1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lập kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ kinh nghiệm của các nước Châu Á

17 349 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 354,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để theo đuổi loại hình chiến lược thứ hai, điều chú trọng trước tiên là phải am hiểu về những sức mạnh có khả năng định hình dạng thức và những đặc trưng của các công nghệ đang nổi, làm

Trang 1

LẬP KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ KINH NGHIỆM

CỦA CÁC NƯỚC CHÂU Á

Trang 2

I TECHNOLOGY FORESIGHT-CÔNG CỤ ĐẮC LỰC ĐỂ PHỤC VỤ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ (KH&CN)

KH&CN đóng một vai trò trọng yếu đối với xã hội, kinh tế và môi trường

KH&CN góp phần vào công cuộc tạo ra của cải và cải thiện chất lượng cuộc sống Sự khai thác công nghệ thành công đã trở thành nhân tố quan trọng để đạt được khả năng cạnh tranh kinh tế Tuy nhiên, thế giới hiện đang thay đổi rất nhanh và phải đối mặt với những vấn đề môi trường toàn cầu, chẳng hạn như tình trạng ấm lên toàn cầu đang nổi lên thành mối đe dọa đối với sự tiến bộ Để đối phó với những thay đổi này, các hệ thống KH&CN cần phải có khả năng ứng phó và thay đổi bằng cách làm cho những công nghệ hiện có thích ứng được hoặc phát triển và ứng dụng những công nghệ mới

Các quốc gia phát triển và đang phát triển trên khắp thế giới đang ngày càng nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư vào năng lực tri thức để đem lại sức cạnh tranh kinh tế và phúc lợi xã hội trong tương lai Một khía cạnh quan trọng của kinh tế tri thức là khả năng tiếp cận và ứng dụng những công nghệ đang nổi Những công nghệ đó tạo cơ sở cho một loạt những triển vọng thương mại khả dĩ

Có 2 loại hình chiến lược chủ yếu liên quan đến những công nghệ đang nổi lên Loại hình chiến lược thứ nhất dựa trên việc không tham gia tích cực vào phát triển những công nghệ đó do không muốn đầu tư hoặc thiếu năng lực Chiến lược này chấp nhận tình trạng bị gạt ra ngoài lề, không chiếm hữu được những tri thức hàm chứa liên quan đến công nghệ, mà chỉ tiếp cận được với công nghệ bằng cách mua công nghệ đó khi nó thâm nhập vào thị trường, với giá do bên sở hữu công nghệ định ra Với công nghệ mua được,

họ theo đuổi lợi ích thương mại bằng cách phát triển một loạt những ứng dụng thích hợp với điều kiện địa phương

Loại hình chiến lược thứ hai dựa vào việc đầu tư phát triển những công nghệ đang nổi và cơ sở tri thức của chúng vào thời điểm khi những sản phẩm thương mại của chúng vẫn chưa thể dự đoán được chắc chắn Mục tiêu đặt ra là được tiếp cận với tri thức ẩn của công nghệ để có khả năng hình thành công nghệ và phát triển kết cấu hạ tầng cần thiết, tạo vị thế để đưa những sản phẩm tương lai ra thị trường, với ưu thế của người định giá công nghệ do mình chiếm lĩnh được

Để theo đuổi loại hình chiến lược thứ hai, điều chú trọng trước tiên là phải am hiểu

về những sức mạnh có khả năng định hình dạng thức và những đặc trưng của các công nghệ đang nổi, làm sao để sự đầu tư vào những năng lực đó có thể được định hướng thích hợp nhất Đối với những nền kinh tế phát triển, những quyết định này phần lớn là để cho khu vực tư nhân tự quyết, còn Chính phủ chỉ đầu tư hỗ trợ phát triển những kỹ năng và kết cấu hạ tầng cần thiết, đồng thời cung cấp thông tin về tiềm năng của những công nghệ đang nổi để định hướng Đối với những nền kinh tế đang phát triển, với cơ cấu công nghiệp kém phát triển và nguồn lực hạn chế, áp lực đối với họ càng lớn hơn để đảm bảo làm sao những nguồn lực ít ỏi của mình dành cho phát triển công nghệ được hướng vào những lĩnh vực hoặc những mục tiêu có lợi nhất cho quốc gia

