ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆU SUẤT RIÊNG CỦA VI SAI TỚI TÍNH NĂNG CƠ ĐỘNG CỦA XE: Vi sai đặt ở cầu chủ động cho phép các bánh xe chủ động quay với những vận tốc góc khác nhau, đồng thời nó phân bố
Trang 1CHƯƠNG 8 TÍNH NĂNG CƠ ĐỘNG CỦA Ô TÔ
Mục tiêu:
Sau khi học xong chương này các sinh viên có khả năng:
1 Định nghĩa được tính năng cơ động của ô tô
2 Xác định được các thông số hình học ảnh hưởng đến tính năng cơ động của ô tô
3 Giải thích được khả năng cơ động của ô tô có cầu trước chủ động
4 Phân tích được ảnh hưởng của hiệu suất riêng của vi sai đến tính năng cơ động của
ô tô
5 Trình bày được hiện tượng lưu thông công suất ở ô tô có nhiều cầu chủ động
Trang 28.1 CÁC THÔNG SỐ HÌNH HỌC ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH NĂNG CƠ ĐỘNG CỦA
Ô TÔ:
8.1.1 Khái niệm về tính năng cơ động của ô tô:
Tính năng cơ động của ô tô là khả năng chuyển động linh hoạt và khả năng thích ứng của chúng với những điều kiện đường xá khó khăn và địa hình phức tạp
Tính năng cơ động phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố sau:
- Chất lượng kéo, bám ở các bánh xe
- Các thông số hình học của ô tô
Ngồi ra, những đặc điểm về cấu tạo của các cụm riêng biệt của ô tô và trình độ
thành thạo của người lái cũng ảnh hưởng đến tính năng cơ động
8.1.2 Các thông số hình học:
8.1.2.1 Khoảng sáng gầm xe:
Đó là khoảng cách giữa điểm thấp nhất của gầm xe với mặt đường được ký hiệu
là h
Khoảng cách này đặt trưng cho độ nhấp nhô lớn nhất của mặt đường mà xe có thể vượt qua được
Ở những ô tô có tính năng cơ động thấp h = 175÷210mm (đối với ô tô du lịch) và h = 240÷275 mm (đối với ô tô tải)
Ở những ô tô có tính năng tính năng cơ động cao, khoảng sáng này thường lớn hơn so với ô tô có tính năng cơ động thấp từ 20÷50 mm
Ở những xe đặc biệt khoảng sáng gầm xe này có thể đạt tới 400 mm hoặc cao hơn
Hìn
h 8.1: Các thông số hình học về tính năng cơ động của ô tô 8.1.2.2 Bán kính cơ động dọc và cơ động ngang:
Hai thông số này đặt trưng cho hình dạng của chướng ngại vật mà xe có thể khắc phục
h
Trang 3- Bán kính cơ động dọc1là bán kính lớn nhất của mặt trụ tiếp tuyến với các bánh xe trước và bánh xe sau và đi qua điểm thấp nhất của gầm xe trong mặt phẳng dọc
- Bán kính cơ động ngang2là bán kính lớn nhất của mặt trụ tiếp xúc với mặt trong của lốp xe bên phải và lốp xe bên trái và đi qua điểm thấp nhất của gầm xe trong mặt phẳng ngang
Bán kính cơ động dọc1và bán kính cơ động ngang 2 càng nhỏ thì tính năng cơ động của xe càng tốt
Ở những ô tô có công thức bánh xe 4x2, bán kính cơ động dọc thường nằm trong giới hạn sau:
- Ô tô du lịch: loại nhỏ từ 2,5 đến 3,5 m, loại trung bình từ 3,0 đến 5,5 m và loại lớn từ 5,5 đến 8,5 m
- Ô tô tải: tải trọng nhỏ1từ 2,5÷3,5 m; tải trọng trung bình từ 3,0÷5,5 m; tải trọng lớn
từ 5,0÷6,0 m
Ở những ô tô có tính năng cơ động cao, bán kính cơ động dọc nhỏ hơn so với loại ô tô tương tự nhưng có tính năng cơ động thấp, trong đa số các trường hợp bán kính này không vượt quá trị1từ 2,0÷3,6 m
