thể là một nhân tố đáng kể giải thích cho độ lệch lãi suất âm lớn so với mức

tối ưu Hơn thế, Jeanne and Svensson (2007) đã kiểm tra cách mà bảng cân đối kế toán

liên quan đến NHTW có thể góp phần tạo ra lạm phát kỳ vọng Theo đó, các mệnh đề cung cấp một nền tảng cho giả định CBFS và lạm phát có quan hệ nghịch biến

Một vài nghiên cứu trước đây cố gắng thử nghiệm mối quan hệ giữa lạm phát và

CBFS Ví dụ, bằng cách cung cấp một vài chứng cứ của nhiều quốc gia, Stella (2005), bài nghiên cứu theo sau bài Stella (2003), cho thấy rằng lạm phát trung bình thì cao hơn ở

những quốc gia có NHTW yếu về tài chính Đặc biệt, lạm phát trung bình ở các quốc gia

có NHTW yếu về mặt tài chính thì cao gấp hai lần (23.8%) so với lạm phát trung bình ở những quốc gia có NHTW mạnh về tài chính (11.2%)9 Tương tự, sử dụng một ví dụ và số

liệu khác về các khoản thua lỗ của NHTW Ize (2007) định nghĩa sức mạnh tài chính dựa

trên lợi nhuận cấu trúc và cho thấy rằng các quốc gia có NHTW thua lỗ báo cáo mức độ lạm phát cao hơn gần 3 lần so với quốc gia có NHTW có lãi (9.2% so với 3.4% trong năm 2003)

Tuy nhiên, bằng chứng kinh tế lượng liên quan đến mối quan hệ giữa lạm phát và CBFS lại cực kỳ giới hạn Nghiên cứu của Klüh and Stella (2008) xuất hiện như là nỗ lực đầu tiên nhằm mô hình hóa mối quan hệ giữa lạm phát và CBFS trong bối cảnh thực tế Chẳng hạn sử dụng một mẫu thử ở các nước Mỹ Latin, quanh vùng Caribe và cũng như những vùng lãnh thổ giữa các quốc gia này, họ phát hiện rằng có một mối quan hệ nghịch

9 Các quốc gia có tổng vốn đầu tư và các khoản tiền ròng trong bảng cân đối kế toán của NHTW bị âm vào năm 1992, 1997 và 2004 bị xem như là các NHTW “yếu” và ngược lại tổng các khoản trên dương thì được gọi là NHTW mạnh về tài chính

Trang 13

biến giữa CBFS và hậu quả lạm phát Tuy nhiên, nghiên cứu của họ còn vài hạn chế, đặc biệt là hạn chế về mặt kiểm tra và số liệu cho một mẫu thử lớn của các quốc gia, buộc họ phải phục thuộc vào dữ liệu ở các vùng ven Cũng còn các vấn đề tồn đọng về tính hợp lý trong phương pháp ước lượng của họ

Tổng hợp lại, nhằm kiểm định thực nghiệm mối quan hệ nghịch biến giữa CBFS và lạm phát, nghiên cứu của các tác giả đã tập trung vào ba khía cạnh đặc biệt Đầu tiên, tác giả kiểm chứng mối quan hệ giữa CBFS và kết quả lạm phát bằng cách sử dụng một bộ dữ liệu mảng cho mẫu thử của các quốc gia được lựa chọn Họ cũng tiến hành ước lượng các mẫu thử phân tán dựa trên các phân loại khác nhau, xem xét mức độ phát triển, mức độ độc lập của NHTW, chế độ chính sách tiền tệ được áp dụng cũng như sự điều hành tỷ giá hối đoái Thứ hai, nghiên cứu này sẽ tìm kiếm các định thức quan trọng và sâu hơn về lạm phát Thứ ba, các tác giả đã vận dụng hầu hết các phương pháp xác định phù hợp nhằm thiết lập mối liên kết mạnh mẽ giữa CBFS và lạm phát

1.3 Tổng quan các nghiên cứu

Nhóm chúng tôi đã tìm ra được khoảng 20 Papers (bài đầy đủ) của nhiều tác giả khác nhau nói về những nội dung liên quan đến bài nghiên cứu về sức mạnh tài chính của NHTW Sau đây chúng tôi xin tóm tắt lại 1 số paper điển hình được sắp xếp theo năm như sau:

Năm 1997, Peter Stella trong bài nghiên cứu “Do Central Banks Need Capital” –“Tại sao

Ngân hàng Trung ương lại cần vốn” đã đề cập rằng Ngân hàng trung ương các nước

thường xuyên phải đối mặt với sự thất thoát điều này gây cản trở cho sự kiểm soát hiệu quả của chính sách tiền tệ Tài liệu này đề cập đến khái niêm “Nguồn vốn ngân hàng trung ương” và những điều kiện cần thiết mà ngân hàng trung ương cần để cấu trúc tài chính Mặc dù nguồn vốn ngân hàng trung ương như là quy ước xác nhận nhưng những ngân hàng trung ương yếu kém luôn dẫn tới thất thoát, và tình trạng mất giá như một chính sách đầu tiên, một sự suy tàn trong hệ thống ngân hàng trung ương và các chính sách trong hệ

Trang 14

thống tài chính Các nghiên cứu cũng xem xét các vấn đề liên quan quan trọng trong các ngân hàng trung ương Đặc biệt, phương pháp kế toán thích hợp trong việc xác định lợi nhuận ngân hàng trung ương, mất mát và các quy định về việc chuyển giao kết quả hoạt động của ngân hàng trung ương cho ngân khố cũng được đề cập Nó lưu ý rằng phương thức kế toán trình bày khác nhau sẽ phù hợp để giải quyết các câu hỏi khác nhau Và kết quả, không có một giải pháp có thể đáp ứng tất cả các yêu cầu Do đó, ngân hàng trung ương cần phải minh bạch một số quan điểm hiện tại bằng cách sử dụng phương pháp kế toán thích hợp, duy trì sự lành mạnh của bảng cân đối kế toán nhằm tránh những khoản tổn thất không đáng có trong hoạt động của mình

Năm 2003, Peter Stella, đề tài nghiên cứu “Why central banks need financial strength”

nhằm tìm hiểu “Tại sao NHTW cần sức mạnh tài chính” Trong bài nghiên cứu tác giả đưa

ra câu hỏi “Ngân hàng trung ương có cần vốn không?” và khi các nghiên cứu bắt đầu hình thành thuật ngữ vốn NHTW đã trở thành trở ngại cho những suy nghĩ rõ ràng hơn Trên thực tế cụm từ này được cung cấp rất ít và nếu có thì chỉ định hướng trong thế giới thực - một thế giới mà một số ngân hàng trung ương báo cáo vốn tiêu cực trong hai thập niên liên tiếp nhưng rất sống động và vẫn đi vào hoạt động, nhưng một số NHTW khác có báo cáo tích cực về vốn có thể không đủ khả năng để mua tiền giấy mới và cuối cùng bị khai trừ khỏi ngân hàng quốc gia cho sự thất bại để giải quyết nợ của mình bằng tiền mặt Do đó các tác giả quyết định tránh sử dụng từ “Vốn” cho những sự phù hợp ở quy mô lớn hơn vì thế đã dẫn đến cụm từ “Thế mạnh tài chính” Thế mạnh tài chính bao hàm một nghĩ rộng hơn và đầy đủ hơn thể hiện không chỉ lớn mạnh về vốn mà còn về uy tín của NHTW đối với xã hội

Năm 2004, Vikesh Gokal and Subrina Hanif, tác phẩm “Relationship between inflation

and economic growth” nghiên cức mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng GDP Với

mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô là duy trì mức tăng trưởng GDP cao đồng thời kiểm soát lạm phát ở mức thấp Tuy nhiên, mục tiêu này khó có thể đạt được vì có một sự đối nghịch giữa lạm phát và tăng trưởng GDP

Trang 15

Trong bài nghiên cứu tác giả xem xét lại các lý thuyết kinh tế khác nhau trong mối quan

hệ giữa lạm phát và tăng trưởng GDP Các lý thuyết về cung trong kinh tế cổ điển nhấn mạnh nhu cầu cho người tiêu dùng để tiết kiệm và đầu tư nếu nền kinh tế quốc gia phát triển Học thuyết của Keynes cung cấp mối quan hệ cung cầu, một mô hình toàn diện hơn liên kết lạm phát với sự tăng trưởng Các trường phái tiền tệ cũng nhấn mạnh về vai trò của tăng trưởng tiền tệ để xác định lạm phát