Trang 3

Do vậy, cả những quốc gia phát triển lẫn đang phát triển đều có sự quan tâm và đầu tư lớn để phát triển năng lực nhằm hiểu biết tốt hơn về những sức mạnh có tác dụng định hình sự nổi lên của công nghệ mới và để thiết lập những lĩnh vực/mục tiêu ưu tiên phát triển công nghệ phù hợp với các nhu cầu của mình Phát triển công nghệ chiến lược

là rất quan trọng đối với khả năng cạnh tranh lâu dài của các nền kinh tế và vì thế nhận được sự quan tâm chiến lược của Chính phủ lẫn doanh nghiệp

Có một số công cụ lập kế hoạch chiến lược có thể góp phần tạo lập những mối liên kết giữa các khu vực Chính phủ, hàn lâm và doanh nghiệp, cũng như để nhận dạng những lĩnh vực ưu tiên đầu tư Một số những công cụ này nằm trong nhóm gọi là Dự báo công nghệ (Technology Forecasting) và dựa vào sự ngoại suy xu hướng hoặc ứng dụng những

mô hình để phát triển một tương lai độc nhất Những công cụ này thực chất giả định rằng tương lai là sự tiếp nối của hiện tại, nghĩa là kinh tế, xã hội và công nghệ sẽ tiếp tục diễn

ra theo mô thức ổn định Ở cách tiếp cận này, những rủi ro liên quan đến những sự kiện bất ngờ thường là được giảm thiểu hoặc không xem xét đến

Một nhóm kỹ thuật hoàn toàn khác, gọi là Technology Foresight (viết tắt là TF, tạm dịch là nhìn trước công nghệ, với ý nghĩa là định trước công nghệ ưu tiên phát triển) liên quan đến sự phát triển một loạt những tương lai khả dĩ, nảy sinh từ những tập hợp giả định khác nhau về những xu hướng và cơ hội đang nổi lên Nhóm kỹ thuật này không dựa vào việc ngoại suy những mô thức hiện có; nó thừa nhận công khai rằng tương lai là bất định và những sự kiện đột biến có thể và sẽ xảy ra Quan trọng nhất là vai trò của Tiền định không chỉ nhằm chuẩn bị tốt cho tương lai, mà còn nắm lấy mọi cơ hội để định hình

và sáng tạo tương lai

Phương pháp TF đã được sử dụng mạnh mẽ ở châu Âu, trong đó Chính phủ từng nước đã tiến hành để hỗ trợ việc lập kế hoạch KH&CN quốc gia Hoạt động này hiện đã được mở mang thành những cuộc khảo sát toàn châu Âu, được EU tiến hành để phát triển Khu vực Nghiên cứu châu Âu và cũng vươn thành những cuộc khảo sát khu vực, thường

là xuyên quốc gia Nó đã được sử dụng ở khắp các châu lục và việc sử dụng nó ở khu vực APEC đang ngày càng gia tăng

Nhiệm vụ then chốt của công tác TF là tạo ra sự cân đối cần thiết giữa một bên là các chính sách của Chính phủ được hoạch định theo phương pháp từ trên xuống đối với hoạt động nghiên cứu và đổi mới và một bên khác là các sáng kiến từ dưới lên, do thị trường thúc đẩy Công tác này tiến hành để xếp hạng các lựa chọn và phát triển sự đồng thuận trong phạm vi hệ thống đổi mới quốc gia (NIS) Theo quan điểm đã được sự nhất trí rộng khắp, việc cùng kết hợp để thực hiện công tác TF đã trở thành một công cụ chính sách quan trọng để kết nối, do vậy tăng cường được hiệu quả hoạt động của NIS

Công tác TF đặt ra mục đích khuyến khích để đưa ra được các quyết định tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy mọi người tư duy về con đường đi tới của đất nước và tăng cường sự chuẩn bị để đón nhận những thay đổi xảy ra Sức mạnh của công tác TF nằm ở khả năng kết hợp các quy trình phân tích và thông tin chính quy Do vậy, TF bao hàm một quá trình hệ thống, trong đó cố gắng quan sát để nhìn thấy những hướng đi