8.1.2.3 Góc cơ động trước và góc cơ động sau:
Khi ô tô cần phải vượt qua những chướng ngại vật lớn như các đường hào, gò đống, cầu phà… thì những phần nhô ra phía sau và phía trước của xe có thể va quẹt vào các vật cản Tính năng cơ động của ô tô để vượt qua những chướng ngại này phụ thuộc vào trị số của các góc cơ động trước và góc cơ động sau
- Góc cơ động trước () là góc nhỏ nhất tạo bởi mặt đường với mặt phẳng tiếp tuyến của bánh xe trước và đi qua điểm nhô ra nào đấy của đường bao phía trước của ô tô
- Góc cơ động sau (β ) là góc nhỏ nhất tạo bởi mặt đường với mặt phẳng tiếp tuyến của bánh xe sau và đi qua điểm nhô ra nào đấy của đường bao phía sau ô tô
Để nâng cao tính năng cơ động của xe người ta mong muốn làm thế nào đấy để các góc này có giá trị lớn theo khả năng có thể
Ở những ô tô hiện nay, các góc cơ động,β có những giá trị sau:
- Ô tô du lịch có tính năng cơ động thấp : 20÷30o 15÷20o
- Ô tô tải có tính năng cơ động thấp: 40÷50o 20÷40o
- Ô tô có tính năng cơ động cao không nhỏ hơn: 45÷50o 35÷40o
8.2 KHẢ NĂNG CƠ ĐỘNG CỦA XE CÓ CẦU TRƯỚC CHỦ ĐỘNG:
Các bánh xe bị động ở phía trước khắc phục những chướng ngại vật thẳng đứng kém hơn nhiều so với các bánh chủ động Điều này được giải thích là các bánh xe bị động tỳ vào chướng ngại vật còn các bánh chủ động có xu hướng tự lăn và leo qua nó nhờ lực Fk
+ Sơ đồ các lực tác dụng lên bánh xe bị động phía trước khi khắc phục chướng ngại vật thẳng đứng có độ cao h được biểu diễn ở hình 8.2.a, trường hợp này cầu sau là cầu chủ động
Trang 4b)
Hình 8.2: Sơ đồ lực tác dụng lên các bánh xe ở cầu trước khi
khắc phục chướng ngại vật thẳng đứng
a – Bánh bị động
b – Bánh chủ động Các lực tác dụng lên bánh xe bị động gồm có:
T- Lực đẩy từ khung tới bánh xe
R- Phản lực của chướng ngại
Z và X - Thành phần thẳng đứng và nằm ngang của phản lực R
Từ điều kiện cân bằng của bánh xe ta có:
Z = Gb ; X = T Theo sơ đồ lực trên hình 8.2 ta có:
Z = Xtgα = Ttgα
b
1
G
G = Ttg
tg
α
Giá trị tgα1 được xác định từ tam giác AOC:
tg
b 1
G 2rh h
T = = G tg
α r h
Từ công thức trên chúng ta thấy rằng khi h = r thì T ∞, có nghĩa là khi gặp chướng ngại vật có độ cao h = r thì ô tô không thể vượt được, ngay cả khi các bánh xe chủ động ở cầu sau có lực kéo cực đại
Ở đây chúng ta đã bỏ qua các yếu tố ảnh hưởng và giả thuyết rằng:
- Bánh xe không bị biến dạng
- Mặt đường chướng ngại vật không bị biến dạng
- Bánh xe không bị trượt
Gb
h
T
X
O
C
Z
R X
T
Gb
Fk”
Fk’
Fk
A
O
C
Mk
Trang 5+ Khi các bánh xe trước là các bánh xe chủ động và cầu sau là cầu bị động, ngồi lực T
và Gbtrên bánh xe còn có mômen Mk, do đó xuất hiện lực kéo Fk(hình 8.2.b)
Từ Fkta phân tích thành Fk’ và Fk”
Phản lực R từ chướng ngại vật được phân tích thành hai thành phần: X và Z
Khi chiếu tất cả các lực lên trục nằm ngang và thẳng đứng thì ta nhận được:
T = Fk’ - X
Gb= Z + Fk”
Do nảy sinh lực Fk” nên cho phép bánh xe chủ động dễ dàng khắc phục được những chướng ngại vật có độ cao bằng bán kính của bánh xe, còn lực Fk’ sẽ khắc phục lực cản chuyển động X và lực tác dụng từ khung lên bánh xe T