Bài nghiên cứu cũng tìm hiểu các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng mối tương quan nghịch yếu tồn tại giữa lạm phát và tăng trưởng GDP, trong khi luôn có sự thay đổi khoảng cách về đầu cơ của các nhà đầu tư Tác động giữa 2 biến lạm phát và tăng trưởng GDP đi theo một chiều hướng từ tăng trưởng GDP đến lạm phát

Lạm phát có thể dẫn đến sự không chắc chắn về lợi nhuận tương lai của các dự án đầu tư (đặc biệt là khi lạm phát cao sẽ dẫn đến sự tăng giá Lạm phát cũng có thể cắt giảm lợi thế cạnh tranh quốc tế của các quốc gia bằng cách làm cho hàng hóa xuất khẩu trở nên đắt hơn

do đó ảnh hưởng đến cán cân thanh toán Hơn nữa lạm phát có thể tương tác với hệ thống thuế để ảnh hưởng đến các quyết định vay và mượn Các công ty có thể phải đánh đổi nhiều nguồn lực để tác động đến lạm phát Ví dụ, cảnh giác hơn với trong việc điều chỉnh giá của các đối thủ cạnh tranh để thấy rằng nếu có một sự tăng trưởng trong một phần của

xu hướng lạm phát trong nền kinh tế hoặc tác động của nên công nghiệp sản xuất Mục đích nghiên cứu ý nghĩa liên kết giữa lạm phát và tăng trưởng GDP Một vài bài luận cung cấp một vài sự thật thầm kín bổ ích trong ảnh hưởng của lạm phát lên tăng trưởng Ưu tiên của lạm phát Fiji trở nên quan trọng, ảnh hưởng đến các yếu tố nội địa ( giá lao động và phạm vi khoảng cách sản lượng) bị hạn chế

Năm 2005, Sweidan, Osama và Fadwa Kalaji trong bài nghiên cứu “The central bank

cost constraint and output−inflation variability: a note on Cecchetti and Ehrmann 2000”-

“Hạn chế chi phí ngân hàng trung ương và sự biến động đầu ra lạm phát: Một lưu ý đối với mô hình của Cecchetti và Ehrmann 2000” đã mở rộng mô hình của Cecchetti và Ehrmann 2000 để nghiên cứu trường hợp của các nước đang phát triển hạn chế trong việc

Trang 16

thực hiện chính sách tiền tệ Trái với mô hình của Cecchetti và Ehrmann 2000, mô hình

của cho thấy tồn tại sự hạn chế như hạn chế về chi phí, tức là cho phép các cú sốc tổng cầu ảnh hưởng đến sự thay đổi đầu ra lạm phát Bài viết này cho thấy sự tồn tại của những hạn chế trong việc thực hiện chính sách tiền tệ, tức là chi phí chính sách tiền tệ cao dẫn đến hoặc là một biên giới hiệu quả dốc hơn hoặc hiệu quả mơ tưởng Điều này có nghĩa chính sách tiền tệ không hiệu quả, tác động của nó để bù đắp cú sốc tổng cung và tổng cầu giảm Phân tích lý thuyết này góp phần làm sáng tỏ trên thực tế các nước đang phát triển thông qua một chương trình điều chỉnh kinh tế với một chính sách tiền tệ bị hạn chế không thể kiểm soát đầu ra và biến động lạm phát hiệu quả Hơn nữa, cuộc chiến chống lạm phát trong những trường hợp như vậy là cực kỳ tốn kém

Trong khi bằng chứng nghiên cứu rõ ràng cho thấy rằng trường hợp ngân hàng trung ương yếu về mặt tài chính có thể cản trở việc thực hiện chính sách hiệu quả, câu hỏi liệu sức mạnh tài chính của ngân hàng trung ương có ảnh hưởng đến hiệu quả chính sách hay không vẫn còn gây tranh cãi Điều này một phần là do thiếu bằng chứng kinh tế lượng

Năm 2005, Peter Stella nghiên cứu đề tài “Central Bank Financial Strength,

Transparency, and Policy Credibility” sức mạnh của NHTW, sự minh bạch, sự tin cậy

chính sách đã trình bày 3 lý do tại sao vấn đề sức mạnh tài chính bị bỏ qua trong quá khứ Đồng thời nhấn mạnh sức mạnh tài chính ngân hàng trung ương (sự độc lập tài chính) sẽ góp phần tạo ra uy tín cho các chính sách của NHTW (sự uy tín ảnh hưởng đến kì vọng và

do đó có tầm quan trọng sống còn đối với sự hoạch định chính sách) Phương pháp nghiên cứu này là thảo luận về cả giá trị thực nghiệm và lý thuyết của các vấn đề sức mạnh tài chính ngân hàng trung ương có sử dụng mô hình minh hoạ điểm cho vấn đề tái cấp vốn và

do đó để nâng cao sự tín nhiệm các chính sách của NHTW sức mạnh tài chính phải được tăng lên

Năm 2008, Ulrich Klüh and Peter Stella đã trình bày một bước đầu tiên để hướng tới lấp

đầy điều thiếu sót này, bằng cách cung cấp một đánh giá định lượng về mối quan hệ giữa các thước đo sức mạnh tài chính ngân hàng trung ương và hiệu quả chính sách, đặc biệt là

Trang 17

trong quá trình lạm phát Họ đã đề cập trong bài nghiên cứu “Central Bank Financial

Strength and Policy Performance: An Econometric Evaluation” – “Sức mạnh tài chính của Ngân hàng Trung ương và hiệu quả thực hiện các chính sách: Một đánh giá về kinh

tế lượng” đã phát hiện rằng thực sự có một mối quan hệ nghịch biến giữa sức mạnh tài

chính ngân hàng trung ương và kết quả lạm phát Bằng việc sử dụng một tập dữ liệu bảng (Panel data – mô hình GMM) bao gồm 15 quốc gia ở khu vực Mỹ Latinh và vùng Caribbean trong giai đoạn 1987-2005 Đặc biệt, tăng ổn định giá cả đôi khi đi kèm với sự gián đoạn lớn trong lĩnh vực tài chính, với giả định ngân hàng trung ương có một lượng lớn tài sản không minh bạch, tiếp tục làm suy yếu cấu trúc bảng cân đối kế toán của họ Kết quả kinh tế phù hợp với trường hợp bằng chứng nghiên cứu và cho rằng tài chính ngân hàng trung ương yếu có thể thực sự tác động tiêu cực đến khả năng các nhà hoạch định chính sách đối phó hiệu quả với áp lực lạm phát Các nhà hoạch định chính sách trong nước hiện đang đối mặt với những khoản lỗ liên tục của ngân hàng trung ương , điều này

có nghĩa rằng những nỗ lực để mang khả năng tài chính ngân hàng trung ương trở lại trên một cơ sở an toàn có thể sẽ có chi phí tài chính mà thường đi kèm với nỗ lực tái cơ cấu vốn ngân hàng trung ương Hơn nữa, các nghiên cứu trong tương lai sẽ phải gỡ rối tốt hơn các cấu trúc phức tạp của nguyên nhân và hiệu ứng chủ yếu là do thiếu sự độc lập của ngân hàng trung ương, khả năng kết hợp với sự chi phối tài chính dẫn đến CBFS thấp, hay CBFS bản thân là một trong những yếu tố quyết định quan trọng về chính trị và độc lập kinh tế

Năm 2009 – 2010, Một nghiên cứu khác của nhóm tác giả Zouhair Chrigui, Younes

Boujelbene và Ghrissi Mhamdi, “Central Bank Independent and Inflation” về “Sự độc lập ngân hàng trung ương và lạm phát: Bằng chứng từ các nước mới nổi” Bài nghiên cứu đo

lường các chỉ số về sự độc lập trên pháp lý và trong thực tế của Ngân hàng Trung ương

thông qua việc áp dụng phương pháp Cukierman (1992) và Jacome (2001) Tác giả thực

hiện một phân tích mô tả và so sánh lạm phát tương đối cho các nước Maghreb được thiết

kế để kiểm tra sự giảm xu hướng lạm phát Tuy nhiên, đóng góp thực sự là nghiên cứu về mối tương quan giữa sự độc lập thực tế và xu hướng lạm phát, được thực hiện trên một

