Do đó việc giới thiệu Kim ngọc Bảo Tỷ chúng tôi chỉ căn cứ vào những hình dấu trên văn bản Hán Nôm còn lưu lại trong Châu bản triều Nguyễn ở Cục Lưu trữ, ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm và tro
Trang 1Ấn chương Việt Nam - Kim ngọc Bảo Tỷ của
Hoàng đế thời Nguyễn
Vương triều Nguyễn bắt đầu từ thời Gia Long Nguyễn Ánh (1802-1820) đến Hoàng đế cuối cùng Bảo Đại Nguyễn Vĩnh Thụy (1926-1945) Ngôi vị Hoàng đế đều kế thừa mô hình quân chủ chuyên chế cha truyền con nối của các nước Đông phương, mà các triều đại phong kiến Việt Nam trước thời Nguyễn đã thực hiện Lễ đăng quang nhận kiếm báu,
ấn vàng truyền quốc của các vua Nguyễn diễn ra hết sức trọng thể và mang mầu sắc
chính trị rõ rệt
Hoàng đế Nguyễn cũng như các vua chúa phong kiến Việt Nam trước đó đều lấy Kim ngọc Bảo Tỷ để biểu thị cho quyền lực tối cao của mình và cả vương triều Kim ngọc Bảo
Tỷ là những ấn của nhà vua dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại Ấn được làm bằng ngọc gọi là Ngọc Tỷ 玉璽 , ấn được đúc bằng vàng, bằng bạc gọi là Kim Bảo Tỷ 金寶璽 Có
thể nói Bảo Tỷ là báu vật của quốc gia và tượng trưng cho đế quyền
1 Giới thiệu các Kim ngọc Bảo Tỷ thời Nguyễn
Theo thống kê tương đối đầy đủ thì có hàng trăm Bảo Tỷ bằng ngọc, bằng vàng và bạc được làm ra từ thời Nguyễn, do chiến tranh binh hỏa triền miên nên các hiện vật quí báu
đó hầu hết đã bị thất lạc Hiện nay các cơ quan chức năng của chúng ta đang giữ vài ba quả ấn vàng là những Bảo Tỷ của các vua Nguyễn, vì điều kiện khó khăn phức tạp nên chúng tôi không thể in chụp được Ở Viện Bảo tàng Lịch sử Hà Nội và Trung tâm Quản
lý di tích cố đô Huế còn giữ được số ít Bảo ấn, nhưng là những ấn bình thường với chất liệu bằng đồng, bằng ngà và đá đẹp Do đó việc giới thiệu Kim ngọc Bảo Tỷ chúng tôi chỉ căn cứ vào những hình dấu trên văn bản Hán Nôm còn lưu lại trong Châu bản triều Nguyễn ở Cục Lưu trữ, ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm và trong dân gian Đồng thời trên
cơ sở tài liệu, thư tịch bằng chữ Hán và các bộ chính sử đã dịch, đặc biệt qua cuốn Cơ mật viện túc trình[154] chúng tôi tạm hệ thống sơ lược về Kim ngọc Bảo Tỷ thời
Nguyễn
Bảo Tỷ nhà Nguyễn gồm hai loại chính bằng vàng và bằng ngọc Các Bảo Tỷ dùng ngoài
ý nghĩa quốc gia trọng đại thì làm bằng đồng dát bạc, bằng ngà, bằng đá quí và bằng gỗ thơm Bảo Tỷ cũng như các trọng khí khác của các vua Nguyễn thường lấy hình rồng và
kỳ lân (hai trong tứ linh) làm biểu tượng Hình rồng và hình kỳ lân trên mỗi Bảo Tỷ cũng
được cách điệu khác nhau: thế cuốn, thế đứng, thế ngồi, thế đi bay
Trọng lượng và thể tích của Bảo Tỷ thường lớn hơn nhiều so với các loại hình dấu khác,
nó có thể lớn gấp đôi, gấp ba lần ấn Quan phòng, lớn gấp năm hoặc gần chục lần Tín ký
và Triện Mặt dấu của Bảo Tỷ thường làm theo hình vuông, số ít làm theo hình tròn và các hình khác, viền vòng ngoài chữ Triện hay khắc hình lưỡng long chầu nhật nguyệt,
càn khôn
a Kim Bảo Tỷ
