1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam

92 883 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Quản trị Ngân hàng
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tế trên về hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, đề tài nghiên cứu được lựa chọn là: “Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro của các ngân hàng thươ

Trang 1

MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ RỦI RO TRONG

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Mã số: ……….

Trang 2

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Lí do chọn đề tài

Một trong những nguyên nhân sâu xa của thực trạng bất ổn trong hệ thống NHTM Việt Nam hiện này là do cấu trúc sở hữu khác nhau Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã lựa

chọn đề tài cho công trình của mình là: “Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu vốn và rủi

ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam”

Mục tiêu nghiên cứu

Lược khảo nền tảng lý thuyết về cấu trúc sở hữu, rủi ro và mối quan hệ giữa hai nhân tố này; phân tích hoạt động của ngành NH trong thời gian vừa qua; kiểm định mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và rủi ro; đề xuất một số kiến nghị cho hệ thống NHTM Việt Nam

Phương pháp tổng hợp, so sánh; phương pháp thống kê mô tả; phương pháp kiểm tra định lượng Dữ liệu được lấy từ dữ liệu vĩ mô của nền kinh tế và dữ liệu nội tại của 11 NHTM trong đó bao gồm 4 NHTMNN và 7 NHTMCP trong giai đoạn 2007 - 2012

Nội dung nghiên cứu

- Chương 1: Giới thiệu tổng quan về công trình nghiên cứu

- Chương 2: Khung lý thuyết về cấu trúc sở hữu và rủi ro của ngân hàng thương mại

- Chương 3: Tổng quan về cấu trúc sở hữu và rủi ro của các NHTM Việt Nam

- Chương 4: Nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro của ngân hàng thương mại

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO vi

1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phương pháp nghiên cứu 2

1.4 Phạm vi nghiên cứu và dữ liệu 3

1.5 Nội dung nghiên cứu 4

1.6 Đóng góp của đề tài 5

1.7 Định hướng phát triển đề tài 5

2 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7

2.1 Khung lý thuyết về cấu trúc sở hữu 7

2.1.1 Cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp phi tài chính 7

2.1.2 Cấu trúc sở hữu của ngân hàng 8

2.2 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 13

2.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng 13

2.2.2 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng 14

2.2.3 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng 16

2.2.4 Các nghiên cứu về rủi ro tín dụng của ngân hàng 17

2.3 Rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng 18

2.3.1 Khái niệm rủi ro mất khả năng thanh toán 19

2.3.2 Nguyên nhân c ủa rủi ro mất khả năng thanh toán 19

Trang 4

2.3.3 Ảnh hưởng của rủi ro mất khả năng thanh toán 21

2.3.4 Các nghiên cứu về rủi ro mất khả năng thanh toán trước đây 21

2.4 Tổng quan các bài nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro của ngân hàng 22

Kết luận chương 2 26

3 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 27

3.1 Thực trạng ho ạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam 27

3.1.1 Hoạt động huy động vốn 28

3.1.2 Hoạt động cho vay 29

3.1.3 Diễn biến lãi suất 31

3.1.4 Năng lực tài chính 31

3.2 Thực trạng cấu trúc sở hữu ngân hàng thương mại Việt Nam 33

3.3 Thực trạng về rủi ro tín dụng và rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại Việt Nam 40

3.3.1 Rủi ro tín dụng 40

3.3.2 Rủi ro mất khả năng thanh toán 43

Kết luận chương 3 46

4 NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ RỦI RO CỦA NG ÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 47

4.1 Phương pháp nghiên cứu 47

4.1.1 Mô hình tác động cố định (Fixed effects model) 48

4.1.2 Mô hình tác động ngẫu nhiên (Random effects model) 49

4.1.3 Kiểm định lựa chọn mô hình 50

Trang 5

4.2 Dữ liệu nghiên cứu 51

4.3 Mô hình thực nghiệm 55

4.4 Kết quả thực nghiệm 61

4.4.1 Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro tín dụng 61

4.4.2 Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và rủi ro mất khả năng thanh toán 64

Kết luận chương 4 68

5 KẾT LUẬN, ĐẾ XUẤT VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU TRONG TƯƠNG LAI 69

5.1 Các kết quả chính của đề tài 69

5.2 Các đề xuất với cơ quan quản lý Nhà nước và ngân hàng thương mại 69

5.2.1 Đề xuất đối với cơ quan quản lí 69

5.2.2 Đề xuất đối với ngân hàng thương mại 71

5.3 Hạn chế của đề tài 72

5.4 Định hướng phát triển đề tài 72

Kết luận chương 5 73

KẾT LUẬN CHUNG 74

PHỤ LỤC 1 vii

PHỤ LỤC 2 ix

PHỤ LỤC 3 xi

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO xii

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MCLR Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến cổ điển

FEM Mô hình tác động cố định

REM Mô hình tác động ngẫu nhiên

LSDV Ước lượng hồi quy biến giả tối thiểu

SDROA Độ lệch chuẩn ROA

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTMNN Ngân hàng thương mại nhà nước

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VẼ - ĐỒ THỊ VÀ BẢNG

Hình 3.1 Tăng trưởng các chỉ tiêu tiền tệ (2007 – 2011)

Hình 3.2 Tăng trưởng tín dụng (2008-2012)

Hình 3.3 Cấu trúc sở hữu của ngân hàng Nhà Nước trong những năm 2010-2012

Hình 3.4 Ma trận sở hữu vốn giữa các ngân hàng

Hình 3.5 Chỉ số Z-score trung bình giữa nhóm 7 NHTMCP và 4 NHTMNN

Hình 3.6 Giá trị nợ xấu và tỉ lệ nợ xấu toàn hệ thống (2004 – tháng 9/2012)

Hình 3.7 Tăng trưởng tín dụng GDP, tín dụng và tỷ lệ tín dụng/GDP (200 1- 2011)

Bảng 3.1 Quy mô vốn điều lệ của một số NHTM các quốc gia trong khu vực (2011)

Bảng 3.2 Loại hình các tổ chức tín dụng năm 2008 và 2013

Bảng 3.3 Mức vốn pháp định áp dụng cho các loại hình ngân hàng qua các năm

Bảng 3.4 Thương vụ M&A có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn 2007-2012

Trang 8

1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

Trong nền kinh tế Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, ngành ngân hàng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc dẫn vốn cho nền kinh tế Một hệ thống ngân hàng khỏe mạnh sẽ góp phần giúp nền kinh tế phát triển, và ngược lại hệ thống ngân hàng suy yếu

sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế Thực tế điều này đã được kiểm chứng ở cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007 - 2008 vừa qua, với sự sụp đổ tín dụng ở Mỹ cùng với sự phá sản của những tập đoàn, công ty lớn trong ngành ngân hàng như Lehman Brothers, Merrill Lynch Hậu quả tất yếu của điều này đã đẩy toàn bộ nền kinh tế rơi vào thảm cảnh ảm đạm Do vậy việc đảm bảo tính an toàn và ổn định hệ thống ngân hàng đóng vai trò hàng đầu trong chính sách của mỗi quốc gia đặc biệt trong giai đoạn hậu khủng hoảng hiện nay

Việt Nam là một trong những quốc gia có nền kinh tế mới nổi và chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đặc biệt là hoạt động ngân hàng Thực trạng hiện nay của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn còn rất nhiều bất ổn, đặc biệt là tỷ lệ nợ xấu vẫn còn chiếm tỷ trọng tương đối cao Thật vậy, tháng 9/2012, trên tạp chí Wall Street, Barclays - tập đoàn ngân hàng lớn của nước Anh nhận định rằng tỷ lệ nợ xấu Việt Nam

đã ở mức 20%, tương đương con số 16 tỷ USD (nguồn: tapchitaichinh.vn, ngày 18/06/2012), ngoài ra trong hệ thống còn tồn tại rủi ro mất khả năng thanh toán của các ngân hàng nhỏ đang hoạt động yếu kém Một trong những nguyên nhân sâu xa của thực trạng trên là vấn đề sở hữu chéo tràn lan ở giữa các ngân hàng với nhau và việc ảnh hưởng từ các cấu trúc vốn khác nhau Vậy câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để hệ thống ngân hàng Việt Nam luôn đảm bảo được tính ổn định và hạn chế được các vấn đề rủi ro một cách tốt nhất trong bối cảnh hội nhập kinh tế

Xuất phát từ thực tế trên về hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, đề

tài nghiên cứu được lựa chọn là: “Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro của các

ngân hàng thương mại Việt Nam” Đề tài sử dụng mô hình cấu trúc sở hữu vốn để tiến

Trang 9

hành nghiên cứu cho các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, từ đó đưa ra các đề xuất về cấu trúc sở hữu vốn hiệu quả cho hệ thống

Để tìm hiểu về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu vốn và rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đề tài xác định các mục tiêu nghiên cứu sau:

- Lược khảo nền tảng lý thuyết về cấu trúc vốn, rủi ro và mối quan hệ giữa hai nhân

tố này trong hoạt động của các ngân hàng thương mại

- Phân tích hoạt động của ngành ngân hàng trong thời gian vừa qua, đặc biệt là thực trạng về rủi ro mất khả năng thanh toán và rủi ro tín dụng trong hệ thống

- Kiểm định mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và rủi ro tín dụng, rủi ro mất khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại Việt Nam bằng mô hình định lượng

- Từ kết quả của mô hình nghiên cứu, đề tài đưa ra những đề xuất về cấu trúc sở hữu vốn nhằm hạn chế những rủi ro trong hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

Với mục tiêu của đề tài nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro của NHTM trong các cấu trúc sở hữu khác nhau, đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp tổng hợp, so sánh được áp dụng để thực hiện lược khảo các kiến thức lý thuyết cũng như các nghiên cứu trước đây liên quan đến nội dung của đề tài

- Phương pháp thống kê mô tả áp dụng để phân tích tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn năm 2007-2012, đồng thời, áp dụng phương pháp phân tích so sánh để đánh giá rủi ro trong hoạt động của hệ thống ngân hàng

- Phương pháp kiểm tra định lượng được áp dụng thông qua ứng dụng các mô hình hồi qui với chuỗi dữ liệu bảng thông qua sử dụng phần mềm Eview 8.0 Nội dung