Trang 18

mẫu các nước mới nổi với một ước tính bảng trong giai đoạn 1971-2004 Sự độc lập Ngân hàng Trung ương dường như là giải pháp thể chế giúp cải thiện phúc lợi xã hội, nói cách khác nó có thể giải quyết vấn đề xu hường lạm phát (the inflationary bias) Do đó, tác giả

đã kiểm tra rằng Tunisia có một vị trí quan trọng liên quan đến cuộc đấu tranh chống lạm phát so với các nước Maghreb khác Sau đó, trong điều kiện hiệu quả, tác giả đã chắc chắn

về sự biến mất của xu hướng lạm phát (the inflationary bias) Cuối cùng, kiểm tra các mối quan hệ nhân quả giữa sự độc lập thực tế, lạm phát và các biến kinh tế vĩ mô khác trong một mẫu bảng của 40 quốc gia mới nổi và đang phát triển đã cho thấy một sự tương quan dương và không có ý nghĩa giữa hai biến, thực tế lạm phát là kết quả của mối tương quan giữa một số biến kinh tế vĩ mô hơn là sự độc lập ngân hàng trung ương dù hợp pháp hay thực tế

Năm 2011, Sami Alpanda và Adam Honig đề cập đến vai trò của sự độc lập của NHTW

đối với các chế độ thiết lập mục tiêu lạm phát trong bài nghiên cứu “The impact of central

bank independence on the performance of inflation targeting regimes”- “Tác động từ sự độc lập của NHTW đến chế độ thực hiện mục tiêu lạm phát” Tác giả áp dụng mô hình

GMM đối với dữ liệu của 44 quốc gia có nền kinh tế mới nổi và 22 quốc gia phát triển trong giai đoạn 1980-2006 nhằm kiểm nghiệm lợi ích của mục tiêu lạm phát, từ đó đưa đến kết luận rằng một mức CBI thấp có thể khuếch đại được lợi ích của mục tiêu lạm phát tại các quốc gia mới nổi, như thay đổi về thể chế tài chính hoặc cải thiện đáng kể điều kiện kinh tế vĩ mô Tuy nhiên về lâu dài, một mức CBI thấp sẽ làm hạn chế các tác động tích cực của mục tiêu lạm phát Mặt khác, tác giả còn cho rằng bằng cách thắc chặt các khuôn khổ tài chính và tăng cường CBI tại các quốc gia có CBI thấp sẽ góp phần phát huy các hiệu ứng có lợi từ việc áp dụng mục tiêu lạm phát vào nền kinh tế

Năm 2012, Ahmad Jafari Samimi, Saman Ghaderi và Ramezan Hosseinzadeh, Younes

Nademi trong bài nghiên cứu “Openness and inflation: New empirical panel data evidence” – “Mở cửa và lạm phát: Bằng chứng thực nghiệm dữ liệu bảng mới” tác giả đã

xem xét các giả thuyết của Romer (1993) là lạm phát thấp hơn trong nền kinh tế mở tại những quốc gia phát triển và đang phát triển trong giai đoạn 1990-1999 và 2000-2009 Bài

Trang 19

nghiên cứu này sử dụng 2 phương pháp đo lường mở cửa thương mại: phương pháp truyền thống và phương pháp đo lường mở rộng hơn ở phạm vi toàn cầu hóa nền kinh tế (chỉ số KOF) Bằng cách sử dụng mô hình pooled OLS, Fixed effects model (FEM), random effects modle (REM) cùng với kiểm định Chow and Hausman tác giả đã thấy rằng: Với cách đo lường truyền thống hai nhóm nước và hai giai đoạn chỉ ra rằng có một mối tương quan dương đáng kể giữa mở của thương mại và lạm phát, điều này là mâu thuẫn với giả thuyết Romer (1993) Tuy nhiên , kết quả ước lương khi dùng chỉ số KOF lại phát hiên ra rằng toàn cầu hóa kinh tế hơn sẽ làm giảm lạm phát, điều này thì giống với giả thuyết được chỉ ra bởi Romer (1993)

Phương pháp thực nghiệm

1.4 Lựa chọn mẫu

Tác giả sử dụng các dữ liệu hằng năm cho một nhóm các quốc gia được lựa chọn cho quá trình phân tích thực nghiệm Việc lựa chọn các quốc gia mẫu và thời kì mẫu phụ thuộc vào tính chất sẵn có cũng như tính chắc chắn và so sánh được của dữ liệu Mẫu không đồng nhất bao gồm các quốc gia phát triển (Úc, Đức, New Zealand, Singapore, Hàn Quốc

và Mỹ), các quốc gia mới nổi đến từ Châu Mỹ Latinh (Argentina, Brazil, Chile và Mexico); các quốc gia Đông Á (Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan) và các quốc gia Nam Á (Ấn Độ, Nepal, Pakistan và Sri Lanka) Tác giả phân loại những đất nước này đều dựa theo một số các điều kiện sau:

a) Dựa vào mức độ độc lập của NHTW (CBI), như Các quốc gia có CBI thấp (Argentina, Brazil, Chile, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Hàn Quốc, Sri Lanka và Thái Lan); các quốc gia có CBI cao (Úc, Đức, New Zealand, Singapore, Mỹ,

Mexico, Indonesia, Malaysia, Philippines và Anh)10

b) Cách thức quản lý việc thực hiện chính sách tiền tệ, chẳng hạn như các quốc gia có chính sách tiền tệ định hướng lạm phát (Úc, Đức, New Zealand,

Trang 20

Singapore, Mỹ, Mexico, Indonesia, Malaysia và Philippines); các quốc gia có chính sách tiền tệ định hướng không lạm phát (Argentina, Brazil, Chile, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Hàn Quốc, Sri Lanka và Thái Lan)

c) Dựa vào sự sắp xếp tỷ giá hối đoái, chẳng hạn như các quốc gia với sự sắp xếp tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn (Úc, Chile, Mexico, Thái Lan và Mỹ) và sự sắp xếp chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi không hoàn toàn bao gồm chế độ cố định và thả nổi có kiểm soát (Úc, Brazil, Đức, Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Nepal, New Zealand, Pakistan Philippines, Singapore và Sri Lanka)

Table 1: Bảng các quốc gia mẫu

CBI cao

Argentina, Brazil, Chile, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Hàn Quốc, Sri Lanka và Thái Lan

Úc, Đức, New Zealand, Singapore,

Mỹ, Mexico, Indonesia, Malaysia, Philippines và Anh

Trang 21

lạm phát mục tiêu không lạm phát

Úc, Đức, New Zealand, Singapore, Mỹ, Mexico, Indonesia, Malaysia và Philippines

Argentina, Brazil, Chile, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Hàn Quốc, Sri Lanka và Thái Lan

Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái

thả nổi hoàn toàn

Tỷ giá hối đoái

thả nổi không hoàn toàn

Úc, Chile, Mexico, Thái Lan và

Mỹ

Úc, Brazil, Đức, Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Nepal, New Zealand, Pakistan Philippines, Singapore và Sri Lanka