8.3 ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆU SUẤT RIÊNG CỦA VI SAI TỚI TÍNH NĂNG CƠ ĐỘNG CỦA XE:
Vi sai đặt ở cầu chủ động cho phép các bánh xe chủ động quay với những vận tốc góc khác nhau, đồng thời nó phân bố mômen xoắn cho hai bán trục theo một tỉ lệ nhất định Tỉ lệ này phụ thuộc vào hiệu suất riêng của vi sai Bởi vậy, hiệu suất riêng của vi sai sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tính năng cơ động của ô tô
Trước hết chúng ta quy ước ký hiệu như sau: bán trục e là bán trục quay nhanh, tức là bán trục dẫn đến bánh xe trượt quay nhiều hơn hoặc chuyển động nhanh hơn khi quay vòng, bán trục i là bán trục quay chậm, tức là bán trục dẫn đến bánh xe trượt quay ít hơn hoặc chuyển động chậm hơn khi quay vòng
Ở phần động học của vi sai, chúng ta đã chứng minh cho vi sai đối xứng là:
ne+ ni= 2nv
Trong đó:
ne– Số vòng quay của bán trục ( hoặc bánh xe ) quay nhanh
ni– Số vòng quay của bán trục ( hoặc bánh xe ) quay chậm
nv– Số vòng quay của vỏ vi sai
Vì vi sai là cơ cấu có ít nhất hai bậc tự do nên từ biểu thức trên ta suy ra:
Nếu ni= 0 thì ne= 2nv, tức là nếu một bán trục ( hoặc một bánh xe ) đứng yên thì bán trục ( hoặc bánh xe ) còn lại sẽ quay với số vòng quay gấp đôi số vòng quay của vỏ vi sai
Nếu nv= 0 thì ne= -ni, tức là nếu vỏ vi sai bị hãm lại ( cố định ) thì hai bán trục quay ngược chiều nhau Bởi vậy:
ie ei
n n
i = i = i = = = 1
ie ei
e
ie ie i
M = i η = i η
Ở đây:
v ie
i ; v
ei
i – Tỷ số truyền từ trục i đến trục e và ngược lại khi vỏ vi sai cố định v
ie
ei
η – Hiệu suất truyền động từ trục i đến trục e và ngược lại khi vỏ vi sai
cố định
v
η – Hiệu suất riêng của vi sai
Me; Mi– Mômen xoắn truyền đến trục e và trục i
Trang 6Mv – Mômen xoắn truyền đến vỏ vi sai.
Hiện nay, vi sai đặt ở cầu chủ động là vi sai đối xứng, cho nên iv= -1 , suy ra:
v e i
M =η
Nếu vi sai không có ma sát khi hoạt động thì η = 1 cho nên mômen xoắn phân bốv cho hai bán trục luôn bằng nhau
Trong thực tế, khi vi sai hoạt động thì luôn tồn tại ma sát giữa các chi tiết của nó, nên v
η 1 Bởi vậy, mômen xoắn phân bố cho hai bán trục sẽ không bằng nhau
v e
i
Như vậy, do ma sát bên trong vi sai nên tỷ số mômen giữa bán trục e và i luôn bằng hiệu suất riêng của vi sai Nếu ma sát càng lớn, hiệu suất riêng càng nhỏ thì chênh lệch giữa giá trị mômen Mevà Mi càng lớn
Khi xe đi vào trong đường đất xấu, hệ số bám dưới các bánh xe sẽ khác nhau khá nhiều, nếu η = 1 thì mômen sẽ phân bố đều cho hai bán trục Điều này sẽ làm xấu đi tínhv năng cơ động của xe Bởi vì, mômen truyền đến bánh xe có hệ số bám nhỏ với mặt đường có khả năng lớn hơn mômen bám, làm cho bánh xe này quay trơn và mômen xoắn chủ động của cầu không đủ để khắc phục mômen cản
Theo quan điểm về tính năng cơ động của ô tô thì ma sát trong vi sai là có lợi Bởi vì khi có ma sát thì η 1v và Me Mi , tức là vi sai cho phép truyền mômen xoắn lớn cho bánh xe không bị trượt ( bánh xe quay chậm) và truyền mômen xoắn nhỏ cho bánh xe bị trượt (bánh xe quay nhanh ) Cho nên mômen xoắn chủ động của cầu sẽ tăng lên ( so với trường hợp η = 1) và có thể khắc phục được mômen cản.v