Trang 10

đề tài đã áp dụng các mô hình kiểm định khác nhau như mô hình Fixed Effect và

mô hình Random Effect Trong đề tài, mô hình định lượng cấu trúc sở hữu vốn của ngân hàng thương mại được chia thành 3 nhóm: cổ đông nước ngoài, cổ đông

cá nhân và cổ đông là tổ chức trong nước Để nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hành vi chấp nhận rủi ro ở các ngân hàng, đề tài đo lường tác động của cấu trúc sở hữu đến hai biến rủi ro là rủi ro tín dụng thông qua tỷ lệ nợ xấu và rủi ro mất khả năng thanh toán thông qua hệ số Z-score

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào NHTMNN và NHTMCP trong hệ thống các

tổ chức tín dụng ở Việt Nam giai đoạn 2007-2012 Cụ thể, để tìm hiểu về thực trạng hoạt động của các NHTM, đề tài sử dụng các dữ liệu phản ảnh hoạt động của hệ thống ngân hàng Trong khi đó, để nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro của NHTM, đề tài sử dụng dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 11 ngân hàng thương mại trong đó bao gồm 4 NHTMNN và 7 NHTMCP Hai rủi ro chính trong hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại được đề cập trong để tài là rủi ro tín dụng và rủi ro mất khả năng thanh toán

Về dữ liệu, có ba nguồn dữ liệu chính được thu thập trong đề tài Cụ thể:

Các dữ liệu vĩ mô về hoạt động của hệ thống NHTM được tham khảo từ báo cáo thường niên của Ngân Hàng Nhà nước, trong khi đó, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như là tỉ lệ lạm phát, lãi suất cơ bản được thu thập từ website của Tổng cục thống kê

Các dữ liệu nội tại của ngân hàng như là cấu trúc sở hữu của NHTM, các chỉ tiêu phản ảnh rủi ro cũng như tình hình họat động của ngân hàng được tham khảo từ các báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn năm 2007-2012 và cơ sở dữ liệu của Bankscope được cung cấp bởi công ty Bureau van Dijk

Trang 11

1.5 Nội dung nghiên cứu

Để thực hiện những nội dung nghiên cứu đề cập ở trên, đề tài nghiên cứu được chia thành

5 phần, bao gồm:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về công trình nghiên cứu

Nội dung chương này trình bày một cách tổng quát nhất về đề tài bao gồm: lí do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, dữ liệu nghiên

cứu, kếu cấu của đề tài, đóng góp của đề tài và định hướng phát triển của đề tài

Chương 2: Khung lý thuyết về cấu trúc sở hữu và rủi ro của ngân hàng thương mại

Nội dung chương này sẽ trình bày các lý thuyết cơ sở liên quan đến cấu trúc sở hữu và rủi

ro của ngân hàng thương mại Về cấu trúc sở hữu, đề tài tìm hiểu cấu trúc sở hữu của các doanh nghiệp phi tài chính và ngân hàng Về khung lý thuyết rủi ro, đề tài trình bày những nghiên cứu liên quan đến hai loại rủi ro chính được đề cập là rủi ro tín dụng và rủi

ro mất khả năng thanh toán

Chương 3: Tổng quan về cấu trúc sở hữu và rủi ro của các NHTM Việt Nam

Nôi dung chương này trình bày tổng quan về hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam dựa trên các khía cạnh hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng và năng lực cạnh tranh Các nội dung phân tích về cấu trúc sở hữu và thực trạng về rủi ro tín dụng

và rủi ro mất khả năng thanh toán của các ngân hàng trong hệ thống cũng được đề cập để đánh giá về hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam

Chương 4: Nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro của ngân hàng thương mại

Nội dung chương 4 trình bày nghiên cứu thực nghiệm về mô hình đo lường mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro của ngân hàng bao gồm: Phương pháp nghiên cứu mô hình,

dữ liệu nghiên cứu và các kết quả thực nghiệm phản ảnh mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hoạt động của các NHTM

Trang 12

Chương 5: Kết luận, đề xuất và một số định hướng nghiên cứu trong tương lai

Từ kết quả thực nghiệm, nội dung chương này trình bày những kết quả chính của mô hình, một số kiến nghị gắn liền với cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam cùng với những hạn chế của mô hình và định hướng phát triển trong tương lai

Chúng tôi mong bài nghiên cứu sẽ đóng góp phần nào đó vào việc giải quyết vấn đề đang đặt ra cấp thiết hiện nay của nước ta là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động hiệu quả, phát triển bền vững, nhất là trong thời kỳ mở cửa của nước ta hiện nay, việc tăng cường tính cạnh tranh của Ngân hàng Việt Nam và ngân hàng nước ngoài là một vấn đề vô cùng quan trọng

Trang 13

Thứ hai: chúng ta cần đưa thêm vào bài nghiên cứu biến về cấu trúc sở hữu như phần trăm cổ phần của các nhà quản trị để phân tích

Thứ ba: bài nghiên cứu sẽ tiếp tục phát huy điểm mạnh của hồi quy dữ liệu bảng bằng cách mở rộng mẫu nghiên cứu sang các quốc gia trong khu vực để từ đó có thể xem xét

và so sánh

Thứ tư, đề cập thêm nhiều loại ngân hàng vào bài nghiên cứu như các ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài, để chúng ta có được kết quả mang tính toàn diện hơn

Trang 14

2 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Trong hoạt động của ngân hàng thương mại, việc đa dạng hóa cấu trúc sở hữu ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động của tổ chức, do vậy để tìm hiểu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu

và rủi ro của ngân hàng, nội dung chương này cung cấp những cơ sở lý luận nền tảng về cấu trúc sở hữu cũng như rủi ro của các ngân hàng thương mại Cụ thể, về cấu trúc sở hữu, bài nghiên cứu sẽ phân tích cụ thể về sở hữu trong các doanh nghiệp phi tài chính và trong ngân hàng Trong khi đó, rủi ro được xét đến ở hai loại cụ thể là rủi ro tín dụng và rủi ro mất khả năng thanh toán

2.1 Khung lý thuyết về cấu trúc sở hữu

Rất nhiều bài nghiên cứu đã được thực hiện cho đến thời điểm này về đề tài cấu trúc sở hữu và các ảnh hưởng của nó Phạm vi nghiên cứu không chỉ chung cho các loại công ty

mà còn đặc biệt được chú ý đi sâu vào mảng ngân hàng và các công ty trong lĩnh vực tài chính Nhìn chung, cấu trúc sở hữu có thể tác động đến hiệu quả hoạt động, hiệu quả quản trị của doanh nghiệp, các mối quan hệ của công ty với khu vực nhà nước và các công ty khác, thậm chí nó còn có thể ảnh hưởng đến nhiệm kì điều hành của các công ty

Và hầu hết các đề tài nghiên cứu này đều kết luận rằng cấu trúc sở hữu là một yếu tố thật

sự có ý nghĩa tác động đến các công ty Sau đây, các nghiên cứu trước về cấu trúc sở hữu

sẽ được chia ra phân tích theo hai hướng: các nghiên cứu cho công ty phi tài chính và các nghiên cứu cho ngân hàng thương mại, công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính

2.1.1 Cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp phi tài chính

Trong nghiên cứu của Gerald R Salancik và Jeffrey Pfeffer (1980) về ảnh hưởng của sở hữu và hiệu suất hoạt động công ty lên nhiệm kì điều hành của các tổng công ty ở Mỹ đã khẳng định rằng: Rõ ràng là quyền sở hữu trung gian mối quan hệ giữa điều hành hoạt động doanh nghiệp Kết luận này được đưa ra thông qua việc điểm định ba giả thuyết sau:

Trang 15

Giả thuyết thứ nhất: quyền sở hữu và hiệu quả hoạt động tương tác với nhau ảnh hưởng đến nhiệm kì điều hành của công ty Nhiệm kì sẽ có tương quan lớn nhất trong trường hợp công ty được điều hành từ phía ngoài, và ít tương quan hơn với những doanh nghiệp

có chủ sở hữu quản lý doanh nghiệp

Giả thuyết thứ hai: tỉ lệ ban giám đốc bên trong công ty càng cao thì nhiệm kì của giám đốc điều hành càng dài

Giả thuyết thứ ba: tỉ lệ ban giám đốc bên trong công ty càng cao, nhiệm kì càng ít bị ảnh hưởng bởi biểu hiện yếu kém của công ty

Bài nghiên cứu về cấu trúc sở hữu và giá trị của những công ty niêm yết tại Việt Nam trên tạp chí Tài Chính của Phạm Hữu Hồng Thái (2013) cũng đề cập đến vấn đề này Ông cho rằng tỷ lệ sở hữu tư nhân của doanh nghiệp càng cao thì giá trị của doanh nghiệp

đó càng cao Do đó, để nâng cao giá trị doanh nghiệp, việc cần thiết là giảm tỉ trọng sở hữu nhà nước và nâng cao tỉ trọng sở hữu tư nhân Tuy nhiên, chính phủ Việt Nam muốn bảo vệ các công ty trong nước trước quá trình hội nhập sau và rộng nên đã hạn chế vai trò của các chủ sở hữu nước ngoài thông qua việc giới hạn số vốn tối đa họ được sở hữu trong một công ty Điều này đã làm giảm hiệu quả của cấu trúc vốn nước ngoài trong việc góp phần tạo nên giá trị lớn hơn cho công ty

2.1.2 Cấu trúc sở hữu của ngân hàng

Theo điều 6 luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì ngân hàng thương mại Việt Nam có thể được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công

ty cổ phần Cũng tại khoản 6 điều 52 luật này đã quy định, các tổ chức tín dụng hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần phải có tối thiểu 100 cổ đông Có thể thấy cổ đông chính

là những chủ sở hữu của ngân hàng thương mại với số lượng cổ đông lớn như vậy, các tổ chức tín dụng, và đặc biệt là ngân hàng sẽ có cấu trúc chủ sở hữu cực kì đa dạng Vậy cấu trúc sở hữu ảnh hưởng đến những mặt nào của ngân hàng thương mại?