Mẫu này tác giả đưa ra vào giai đoạn 1996 – 2008 và tác giả đã cố ý loại trừ những ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, điều mà đã gây ra một sự sai lệch lớn trong cán cân của NHTW bởi vì việc đo lường chính sách tiền tệ không theo quy ước11 Trong khi tác giả sử dụng dữ liệu hằng năm, các dữ này có thể bị ảnh hưởng bởi tính tuần hoàn

và không ổn định Một vài nghiên cứu (Ví dụ: Beck và Levine, 2004; Beck và các cộng sự., 2000; Bobba và Coviello, 2007; Falk, 2006; Levine và các cộng sự., 2000; Rioja và Valev, 2004 và một số tác giá khác) sử dụng chu kì trung bình 5 năm trong khi đó một

nghiên cứu khác (Juhn và cộng sự 1993) sử dụng chu kì trung bình 3 năm Không những thế, một nghiên cứu (Devarajan và các cộng sự (1996)) đề xuất tầm quan trọng của việc

sử dụng trung bình di động để tăng chuỗi thời gian quan sát trong bảng dữ liệu

Table 3: Cách xử các lý biến theo thời gian

Beck và Levine, 2004; Beck và các cộng

sự., 2000; Bobba và Coviello, 2007; Falk,

Chu kì trung bình 5 năm

11

Việc mở rộng bảng cân đối kế toán có thể được quan sát bắt đầu từ năm 2009 và do đó, một ảnh hưởng khá lớn không được xem xét đối với năm 2008 Cùng thời điểm hiện tại, mặt dù tác giả đã nghiên cứu mô hình gồm cả năm 2008, nhưng một sự khác biệt trọng yếu đã không được tìm thấy Tuy nhiên, một tranh cãi rằng thời kì sau năm

2008 thì nhiều điểm chú ý hơn với sự quan tâm đến CBFS và tập trung nhiều hơn vào nhu cầu được thay thế trong thời kì hậu khủng hoảng (the post – crisis)

Trang 22

dữ liệu kinh tế vĩ mô

không ổn định của các biến Duy trì chuỗi thời gian thích hợp cho kích thước mẫu

Cuối cùng, đa số nghiên cứu sử dụng dữ liệu vĩ mô đều chọn trung bình di động 5 năm (Ví dụ: Devarajan và các cộng sự., 1996; Lamont, 1998) hoặc trung bình di động 3 năm (Oliner và Sichel, 2000; Tella và đồng sự., 2001) để loại bỏ yếu tố nhiễu và từ đó đưa

ra những kết quả chắc chắn hơn về mặt kinh tế Một cách khác, Tella và đồng sự (2001)

đề xuất rằng loại bỏ yếu tố nhiễu trong dữ liệu là một cách đặc biệt thích hợp cho dữ liệu kinh tế vĩ mô và trung bình di động 3 năm dẫn đến việc cung cấp kết quả đầy thú vị về mặt kinh tế Theo đó, tác giả sử dụng trung bình di động 3 năm để giới hạn tính không ổn định của các biến trong khi đó vẫn duy trì chuỗi thời gian thích hợp cho kích thước mẫu và từ

đó đưa ra những kết quả chắc chắn hơn về mặt kinh tế12

Tác giả khôi phục lại dữ liệu từ nhiều nguồn: thống kê tài chính quốc tế (IFS) của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF; các chỉ số phát triển của Ngân hàng thế giới WB; dữ liệu của Bankscope Bureau van Dijk và từ các NHTW tương ứng Dữ liệu cho CBI (tỷ lệ thay đổi

người đứng đầu NHTW) vẫn được sử dụng trực tiếp từ Dreher và đồng sự (2008)

12 Tác giả cảm ơn các tác giả đã đề xuất sử dụng các ước lượng trung bình để thu được các ảnh hưởng từ trung đến dài hạn; các ảnh hưởng bên ngoài chu kì và sự chuyển động cùng chiều

Trang 23

1.5 Các biến và mô hình

Để đánh giá thực nghiệm mối quan hệ giữa CBFS và lạm phát, đầu tiên tác giả làm

rõ mô hình hồi quy 2 biến và áp dụng một mô hình mở rộng bao gồm hàng loạt các biến kiểm soát Các biến phụ thuộc là logorit tự nhiên của tỷ lệ lạm phát thực (CPI_INF) được

đo lường bởi biến động chỉ số giá tiêu dùng hàng năm13 Điều này gây nên tranh cãi rằng việc sử dụng tỷ lệ lạm phát thực có thể tạo ra các phương sai khác nhau bởi vì sự hiện diện của các yếu tố lạm phát cao từ bên ngoài Do đó, các cuộc thực nghiệm trước đây, ví dụ

như của: Chrigui và cộng sự (2011), Cukierman và cộng sự (1992) và Klüh and Stella

(2008) giới thiệu một thước đo hiệu chỉnh cho tỷ lệ lạm phát Thước đo này bằng tỷ lệ lạm

phát thực chia cho một cộng tỷ lệ lạm phát thực tăng thêm, dao động từ 0 – 1, nó có thể hiểu là tỷ lệ sụt giảm sức mua Tác giả ước lượng mô hình sử dụng các tỷ lệ lạm phát được hiệu chỉnh này, tuy nhiên tác giả lại không thấy bất kỳ độ lệch đáng kể nào từ kết quả tỷ lệ lạm phát thực Do đó, tác giả tin tưởng vào tỷ lệ lạm phát thực hơn là thước đo hiệu chỉnh cho lạm phát Phương pháp của tác giả gần giống với cách tiếp cận đã sử dụng trong

nghiên cứu thực nghiệm ban đầu, ví dụ, Aisen and Veiga (2006) kiểm định mối quan hệ giữa bất ổn chính trị và lạm phát trong khuôn khổ dữ liệu bảng

Ngay từ đầu, tác giả đã kiểm chứng 4 thước đo khác nhau của CBFS được đề xuất

bởi Klüh and Stella (2008) với quan điểm để lựa chọn ra sự ủy quyền thích hợp cho biến

giải thích chính Đầu tiên, tác giả xem xét lợi nhuận trên tài sản trung bình (ROAA) của một NHTW một cách trực tiếp sẵn có của nhiều nước trong hệ thống dữ liệu Bankscope Trong khi phương pháp dựa trên ROAA (CBFS1,t) có vẻ là một thước đo đại diện cho CBFS, ta thấy một khoảng biến thiên lớn của độ phủ và nó cũng có thể nắm bắt những khác biệt trong báo cáo tài chính Chính vì việc không thể so sánh ở trên nên tác giả đã tập trung vào một số cách đo lường khác Theo đó thì một thước đo CBFS được xác định dựa

13 Theo như hướng dẫn từ những nghiên cứu trước, ví dụ, Cukierman và cộng sự (1992), tác giả cũng đã cố

gắng hoàn thành mô hình lạm phát có tính biến thiên Nhưng tác giả không quan sát mối quan hệ bền chặt và chắc chắn giữa CBFS và sự biến thiên lạm phát Vì vậy, tác giả tiếp tục tập trung vào mối quan hệ giữa CBFS và mức độ lạm phát

Trang 24

trên vốn của NHTW và các khoản mục báo cáo trong những tài khoản không minh bạch của NHTW, nghĩa là các khoản ròng khác (OIN), được cho ở phương trình (1)

Trong đó, CBFS2,t là thước đo chứng khoán của CBFS, được biểu diễn bằng tổng của nguồn vốn NHTW (CBCi) và các khoản thu nhập ròng khác (OINi) được đo bằng tổng tài sản của NHTW (TAi) Thước đo này có thể được tính toán bằng cách sử dụng dữ liệu IMF – IFS Nói chung, các quốc gia có tỷ lệ vốn NHTW và OIN trên tổng tài sản vượt quá 20%

được xác định là có CBFS cao (Cargill, 2005; Klüh and Stella, 2008) Một thước đo

lường khác của CBFS là CBFS3,t được xác định dựa trên lãi và lỗ của NHTW (CBPLi) bằng phần trăm GDP, nó được thể hiện trong phương trình (2)

Tuy nhiên, ta thấy sự khác biệt đáng kể giữa các thước đo dựa trên vốn (CBFS 2, t) với

các thước đo dựa trên lãi/lỗ (CBFS 1,t , CBFS 3,t và CBFS4 ,t ) gây khó khăn khi lựa chọn một

thước đo thích hợp cho mô hình thực nghiệm Để khắc phục khó khăn này, bằng cách làm

theo các nghiên cứu trước đó, ví dụ như Adler và cộng sự (2012), Cargill (2005) và Klũh

and Stella (2008), và cũng xem xét các vấn đề so sánh, tác giả dựa vào “thước đo dựa trên

vốn và OIN” - CBFS2,t là đại diện chính cho CBFS Thước đo này có thể không nắm bắt đầy đủ các chi tiết tỉ mỉ của CBFS, tuy nhiên nó được dựa trên dữ liệu chuẩn của IMF-IFS, rất thường xuyên được cung cấp rộng rãi (trên cơ sở hàng tháng) và do đó nó đảm bảo tính