Khi mômen xoắn chủ động tăng lên thì lực kéo ở các bánh xe chủ động cũng tăng lên Thực tế cho thấy, ở vi sai có hiệu suất riêng lớn ( ma sát trong nhỏ ) thì lực kéo tổng cộng chỉ tăng khoảng 46% Ở vi sai cam và vi sai trục vít có hiệu suất riêng nhỏ ( ma sát trong lớn ) thì lực kéo tổng cộng có thể tăng 1015%
8.4 HIỆN TƯỢNG LƯU THÔNG CÔNG SUẤT Ở XE CÓ NHIỀU CẦU CHỦ ĐỘNG:
Trong số những biện pháp khác nhau được sử dụng để nâng cao chất lượng kéo – bám của ô tô, thì đối với những ô tô cần tính năng cơ động cao, người ta thường sử dụng biện pháp tăng số cầu chủ động Với cách bố trí này, chất lượng kéo – bám của ô tô sẽ tăng rất nhiều nhờ việc tận dụng tới mức tối đa trọng lượng sử dụng của xe để biến thành trọng lượng bám
Để đơn giản cho việc nghiên cứu, ta xét loại xe bố trí theo sơ đồ 4x4 (bốn bánh xe đều
là bánh xe chủ động)
Động lực học kéo của xe có bốn bánh chủ động như trên phụ thuộc vào sơ đồ dẫn động đến các trục chủ động, bởi vì cấu trúc dẫn động có ảnh hưởng tới việc phân bố lực kéo giữa các bánh xe trước và sau
Hiện nay, người ta hay sử dụng hai loại dẫn động: dẫn động cứng và dẫn động vi sai (hình 8.3)
Trang 7Loại dẫn động cứng được biểu thị trên sơ đồ hình 8.3a Cả hai trục của ô tô (trục trước và trục sau) được nối động học cứng với nhau qua hộp phân phối 1, do đó mối quan hệ
đã được xác định giữa vận tốc góc của chúng là không đổi trong quá trình làm việc
Loại dẫn động vi sai được biểu thị trên sơ đồ hình 8.3b Trong hộp phân phối có vi sai
2, do kết quả tác động của hiệu ứng vi sai nên mối quan hệ giữa vận tốc góc của hai trục có thể thay đổi trong quá trình làm việc
Đặc tính khác nhau về mối quan hệ động học giữa các trục cũng gây nên sự khác nhau trong việc phân bố mômen chủ động cho chúng
Ở những ô tô có dẫn động cứng của hai trục chủ động thì luôn có sự không tương ứng động học giữa các bánh xe trước và sau Khi chuyển động trên mặt đường bằng phẳng, sự không tương ứng động học được biểu thị ở chỗ: tốc độ vòng lý thuyết của các bánh xe trước
và sau có thể khác nhau, trong khi các trục của chúng lại gắn chặt với khung xe và phải di chuyển với cùng một vận tốc tịnh tiến Việc đảm bảo sự đồng bộ tuyệt đối vận tốc vòng của các bánh xe trước và sau thực tế là không thể thực hiện được, vì bán kính của các bánh xe có thể sai lệch so với tính tốn do nhiều nguyên nhân gây ra như: sai số chế tạo, độ mài mòn của lốp, áp suất không khí trong lốp, sự dao động của tải trọng thẳng đứng tác dụng lên các bánh xe…
động đến các trục chủ động
a- Dẫn động cứng (trong hộp phân phối không có vi sai) b- Dẫn động qua vi sai (trong hộp phân phối có vi sai) Trên đường vòng, sự không tương ứng động học được tạo nên ở chỗ: khi ô tô chuyển động trên đường cong thì mỗi trục của chúng phải đi được những quãng đường khác nhau,
1
Hộp số