Trang 4

trong tương lai của KH&CN, kinh tế-xã hội, nhằm mục đích nhận dạng các lĩnh vực nghiên cứu chiến lược và các công nghệ lớn đang nổi lên mà có khả năng đem lại những lợi ích kinh tế-xã hội lớn nhất TF được dùng để kết nối các bộ phận nằm trong NIS, thông qua việc truyền thông, hợp tác và nối mạng những nhà phát triển, những nhà sản xuất và những nhà sử dụng công nghệ, đồng thời nêu bật lên nhu cầu phải tạo lập được các điều kiện chung, các quy định và kết cấu hạ tầng tốt hơn để thực thi các lĩnh vực KH&CN được chọn làm ưu tiên TF được sử dụng để giúp mọi người nhận thức được các công nghệ, thị trường và chiến lược cho tương lai, thông qua sự tranh luận về những công nghệ đó và tác động của chúng tới sự phát triển kinh tế-xã hội (với sự tham gia của xã hội dân sự) và thông qua sự hiểu biết tốt hơn về các động lực đem lại một số chức năng của NIS được một số tổ chức trong NIS thực hiện Nếu thực hiện tốt, công tác TF sẽ đưa ra một quy trình tư vấn mang tính tập thể, với những quy trình mà bản thân cũng đóng vai trò quan trọng không kém so với sản phẩm do công tác này đem lại

Định nghĩa TF và yếu tố căn bản của TF

TF không phải là một kỹ thuật mới; nó đã được phát triển trong vòng 30 năm qua và đã

áp dụng những cách tiếp cận khác nhau Có thể phân biệt 3 thế hệ TF như sau:

- Thế hệ 1 - là những dự báo công nghệ được tạo động lực bởi những nhà nghiên cứu;

- Thế hệ 2 - là những tương lai công nghệ được liên kết với thị trường và được tạo động lực bởi các nhà nghiên cứu và ngành công nghiệp;

- Thế hệ 3 - là những tương lai được liên kết với xã hội và được tạo động lực bởi các nhà nghiên cứu, ngành công nghiệp và các nhóm lợi ích

Những định nghĩa khác nhau về TF đã được đề xuất và định nghĩa hiện nay được Trung tâm TF APEC sử dụng để phản ánh TF thế hệ 3 là: "TF bao hàm những cố gắng có hệ thống để nhìn vào tương lai của KH&CN kinh tế - xã hội và những quan hệ tương tác của chúng để thúc đẩy lợi ích kinh tế-xã hội và môi trường"

Định nghĩa này có một số hàm ý như sau:

1 Những cố gắng nhìn vào tương lai cần phải dựa vào sự phân tích kỹ lưỡng hiện trạng, những xu thế và tác động khả dĩ của những phát triển;

2 Những cố gắng này cần phải liên quan đến tầm trung hạn và dài hạn, thường là

10-20 năm;

3 TF là một quá trình chứ không phải là một tập hợp kỹ thuật và bao gồm sự tư vấn

và tương tác giữa cộng đồng khoa học, những người sử dụng kết quả nghiên cứu

và những nhà hoạch định chính sách;

4 Cần đưa đến những hành động nhằm hình thành nên tương lai khả dĩ tốt nhất Một đề xuất gần đây là ta có thể định nghĩa TF đơn giản là sự hiểu biết tương lai TF nhằm vào 3 thách thức lớn đặt ra bởi tương lai, gồm:

Trang 5

1 Sự phức hợp: Các quan hệ nhân quả không phải lúc nào cũng rõ ràng Những yếu

tố nhân quả có thể tương tác, vì vậy có thể có sự chậm trễ giữa nguyên nhân và kết quả hoặc có thể có những khác nhau giữa các xã hội;

2 Bất định: Nhiều mối quan hệ là quá phức hợp để khám phá toàn bộ, thậm chí những mối quan hệ đơn giản cũng có thể liên quan tới độ bất định cao, nếu như cơ

sở tri thức còn chưa tồn tại hoặc nếu con người bất lực trước kết quả sẽ xảy ra;