Trang 25

so sánh được giữa các quốc gia (Adler và cộng sự, 2012) Vấn đề nội sinh cũng được nhận

diện khi sử dụng thước đo CBFS Đó là, áp lực lạm phát bản thân nó có thể gây ra suy yếu tài chính bằng cách buộc các NHTW thực hiện các biện pháp ổn định tốn kém và do đó, thước đo đương thời của CBFS sẽ không phải là một tiêu chuẩn thích hợp vì các mô hình

có thể bị ràng buộc bởi các vấn đề nội sinh tiềm tàng Vì vậy, theo nghiên cứu tương tự

của CBFS, ví dụ Adler và cộng sự (2012) và Klüh và Stella (2008), tác giả sử dụng thước

đo trễ 1 năm (t - 1) của CBFS

Trước khi tiến hành phân tích thực nghiệm chính thức, tác giả kiểm tra một số bằng

chứng sơ bộ Đặc biệt, tác giả làm theo cách tiếp cận của Crosby (1998), Cukierman và

cộng sự (1993) và Chrigui và cộng sự (2011) kiểm tra các mối quan hệ giữa CBI và các

biến kinh tế vĩ mô có chọn lọc và cũng có một số nghiên cứu khám phá mối quan hệ giữa

các biến kinh tế vĩ mô (ví dụ, Neyapti và Dinçer 2005; Romer 1993, và những người

khác) Như vậy, đầu tiên chúng ta xem xét hệ số tương quan được hỗ trợ bởi các minh chứng đồ thị (không được báo cáo) để tìm ra mối quan hệ giữa CBFS và lạm phát Sau đó, tác giả kiểm tra tính đúng đắn của bằng chứng sơ bộ trong bối cảnh thực nghiệm bằng cách sử dụng phương pháp ước lượng và kiểm soát phù hợp trong khi giải thích cho tính không đồng nhất giữa các quốc gia thông qua một phân tích mẫu con

Tác giả bắt đầu với một mô hình các yếu tố kỹ thuật hai biến-cơ sở , trong mô hình này các đại diện cho CBFS chỉ đóng vai trò như các biến giải thích Mô hình lý thuyết này được đưa ra trong phương trình (4):

Yi,t = αi + β1Xi,t + εi,t (4)

Trong đó, i biểu thị quốc gia riêng lẻ và t đại diện cho khoảng thời gian Hằng số αiđại diện cho các tác động cố định ở cấp quốc gia Yi, t là biến phụ thuộc, tức là chỉ số CPI_INFi.t có được bằng cách lấy logarit của tỷ lệ lạfm phát (thay đổi trong chỉ số giá tiêu dùng so với cùng kỳ năm trước) và Xi,t là biến giải thích chính cho CBFS2,t-1, tức là logarit của sức mạnh tài chính NHTW tại thời điểm t - 1 (đo bằng tổng vốn NHTW và các khoản

Trang 26

mục ròng khác được đo lường trên tổng tài sản NHTW) và tác giả mong đợi một hệ số âm, còn εi,t là sai số ngẫu nhiên

Sau đó, tác giả xem xét một tập hợp các biến giải thích để xây dựng một mô hình động và mở rộng nhằm xác nhận độ mạnh của các mối quan hệ thực nghiệm được quan sát ở các thông số kỹ thuật cơ bản Trước khi lựa chọn thêm các biến giải thích, tác giả xem xét lại danh sách các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm kiểm định lạm phát và các yếu tố quyết định của nó Tuy nhiên, theo hướng dẫn của các nghiên cứu trước đây, ví dụ

Chrigui và cộng sự (2011), Cukierman và cộng sự (1993) và Neyapti và Dinçer (2005), tác

giả không sử dụng một tập hợp lớn các biến giải thích trong mô hình thực nghiệm để tránh hiện tượng đa cộng tuyến trong khi vẫn giữ các mô hình tiêu dùng tiết kiệm Việc sử dụng số lượng hạn chế các biến giải thích cho phép tác giả tìm kiếm các yếu tố sâu hơn

quyết định lạm phát (Aisen và Veiga, 2006).14 Theo đó, mô hình thực nghiệm mở rộng cho lạm phát có thể được tóm tắt như sau: Yi,t = αi + Yi, t-1 + β/Xi,t + εi,t (5)

Trong đó, i biểu thị quốc gia riêng lẻ và t đại diện cho khoảng thời gian Hằng số αiđại diện cho các tác động cố định ở cấp quốc gia Yi, t là biến phụ thuộc, tức là chỉ số

CPI_INF i.t có được bằng cách lấy logarit của tỷ lệ lạm phát (thay đổi trong chỉ số giá tiêu dùng so với cùng kỳ năm trước) và Yi, t-1 là giá trị trễ Xi, t là một vector của các biến giải

thích, trong đó bao gồm CBFS 2, t-1, tức là logarit của sức mạnh tài chính NHTW tại thời điểm t - 1 (đo bằng tổng vốn NHTW và các khoản mục ròng khác được đo lường trên

tổng tài sản NHTW), PER_CAP t-1 tức là logarit của thu nhập bình quân đầu người thực tế

tại thời điểm t – 1, OIL_P t-1 là logarit của giá dầu thô quốc tế vào thời điểm t - 1, MONEY

t-1 là logarit của sự tăng trưởng tiền lớn (tiền theo nghĩa rộng) vào thời điểm t - 1 và CBI t-1

14

Ban đầu, tác giả xem xét một số biến kiểm soát bổ sung, ví dụ các biến về áp lực tài chính (thâm hụt ngân sách, nợ so với GDP, vv) và về vấn đề quản lý chẳng hạn như quy định của pháp luật và sự ổn định chính trị Tuy nhiên, tác giả nhận thấy rằng các biến số không cải thiện khả năng giải thích của hồi quy và các thống kê vô nghĩa cũng cho thấy rằng tác giả chỉ có thể dựa vào biến giải thích có liên quan nhất, tức là yếu tố quyết định một cách sâu sắc hơn đến lạm phát

Trang 27

đo lường tính độc lập thực của NHTW tại thời điểm t - 115

εi, t là sai số ngẫu nhiên Tác giả sử dụng một khoảng thời gian trễ cho tất cả các biến giải thích, việc bao gồm cả biến giải thích trễ nhìn chung dẫn đến kết quả chắc chắn và mạnh mẽ được hiệu chỉnh cho hiện tượng nội sinh (Beck và cộng sự, 2000) Phần tiếp theo sẽ thảo luận sâu hơn về nguyên nhân và kết quả kỳ vọng của các biến giải thích:

Table 4: Đặc điểm các biến giải thích

 đo tổng thể của sự phát triển

đo yếu tố ảnh hưởng- lạm phát

 lạm phát phụ thuộc độ phát triển của quốc gia(nước phát triển lạm phát thấp ; nước

mới nổi lạm phát cao)

và Pérez de Gracia (2003, 2005) và

Hamilton (1983)

Biến động lạm phát bị ảnh hưởng thông qua

hành vi của giá dầu

Cung tiền

MONEY i, t-1

quyết định mạnh mẽ đến lạm phát

Friedman và Schwartz, 1982

Thay đổi liên tục trong mức giá có liên quan với những thay đổi trong cung tiền

15

Đối với phân tích của tác giả, tác giả không sử dụng các thước đo truyền thống của CBI, ví dụ chỉ số pháp lý tổng thể hoặc độc lập Thay vào đó, tác giả sử dụng một thước đo CBI thực, dựa trên tỷ lệ thay đổi giám đốc điều hành NHTW, được xây dựng bởi Dreher và cộng sự (2008) Ban đầu, phương pháp này được xây dựng và sử dụng bởi Cukierman và cộng sự (1992) Nó cũng được sử dụng trong nghiên cứu hiện đại về lạm phát động, ví dụ Chrigui

và cộng sự (2011).