Trang 16

Hoạt động trong lĩnh vực tài chính với nghiệp vụ chính là mua bán các nguồn vốn, cấu trúc vốn chủ sở hữu có những ảnh hưởng rất quan trọng đối với ngành công nghiệp ngân hàng

Thứ nhất, cấu trúc sở hữu có thể ảnh hưởng đến nợ xấu và an toàn vốn của các ngân hàng Shehzad, Haan và Scholtens (2010) trong nghiên cứu của mình trên Journal of Banking & Finance đã nhận định sự tập trung trong sở hữu có ảnh hưởng cực kì lớn đến chất lượng nợ và nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng Các tác giả chỉ ra rằng đối với tỉ

lệ an toàn vốn, thì tác động của việc tập trung sở hữu là rất tích cực, nó lại có tác động cản trợ nợ xấu Bên cạnh đó, nếu có hai hoặc ba cổ đông chiếm giữ những khối cổ phần lớn thì kết quả dẫn đến là chất lượng của danh mục đầu tư ngân hàng có thể xấu đi một cách trầm trọng

Có một hướng tiếp cận khác đối với việc quản lý nợ và nguồn vốn của ngân hàng thương mại là hành vi chấp nhận rủi ro của họ Một trong những nghiên cứu về vấn đề này có thể

kể đến đóng góp của Srairi (2013) khi phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hành vi chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi, nơi các ngân hàng hồi giáo phát triển một cách mạnh mẽ Bằng chỉ số Z-score và tỉ

lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, các tác giả đã cho thấy việc thay đổi trong cấu trúc sở hữu sẽ là nguồn gốc dẫn đến những khác biệt trong rủi ro của các ngân hàng Có thể thấy rằng rủi

ro thanh khoản và cả rủi ro tài sản sẽ thấp hơn đối với những ngân hàng có cấu trúc sở hữu tập trung Như vậy nghiên cứu có thể cho thấy rằng các ngân hàng hồi giáo sẽ có rủi

ro tín dụng thấp hơn các ngân hàng bình thường, mặc dù họ phải đối mặt với một số rủi

ro về hoạt động và đầu tư xuất phát từ mô hình tôn giáo phức tạp của họ

Sở hữu của chính phủ rất được quan tâm trong khía cạnh chấp nhận rủi ro của ngân hàng đặc biệt trong hoạt động cho vay của ngân hàng Loại hình sở hữu này chiếm phần lớn trong các ngân hàng trong những năm trước đây, cụ thể có thể thấy năm 1995, tỉ trọng sở hữu của khu vực nhà nước đối với ngành công nghiệp ngân hàng trên toàn thế giới xấp xỉ 41.6% (khoảng 38.5% nếu không bao gồm ngành ngân hàng của các nước xã hội chủ

Trang 17

nghĩa) Có thể thấy sự ảnh hưởng to lớn của sở hữu nhà nước đến hoạt động cho vay của các ngân hàng qua bài nghiên cứu của Paola Sapienza (2002) Trong cùng một điều kiện huy động vốn nhất định giữa ngân hàng sở hữu nhà nước và ngân hàng tư nhân thì điều khác biệt là ngân hàng có sở hữu nhà nước có xu hướng cho vay với lãi suất thấp hơn khu vực sở hữu tư nhân với cùng những đối tượng khách hàng như nhau Mặc khác, hoạt động tín dụng của các ngân hàng có sở hữu nhà nước còn bị tác động bởi các hoạt động bầu cử ở địa phương, các khu vực có hoạt động của các đảng phái liên quan đến ngân hàng càng mạnh thì lãi suất cho vay ở khu vực đó càng thấp

Nghiên cứu của Nicolò và Loukoianova (2007) tìm hiểu về ảnh hưởng của sở hữu đến cấu trúc thị trường và rủi ro Các tác giả đã tập trung nghiên cứu ngành ngân hàng ở các quốc gia đang phát triển_nơi mà hoạt động của ngành ngân hàng đang trên quá trình đổi mới cả về hình thức hoạt động cũng như cấu trúc sở hữu Với 10.000 quan sát cho 133 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1993-2004, mô hình hồi quy đã đưa ra 4 kết quả đáng chú ý

Thứ nhất, có một mối quan hệ cùng chiều giữa sự tập trung quyền lực trong ngân hàng và rủi ro phá sản của nó Tương quan này sẽ lớn nhất khi các ngân hàng nhà nước sở hữu một thị phần đáng kể thị trường tài chính trong nước

Thứ hai, tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể của các quốc gia và doanh nghiệp mà rủi ro của các ngân hàng sở hữu nhà nước sẽ cao hơn rất nhiều so với rủi ro của các ngân hàng

sở hữu tư nhân trong nước

Thứ ba, khi tiến hành mở rộng thị phần, các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng sở hữu nhà nước sẽ gặp phải rủi ro cao hơn các ngân hàng tư nhân

Thứ tư, các ngân hàng nhà nước và nước ngoài sẽ có tầm ảnh hưởng lớn hơn và chi phi phá sản thấp hơn đối với các ngân hàng thương mại sở hữu tư nhân

Ngoài ra, bài nghiên cứu còn cho thấy tác động của từng loại sở hữu khác nhau đến thị phần hoạt động của các ngân hàng Giai đoạn từ sau năm 1994 đã đánh dấu sự gia tăng

Trang 18

mạnh mẽ trong thị phần của các ngân hàng sở hữu nước ngoài, điều này có thể cho thấy lợi thế về quy mô vốn, chất lượng dịch vụ cũng như trình độ công nghệ của các nước phát triển đang ngày càng được mở rộng ở thị trường của các nước đang phát triển ngoại trừ nhóm có thu nhập trung bình thấp Bên cạnh đó, các ngân hàng sở hữu nhà nước cũng giảm thị phần liên tục trong khu vực thu nhập thấp và đẩy mạnh thị phần ở khu vực thu nhập cao hơn

Nếu sở hữu nhà nước được nhắc nhiều trong ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng thì sở hữu tư nhân, sở hữu nước ngoài sẽ được chú trọng nghiên cứu nhiều hơn trong việc phân tích ảnh hưởng của nó đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Gần đây, làn sóng tư nhân hóa các ngân hàng đã xảy ra mạnh mẽ, ngày càng nâng cao vai trò của các chủ sở hữu nội địa và chủ sở hữu nước ngoài Trong nghiên cứu của Alvaro Taboada (2008) về tác động của việc thay đổi trong cấu trúc sở hữu đến hiệu quả phân bổ nguồn vốn thì việc tư nhân hóa sở hữu ngân hàng đã được thực hiện trên toàn thế giới, xu hướng sở hữu nước ngoài cũng được mở ra và phát triển mạnh mẽ Không những nghiên cứu cấu trúc sở hữu ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả phân phối nguồn vốn của ngân hàng, Alvaro Taboada còn nhận định về ảnh hưởng của yếu tố sở hữu này tác động như thế nào đến GDP của nền kinh tế Thông qua việc phân phối nguồn vốn một cách hiệu quả, cấu trúc sở hữu gián tiếp cung cấp thêm tín dụng cho các ngành công nghiệp, từ đó

họ có thể mở rộng sản xuất và tạo ra GDP lớn hơn Ở đây, hiệu quả phân phối nguồn vốn được hiểu như là sự gia tăng nguồn tài trợ đối với những ngành kinh tế đang phát triển giảm nguồn tài trợ này với các ngành kinh tế kém phát triển (Wurgler (2000))

Micco và các đồng sự (2004) sau khi phân tích số liệu gồm 50,000 quan sát từ 119 quốc gia trong khoảng thời gian từ năm 1995 đến năm 2002, sử dụng mô hình định lượng riêng cho nhóm quốc gia đang phát triển và nhóm phát triển đã thấy được sự khác nhau trong mức độ liên quan giữa sở hữu và hiệu quả hoạt động của ngân hàng Ông tìm ra rằng ở các nước đang phát triển, mối tương quan giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của

Trang 19

ngân hàng sẽ lớn hơn rất nhiều đối với các nước công nghiệp phát triển Một vấn đề nữa được đề cập trong bài nghiên cứu đó là đối với các quốc gia đang phát triển, nên đẩy mạnh tỉ lệ sở hữu tư nhân và sở hữu nước ngoài trong ngân hàng Bởi sở hữu nhà nước tồn tại bấy lâu nay đã đưa các ngân hàng hoạt động theo hướng lợi nhuận thấp trong khi chi phí quá cao Khu vực tư nhân và nước ngoài sẽ đón vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng, tạo ra một nền công nghiệp ngân hàng năng động hơn với tỉ suất sinh lợi cao và chi phí hoạt động giảm đáng kể

Tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng cũng là vấn đề rất được quan tâm Burcu Aydın

đã cho thấy ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến sự phát triển trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng ở các quốc gia CEE, nơi có nền tài chính và kinh tế cực kì phát triển Tác giả đã chú trọng phân tích tác động của sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài trong bài

nghiên cứu này

Tác giả cũng đã chỉ ra các xu hướng tích cực của các ngân hàng sở hữu nước ngoài trong khâu tín dụng Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng nước ngoài khá cao so với khối sở hữu nhà nước Thêm vào đó, hoạt động cho vay của các ngân hàng nước ngoài khá linh hoạt, họ không gặp phải hạn chế về vốn của thị trường trong nước Tác động tích cực thứ ba là các ngân hàng nước ngoài cạnh tranh khá tốt với nhau cùng nhau giảm chi phí huy động vốn Loại hình ngân hàng nước ngoài thật sự phát triển mạnh

ở CEE là bởi sự phát triển tốt của nền kinh tế cũng như mức lãi suất khá hấp dẫn Mỗi nhà nghiên cứu khi thực hiện các phân tích của mình đều phân chia cấu trúc sở hữu thành các thành phần khác nhau, phù hợp với mục đích và mô hình mà họ hướng đến

Mayers và các cộng sự (1990) khi nghiên cứu về nhu cầu bảo hiểm của các doanh nghiệp

đã đưa ra các biến giả trong mô hình để thể hiện cho các loại cấu trúc sở hữu mà họ nghiên cứu bao gồm: sở hữu Lloyd’s, công ty cổ phần, sở hữu lẫn nhau và sở hữu đối ứng Hơn nữa, loại hình công ty cổ phần còn được xem xét dưới góc độ chủ sở hữu của công ty là hiệp hội, hộ gia đình, tổ chức đóng (từ 100 cổ đông trở xuống) hay tổ chức mở

Trang 20

rộng (trên 100 cổ đông) Ông còn phân tích dưới góc độ công ty cổ phần này là công ty con cho các doanh nghiệp hay là một bộ phận của một tập đoàn kinh tế lớn