Trang 2Trừ một vài ấn được làm từ thời chúa Nguyễn, nói chung các Kim Bảo Tỷ được làm từ thời Nguyễn sơ (1802-1847), những Bảo Tỷ ở giai đoạn sau là những Bảo Tỷ làm ra để thay cho cái cũ hoặc dùng về thường sự Kim Bảo có niên đại sớm nhất của triều Nguyễn còn giữ lại được đến đời Bảo Đại là Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo Kim Bảo này được làm từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) Chính sứ ghi: “Năm Canh Tý (1780) vua (Nguyễn Ánh) mới theo, lên ngôi vương ở Sài Gòn Văn thư đưa xuống gọi là chỉ truyền, sai phái gọi là chỉ sai, dùng ấn Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo Ấn này do Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế chế, nay dùng làm của báu truyền ngôi”[155] Hiện nay trên tấm bia đá rất lớn ở chùa Thiên Mụ (Huế) có khắc hình dấu Kim Bảo này Đợt công tác tại Huế năm 1989 chúng tôi đã in rập được nguyên bản hình dấu Kim Bảo nói trên Dấu hình vuông, kích thước 11x11cm viền ngoài để rộng 1,1cm, 9 chữ Triện bên trong xếp thành 3 hàng dọc, mỗi hàng 3 chữ Lối Triện tự viết theo kiểu thời Lê - Trịnh, nét chữ vuông vức uốn nhiều nét Đó là 9 chữ Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo 大越國阮主永鎭之寶 (Bảo của chúa Nguyễn nước Đại Việt trấn giữ lâu dài) Hình dấu khắc đè lên dòng chữ ghi niên đại lập bia Vĩnh Thịnh
thập nhất niên tuế thứ ất mùi sơ đông chi cát đán lập 永盛十一年歲次乙未初冬之吉旦立 Cách dưới chữ “lập” 3cm là hình một dấu hình tròn có đường kính 6,8cm khắc hình lưỡng long chầu vào một dòng chữ Triện ở giữa Đó
là 4 chữ Hiệp nhất chúa nhân 協一主人 (Bậc chúa nhân thu hợp tất cả)[156] Như vậy dấu Bảo ấn Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo cùng 3 dấu khác trên bia được khắc vào ngày tốt đầu đông năm Ất Mùi niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715) nhà Lê Niên đại của dấu cùng với niên đại của tấm bia, chúa Nguyễn Phức Chu đã cho lập bia
đá, khắc chữ và dấu[157] (H 92, 93, 94)
Kim Bảo Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo là của báu truyền ngôi của các
chúa Nguyễn kế vị, nên được các vua Nguyễn giữ gìn rất cẩn trọng
Khi mới lên ngôi Hoàng đế, Gia Long đã ra ngay sắc lệnh dùng vàng để đúc ấn Bảo Tỷ
Sử cũ ghi lại “Đức Hoàng khảo Thế tổ Cao Hoàng đế ta, dựng thành quy chế, lập ra pháp luật, trăm chế độ đều mới cả, ra sắc lệnh đúc các loại ấn như Chế cáo chi bảo, Ngự tiền
chi bảo, Mệnh đức chi bảo…“[158]
Trang 4Tiếp xúc với những văn bản chữ Hán tập 2, 3, 4, 5 - Gia Long trong Châu bản triều Nguyễn, chúng tôi thấy một số hình dấu trên như Quốc gia tín bảo, Ngự tiền chi bảo, ngoài ra còn những dấu Bảo Tỷ khác mà trong các bộ chính sử của ta không thấy ghi như
dấu Văn lý mật sát, Thú tín thiên hạ văn vũ quyền hành
Theo chỉ dụ của Hoàng đế thì mỗi một Bảo Tỷ đều theo cách sử dụng riêng và phải dùng một loại văn thư chỉ định Dưới đây xin liệt kê những Kim Bảo Tỷ có từ thời Gia Long
* Chế cáo chi bảo 制誥之寶: Bằng vàng Dùng đóng trên tờ huân giới, sắc, chiếu lệnh sai phái các quan văn võ cùng chiếu văn thăng giáp cấp bậc, răn dạy quan tướng
* Quốc gia tín bảo 國家信寶: Bằng vàng Dùng đóng trên các văn kiện triệu tập các
tướng lĩnh, phát động binh sĩ trưng binh nhập ngũ
* Sắc chính vạn dân chi bảo 敕正萬民之寶: Bằng vàng Đóng trên các đạo sắc văn, khuyến giới dân chúng tứ phương, nêu gương các nhân vật tiết nghĩa hiếu hạnh