Trang 28

1992

giữa CBI & lạm phát

TOR cao hơn kỳ vọng tác động tích cực tới lạm phát

Dreher và cộng

sự, 2008

CBI được đo bằng tỷ lệ thay đổi giám đốc điều hành ngân hàng trung ương (TOR), là CBI thực

Eijffinger và de Haan, 1996

qua sự thay đổi giám đốc điều hành nhiều hơn; mức độ độc lập NHTW thấp hơn

(Romer, 1993) TOR cao hơn thể hiện

NHTW bị phụ thuộc nhiều hơn

Biến Y i, t-1 (CPI_INF i, t-1 ) đo lường tính bền của biến phụ thuộc, và do đó xác định

một mô hình động Biến phụ thuộc trễ này được kỳ vọng sẽ có hệ số tương quan dương

Ngoài ra, tác giả mong đợi một hệ số tương quan âm đối với CBFS 2, t-1 Thu nhập bình quân đầu người đóng vai trò như một thước đo tổng thể của sự phát triển và nó có thể đo

lường nhiều yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát (Romer, 1993) Cuối cùng, lạm phát phụ thuộc

vào mức độ phát triển của quốc gia, một cách tổng quát, lạm phát ở các nước phát triển thì thấp còn ở các nước mới nổi thì tương đối cao Như vậy, tác giả mong đợi một mối quan

hệ nghịch biến giữa lạm phát và PER_CAPt-1 Hơn nữa, giá dầu cũng được xem xét thận trọng về vai trò giả định của nó lên các biến kinh tế vĩ mô, đặc biệt là lạm phát Nghiên

cứu trước đó, ví dụ Aisen và Veiga (2006), Cunado và Pérez de Gracia (2003, 2005) và

Hamilton (1983) ủng hộ quan điểm cho rằng những biến động lạm phát bị ảnh hưởng chủ

yếu thông qua các hành vi của giá dầu Các biến OIL_P t-1 đo lường tác động của giá dầu đến lạm phát và tác giả kỳ vọng một hệ số tương quan dương

Hơn nữa, tiền cũng là một yếu tố quyết định mạnh mẽ và sâu sắc đến lạm phát Lý thuyết tiền tệ cũng như một số lượng đáng kể bằng chứng thực nghiệm ủng hộ quan điểm cho rằng những thay đổi liên tục trong mức giá có liên quan với những thay đổi trong cung

tiền (ví dụ, xem Friedman và Schwartz, 1982) Do đó, tác giả đưa các biến MONEY i, t-1 vào

Trang 29

mô hình hồi quy để đo lường tác động của tổng lượng tiền tệ và tác giả dự kiến sẽ thấy được một hệ số tương quan dương đáng kể Cuối cùng, tác giả kiểm định tác động của tính độc lập của ngân hàng trung ương (CBI), xem xét hệ số tương quan âm đáng kể được hình

thành giữa CBI và lạm phát (ví dụ Chrigui và cộng sự, 2011; Cukierman và cộng sự, năm

1992, và những người khác) Cuối cùng, mô hình hồi quy của tác giả bao gồm một thước

đo cho CBI được đưa ra bởi tỷ lệ thay đổi giám đốc điều hành ngân hàng trung ương

(TOR), tức là CBI thực (Dreher và cộng sự, 2008) TOR cao hơn nghĩa là có sự thay đổi

thường xuyên đối với vị trí của các giám đốc điều hành NHTW và do đó, TOR cao hơn

cho thấy một mức độ độc lập thấp hơn (Eijffinger và de Haan, 1996) hay nói cách khác, NHTW bị phụ thuộc (Romer, 1993) Do đó, TOR cao hơn được kỳ vọng sẽ có tác động

tích cực tới lạm phát, tức là trên thực tế tính độc lập thấp hơn hoặc tính phụ thuộc của NHTW gắn liền với mức độ lạm phát cao Cuối cùng, tác giả quan sát những xu hướng chống lạm phát ở nhiều quốc gia trong suốt giai đoạn mẫu của bài nghiên cứu, một xu hướng thời gian được đưa vào như một biến điều khiển cho tất cả các yếu tố thể chế khác Tập hợp cuối cùng của các biến được liệt kê trong Bảng 1 với các định nghĩa liên quan và nguồn cùng với thống kê mô tả và hệ số tương quan Bảng A.1 ở Phụ lục trình bày tương tự cho mẫu con Ngoài ra, tác giả còn bàn luận về các đặc tính nổi bật của các bảng tại mục 4.1

1.6 Phương pháp ước lượng

Tương tự như cách tiếp cận của Beck và Levine (2004), Bobba và Coviello (2007),

Carpenter và Guariglia (2008), Chrigui và các cộng sự (2011), Levine và các cộng sự (2000), Neyapti và Dinçer (2005) và những tác giả khác, tác giả ước tính ban đầu mô hình

tĩnh được đề cập ở trên (Phương trình (4)) bằng cách sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) Chính xác hơn, tác giả sử dụng phương pháp OLS gộp với sai số chuẩn vững (thuộc loại Huber - White) để hiệu chỉnh cho phương sai thay đổi của loại phương sai chưa biết và tương quan chuỗi bậc nhất Uớc tính OLS gộp này rất quan trọng như là kết quả xấp xỉ đầu tiên của mối quan hệ giữa CBFS và lạm phát Hơn nữa, để cung cấp kết quả OLS vững hơn, tác giả ước lượng hồi quy hai biến bằng cách sử dụng

Trang 30

phương sai thay đổi Newey-West và sai số chuẩn tự tương quan đồng nhất (HAC) và

phương pháp tiếp cận của tác giả phù hợp với một số nghiên cứu trước đó (ví dụ, Choy và

các cộng sự, 2012)

Trang 31

Phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS)

- OLS có thể bị lệch –

tính do không đồng nhất giữa các quốc gia & khả năng nội sinh

Tác giả Phương pháp OLS

gộp với sai số chuẩn vững (Huber - White);

Từ đó nhằm hiệu chỉnh phương sai thay đổi & tương quan chuỗi bậc nhất

(Beck và Levine, 2004;

Carpenter

và Guariglia, 2008)

OLS không kiểm soát hiệu ứng cố định quốc gia & không sử dụng các biến phụ thuộc có độ trễ trong hồi quy

Choy và các cộng sự, 2012

Nhằm giúp kết quả OLS vững hơn:

ước lượng hồi quy hai biến bằng

Trang 32

phương sai thay đổi Newey-West

& sai số chuẩn tự tương quan đồng nhất (HAC) Tuy nhiên, ước tính OLS có thể bị lệch do tính không đồng nhất giữa các quốc gia

cụ thể không quan sát được cũng như khả năng nội sinh của các biến hồi quy Đặc biệt, phương pháp OLS không kiểm soát rõ ràng hiệu ứng cố định quốc gia cũng không sử dụng

các biến phụ thuộc có độ trễ trong hồi quy (Beck và Levine, 2004; Carpenter và Guariglia,

2008) Do đó, tác giả ước lượng phương trình (5) bằng cách sử dụng hiệu ứng cố định

chuyển đổi (nội bộ nhóm) thay cho hiệu ứng cố định Theo đó, tác giả ước tính mô hình hồi quy lạm phát và CBFS như mô hình hiệu ứng cố định hai chiều dựa trên các nghiên

cứu thực nghiệm trước đây, ví dụ, Aisen và Veiga (2006), Beck và Levine (2004), Bobba

và Coviello (2007), Carpenter và Guariglia (2008), Falk (2006), và những người khác

Phương pháp tiếp cận chính của tác giả được dựa trên phương pháp tổng quát

moments (GMM) được giới thiệu bởi Hansen (1982) mà tác giả sử dụng bởi vì một số yêu

cầu quan trọng về mặt kinh tế lượng Đặc biệt, ước tính phương trình (5) bằng cách sử dụng đặc trưng hiệu ứng cố định, tuy nhiên có thể cung cấp một số ước tính bị lệch như (i) các ước tính có thể xảy ra tự tương quan đáng kể trong sai số của mô hình mảng, (ii) các

số dư có phân phối không bình thường; (iii) quan hệ nhân quả nghịch giữa lạm phát và CBFS có thể không được giải quyết đầy đủ bằng độ trễ của biến bên trái là 1 năm, và (iv)

cụ thể hơn, tất cả các biến bên phải có thể là biến nội sinh Để giải quyết những vấn đề này cùng lúc và do đó để đảm bảo độ vững của kết quả thực nghiệm thu được thông qua các phương pháp hiệu ứng cố định và OLS gộp, mô hình mảng động ược sử dụng nhiều trong nghiên cứu Cuối cùng, tác giả sử dụng các ước lượng GMM được phát triển cho các mô

hình mảng động của Arellano và Bond (1991), Holtz - Eakin và các đồng sự (1988) và