3 Không rõ ràng: Có thể có những diễn giải khác nhau đối với cùng một thông tin và

dữ liệu do có những quyền lợi và niềm tin khác nhau

Những cấu phần của TF

Một đặc điểm quan trọng trong việc thành lập quá trình TF là xác định mục đích, vì điều này quyết định bản chất của mối liên hệ với quá trình đưa ra quyết định Có 6 mục đích khả dĩ gồm:

1 Lập phương hướng - những định hướng rộng về chính sách khoa học và phát triển một chương trình nghị sự về các phương án tùy chọn;

2 Xác định những ưu tiên - một mục đích quan trọng của TF và động lực của nhiều nước để tiến hành là dựa trên sự hạn chế về nguồn lực và những yêu cầu ngày càng tăng đối với các nhà nghiên cứu;

3 Phân tích dự báo - nhận dạng những xu hướng đang nổi lên và những hàm ý lớn đối với việc đề ra quyết định tương lai;

4 Tạo ra sự đồng thuận - thúc đẩy sự nhất trí cao hơn của các nhà khoa học, các cơ quan cấp vốn và những nhóm lợi ích đối với những nhu cầu hoặc cơ hội đã nhận dạng;

5 Cố vấn - thúc đẩy những quyết định chính sách phù hợp với những ưu tiên của các nhóm lợi ích cụ thể trong hệ thống R&D;

6 Truyền thông và giáo dục - thúc đẩy truyền thông nội bộ trong giới khoa học, thúc đẩy truyền thông bên ngoài với những người sử dụng nghiên cứu và giáo dục rộng rãi hơn công chúng, các chính khách và quan chức

Như vậy, có một số hoạt động có thể tụ họp lại trong một dự án TF, một số là tương đối cũ, một số khác mới được đưa ra Có một quan điểm rộng khắp cho rằng bối cảnh kinh tế, thể chế và văn hóa của những quốc gia khác nhau có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn giữa các cách tiếp cận quốc gia, do vậy các quốc gia khác nhau có những

kỹ thuật khác nhau được áp dụng

Trong quá trình tiến hành dự án TF, cần duy trì triển vọng cân đối giữa "sức đẩy của khoa học" và "sức kéo của nhu cầu"

- Những nhân tố đẩy của khoa học bao gồm sự tạo ra những cơ hội công nghệ hoặc thương mại mới nhờ nghiên cứu khoa học, và sức mạnh và những nguồn lực khai thác chúng;

Trang 6

- Những phát triển của công nghệ và sản xuất có thể tạo ra ứng dụng các kết quả nghiên cứu hiện có hoặc những kết quả mới thông qua cơ chế sức kéo của nhu cầu Các nhân tố nhu cầu bao gồm những ưu tiên và nhu cầu của cộng đồng rộng hơn

Do bản chất tương tác của TF, nên những đầu ra của quá trình thường cũng có thể quan trọng như những sản phẩm của TF Những lợi ích mà TF đưa lại gồm:

- Giao thiệp - đưa những nhóm người riêng rẽ lại với nhau và cung cấp cho họ một

cơ cấu để tương tác và giao thiệp;

- Tập trung - về lâu dài, những thành viên tham gia sẽ nhìn tiếp vào tương lai nhờ đã kinh qua quá trình TF;

- Phối hợp - tạo khả năng cho những nhóm khác nhau hình thành các quan hệ đối tác R&D hiệu quả;

- Đồng thuận - nhờ đã tạo ra một bức tranh rõ nét về những phương hướng khác nhau trong tương lai và những ưu tiên nghiên cứu;

- Cam kết - tạo ra sự cam kết đối với những kết quả ở những người sẽ chịu trách nhiệm thực hiện những thay đổi;

- Am hiểu - khuyến khích những người tham gia hiểu được những thay đổi đang diễn ra trong kinh doanh hoặc trong ngành chuyên môn ở cấp toàn cầu và đề ra sự kiểm soát nào đó với những sức khỏe này

Mức độ thành công hay không của TF có thể được đo và đánh giá căn cứ vào 6 tiêu chí này

Kinh nghiệm chỉ ra rằng TF có thể được tiến hành ở một số cấp, từ những cơ quan chịu trách nhiệm điều phối chính sách KH&CN quốc gia, tới các hiệp hội ngành nghề, các doanh nghiệp hoặc tổ chức nghiên cứu