Tóm lại, đã có rất nhiều nghiên cứu viết về cấu trúc sở hữu của các ngân hàng thương mại được thực hiện ở các nước trên thế giới trong những khoản thời gian, bằng những phương pháp khác nhau Tuy nhiên, ở Việt Nam, chưa có nhiều bài viết về vấn đề này Trong khi đó hình thức sở hữu ở Việt Nam khá đa dạng và có nhiều thay đổi mạnh mẽ trong những năm gần đây nên việc tìm hiểu về cấu trúc sở hữu của ngân hàng thương mại theo các nhóm: sở hữu cá nhân, sở hữu nhà nước, sở hữu tổ chức và sở hữu nước ngoài là rất cần thiết

2.2 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

2.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng

Cụm từ tín dụng có nguồn gốc từ tiếng Latinh, “credittum”, với ý nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm Một cách đơn giản, tín dụng chính là sự vay mượn dưới hình thức tiền tệ dựa trên uy tín của người đi vay, bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả khoản nợ đã vay theo thời hạn thỏa thuận và kèm với lãi suất Vậy thực chất, tín dụng thể hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống theo nguyên tắc hoàn trả

Trong lĩnh vực ngân hàng, tín dụng là một trong những nghiệp vụ rất quan trọng, thể hiện một mối quan hệ hình thành giữa các ngân hàng với nhau, giữa ngân hàng với các tổ chức tín dụng khác hoặc với các đối tác kinh tế-tài chính của toàn xã hội bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước Trong mối quan hệ này ngân hàng sẽ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng sang khách hàng hoặc ngược lại, trong một thời gian nhất định và đồng thời bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả cả vốn gốc lẫn lãi khi đến hạn thanh toán Trong bài nghiên cứu này chúng tôi tập trung phân tích nghiệp

vụ tín dụng dưới góc cạnh là hoạt động cho vay của ngân hàng

Trang 21

Nghiên cứu về nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng thương mại, rủi ro tín dụng (credit risk)

là một khía cạnh luôn được các nhà phân tích kinh tế quan tâm Có rất nhiều định nghĩa

về rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại Theo thông tư số 02/2013/TT-NHNN tại khoản 1 điều 3, rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là “tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.” Theo Thomas P.Fitch (2000) trong “Từ điển thuật ngữ chuyên ngành Ngân Hàng Barron” rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi bên đi vay không thể thanh toán các khoản nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng dẫn đến việc không thực hiện nghĩa vụ trả

nợ đúng hạn Trong cuốn “Phân tích và quản trị rủi ro Ngân Hàng”, Greuning và Bratanovic (2003) cho rằng rủi ro tín dụng là nguy cơ mà người đi vay không có khả năng chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc đã được qui định trong hợp đồng tín dụng Việc hoàn trả đó có thể sẽ bị trì hoãn hoặc thậm chí không được thực hiện và điều này sẽ dẫn đến những vấn đề liên quan đến dòng tiền và gây ảnh hưởng cho thanh khoản của ngân hàng Vậy nói một cách tổng quát, rủi ro tín dụng là việc người đi vay không trả được nợ khi đến hạn phải thanh toán theo hợp đồng

2.2.2 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng

Dựa vào tiêu chí đối tượng gây ra rủi ro, nguyên nhân hình thành rủi ro tín dụng ngân hàng có thể chia thành nguyên nhân từ phía khách hàng hay cụ thể là các doanh nghiệp

và nguyên nhân từ phía bản thân ngân hàng

Từ phía khách hàng

Nguyên nhân hình thành rủi ro tín dụng thường bắt nguồn từ việc các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh nhưng sau đó bị thua lỗ dẫn đến mất khả năng thanh toán khoảng tiền đã vay

Kinh tế vĩ mô là một trong những yếu tố dẫn đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng Những yếu tố vĩ mô của nền kinh tế trong nước như GDP, lạm phát, FPI, FDI… có sự

Trang 22

ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Ví dụ như khi các dòng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam giảm do khủng hoảng tài chính toàn cầu hoặc lạm phát đang nằm ở mức khá cao sẽ khiến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bị đình trệ, thua lỗ, từ đó dẫn đến khó khăn trong việc hoàn trả các khoản đã vay cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán Trong giai đoạn gần đây cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nói về vấn đề này như Pesola (2011), PGS TS Trương Đông Lộc, Ths Nguyễn Thị Tuyết (2011), Castro (2013) Bên cạnh đó, hầu hết các doanh nghiệp ở Việt Nam chủ yếu vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp nên hoạt động kinh doanh có hiệu quả hay không vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào thời tiết, khí hậu Chính sự phụ thuộc này đã dẫn đến không ít những doanh nghiệp ở Việt Nam đã bị tổn thất nặng nề thậm chí dẫn đến phá sản khi thời tiết thay đổi bất thường hoặc bất ngờ có thiên tai (lũ lụt, hạn hán…) xảy ra Không chỉ bị tác động bởi những yếu tố trong nước, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam còn bị ảnh hưởng rất lớn từ thế giới Các sản phẩm ở nước ta chủ yếu là các mặt hàng gia công, nguyên vật liệu phần lớn được nhập khẩu từ nước ngoài Một sự thay đổi trong giá cả đầu vào có thể gây khó khăn cho tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Hơn nữa, quá trình hội nhập ở Việt Nam ngày càng được đẩy mạnh đã khiến các doanh nghiệp nước ngoài dễ dàng tiếp cận với thị trường trong nước, dẫn đến

sự cạnh tranh trong thị trường ngày càng gay gắt Các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả sẽ nhanh chóng bị loại ra khỏi cuộc chơi, thua lỗ, phá sản trong khi vẫn còn một khoản nợ chưa thanh toán cho ngân hàng

Ngoài các nguyên nhân của kinh tế vĩ mô, môi trường pháp lý cũng là một trong những nguyên nhân khách quan dẫn đến rủi ro tín dụng của ngân hàng Tại Việt Nam, khung pháp lí quy định các luật lệ, chính sách quản lý kinh tế còn khá nhiều những bất cập và hay thay đổi đột ngột đã gây không ít khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp Một

số nhà nghiên cứu trên thế giới cũng đã đưa ra những nhận định của mình về môi trường đặc thù này như González (2004) nói về mối quan hệ giữa những qui định hạn chế và hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng hay Haq, Faff, Seth, Mohanty (2013) bàn về những công cụ quản lý và rủi ro của ngân hàng các nước châu Á Thái Bình Dương

Trang 23

Ngoài ra những rủi ro bất ngờ khác như cháy nổ, dịch bệnh cũng là một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng

Những nguyên nhân từ chủ quan từ phía doanh nghiệp như quản lí kém, nguồn lực không

đủ để có thể ứng phó trước những biến động bất ngờ của thị trường hoặc sử dụng vốn sai mục đích cũng là những yếu tố quan trong gây ra rủi ro tín dụng của ngân hàng hay nói cách khác là nguyên nhân dẫn đến việc thua lỗ và không thanh toán được nợ của doanh nghiệp cho ngân hàng

Từ phía ngân hàng

Rủi ro tín dụng không chỉ bắt nguồn từ phía các doanh nghiệp, tổ chức vay vốn mà còn bắt nguồn từ chính bản thân ngân hàng Nhiều ngân hàng do muốn tranh giành thị trường với các ngân hàng khác hoặc gấp gáp trong việc giải ngân đã nới lỏng chính sách cho vay quá mức khiến cho các quy trình thẩm định tín dụng trở nên lỏng lẻo dẫn đến việc tỉ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ ngày càng lớn Hơn nữa, chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng ở nước ta vẫn chưa cao, một số do thiếu trình độ chuyên môn, thiếu kinh nghiệm trong nghiệp vụ thẩm định nên không đánh giá chính xác được hồ sơ vay vốn của doanh nghiệp, một số khác do vi phạm đạo đức nghề nghiệp, thông đồng với doanh nghiệp đi vay để chiếm đoạt tài sản ngân hàng và kèm theo đó là công tác quản lý, kiểm soát còn hời hợt nên hệ quả cuối cùng là nợ xấu trong hệ thống ngày càng tăng cao Thông tin bất cân xứng cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định của ngân hàng Các ngân hàng Việt Nam hầu hết vẫn chưa có một hệ thống dữ liệu đầy đủ về khách hàng, những thông tin được ngân hàng phân tích trước khi đưa ra quyết định cho vay hầu hết đều dựa trên thông tin được cung cấp từ khách hàng và thường không được thông qua bất kì kênh kiểm tra chéo nào

2.2.3 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng

Là một trong những loại rủi ro chủ yếu của ngân hàng nên rủi ro tín dụng có thể dẫn đến rất nhiều hậu quả cho hoạt động của ngân hàng Đầu tiên, rủi ro tín dụng có thể làm giảm

Trang 24

lợi nhuận của ngân hàng thông qua việc ngân hàng phải trích lập các khoản dự phòng tùy theo mực độ nợ xấu và tài sản đảm bảo Thứ hai, uy tín của ngân hàng có thể bị ảnh hưởng khi tồn tại một tỉ lệ nợ xấu cao trong hệ thống Mỗi năm, các ngân hàng đều phải thống kê và thể hiện các chỉ số tài chính lên báo cáo thường niên và công bố cho mọi cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế nói chung cũng như cổ đông nói riêng biết Việc có một tỉ

lệ nợ xấu trên tổng dư nợ lớn sẽ tác động không nhỏ đến tâm lý của người dân cũng như các cổ đông, mọi người sẽ không còn tin tưởng ngân hàng dẫn đến chữ tín của ngân hàng

bị ảnh hưởng nghiêm trọng Uy tín bị ảnh hưởng, ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc huy động vốn do lúc này các cá nhân, tổ chức cảm thấy bất an và không muốn gửi tiền vào ngân hàng khiến thanh khoản của ngân hàng trở nên xấu đi, thậm chí một số trường hợp nghiêm trọng hơn, các cá nhân do tâm lý theo số đông lo sợ bị mất tiền vì ngân hàng đang hoạt động không tốt sẽ rút tiền ào ạt và dẫn đến sự phá sản của ngân

hàng

2.2.4 Các nghiên cứu về rủi ro tín dụng của ngân hàng

Trước đây đã có rất nhiều giáo sư, nhà phân tích kinh tế thực hiện các nghiên cứu về rủi

ro tín dụng của hoạt động ngân hàng Bàn về sự ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến rủi

ro tín dụng, Castro (2013) đã áp dụng mô hình bảng động với dữ liệu là các quốc gia GIPSI từ quí 1 năm 1997 đến quí 3 năm 2011 và nhận thấy rằng rủi ro tín dụng tăng khi

sự tăng trưởng GDP, chỉ số giá cổ phiếu và giá nhà ở có xu hướng giảm và tỉ lệ thất nghiệp, lãi suất thị trường và tăng trưởng tín dụng có xu hướng tăng Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng cũng có mối quan hệ cùng chiều với sự tăng giá của tỉ giá hối đoái thực Không những thế, rủi ro tín dụng còn gia tăng đáng kể trong giai đoạn nền kinh tế đang lâm vào khủng hoảng