Arellano và Bover (1995) để ước lượng mô hình CBFS và lạm phát

Trang 33

Table 6: Tóm tắt mô hình thực nghiệm mở rộng

- Hiệu ứng cố định chuyển đổi (nội bộ

nhóm) thay cho hiệu ứng cố định

Aisen và Veiga (2006), Beck và Levine (2004), Bobba và Coviello (2007), Carpenter và Guariglia (2008), Falk (2006)

Ước tính mô hình hồi quy lạm phát và CBFS -mô hình hiệu ứng cố định hai

chiều

Arellano và Bond (1991), Holtz

- Eakin và các đồng sự (1988)

và Arellano và Bover (1995)

GMM trên mô hình mảng động (để đảm bảo độ vững kết quả thực nghiệm - qua phương pháp hiệu ứng cố định và OLS

Trang 34

Mô hình được đưa ra bởi phương trình (6) giải quyết một số vấn đề kinh tế lượng, nhưng mô hình cũng đưa ra một tương quan giữa sai số mới i t, i t, 1 và các biến phụ thuộc có độ trễ Y i t, 1 Y i t,2 Để giải quyết vấn đề tương quan này và có thể xảy ra nội sinh của các biến giải thích, Arellano và Bond (1991) đề nghị sử dụng các giá trị độ trễ của các

biến giải thích ở mức độ như là công cụ chính sách Theo các giả định thì (i) các sai số không tương quan chuỗi, và (ii) các biến giải thích là biến ngoại sinh yếu, các ước lượng mảng động GMM sử dụng các điều kiện moment và ước lượng dựa trên những điều kiện này được gọi là ước lượng GMM16

"sai phân" Tuy nhiên, một số thiếu sót về mặt kinh tế

lượng có thể được quan sát với ước lượng GMM sai phân Chủ yếu như Blundell và Bond

(1998) cho thấy những vấn đề ước lượng GMM sai phân bậc nhất có liên quan đến sự

tương quan yếu giữa những sai phân hiện tại của hồi quy và các mức độ trễ của các công

cụ chính sách Để giải quyết những vấn đề này, Arellano và Bover (1995) đề xuất một

phương pháp thay thế để ước tính hồi quy sai phân cùng với hồi quy ở các mức độ Phương pháp này được gọi là ước lượng GMM “hệ thống” và nó đã cải thiện hiệu quả của các ước lượng sai phân bậc nhất và do đó cung cấp kết quả phù hợp điều chỉnh cho các vấn đề thống kê nêu trên

Hơn nữa, từ quan điểm ứng dụng, ước lượng GMM sai phân bậc nhất được cho là vận hành kém khi chuỗi thời gian là ổn định và số lượng các chuỗi thời gian nhỏ (Falk, 2006), cũng là trường hợp của mẫu quốc gia được chọn của tác giả Do đó, theo một số nghiên cứu thực nghiệm trước đây trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô và tài chính, ví dụ, Beck và Levine (2004), Cole và các đồng sự (2008), Falk (2006), Levine và cộng sự (2000), Rioja

và Valev (2004) và đặc biệt là nghiên cứu về các yếu tố lạm phát, ví dụ Aisen và Veiga (2006), tác giả sử dụng ước lượng mảng GMM hệ thống đề xuất bởi Arellano và Bover (1995) và Blundell và Bond (1998) để trích xuất ước tính thống nhất và hiệu quả cho các

16 Các ước lượng dữ liệu mảng động Arellano–Bond sử dụng các công cụ sau: mức độ của biến phụ thuộc có

độ trễ 2 hay nhiều hơn 2 thời kỳ, mức độ của các biến nội sinh có độ trễ là 2 hay nhiều hơn 2 thời kì, và sai phân bậc nhất của biến ngoại sinh hoàn toàn, được sử dụng như công cụ chính sách riêng của chúng

Trang 35

tác động của CBFS trên lạm phát động17

Tóm lại, phương pháp ước lượng GMM Blundell

- Bond đặc biệt phù hợp cho trường hợp của tác giả cho rằng dữ liệu mảng của tác giả thoả mãn các giả định thường được xây dựng trong trường hợp này: (i) thời gian ngắn và kích thước xuyên quốc gia rộng tương đối, (ii) sự hiện diện của biến giải thích nội sinh, (iii) hiệu ứng cố định và (iv) phương sai thay đổi và tự tương quan trong các sai số riêng

17 Phương pháp của tác giả giống hệt như Aisen và Veiga (2006) đã áp dụng OLS gộp, hiệu ứng cố định (trong) và phương pháp GMM hệ thống để thiết lập mối quan hệ giữa bất ổn chính trị và lạm phát

Trang 36

Thống kê mô tả và hệ số tương quan (mẫu đầy đủ)

No of obs Mean Std Dev Min Max CPI_INF CBFS2 PER CAP OIL P MONEY CBI Full sample

Lưu ý: Bảng này trình bày số liệu thống kê mô tả và hệ số tương quan cho các biến của mô hình Sau đây là các định nghĩa của các biến và các nguồn có liên quan được trình bày trong dấu ngoặc đơn: CPI_INF - thay đổi mỗi năm trong chỉ số giá tiêu dùng (Chỉ số Phát triển Thế giới, WDI); CBFS 2 - sức mạnh tài chính NHTW, tức là tổng nguồn vốn của NHTW và các thành phần khác được gộp lại bởi tổng tài sản NHTW (tài sản NHTW

Trang 37

PER CAP – thu nhập bình quân đầu người thực tế trên ngàn đô la Mỹ (WDI), OIL P- giá dầu quốc tế (WDI); MONEY – thay đổi hằng năm trong tiền rộng, tức là M2 (IFS); CBI - sự độc lập thực sự của NHTW đại diện bởi tỷ lệ doanh thu (Dreher và các đồng sự., 2008) Sai số chuẩn của hệ số tương quan được trình bày trong ngoặc đơn

* Mức ý nghĩa 10% hoặc tốt hơn

Trang 38

nó được giả định bị ảnh hưởng bởi sai số có độ trễ Đồng thời, đại diện cho CBFS được trang bị bởi biến trễ bậc hai Tác giả áp dụng ước lượng một bước để tạo ra kết quả thực nghiệm18 Hơn nữa, sự thống nhất của ước lượng GMM phụ thuộc vào giá trị công cụ chính sách và sự vắng mặt của tương quan chuỗi bậc hai Do đó, tác giả sử dụng thống kê Sargan để kiểm định những hạn chế được xác định mà giả thuyết không cho rằng các biến công cụ chính sách không tương quan với số dư, và sau đó kiểm định tương quan chuỗi, tức là thống kê AR (2) mà giả thuyết không cho là các sai số trong công thức phương trình sai phân không có tương quan chuỗi bậc hai, để kiểm định các điều kiện này

2.Các kết quả thực nghiệm và nghiên cứu

2.1 Thống kê mô tả và bằng chứng sơ bộ

Đầu tiên , các tác giả xem xét các động thái tương quan giữa các biện pháp của CBFS và lạm phát là bằng chứng sơ bộ cũng như các động thái tương quan với các biến hồi quy bổ sung Bảng 1 trình bày thống kê mô tả và các hệ số tương quan cho các biến

mô hình của mẫu đầy đủ và chúng tôi chủ yếu tập trung vào biến số chính : lạm phát và CBFS