* Thảo tội an dân chi bảo 討罪安民之寶: Bằng vàng Dùng đóng trên tờ chiếu văn sai
phái các tướng mang quân đi đánh dẹp giặc giã trong và ngoài nước
* Ngự tiền chi bảo 御前之寶: Đúc hai chiếc một vàng một bạc Dùng đóng trên các tờ
dụ, chương sớ, sổ sách thuộc về thường sự
* Mệnh đức chi bảo 命德之寶: Bằng vàng Đóng trên các bản văn ban thưởng các quan
viên có công lao lớn, có thành tích đặc biệt hay trung thành
* Văn lý mật sát 文理密察: Đúc bằng bạc Đóng trên những bản dụ, chỉ, chương sớ, sổ sách thuộc về thường sự Bảo Văn lý mật sát chức năng như một Kiềm Bảo trong loại
hình Kim Ngọc Bảo Tỷ
Trang 5* Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành 守信天下文武權行: Đúc hai chiếc một vàng, một
bạc Dùng đóng trên đầu tờ giấy trong các đạo chiếu văn
* Phong tặng chi bảo 封贈之寶: Đúc bằng vàng Dùng đóng trên các đạo sắc, cáo phong
tặng các quan văn võ, công thần hay thần nhân
* Trị lịch minh thời chi bảo 治曆明時之寶: Đúc bằng bạc Dùng đóng trên các bản lịch,
bản chính sóc
Xin giới thiệu dấu Chế cáo chi bảo in trên văn bản Hán Nôm Đây là một bản sắc phong kích thước 3,4x5,4cm, chữ Hán viết chân[159] Nội dung văn bản là bản sắc phong chức
và tước cho một người Pháp tên là Michel Đức Chaigneau có công lao giúp Gia Long Nguyễn Ánh trong cuộc chiến chống Tây Sơn Ông được Gia Long phong chức Khâm sai thuộc nội Cai cơ, Chánh quản hai đội Kiên thủy tàu đồng Long Phi thuộc Trung quân, tước Thắng Toàn hầu với tên Việt Nam là Nguyễn Văn Thắng Dòng niên đại ghi trên văn bản có 11 chữ Gia Long nguyên niên thập nhất nguyệt nhị thập ngũ nhật (Ngày 25 tháng 11 niên hiệu đầu Gia Long [1802]) Hình một dấu son in dưới chữ “Long” Dấu hình vuông kích thước 10,5x10,5cm, bốn chữ Triện trong dấu xếp theo hai hàng, nét khắc ngắn đơn giản Đó là 4 chữ Chế cáo chi bảo 制誥之寶[160] Hai chữ cố sắc 故敕 ở cuối phần chính văn càng khẳng định đây là bản sắc phong cho quan tướng cao cấp Văn bản này đã cho ta biết Kim Bảo Chế cáo chi bảo được làm ra trước Kim Bảo Phong tặng chi bảo và Sắc mệnh chi bảo (thời Minh Mệnh) là những Bảo ấn chuyên dùng đóng trên sắc
phong thời Nguyễn (H 95)
Trang 6
Về dấu Quốc gia chi bảo còn chứng tích trong tờ chiếu đời Gia Long và trong Châu bản triều Nguyễn dưới đây Bài Tờ chiếu của vua Gia Long phong cho Nguyễn Du tước Du Đức hầu trong Tạp chí Hán Nôm số 3-1997 có giới thiệu bản sao tờ chiếu của vua Gia Long phong chức Hữu Tham tri bộ Lễ và tước Du Đức hầu cho Nguyễn Du, tác giả cho rằng dòng niên đại ghi trong tờ chiếu là Gia Long thập tứ niên ngũ nguyệt thập cửu nhật tức ngày 19 tháng 5 năm Ất Hợi niên hiệu Gia Long thứ 14 (1815) Bức ảnh chụp tờ chiếu của vua Gia Long có ghi xuất xứ, khổ 5,5x6cm cho thấy phần trên và bên trái văn bản đã bị rách, giấy ố nhăn nhưng toàn văn chữ Hán dòng niên đại và hình con dấu còn nguyên tuy có bị nhòe, mờ Dấu hình vuông mép trên in bên dưới chữ Long, mép dưới in trên chữ thập Bên trong viền dấu là bốn chữ xếp theo chiều dọc, hai chữ ở hàng hai tuy
có bị nhòe mờ gần hết nhưng chúng tôi vẫn khẳng định được đây là 4 chữ Quốc gia tín bảo 國家信寶[161]