2
Hộp số
a )
b)
Trang 8nhưng hai trục của xe được xem như gắn với khung lại di chuyển với cùng một vận tốc tịnh tiến
Dưới đây chúng ta nghiên cứu trường hợp chuyển động thẳng của ơ tơ cĩ kết cấu dẫn động cứng hai trục khi cĩ sự sai khác về tốc độ vịng giữa các bánh xe trước và sau
Ở trường hợp này, sự cân bằng vận tốc tịnh tiến của hai trục chủ động chỉ cĩ thể đạt được trong điều kiện cĩ sự trượt quay hay trượt lết của các bánh xe, vì trượt quay làm giảm vận tốc tịnh tiến của trục các bánh xe, cịn trượt lết làm tăng nĩ lên
Điều kiện cân bằng vận tốc tịnh tiến của hai trục chủ động được biểu thị bằng phương trình sau:
Dấu ( ') ứng với trục đặt bánh xe cĩ vận tốc vịng lý thuyết lớn và dấu (") ứng với trục đặt bánh xe cĩ vận tốc vịng lý thuyết nhỏ Chúng ta giả sử rằng các bánh xe của trục trước là bánh quay nhanh và các bánh xe của trục sau là bánh quay chậm Trị số δ trong phương trình trên đặt trưng cho sự trượt quay và trượt lết của các bánh xe; trường hợp trượt quay nĩ lấy dấu dương và trường hợp trượt lết nĩ lấy dấu âm để đưa vào phương trình
Chúng ta gọi tỉ số v'/v"là hệ số khơng tương ứng động học của các bánh xe chủ động trước và sau, ký hiệu là k
Giữa sự trượt của các bánh xe chủ động quay nhanh và quay chậm cĩ mối quan hệ xác định và tìm được từ phương trình (8.2) như sau:
v' δ" = 1 (1 δ') = 1 k(1 δ')
v"
Trị số δ' trong biểu thức (8.8) cĩ giá trị dương, vì các bánh xe quay nhanh bao giờ cũng làm việc với mức độ trượt quay nào đĩ Cịn về phần bánh xe quay chậm, trị số trượt δ"
cĩ thể cĩ giá trị âm, bằng khơng hoặc dương Nếu δ" cĩ giá trị âm thì các bánh xe quay chậm
sẽ chuyển động với sự trượt lết; δ" = 0 chúng lăn khơng trượt quay và khơng trượt lết ; nếu δ" > 0 chúng làm việc với sự trượt quay, nhưng trị số trượt quay của chúng nhỏ hơn so với bánh xe quay nhanh
Chỉ tiêu kéo tốt nhất của ơ tơ chỉ cĩ thểâ nhận được khi cĩ sự cân bằng vận tốc vịng của các bánh trước và sau, nghĩa là ở điều kiện hệ số khơng tương ứng động học k = 1 Ở trường hợp này, các bánh trước và sau làm việc với cùng một độ trượt và chất lượng bám của chúng được sử dụng ở mức độ bằng nhau
Khi tồn tại sự khơng tương ứng động học của các bánh xe thì chỉ tiêu kéo của ơ tơ giảm nhiều Nếu do hậu quả của việc mất tương ứng động học mà các bánh xe trước và sau bị trượt với mức độ khác nhau khi làm việc, thì chất lượng bám của các bánh xe quay chậm sẽ được sử dụng ở mức độ nhỏ hơn so với chất lượng bám của các bánh xe quay nhanh Độ khơng tương ứng động học càng lớn thì chất lượng bám của các bánh xe trên hai trục càng mất đồng đều Aûnh hưởng xấu nhất tới chỉ tiêu kéo của xe là khi các bánh xe quay chậm bị trượt lết Ở trường hợp này, thực tế là xe chỉ cịn lại hai bánh chủ động, vì các bánh xe bị trượt lết đã trở thành bánh bị động
Dưới đây chúng ta nghiên cứu sự chuyển động của ơ tơ 4x4 khi các bánh sau là các bánh quay nhanh, cịn các bánh trước bị trượt lết (hình 8.4)
Trang 9Hình 8.4: Sơ đồ minh họa hiện tượng lưu thông công suất có hại.