Theo Yurdakul (2013), khi ông nghiên cứu mối quan hệ của rủi ro tín dụng với một số biến vĩ mô khác tại quốc gia Thổ Nhĩ Kì từ tháng 1 năm 1998 đến tháng 7 năm 2012, tốc

độ tăng trưởng và chỉ số ISE-100 tăng sẽ làm giảm rủi ro tín dụng trong dài hạn trong khi cung tiền, tỉ giá hối đoái, tỉ lệ thất nghiệp, tỉ lệ lạm phát và lãi suất tăng sẽ làm tăng rủi ro

Trang 25

này khi Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy rủi ro tín dụng của kì trước sẽ có ảnh hưởng đến rủi ro kì sau

Nói về mối quan hệ giữa môi trường pháp lý và rủi ro tín dụng, Chen (2007) đã nghiên cứu ảnh hưởng của sắc lệnh Ngân hàng năm 1993 ở châu Âu đối với rủi ro của các ngân hàng thuộc liên minh châu Âu từ năm 1990 đến 1999 Nghiên cứu này cho thấy việc bãi

bỏ một số những kiểm soát về qui định của nhà nước đối với ngành ngân hàng, tạo điều kiện cho các ngân hàng nước ngoài dễ dàng tham gia vào thị trường trong nước sẽ khiến các ngân hàng nội địa thận trọng hơn trong việc cho vay, các cá nhân, tổ chức đi vay lúc này sẽ bị sàn lọc kĩ lưỡng hơn (cho dù lãi suất cho vay lúc này có thể thấp hơn do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt) khiến rủi ro tín dụng của ngân hàng giảm

Không chỉ chịu sự chi phối của các yếu tố bên ngoài, rủi ro tín dụng còn chịu ảnh hưởng không nhỏ từ các yếu tố bên trong của ngân hàng Haq và Heaney (2012) đã nghiên cứu

sự ảnh hưởng của nguồn vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ, hoạt động ngoại bảng, tỉ lệ chi trả

cổ tức và quy mô của ngân hàng đối với rủi ro ngân hàng nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng Bài nghiên cứu dựa trên dữ liệu số liệu của 117 tổ chức tín dụng tại 15 quốc gia châu Âu từ năm 1996 đến năm 2010 và đã đưa ra một số nhận định Nguồn vốn chủ sở hữu cũng như vốn điều lệ của ngân hàng có mối quan hệ phi tuyến tính với rủi ro tín dụng, đồng thời trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu, tác động ngược chiều của hai yếu tố này đối với rủi ro tín dụng càng được thể hiện rõ nét hơn Việc gia tăng các hoạt động ngoại bảng có thể làm tăng rủi ro tín dụng và ngân hàng với qui mô càng lớn sẽ có xu hướng chịu rủi ro tín dụng càng thấp

2.3 Rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng

Bên cạnh rủi ro tín dụng, tuy không thường xuyên xảy ra nhưng rủi ro mất khả năng thanh toán lại giữ một vị trí rất quan trọng trong các loại rủi ro do nó liên quan đến sự sống còn của một ngân hàng và đôi khi là cả hệ thống tài chính của một quốc gia

Trang 26

2.3.1 Khái niệm rủi ro mất khả năng thanh toán

Rủi ro mất khả năng thanh toán (insolvency risk) là một trong những rủi ro được đề cập trong giai đoạn gần đây đặc biệt khi các cuộc khủng hoảng trên phạm vi toàn cầu nói chung và từng khu vực nói riêng liên tiếp xảy ra Tuy nhiên khái niệm về rủi ro mất khả năng thanh toán vẫn chưa được đề cập phổ biến trong các nghiên cứu

Theo Lastra và Schiffman (1999), tình trạng mất khả năng thanh toán có thể được định nghĩa bằng hai cách Thứ nhất, đó là sự thất bại trong việc hoàn trả những nghĩa vụ tài chính khi đến hạn Thứ hai, đó là tình trạng khoản mục nợ phải trả vượt quá tài sản trên bảng cân đối kế toán Như vậy có thể hiểu rằng rủi ro mất khả năng thanh toán là một biến cố bất ngờ xảy ra khi một cá nhân hoặc một tổ chức không thể thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình đối với bên cho vay khi đến hạn thanh toán Rủi ro này thường có thể dẫn đến việc phá sản của tổ chức

Đối với ngành ngân hàng, rủi ro mất khả năng thanh toán xuất hiện khi ngân hàng mất khả năng chi trả các khoản nợ khi đến ngày đáo hạn Các ngân hàng lúc này sẽ rơi vào tình trạng kiệt quệ về tài chính và đi đến việc phá sản hoặc hợp nhất, sáp nhập với ngân hàng khác nhằm tạo ra một ngân hàng mới vững mạnh hơn và bảo vệ quyền lợi của người cho vay

2.3.2 Nguyên nhân của rủi ro mất khả năng thanh toán

Do tính đặc thù về kinh tế, việc mất khả năng thanh toán của ngân hàng không phải lúc nào cũng có thể xảy ra trừ trường hợp các yếu tố gây rủi ro tác động liên tục trong một thời gian dài hoặc xảy ra bất ngờ khiến các ngân hàng chưa kịp có kế hoạch hành động Nguyên nhân thường được đề cập chính là trường hợp ngân hàng mắc phải những tin đồn thất thiệt, gây tâm lý hoang mang cho người gửi tiền dẫn đến hành động rút tiền ào ạt, ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng Điển hình như trường hợp của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu năm 2003, khi rộ lên tin đồn tổng giám đốc bỏ trốn, người dân đã kéo nhau đến các trụ sở của ngân hàng này để rút tiền khiến ngân hàng rơi vào tình trạng thanh khoản kém Như vậy nếu tình trạng này xảy trong một thời gian dài và

Trang 27

ngân hàng lúc này không có sẵn một lượng tiền mặt đủ lớn hoặc không tuân thủ các qui định về dự trữ bắt buộc chắc chắn sẽ gặp khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, dẫn đến sự tê liệt trong hoạt động, cuối cùng phải đi đến việc sáp nhập, hợp nhất Hơn nữa, các ngân hàng nói chung và ở Việt Nam nói riêng có mối quan hệ sở hữu chéo rất phức tạp, việc một ngân hàng mất khả năng thanh toán đôi khi có thể ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán của các ngân hàng liên quan đặc biệt là những ngân hàng nhỏ, tiềm lực tài chính còn yếu Bên cạnh đó, qua những phân tích trên , chúng ta có thể thấy rằng ,

ở một khía cạnh nào đó, rủi ro thanh khoản và rủi ro mất khả năng thanh toán có thể có mối quan hệ với nhau

Một nguyên nhân khác gây ra rủi ro mất khả năng thanh toán cho các ngân hàng thường bắt nguồn từ việc các cá nhân, tổ chức vay vốn của ngân hàng không hoàn trả vốn gốc và lãi đúng hạn hoặc bị phá sản, không còn khả năng chi trả khiến tài sản của ngân hàng lúc này thấp hơn so với những khoản nợ phải trả Việc không thu hồi được các khoản nợ có thể từ các yếu tố khách quan như rủi ro thiên tai, hỏa hoạn khiến các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản hoặc yếu tố chủ quan từ phía ngân hàng khi thực hiện các nghiệp

vụ thẩm định lỏng lẻo như theo Campell (2007) rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng có mối liên hệ với tỉ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ Cuối cùng về lâu dài nếu không có biện pháp khắc phục sẽ dẫn đến việc ngân hàng không đủ nguồn lực tài chính để hoàn trả các khoản nợ đã vay

Năng lực quản lý kém tuy ít khi dẫn đến rủi ro mất khả năng thanh toán ở các ngân hàng nhưng trong một số trường hợp, đặc biệt với các ngân hàng nhỏ, sức cạnh tranh trong thị trường còn yếu, rủi ro này vẫn có thể xảy ra Ngân hàng là một ngành rất nhạy cảm với yếu tố tâm lý Khi một ngân hàng bị cho là có năng lực điều hành kém và qui mô vốn nhỏ

sẽ rất khó để thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn và cho vay Chính vì thế xét trong thời gian dài, hoạt động kinh doanh của ngân hàng này sẽ gặp nhiều khó khăn dẫn đến thua lỗ, cuối cùng sẽ không còn đủ khả năng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình

Trang 28

2.3.3 Ảnh hưởng của rủi ro mất khả năng thanh toán

Rủi ro mất khả năng thanh toán là một trong những rủi ro khá hiếm khi xảy ra nhưng lại

có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các ngân hàng Rủi ro này xuất hiện đồng nghĩa với việc ngân hàng đang rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính và nếu không có biện pháp kịp thời, khả năng dẫn đến sự phá sản của ngân hàng là rất cao Tuy nhiên, hiện tại ở Việt Nam vẫn chưa có qui định cụ thể về việc phá sản ngân hàng nên hầu hết các ngân hàng khi rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán trong thời gian dài thường sẽ đi đến việc hợp nhất, sáp nhập với các ngân hàng khác

Ngân hàng là một ngành khá nhạy cảm, do đó sự sụp đổ của một ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng lớn có thể ảnh hưởng đến niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính của quốc gia Chính vì thế, rủi ro mất khả năng thanh toán không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của bản thân ngân hàng, mà còn có thể ảnh hưởng đến cả hệ thống tài chính của một quốc gia Thông thường, các ngân hàng lớn sẽ được giúp đỡ bởi ngân hàng trung ương, điển hình như các trường hợp ngân hàng bị mất khả năng thanh khoản do tin đồn Tuy nhiên, cũng chính hành động này có thể sẽ khiến ngân hàng trung ương phải đối mặt với vấn đề thay đổi chính sách tiền tệ hiện tại, sao cho vừa có thể điều tiết nền kinh tế vĩ

mô, vừa có thể đưa ngân hàng thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh khoản