Kim bảo Quốc gia tín bảo được làm từ năm Gia Long thứ 1 (1802), giai đoạn này mọi quy chế chưa ổn định, số lượng Kim Bảo rất ít nên Quốc gia tín bảo còn được dùng đóng trên một số loại văn kiện hành chính quan trọng khác nhau Dấu Quốc gia tín bảo in trên
Trang 7tờ chiếu này đã chứng minh cho chức năng sử dụng của nó trên chiếu thăng chức tước cho quan tướng chứ không chỉ riêng có chức năng dùng đóng trên văn kiện “Trưng phát quân lính tuyên triệu tướng súy” như trong lời dụ của vua Minh Mệnh năm thứ 9 (1828)
mà chính sử đã ghi[162] Sau cải cách đời Minh Mệnh đất nước đã tương đối ổn định, việc binh nhung thường dùng ấn Duệ vũ chi tỷ 曳武之璽 Quốc gia tín bảo ít được dùng nhưng vẫn được giữ gìn đến đời vua Bảo Đại (H 96)
Xem xét Châu bản triều Nguyễn đời Gia Long chúng tôi đã tìm thấy dấu Quốc gia tín bảo
ở dòng ghi niên hiệu, đồng thời cũng đã đo được chính xác kích thước của dấu và đồ họa lại rõ chữ hình dấu mà ở văn bản trên bị mờ nhòe Dấu hình vuông kích thước
11,3x11,3cm, viền ngoài để cỡ 1cm Bốn chữ Triện Quốc gia tín bảo 國家信寶 khắc theo khuôn hình vuông viền ngoài để cỡ 1cm, nét chữ ngắn, dễ đọc (H 97)
Trang 8Xin giới thiệu tiếp một số hình dấu Kim Bảo hiện còn lưu giữ trong Châu bản Kim Bảo Ngự tiền chi bảo 御前之寶 được làm hai cái một bằng vàng, một bằng bạc, núm ấn đều được đúc hình rồng Ấn bằng vàng mặt dấu đúc theo hình bầu dục, ấn bằng bạc mặt dấu đúc theo hình lục giác Hai Kim Bảo này về chất liệu và hình thể có khác nhau, nhưng tự dạng trong dấu có cùng một kiểu Dấu Ngự tiền chi bảo bằng vàng hình bầu dục có kích thước 2,5x3cm, viền ngoài cỡ 0,5cm và có khắc họa tiết Điều đặc biệt ở đây là tất cả các Kim Ngọc Bảo Tỷ tự dạng dấu đều khắc theo kiểu chữ Triện, riêng ấn Ngự tiền chi bảo
và một vài ấn nữa, mặt dấu khắc theo lối Chân thư, nét chữ khắc đậm nhạt như chữ viết trên giấy Vị trí đóng dấu trên các văn bản, nếu ở những chữ bản phiến, phiếu, chỉ dụ thì dấu Ngự tiền chi bảo được đóng ở phần trên dòng ghi niên hiệu năm tháng; nếu ở những bản sớ hay tấu tập thì dấu Ngự tiền chi bảo được đóng trên mặt chữ “Khâm thử” ở cuối bản (H.98)
Kim Bảo Văn lý mật sát 文理密察 được đúc bằng vàng, đóng vai trò một Kiềm Bảo trong đội ngũ Kim Ngọc Bảo Tỷ Mặt dấu hình vuông, kích thước 2,6x2,6cm, bốn chữ Triện xếp hai hàng, nét chữ khắc vuông vức Vị trí đóng ở những chỗ tẩy xóa, sửa chữa,
Trang 9viết thêm và những nơi giáp trang Trong các tập Châu bản triều Nguyễn giai đoạn
Nguyễn sơ xuất hiện rất nhiều hình dấu Văn lý mật sát, còn các tập từ thời Tự Đức trở đi
ít thấy xuất hiện (H 99)
Kim Bảo Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành 守信天下文武權行 có từ thời chúa Nguyễn được coi là ấn truyền quốc, đương thời và về sau gọi là Tiểu long bảo 小龍寶 Kim Bảo này được đúc làm hai chiếc một bằng vàng và một bằng bạc có hình thức như nhau, với núm hình con rồng thế như bay Dấu có hình chữ nhật đứng cỡ 3,4x4,9cm, viền ngoài để rộng 0,6cm và khắc hai con rồng nhỏ nét mảnh (Có lẽ vì ấn có hình thể như vậy nên triều Nguyễn gọi là Tiểu long bảo) Chữ Triện xếp theo chiều dọc 2 hàng, mỗi hàng 4 chữ, đó
là 8 chữ Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành (H 100)