Thống kê mô tả các mẫu đầy đủ trong Bảng 1 cho thấy, lạm phát trung bình và CBFS trung bình duy trì tương ứng ở mức 5,03% và 16,74 % Theo số liệu thống kê mẫu con tại Phụ lục Bảng A.1 , cả lạm phát trung bình và biến động lạm phát thấp hơn đối với các nước phát triển so với các nước mới nổi Hơn nữa, một sự khác biệt đáng kể trong lạm phát trung bình được quan sát cho các quốc gia CBI thấp và cao Đặc biệt, như thể hiện trong nghiên cứu trước đây, lạm phát xuất hiện thấp ở các nước có CBI cao hơn Đồng thời, các nước có mục tiêu lạm phát sẽ có lạm phát trung thấp hơn so với các nước mục tiêu không lạm phát Đối với các quốc gia có mục tiêu lạm phát, chúng tôi cũng quan sát một vài biến động lạm phát thấp so với các nước có mục tiêu không lạm phát Đồng thời, các nước áp dụng khung tỷ giá linh hoạt thì có lạm phát trung bình thấp còn các nước có

khung tỷ giá hối đoái không linh hoạt thì có biến động lạm phát thấp Tương tự như vậy,

18 Tuy nhiên Beck và Levine (2004) cho thấy rằng do số lượng lớn các công cụ chính sách được sử dụng trong các ước lượng hệ thống, sai số chuẩn tiệm cận từ ước lượng mảng hai bước có thể trở thành chỉ dẫn xấu cho việc kiểm định giả thuyết trong các mẫu nhỏ mà sự quá phù hợp trở thành một vấn đề và điều này không phải là một vấn

đề trong các ước lượng một bước

Trang 39

nước có mục tiêu không lạm phát thì có CBFS trung bình cao, trong khi đó các nước có tỷ giá hối đoái linh hoạt thì có biến động CBFS cao hơn nữa

Các tác giả tìm thấy một mối tương quan âm đáng kể giữa CBFS và lạm phát cho các mẫu đầy đủ và cho phần lớn các mẫu con Hơn nữa, họ quan sát các hệ số tương quan lạm phát mong đợi và các yếu tố quyết định khác của lạm phát Ví dụ, quan sát mối tương quan âm giữa thu nhập bình quân đầu người và lạm phát và hệ số tương quan dương cho giá dầu, tăng trưởng tiền và là thước đo CBI (đo bằng tỷ lệ thay đổi các giám đốc điều hành) trên phần lớn các mô hình Hơn nữa, họ không nhận thấy mối tương quan mạnh mẽ giữa các biến giải thích và do đó, đa cộng tuyến không phải là một vấn đề19 Mặc dù các tác giả không có được báo cáo do những giới hạn không gian, nhưng biểu đồ phân tán hai chiều với các dòng thích hợp cũng chứng minh rằng phần lớn các kết quả phù hợp với các phân tích tương quan

2.2 Mô hình ước lượng

Đầu tiên, tác giả trình bày các kết quả của OLS gộp về mô hình hồi quy tuyến tính hai biến, trong đó thiết lập mối quan hệ giữa lạm phát và CBFS mà không xét tới mối quan

hệ với các biến giải thích khác được thêm vào Bảng 2 trình bày kết quả ước lượng của OLS gộp

Mục A của bảng 2 cho biết các giá trị ước lượng OLS với sai số chuẩn vững Tác giả cho rằng với CBFS cao hơn sẽ dẫn đến lạm phát thấp hơn và kết quả này giống như mong đợi, do đó kết quả trong mục A chỉ ra một mối quan hệ nghịch biến giữa CBFS và lạm phát Hơn nữa, để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tương quan giữa các quan sát, tác giả đã sử dụng phương pháp Newey West để điều chỉnh sai số chuẩn tự tương quan đồng nhất HAC Mục B cho thấy rằng HAC _OLS phù hợp với kết quả ước lượng điểm không thay đổi nhưng với sai số chuẩn ước lượng đã được điều chỉnh Do đó, kết quả báo cáo trong bảng 2 xác nhận giả thuyết cho rằng một mức độ CBFS cao hơn (đo được thông qua các biến đại diện) tạo ra tỷ lệ lạm phát thấp hơn Quan sát này tương tự trên phần lớn các mẫu con Đặc biệt, tác giả quan sát hệ số âm được mong đợi của các mẫu đầy đủ cũng

19 Các tác nhân biến lạm phát (VIF) cũng xác nhận rằng không có sự tương quan mạnh mẽ giữa các biến giải thích vì VIF cao nhất là 2.64 trái với tiêu chuẩn của 10

Trang 40

và tỷ giá linh hoạt, đó là các hệ số có ý nghĩa thống kê quan trọng và tác động mạnh mẽ đến những ước lượng này Hơn nữa, kết quả được giả thuyết cũng đúng cho các mẫu là các

nước có CBI thấp và cao Tương tự như cách tiếp cận của Cole và cộng sự (2008), tác giả

chủ yếu tập trung vào ý nghĩa thống kê của các hệ số của biến giải thích chứ không phải là

độ lớn của chúng Tuy nhiên, kết quả của bài nghiên cứu này cũng cho thấy những tác động khá lớn từ độ lớn của các biến

Thế nhưng, dựa trên những kết quả hồi quy tuyến tính hai biến, cho thấy rằng lạm phát chỉ được giải thích một phần bởi CBFS Dù có vẻ như CBFS lớn hơn tạo ra kết quả lạm phát thấp hơn, nhưng bắt đầu kết luận chắc chắn như vậy là không hợp lý vì lạm phát

có thể được xác định đồng thời bởi một số yếu tố khác Giá trị 'R2 ' thấp trong Bảng 2 cũng chỉ ra rằng CBFS vẫn chưa giải thích được hết lạm phát Đặc biệt, trong trường hợp giá trị

R2 tối đa, CBFS cũng chỉ giải thích được khoảng 22% tổng thay đổi trong lạm phát Điều này đảm bảo cho tác giả phải xem xét đến sự ảnh hưởng của các biến giải thích thêm vào đến lạm phát để cung cấp kết quả đáng tin cậy hơn Theo đó, để xác định sự vững mạnh của các kết quả hồi quy cơ bản, tác giả ước lượng các mô hình tương tự để kiểm tra cho một tập hợp các biến giải thích

Kết quả hệ thống GMM được thể hiện trong Bảng 3 Tất cả các biến giải thích được

mô tả ở trên được bao gồm trong các ước tính báo cáo từ cột 1 đến 9 trừ các cột 4 và 5 là hai cột trình bày các kết quả cho các nước CBI thấp và cao Kết quả trình bày trong bảng 3

là đồng nhất vì được chứng minh bằng số liệu thống kê về giá trị công cụ chính sách và không xuất hiện tự tương quan nối tiếp bậc 2 Cả hai phương pháp Sargan và AR (2) (cho kiểm định mối tương quan nối tiếp) không bác bỏ giả thuyết H0 , và do đó xác nhận (i) giá trị công cụ chính sách, và (ii) không xuất hiện tự tương quan nối tiếp bậc 2

Phần ước lượng bảng động trong Bảng 3 cho thấy rõ ràng rằng các thành phần ngoại sinh của CBFS tạo nên một tác động tiêu cực đáng kể vào kết quả lạm phát Nói cách khác, các kết quả cho thấy rằng CBFS lớn hơn dẫn đến sự giảm lạm phát và cho thấy những hiệu quả đáng kể Ví dụ, trong trường hợp của mẫu đầy đủ (cột 1), một mức độ tăng thêm của CBFS làm giảm tỷ lệ lạm phát khoảng 15% Do đó, kết quả hệ thống GMM là nhất quán với ước lượng OLS cho mô hình tuyến tính hai biến Trình bày và so sánh các

Ngày đăng: 27/07/2014, 01:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Table 2: Bảng tóm tắt phân loại các quốc gia mẫu theo chỉ tiêu cụ thể: - Mối quan hệ giữa lạm phát và sức mạnh tài chính ngân hàng trung ương – mở rộng mô hình ở việt nam
able 2: Bảng tóm tắt phân loại các quốc gia mẫu theo chỉ tiêu cụ thể: (Trang 20)
Bảng trên cho thấy có mối quan nhân quả một chiều giữa CBFS và CPI_INF. Tiếp  theo, chúng tôi tiến hành kiểm định đồng liên kết Jonhensen - Mối quan hệ giữa lạm phát và sức mạnh tài chính ngân hàng trung ương – mở rộng mô hình ở việt nam
Bảng tr ên cho thấy có mối quan nhân quả một chiều giữa CBFS và CPI_INF. Tiếp theo, chúng tôi tiến hành kiểm định đồng liên kết Jonhensen (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w