Những điểm quan trọng cần lưu ý để một dự án TF được thực hiện thành công là:

- Mục đích của TF phải được vạch rõ ngay từ đầu;

- Tất cả những người sử dụng R&D, thực hiện R&D và cấp vốn đều được thu hút vào quá trình

- Luồng ý kiến cố vấn "từ dưới lên" ít nhất cũng được chú ý ngang bằng với luồng

"từ trên xuống";

- Cơ chế thực hiện phải có sẵn để những quyết định đưa ra trong quá trình có thể và

sẽ được thực hiện;

- Quá trình TF nhạy cảm với những bất ngờ, bởi vậy các kế hoạch có thể được cải biến;

- Quá trình không phải là "làm một lần là xong", mà lặp lại theo định kỳ để xem xét những phản hồi và những phát triển mới

Trang 7

Một dự án TF có thể chia làm 3 pha:

- Pha chuẩn bị - xác định các mục tiêu, phát triển tài liệu khái niệm, xem xét những tài liệu hiện có và nếu cần ủy nhiệm thực hiện những xem xét mới;

- Pha thực hiện - sử dụng một hoặc một số kỹ thuật nêu dưới đây để tập hợp các chuyên gia và các nhóm lợi ích tiến hành chia sẻ những ý tưởng, phát triển những tầm nhìn tương lai, vạch ra những vấn đề lớn, đánh giá những nhu cầu hành động (Trung tâm TF APEC cho rằng kỹ thuật xây dựng kịch bản là rất đắc lực cho công việc này) và soạn thảo báo cáo

- Pha hậu TF - Trình báo cáo cho những nhà hoạch định chính sách/những nhà đưa

ra quyết định và các nhóm lợi ích, tiếp tục làm việc với các thành viên về những sản phẩm của công trình và công bố rộng rãi những kết luận (Đây là pha khó nhất nhưng cũng quan trọng nhất)

Phương pháp luận TF

1 Khảo sát Delphi

Quá trình này sử dụng ý kiến của các chuyên gia để nhận dạng những phát triển công nghệ khả dĩ trong 10-20 năm tới và ước tính khả năng xảy ra và thời gian thực thi chúng Phương pháp này bao gồm việc gửi phiếu điều tra tới một ban chuyên gia lớn, lặp lại nhiều lần để thúc đẩy sự tương tác nhóm Các thành viên của ban chuyên gia thường đưa ra những ước tính khác nhau rất nhiều ở mỗi câu hỏi khi bắt đầu quy trình, nhưng cùng với diễn tiến của quá trình, những ước tính đó bắt đầu hội tụ lại Tuy nhiên, một điều quan trọng cần ý thức được là đôi khi những người ngoài cuộc lại thấy được tương lai tốt hơn so với đa số

Kỹ thuật Delphi có một số ưu điểm Một là, nó cho phép tổng hợp quan điểm của một số lượng lớn chuyên gia Hai là, nó thích hợp để xem xét những thay đổi dài hạn, kể

cả những thay đổi có thể xảy ra Ba là, nó rất công hiệu để đem lại những lợi ích quy trình (như sự đồng thuận và sự tập trung) Cuối cùng là, nó có thể áp dụng cho những quốc gia khác nhau, do đó cho phép nhà nghiên cứu so sánh những kết quả để nhận dạng tác động của mọi ảnh hưởng quốc gia Một trong những nhược điểm là những khảo sát quy mô lớn thường tốn kém và cần nhiều thời gian, đồng thời cần sự tham gia của một số lượng lớn chuyên gia nắm những kết quả có tầm quan trọng về thống kê

Kỹ thuật này được áp dụng nhiều ở châu Á, nhất là Nhật, Hàn Quốc và Thái Lan, cũng như ở châu Âu như Đức và Pháp

2 Tư vấn

Kỹ thuật này sử dụng cách tiếp cận ở phạm vi rộng khắp cộng đồng để phát triển những triển vọng của các tương lai được trông đợi, có khả năng xảy ra và được ưa thích, xét về dài hạn Những tương lai được trông đợi là dựa trên cơ sở phân tích của các

chuyên gia về những xu thế hiện nay và ngoại suy Những tương lai khả dĩ cung cấp một