2.3.4 Các nghiên cứu về rủi ro mất khả năng thanh toán trước đây

Nghiên cứu tác động của qui định về an toàn vốn, Shu Ling Lin, Jack H.W.Penm, Chi Gong và Chinh-Shan Chang (2005) sau khi lấy mẫu là 40 ngân hàng ở Trung Quốc

Shang-đã nhận thấy rằng trước khi ban hành những qui định mới về an toàn vốn (trước năm 1998) tỉ lệ an toàn vốn và rủi ro mất khả năng thanh toán ở các ngân hàng có mối quan hệ ngược chiều, trong khi đó, mối quan hệ này thay đổi khi các qui định mới ban hành Kết quả thực nghiệm đã cho thấy rằng yêu cầu an toàn vốn càng cao thì rủi ro mất khả năng thanh khoản cũng càng cao Hay nói cách khác khi những qui định quản lý an toàn vốn càng khắt khe thì ngân hàng sẽ có xu hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn và cũng đồng nghĩa với việc dễ dàng bị tổn thương hơn Điều này cũng đã được chứng minh bởi nhiều

Trang 29

nghiên cứu trước như Kahane (1997), Koehn và Santomero (1980), Kim và Santomero(1988), Chen (1993) Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy qui mô tài sản và chỉ số rủi ro mất khả năng thanh khoản có mối quan hệ cùng chiều sau khi qui định mới được thực hiện và ngược lại trong khoảng thời gian trước đó

Theo Rivard và Thomas (1997), khi rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì lợi nhuận của nó sẽ càng thấp Chính vì thế, nếu các ngân hàng muốn giảm thiểu rủi ro này sẽ cần phải mở rộng phạm vi hoạt động, cố gắng đa dạng hóa các sản phẩm làm doanh thu tăng trưởng và hạn chế sự biến động của lợi nhuận

Thông qua việc sử dụng mô hình hồi qui logistic trên 400 ngân hàng từ năm 1987 đến năm 1993, Laitinen (2000) đã cho thấy tỉ lệ tiền mặt trên tổng tài sản, dòng tiền trên tổng tài sản, vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản đều có ảnh hưởng đến rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng

2.4 Tổng quan các bài nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu

và rủi ro của ngân hàng

Các nghiên cứu về cấu trúc sở hữu ngân hàng đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ vào những năm 90 của thế kỷ trước, chứng tỏ ảnh hưởng quan trọng của nó đến hoạt động của hệ thống ngân hàng nói riêng và cả nền kinh tế nói chung

Một số bài nghiên cứu không những đo lường mối quan hệ của cấu trúc ngân hàng và các yếu tổ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của chúng mà còn đặt vào một số giai đoạn nhất định, chứng tỏ sự ảnh hưởng của các sự kiện kinh tế toàn cấu đến mối quan hệ đó Đầu tiên là nghiên cứu của Suanders, A., Strock, E và Travlos , N (1990), nhóm tác giả

đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến việc chấp nhận rủi ro trong thời kỳ các khung pháp lý đang được dở bỏ (1979-1982) Bài nghiên cứu tập trung vào hai đối tượng chính là ngân hàng mà những nhà quản trị chỉ nắm số ít cổ phần, hoạt động với phương thức là tối đa hóa lợi nhuận của họ và ngân hàng mà những nhà quản trị nắm giữ

số lượng lớn cổ phần và phương thức hoạt động là tối đa hóa lợi nhuận cổ đông Tác giả

đã đưa ra kết luận rằng loại hình ngân hàng thứ nhất chấp nhận rủi ro cao hơn loại hình

Trang 30

thứ hai và nó càng thể hiện rõ hơn trong giai đoạn các đạo luật đang được bãi bỏ vào giai đoạn 1979-1982 Tiếp theo cũng nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc và rủi ro của ngân hàng nhưng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính châu Á và thay đổi đối tượng nghiên cứu sang ngân hàng quốc doanh và ngân hàng tư nhân, nhóm tác giả M.M., Guo, L., Khaksari, S , và Tehranian , H.(2010) đã tìm ra được rằng trước năm 2001, mô hình ngân hàng quốc doanh có khả năng sinh lợi kém hơn, nguồn vốn ít hơn và rủi ro tín dụng cao hơn so với ngân hàng tư nhân Điều này còn thể hiện rõ hơn vì sự can thiệp của chính phủ và các chính sách chính trị nhiều hơn Hơn nữa, từ năm 1997 đến năm 2000, bốn năm sau khi cuộc khủng hoảng bắt đầu sự suy giảm trong lợi nhuận từ dòng tiền, nguồn vốn và chất lượng tín dụng của ngân hàng quốc doanh lớn hơn rất nhiều so với ngân hàng

tư nhân đặc biệt là các quốc gia bị ảnh hưởng nặng của cuộc khủng hoảng Tuy vậy đến giai đoạn năm 2001-2007 sự khác biệt trong hiệu quả kinh doanh của ngân hàng quốc doanh và ngân hàng tư nhân đã được giảm đi đáng kể, cụ thể là trong thu nhập từ dòng tiền, nguồn vốn và nợ xấu Như vậy chúng ta thấy được rằng ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu lên rủi ro cũng như hiệu quả kinh doanh của hệ thống ngân hàng bị ảnh hưởng khá lớn của các giai đoạn kinh tế gắn liền với sự thay đổi trong chính sách của các nước Bàn về sự ảnh hưởng của mức độ tập trung sở hữu lên rủi ro của ngân hàng, trên tạp chí

“Banking and Finance”, Shehzad, C.T., De Haan, J., và Scholtens, B (2010) đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của mức độ tập trung sở hữu lên chất lượng của những khoản cho vay

và an toàn vốn Bài nghiên cứu đã dùng hai chỉ số để chỉ mức độ rủi ro của ngân hàng đó

là tỉ lệ nợ xấu và an toàn vốn Với số mẫu khá lớn, 300 ngân hàng thương mại trên hơn

50 quốc gia nhóm tác giả đã tìm ra được mối quan hệ giữa mức độ tập trung sở hữu ( đại diện bởi mức độ cổ phần ) có ảnh hưởng đến tỉ lệ nợ xấu trong ngân hàng Cụ thể, trong điều kiện giám sát từ xa và quyền lợi của cổ đông được bảo về, việc tập trung sỡ hữu sẽ làm giảm đáng kể tỉ lệ nợ xấu Hơn nữa, trong điều kiện có sự bảo vệ cổ đông thì sự tập trung sở hữu sẽ ảnh hưởng tích cực đến tỉ lệ an toàn vốn Nhưng nếu trong diểu kiện quyền lợi bảo vệ của cổ đông và sự giám sát thấp thì sự tập trung sở hữu sẽ làm giảm rủi

ro trong ngân hàng Cùng một mối quan tâm là mức độ tập trung sở hữu Iannotta, G., Nocera, G., và Sironi, A.(2007) đã công bố báo cáo nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc

Trang 31

sở hữu đến rủi ro và hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng châu Âu Nghiên cứu này dùng biến đo lường độ tập trung sở hữu để đại diện cho cấu trúc sở hữu khác nhau và

đo lường sự ảnh hưởng của nó lên khả năng sinh lợi, hiệu quả chi phí và rủi ro của ngân hàng Tác giả đã nghiên cứu 181 ngân hàng lớn ở 15 nước châu Âu và chia chúng làm 4 loại hình sở hữu: Ngân hàng sở hữu nhà nước, ngân hàng sở hữu bởi cá nhân, ngân hàng đại chúng và ngân hàng tiết kiệm Qua bài nghiên cứu, nhóm tác giả đã rút được ba kết quả chính Thứ nhất, sau khi đã loại bỏ tính chất đặc thù của từng ngân hàng và ảnh hưởng của quốc gia cũng như thời gian, ngân hàng tiết kiệm và ngân hàng nhà nước có khả năng sinh lợi thấp hơn và chi phí cao hơn ngân hàng sở hữu cá nhân Thứ hai, ngân hàng đại chúng có chất lượng các khoản cho vay thấp hơn và nguy cơ phá sản cao hơn so với tất cả các loại ngân hàng khác và ngân hàng là ngân hàng có chất lượng cho vay tốt nhất và rủi ro tài sản thấp nhất Tuy nhiên, kết luận cuối cùng khá khác biệt so với các nghiên cứu trước vì cho rằng mức độ tập trung sở hữu không ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi Bên cạnh đó, họ vẫn khẳng định mức độ này có ảnh hưởng đến chất lượng các khoản cho vay, rủi ro tài sản và rủi ro phát sản Cụ thể, khi ngân hàng có mức độ tập trung sở hữu cao hơn thì chất lượng các khoản cho vay sẽ tốt hơn, rủi ro về tài sản và rủi

ro phá sản cũng sẽ giảm đi Chính vì những khác biệt này cộng thêm sự khác biệt về cấu trúc tài sản và cấu trúc vốn mà mỗi hình thức sở hữu ngân hàng sẽ tạo ra những mô hình tài chính khác nhau

Bên cạnh việc nghiên cứu mối quan hệ của mức độ tập trung sở hữu và rủi ro của ngân hàng, nhiều công trình nghiên cứu còn phân tích sự khác nhau trong hành vi chấp nhận rủi ro của các loại hình ngân hàng Nhóm tác giả Garcia-Marco, T và Roles-Fernandez, M.D (2008) đã thực hiện một nghiên cứu ở Tây Ban Nha để tìm hiểu về sự khác nhau này với đối tượng nghiên cứu chính là ngân hàng tiết kiệm và ngân hàng thương mại So với các bài nghiên cứu trước đây, nhóm tác giả đã đưa vào thêm yếu tố quy mô của ngân hàng và nhận thấy rằng khi có cùng quy mô thì ngân hàng tiết kiệm có rủi ro đồng nhất hơn so với ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại hướng tới lợi nhuận nhiều hơn nên sẽ có xu hướng chấp nhận dữ án có rủi ro cao hơn ngân hàng tiết kiệm Đồng thời, các ngân hàng thương mại vừa và nhỏ có mức độ tập trung sở hữu càng cao thì hành vi