Bảo ấn Tiểu long bảo dùng đóng trên đầu tờ giấy trong những đạo chiếu văn, đến đời Minh Mệnh thứ 9 (1828) nhà vua thấy ý nghĩa của dấu ấn này chỉ nặng về hình thức nên
Trang 10bỏ không dùng Lời dụ của Minh Mệnh đã ghi “Còn như các chiếu văn việc cũ dùng ấn Tiểu long đóng trên đầu tờ giấy đều phải đình chỉ…“[163]
Khi lên ngôi với ước vọng xây dựng đất nước thành một quốc gia hùng cường vua Minh Mệnh đã tiến hành công cuộc cải cách hành chính từ trung ương đến địa phương, trong
đó vấn đề hoàn thiện các loại Bảo Tỷ, ấn triện được Minh Mệnh đặc biệt chú trọng Sau này khi Minh Mệnh đổi quốc hiệu là Đại Nam để sánh với nhà Đại Thanh Trung Quốc thì hai chữ “Đại Nam” từ đó được khắc trên một số Bảo Tỷ
Ngay từ năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) nhà vua đã cho đúc Kim Bảo Hoàng đế chi bảo bằng vàng mười, hình thể hai tầng, núm hình rồng ngồi xổm, vuông 3 tấc 2 phân, dày 5 phân Lại dùng vàng tám tuổi đúc Kim Bảo Minh Mệnh thần hàn hình thể cũng làm núm hình rồng
Đến Minh Mệnh thứ 8 (1827) bộ Lễ cùng phủ Nội vụ, ty Vũ khố nhận chỉ dụ đúc 5 quả Kim Bảo bằng vàng: Bảo Sắc mệnh chi bảo hình thể hai đài chồng núm chạm hình rồng ngồi xổm, vuông 3 tấc 2 phân dày 2 ly Bảo Hoàng đế tôn thân chi bảo vuông 3 tấc 2 phân dày 3 phân 6 ly Kim Bảo Trị lịch minh thời chi bảo bằng vàng, vuông 2 tấc 6 phân
1 ly để thay cho quả bằng bạc làm từ thời Gia Long
Sử cũ ghi lại ý thức của vua Minh Mệnh trong việc làm và dùng ấn Bảo Tỷ, chi tiết đến
cả chữ kiêng húy trong dấu Lời dụ năm Minh Mệnh thứ 9 (1828) chép rằng “Ấn báu của Nhà nước là để làm việc tuyên bố mệnh lệnh, chỉ bảo rõ ràng những việc phải làm, về khí
cụ thì cực kỳ quan trọng, về điển lệ thì cực kỳ to lớn… đức Hoàng khảo Thế tổ Cao Hoàng đế ta định chế độ lập pháp luật, trăm việc đều mới, nhiều lần ban sắc lấy vàng đúc các quả ấn như là ấn Chế cáo chi bảo, ấn Quốc gia tín bảo, ấn Sắc chính vạn dân chi bảo,
ấn Thảo tội an dân chi bảo, và ấn Mệnh đức chi bảo Từ trước đến nay đã kính thi hành, song là lúc mới làm chưa được mười phần chu đáo Ta vâng nối ngôi báu, may gặp thái bình, những mong làm cho quy mô trước thêm rực rỡ, để tỏ rõ cho đời sau, cũng dùng vàng tốt đúc thêm ấn Hoàng đế chi bảo, Sắc mệnh chi bảo và Trị lịch minh thời chi bảo Chữ “Thời” là trọng nhưng phải viết chữ “Nhật” sang bên phải và chữ “Tự” sang bên trái, hiện đã lần lượt đúc xong”[164]
Việc định lệ dùng ấn cũng được làm ngay khi đã hoàn thành việc đúc ấn, mỗi Bảo Tỷ được đúc ra cũng đều có cách sử dụng riêng và dùng cho một loại văn thư chỉ định, những định lệ này thực hiện theo chỉ dụ của vua Minh Mệnh ban năm 1828 Tiếp theo xin giới thiệu những Kim Bảo Tỷ được đúc bằng vàng có từ đời Minh Mệnh
* Hoàng đế tôn thân chi bảo 皇帝尊親之寶: Dùng đóng trên các bản văn tiến dâng húy hiệu hay thụy hiệu
* Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶: Dùng đóng trên các sắc cáo cho các quan văn võ công thần, phong tặng các nhân thần
* Hoàng đế chi bảo 皇帝之寶: Dùng đóng trên các bản về khánh tiết ban ơn, đại xá thiên
hạ, ban sắc thư với ngoại quốc, khi đi tuần thú các địa phương, và trên các bản cáo dụ ban