Ở trường hợp này, trên các bánh xe trước sẽ chịu tác dụng của lực kéo tiếp tuyến âm
-Fk”, được tạo nên bởi phản lực của đất và có chiều ngược lại với chiều chuyển động của ô tô Lực này tạo nên một mômen xoắn truyền tới các bánh xe sau qua hệ thống truyền lực Như vậy, công suất truyền tới các bánh xe chủ động phía sau sẽ theo hai dòng: một từ động cơ theo chiều mũi tên mảnh và một từ các bánh trước theo chiều đường mũi tên chấm khuất Cả hai dòng công suất này được truyền tới các bánh xe sau theo đường nét đậm và tạo nên lực kéo tiếp tuyến dương Fk’
Một phần lực kéo tiếp tuyến Fk’ được truyền qua khung xe tới các bánh quay chậm phía trước để khắc phục lực cản được tạo nên bởi lực -Fk” Như vậy, công suất được tạo nên bởi phản lực -Fk” của đất ở các bánh xe bị trượt lết sẽ lưu thông theo vòng khép kín: từ bánh
bị trượt lết qua hệ thống truyền lực tới các bánh chủ động, rồi lại từ các bánh chủ động qua khung của xe đi ngược trở lại các bánh bị trượt Phần công suất lưu thông này là vô ích, thậm chí là có hại, vì vậy nó được gọi là công suất ký sinh Nó không phải là nguồn năng lượng bổ sung cho ô tô mà chỉ gây thêm tải trọng phụ cho hệ thống truyền lực và làm tăng tổn thất cơ khí
Công suất ký sinh phát sinh rõ nét trong những trường hợp mà ở đó điều kiện làm việc không cho phép nhận được sự khác biệt cần thiết về trị số trượt của các bánh xe chủ động trước và sau đủ để bù đắp lại độ không tương ứng động học giữa chúng Những trường hợp nói trên thường xảy ra khi chuyển động trên mặt đường cứng và chạy không tải Trong những điều kiện này, việc sử dụng cầu chủ động thứ hai không những không có lợi mà còn có hại
Khi ô tô 4x4 làm việc trên đường đất mềm bở xốp hoặc ẩm ướt với tải trọng lớn, điều kiện để đạt được sự khác biệt cần thiết về trị số trượt của các bánh trước và sau là hồn tồn có thể đạt được và như vậy sẽ bù đắp cho độ không tương ứng về mặt động học giữa các bánh
xe Vì vậy, khi ô tô làm việc trên đường đất mềm với tải trọng đủ lớn thì công suất ký sinh thường không phát sinh khi chạy thẳng
Khi quay vòng, ở ô tô có các trục chủ động nối động học cứng với nhau người ta luôn quan sát thấy sự lưu thông của công suất ký sinh Các bánh trước, mà chúng cần phải đi được quãng đường lớn hơn bánh xe sau, sẽ chuyển động với sự trượt lết và chúng chịu tác dụng của những lực kéo âm Bán kính quay vòng càng nhỏ thì công suất ký sinh càng lớn
Hiện tượng lưu thông công suất có hại không những tồn tại ở ô tô có nhiều cầu chủ động và các trục của chúng được nối với nhau bằng hệ thống động học cứng (hộp phân phối),
mà còn xuất hiện ngay trong cầu chủ động khi vi sai giữa các bánh xe bị gài cứng ở các trường hợp xe chuyển động trên mặt đường cứng và quay vòng
Để tránh hiện tượng lưu thông công suất ở các ô tô có tính năng cơ động cao, thì trong các điều kiện làm việc bình thường trên mặt đường tốt không nên sử dụng cùng một lúc nhiều cầu chủ động và gài cứng vi sai giữa các bánh xe