Trang 32

chấp nhận rủi ro càng cao, nhưng đối với ngân hàng thương mại vừa và lớn thì hoàn toàn ngược lại, nghĩa là khi mức độ tập trung sở hữu càng cao thì hành vi chấp nhận rủi ro càng thấp Đây là kết luận khá mới mẻ so với các nghiên cứu trước vì biến quy mô được đưa vào và phân tích cụ thể trên từng loại cấu trúc sở hữu Cùng một mục tiêu nghiên cứu các loại hình ngân hàng khác nhau, nhóm tác giả Barry, T.A., Lepetie, L., và Tarazi, A (2011) đã tìm hiểu hai loại hình ngân hàng ở châu Âu là ngân hàng đại chúng và ngân hàng sở hữu bởi cá nhân và đã cho ra một số kết luận rằng cấu trúc sở hữu ảnh hưởng mạnh mẽ lên rủi ro của ngân hàng sở hữu bởi cá nhân hơn ngân hàng đại chúng Tỉ lệ tài sản góp vốn của cá nhân, gia đình hoặc tổ chức tín dụng vào ngân hàng càng lớn thì càng làm giảm mức độ rủi ro trong tài sản và rủi ro trong việc mất khả năng thanh toán Thêm vào đó khi các tổ chức đầu tư và các công ty phi tài chính có phần góp vốn lớn thì mang lại rủi ro lớn nhất cho ngân hàng Đối với ngân hàng đại chúng, như đã nói, việc thay đổi trong cấu trúc sở hữu không ảnh hưởng đến việc chấp nhận rủi ro vì chính áp lực thị trường mới có ảnh hưởng quan trọng tới hành vi chấp nhận rủi ro của nó, và nhóm tác giả

đã nêu lên kết luận khá khác biệt so với những nghiên cứu trước rằng cấu trúc sở hữu không còn là yếu tố quan trọng giải thích sự khác nhau trong rủi ro ở ngân hàng đại chúng Mặc dù vậy, việc nắm giữ phần góp vốn của các tổ chức ngân hàng lớn sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng và rủi ro mất khả năng chi trả giảm

Đi sâu hơn vào các loại hình sở hữu, nhóm tác giả Berger, A N., Clarke, G R., Cull, R., Klapper, L., và Udell, G (2005) đã nghiên cứu ba loại sở hữu là sở hữu trong nước, sở hữu nước ngoài và sở hữu nhà nước Nhóm tác giả đã rất coi trọng các chỉ tiêu của các hoạt động quản trị có liên quan và hầu như đưa hết chúng vào mô hình Số liệu được họ

sử dụng là ở Argentina vào những năm 1990 Họ đã đưa ra được những kết luận rằng ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước có hiệu quả kinh doanh rất thấp trong thời gian dài và tạo nên gánh nặng khi nó tư nhân hóa Nhưng sau khi tư nhân hóa, các ngân hàng này đã

có bước phát triển khá vượt bậc

Không chỉ nghiên cứu về các loại hình của ngân hàng, nghiên cứu của nhóm tác giả Anderson, R.C., và Fraser, D.R (2000) đã bổ sung thêm yếu tố quản trị vào nghiên cứu của mình, góp phần đóng góp vào sự hiểu biết của chúng ta về những nhân tố ảnh hưởng

Trang 33

đến hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng cũng như tình trạng sức khỏe hệ thống ngân hàng của mỗi nước nói chung và từng ngân hàng nói riêng Nhóm tác giả cung cấp bằng chứng về việc cổ phần của những nhà quản trị là yếu tố quan trong trong việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng Cổ phần của những nhà quản trị có mối quan hệ cùng chiều với không chỉ từng rủi ro cụ thể mà còn là toàn bộ rủi ro trong những năm 1980s khi các điều luật về ngân hàng không được thắt chặt và hệ thống ngân hàng đang chịu ảnh hưởng của

áp lực tài chính Mặc dù vậy, những quy định năm 1989 và 1991 được ban hành để làm giảm rủi ro và cũng phản ánh sự cải thiện đáng kể trong giá trị của ngân hàng Việc các nhà quản trị nắm cổ phần có ảnh hưởng ngược chiều đến toàn bộ rủi ro trong những năm

1990 Ngược lại, rủi ro hệ thống không có mối quan hệ với việc nắm giữ cổ phần của các nhà quản trị trong cả hai khoảng thời gian

Kết luận chương 2

Chương 2 đã cung cấp khung lí thuyết và một số những nghiên cứu trước đây về cấu trúc

sở hữu cũng như rủi ro của ngân hàng thương mại, đặc biệt là rủi ro tín dụng và rủi ro mất khả năng thanh toán Qua đó, chúng tôi thấy rằng rủi ro của ngân hàng thương mại bị ảnh hưởng từ rất nhiều yếu tố và cấu trúc sở hữu là một trong những yếu tố quan trọng Cấu trúc này có thể làm giảm hoặc tăng rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt Tùy vào điều kiện ở các không gian, thời gian khác nhau, mối quan hệ giữa rủi ro và cấu trúc sở hữu của ngân hàng thương mại sẽ có sự khác nhau Vì vậy, khi kiểm tra sự ảnh hưởng của cấu trúc sở hửu lên hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng, chúng tôi vô cùng thận trọng xem xét các điều kiện để đảm bảo mô hình mang tính thực nghiệm cao nhất Những phân tích sâu hơn về mối quan hệ này sẽ được chúng tôi trình bày ở những phần tiếp theo

Trang 34

3 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Dựa vào nội dung chương 2 đề cập đến những nền tảng lý thuyết cơ sở về cấu trúc sở hữu

và rủi ro của của ngân hàng từ các nghiên cứu khác nhau trên thế giới, nội dung chương 3

sẽ trình bày tình hình hoạt động của các NHTM Việt Nam, cấu trúc sở hữu vốn hiện nay của các ngân hàng và thực trạng rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

3.1 Thực trạng hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam

Quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ trên thế giới đem lại một sự gắn kết cho nền kinh

tế giữa các quốc gia Cùng với xu hướng đó, năm 2007 Việt Nam chính thức gia nhập WTO, mang lại những kết quả tích cực Tuy nhiên mặt trái của toàn cầu hóa cũng khiến cho nền kinh tế Việt Nam đương đầu với nhiều thách thức Do đó sự phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam cũng không thể đi ngược lại với xu hướng chung, đặc biệt trong giai đoạn 2007-2012 tình hình thế giới có nhiều biến động lớn Khủng hoảng kinh tế năm

2008 được khởi đầu bằng sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng lớn ở Mỹ trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng trong nước Tiếp đó, 2010 bùng nổ nợ công xảy ra ở các nước châu Âu bắt đầu từ Hy Lạp, tài chính thế giới rơi vào bất ổn khiến hoạt động của các ngân hàng Việt Nam khó khăn

Trong nước, dưới áp lực mở cửa thị trường, các ngân hàng TMNN đã tiến hành cổ phần hóa Ngoài ra, đề án tái cấu trúc hệ thống ngân hàng trong giai đoạn 2011-2015 bắt đầu được thực thi Theo đó quan điểm của đề án là, thứ nhất cơ cấu lại hệ thống ngân hàng là một quá trình thường xuyên và liên tục, dựa vào đó, các ngân hàng sẽ phát triển theo hướng an toàn hiệu quả, vững chắc, khắc phục những yếu kém khó khăn mà ngành ngân hàng đang phải đối mặt Thứ hai đa dạng hóa các hình thức sở hữu và quy mô của ngành, trong đó các NHTMNN đóng vai trò chủ lực của hệ thống Thứ ba khuyến khích hoạt động hợp nhất, sáp nhập giữa các TCTD nhằm giảm thiểu rủi ro và tăng hiệu quả hoạt động Thứ tư hoạt động tái cơ cấu được áp dụng phù hợp với từng TCTD cụ thể Và quan điểm cuối cùng là không để xảy ra đổ vỡ và mất an toàn trong hoạt động của ngành

Trang 35

Thông qua đề án trên có thể thấy được nổ lực lành mạnh hóa thị trường tài chính ngân hàng và củng cố năng lực hoạt động của các TCTD

Dưới tác động của các nhân tố vĩ mô trong và ngoài nước, ngành ngân hàng Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập Dưới đây chúng tôi sẽ phản ánh một số khía cạnh chính của bức tranh toàn cảnh ngành ngân hàng Việt Nam thể hiện qua tình hình huy động vốn, hoạt động tín dụng và năng lực tài chính

3.1.1 Hoạt động huy động vốn

Năm 2007, huy động vốn của toàn hệ thống tăng trưởng mạnh với tỷ lệ 47,64%, đây có thể được xem như giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của huy động và tín dụng ngân hàng thương mại Trong đó khối ngân hàng cổ phần, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các TCTD khác đạt tốc độ nhanh nhất 101,85% cao gấp 5 lần so với khối NHTMNN (24,5%) mặc dù các NHTMNN có mức độ nhận biết thương hiệu mạnh, mạng lưới hoạt động rộng khắp

Diễn biến hoạt động huy động vốn trong toàn hệ thống cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ tình hình kinh tế vĩ mô Suy thoái kinh tế thế giới năm 2008 và tình trạng vỡ nợ của các nước châu Âu đã kiềm hãm tốc độ tăng trưởng huy động và xuống thấp nhất vào năm

2008 và 2011 với mức 22.87% và 14.6%

Giai đoạn 2008-2012, do điều kiện kinh tế Việt Nam cũng như thế giới gặp nhiều khó khăn, hàng loạt các doanh nghiệp trong nước ngừng hoạt động, nhu cầu đầu tư sụt giảm Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến sự thu hẹp quy mô huy động vốn của các ngân hàng

Trang 36

Hình 3.1: Tăng trưởng huy động (2007-2012)

Nguồn: Báo cáo thường niên NHNN

3.1.2 Hoạt động cho vay

Hoạt động cho vay là một trong những nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của các NHTM Tại Việt Nam, hoạt động cho vay của ngân hàng có nhiều chuyển biến quan trọng trong giai đoạn 2007 - 2012 Cụ thể từ khi gia nhập WTO, hoạt động đầu tư trong nước phát triển, tăng trưởng dư nợ cao (53,89%) Hoạt động cho vay có sự tăng trưởng nóng với đột phá của khối ngân hàng cổ phần, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các tổ chức tín dụng (TCTD) 105,27% trong khi khối NHTMNN chiếm hơn 50% tổng tài sản của các ngân hàng thuơng mại chỉ đạt tăng trưởng ở mức 31,09% Nhưng xét về cơ cấu cho vay, khối ngân hàng sở hữu nhà nước vẫn chiếm ưu thế với hơn 50% Khi cuộc khủng hoảng kinh

tế thế giới bùng nổ, tăng trưởng có phần chậm lại trong năm 2008 Không chỉ riêng ngân hàng, ngành bất động sản (BĐS) cũng rơi vào trạng thái đóng băng mà nguyên nhân sâu

xa xuất phát từ ngân hàng thương mại Thị trường BĐS phụ thuộc rất lớn vào cung cầu tín dụng, khi thị trường BĐS hưng thịnh thì vai trò của ngân hàng thương mại rất lớn, khi thị trường BĐS đóng băng tác động ngược trở lại làm thị trường tài chính bất ổn

Sau đó, bằng các chính sách kích thích kinh tế và kích cầu, hỗ trợ lãi suất của nhà nước, thị trường tín dụng có phần khởi sắc hơn vào giai đoạn 2009-2010 Có thể nhận thấy

0 10 20 30 40 50 60

2007 2008 2009 2010 2011 2012

Trang 37

chuyển biến tích cực trong tốc độ tăng trưởng tín dụng với mức trên 30% Đồng thời, giai đoạn này, thị phần tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng được mở rộng

Hình 3.2: Tăng trưởng tín dụng (2007-2012)

Nguồn: Ngân hàng nhà nước

Năm 2011-2012 tình hình trong nước theo tinh thần Nghị quyết 11/NQ-CP, Chính Phủ thực hiện chính sách tiền chặt chẽ nhằm kiềm chế lạm phát Dưới áp lực của chính sách này, tăng trưởng đầu tư cho nền kinh tế giảm mạnh nhất trong 10 năm trở lại đây làm hoạt động đầu tư cho nền kinh tế giảm, do đó tăng trưởng tín dụng ở cả hai khối ngân hàng cũng giảm sút đáng kể Sau giai đoạn suy thoái, ngành ngân hàng có dấu hiệu phục hồi, tiếp tục chức năng huyết mạch trong việc làm cầu nối giữa sản xuất tiêu dùng và tiết kiệm Các chỉ tiêu tiền tệ như tổng phương tiện thanh toán, huy động vốn và tín dụng có

sự tăng trưởng trở lại mặc dù kết quả đạt được vẫn chưa bằng mức năm 2007 Các NHTMNN vẫn tiếp tục đóng góp quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu về vốn, đặc biệt trong điều kiện khó khăn của nền kinh tế Đây chính là kênh chuyển tải nhanh nhất các cơ chế chính sách hỗ trợ của Chính phủ cho các thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phục hồi và phát triển Vì vậy, GDP của sáu tháng đầu năm 2010 đã đạt khoảng 6,4%, mức tăng cao nhất kể từ quí 4 năm 2008 đến nay

0 10 20 30 40 50 60

2007 2008 2009 2010 2011 2012

Trang 38

3.1.3 Diễn biến lãi suất

Nhìn chung lãi suất chỉ ổn định trong giai đoạn đầu sau đó diễn biến khá phức tạp Đặc biệt trong năm 2008 lãi suất tăng đột biến với mức 3,36%, lãi suất huy động đã đạt đỉnh điểm ở 19%/năm Các ngân hàng thương mại chạy đua lãi suất huy động nhằm thu hút nguồn vốn, vô hình chung đã tạo nên gánh nặng chi phí trả lãi của các doanh nghiệp khi mức lãi suất tín dụng chạm ngưỡng 25%/năm ở một số thời điểm Trước tình trạng trên Ngân hàng Nhà nhước (NHNN) đã can thiệp bằng công điện số 02 yêu cầu các ngân hàng thương mại không được tăng lãi suất quá mức 12%

Tình hình lãi suất có phần hạ nhiệt từ năm 2009-2010 duy trì ở mức khoảng 10% đối với lãi suất huy động và 12% với lãi suất cho vay Tuy nhiên tính ổn định không thể duy trì đến năm 2011bằng chứng là lãi suất tăng cao trong 6 tháng đầu năm do các tổ chức tín dụng gặp khó khăn trong thanh khoản Thời gian sau đó từ các tín hiệu tốt của nền kinh tế như tỷ lệ lạm phát giảm, tỷ giá và thị trường hối đoái ổn định góp phần hạ nhiệt lãi suất

và đến năm 2012 lãi suất đã quay về xấp xỉ năm 2007, cũng trong thời gian này NHNN

đã tiến hành giảm lãi suất cơ bản 6 lần nhằm chia sẽ gánh nặng cho các doanh nghiệp và tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh

3.1.4 Năng lực tài chính

Xét về quy mô vốn điều lệ các NHTM Việt Nam tương đối thấp so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia mặc dù các ngân hàng không ngừng nâng cao sức mạnh tài chính của mình

Trang 39

Bảng 3.1: Quy mô vốn điều lệ của một số NHTM các quốc gia trong khu vực (2011)

INDONESIA MALAYSIA

Bank Central Asia 1304 Commerce Asset –

Bank Rakyat

Bank Danamon

VIETNAM THAILAN

Trang 40

nhà Hà Nội (Hahubank): 12,29%; ngân hàng thương mại cổ phần kĩ thương Việt Nam (Techcombank): 13,1% Tuy nhiên xét theo tiêu chuẩn Basel II đã ở mức 12% (có tính đến vốn dành cho rủi ro thị trường) thì số lượng các ngân hàng Việt Nam đạt chuẩn là khá thấp

Bên cạnh đó nguồn thu của các ngân hàng Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các nghiệp vụ truyền thống như huy động và tín dụng, chưa chú trọng đến việc đa dạng loại hình và nâng cao chất lượng dịch vụ Trong khi các ngân hàng nước ngoài đi sâu nghiên cứu, phát triển nhiều sản phẩm tiện ích ở nhiều lĩnh vực khác nhau

3.2 Thực trạng cấu trúc sở hữu ngân hàng thương mại Việt Nam

Việc ký kết Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) năm 2001 và sau đó là gia nhập WTO vào năm 2007 đã đưa quá trình hội nhập của Việt Nam lên một tầm cao mới Theo các thỏa thuận này, Việt Nam cam kết mở cửa thị trường cho các ngân hàng con 100% vốn nước ngoài và loại bỏ dần các hạn chế đối với hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài Dẫn đến số lượng các ngân hàng nước ngoài tăng lên nhanh chóng Để nâng cao sức cạnh tranh của các ngân hàng trong nước trước sức ép hội nhập, Việt Nam đã thực hiên cải cách đối với lĩnh vực ngân hàng Bắt đầu từ giữa năm

2005 Việt Nam đã đưa ra quyết định tái cơ cấu và cổ phần hóa các ngân hàng thương mại Nhà nước Sau đây là bảng thống kê các loại hình Ngân hàng thương mại ở Việt Nam

trong giai đoạn 2008-2013

Bảng 3.2: Loại hình các tổ chức tín dụng năm 2008 và 2013

Ngày đăng: 27/07/2014, 01:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Tăng  trưởng huy  động (2007-2012) - Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
Hình 3.1 Tăng trưởng huy động (2007-2012) (Trang 36)
Hình 3.2: Tăng  trưởng tín dụng (2007-2012) - Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
Hình 3.2 Tăng trưởng tín dụng (2007-2012) (Trang 37)
Bảng 3.1: Quy  mô vốn  điều lệ của một số NHTM  các quốc gia trong khu vực (2011) - Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 3.1 Quy mô vốn điều lệ của một số NHTM các quốc gia trong khu vực (2011) (Trang 39)
Bảng 3.2: Loại hình các tổ chức tín dụng năm  2008 và 2013 - Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 3.2 Loại hình các tổ chức tín dụng năm 2008 và 2013 (Trang 40)
Bảng 3.3: Mức vốn  pháp  định áp dụng  cho các loại hình ngân  hàng  qua  các năm - Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 3.3 Mức vốn pháp định áp dụng cho các loại hình ngân hàng qua các năm (Trang 41)
Hình 3.3: Cấu  trúc sỡ hữu  của ngân  hàng  thương  mại Nhà  Nước trong những  năm  2010-2012 - Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
Hình 3.3 Cấu trúc sỡ hữu của ngân hàng thương mại Nhà Nước trong những năm 2010-2012 (Trang 43)
Hình 3.4: Ma trận sở hữu  vốn giữa các ngân  hàng - Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
Hình 3.4 Ma trận sở hữu vốn giữa các ngân hàng (Trang 45)
Bảng 3.4: Thương  vụ M&A  có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn 2007-2012 - Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 3.4 Thương vụ M&A có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn 2007-2012 (Trang 46)
Hình 3.6: Giá trị nợ xấu  và tỉ lệ nợ xấu  toàn hệ thống (2004 – tháng 9/2012) - Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
Hình 3.6 Giá trị nợ xấu và tỉ lệ nợ xấu toàn hệ thống (2004 – tháng 9/2012) (Trang 48)
Hình 3.7: Tăng  trưởng tín dụng GDP, tín dụng và  tỷ lệ tín dụng/GDP (2001 – 2011) - Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
Hình 3.7 Tăng trưởng tín dụng GDP, tín dụng và tỷ lệ tín dụng/GDP (2001 – 2011) (Trang 49)
Hình 3.5: chỉ số Z-score trung bình gi ữa nhóm  7 NHTMCP  và  4 NHTMNN - Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
Hình 3.5 chỉ số Z-score trung bình gi ữa nhóm 7 NHTMCP và 4 NHTMNN (Trang 51)
Bảng 4.2: Tổng  hợp  về các biến sử dụng trong đề tài - Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4.2 Tổng hợp về các biến sử dụng trong đề tài (Trang 66)
Bảng thống kê mô tả số liệu - Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
Bảng th ống kê mô tả số liệu (Trang 67)
Bảng  trên  mô  tả  sơ  lƣợc  số  liệu  đƣợc  sử  dụng  chạy  mô  hình.  Theo  bảng  trên,  trung  bình  số  cổ  phần  được  nắm  giữ  bởi  cổ  đông  lớn  nhất  là  35.28%  và  phương sai khá lớn 36.25% - Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
ng trên mô tả sơ lƣợc số liệu đƣợc sử dụng chạy mô hình. Theo bảng trên, trung bình số cổ phần được nắm giữ bởi cổ đông lớn nhất là 35.28% và phương sai khá lớn 36.25% (Trang 68)
Bảng 4.4: Kết quả  kiểm định Hausman - Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định Hausman (Trang 69)
Bảng 4.6. Kết  quả  kiểm định Hausman - Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4.6. Kết quả kiểm định Hausman (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w