Trang 8

loạt những phương án tùy chọn đối với thế giới, có thể có những thay đổi lớn theo thời gian Những tương lai được ưa thích là những tương lai cộng đồng muốn đạt tới; chúng bao hàm những giá trị và kỳ vọng cá nhân, những chiến lược của các công ty và các tổ chức cộng đồng và những kế hoạch của Chính phủ Bằng cách so sánh những phương án,

có thể nhận dạng những vấn đề then chốt đối với sự thay đổi, cần phải giải quyết trong quá trình phát triển chiến lược quốc gia để đạt tới một tương lai mong muốn, đồng thời đối phó với những thay đổi khả dĩ

Kỹ thuật này có tác dụng tốt để đem lại những lợi ích của quá trình, như thúc đẩy

sự giao thiệp, phối hợp, cam kết và am hiểu Cũng như phương pháp Delphi, phương pháp này cũng tốn kém và mất nhiều thời gian, vì phải tư vấn rất nhiều người Nhưng khác với Delphi, nó có xu hướng mang tính đặc thù với từng quốc gia và từng nền văn hóa, vì vậy không thể so sánh kết quả nhận được

Kỹ thuật tư vấn đã được sử dụng ở Ôxtrâylia và Hà Lan Công trình TF gần đây ở Anh gồm cả kỹ thuật tư vấn lẫn khảo sát Delphi

3 Xây dựng kịch bản

Phương pháp này sử dụng cách tiếp cận tập trung hơn để phát triển những kịch bản cho tương lai và đánh giá những hàm ý của chúng Những nhóm nhỏ các chuyên gia

và những người liên quan xem xét hiện trạng R&D ở một lĩnh vực và nhận dạng những phát triển khả dĩ của công nghệ ở một lĩnh vực cụ thể trong vòng ví dụ như 10-20 năm tới Tiếp đó, họ nhận dạng những động lực thay đổi và những bất định Những động lực

đó có thể phân thành 5 nhóm: S-xã hội, T-công nghệ, E-Kinh tế, E-môi trường và P-chính trị (gộp lại thành STEEP) Tiếp đó, những nhóm đó được suy đoán về những bất định có thể hoặc thậm chí không thể xảy ra, có khả năng làm thay đổi mô thức phát triển, chẳng hạn như dịch bệnh, chiến tranh, thảm họa thiên nhiên - Tiếp theo, những kịch bản được xây dựng bằng cách sử dụng những tổ hợp của những điều này để đưa ra các bức tranh gắn kết về những tương lai khác nhau Nhờ xem xét những kịch bản này, có thể nhận dạng những điểm quyết định quan trọng để làm cơ sở phát triển chiến lược, cho phép ứng phó linh hoạt với sự thay đổi lớn

Kỹ thuật xây dựng kịch bản đã được các công ty/tổ chức nghiên cứu sử dụng để phát triển chiến lược kinh doanh và bổ sung cho công tác lập ra những ưu tiên Kỹ thuật này có công dụng tốt để đem lại những lợi ích của quá trình

Trang 9

II KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á

Nhật và Hàn Quốc, với kinh nghiệm lớn về phát triển công nghiệp dựa vào công nghệ và với những công trình khảo sát TF, đã có khả năng vạch ra những công nghệ quan trọng tiềm tàng trong tương lai với mức độ chi tiết đáng kể, kể cả những thành tựu công nghệ và thị trường khách quan Năng lực như vậy đã tăng cường rất nhiều độ chính xác

và độ tin cậy của những phát hiện trong các cuộc khảo sát Delphi, và năng lực này chỉ phát triển được dần dần theo thời gian Đây có thể được coi là một cấu phần quan trọng trong kết cấu hạ tầng của nền kinh tế tri thức được sự hỗ trợ bởi công nghệ

Gần đây, cả Trung Quốc và Ấn Độ đều đã thực hiện những dự án TF, hỗ trợ cho việc lập kế hoạch KH&CN và kinh tế

Trong khoảng thời gian 2002-2005, Trung Quốc đã tiến hành Dự án TF dựa vào khảo sát Delphi, chú trọng vào 6 lĩnh vực công nghệ: CNTT-TT, CNSH, công nghệ vật liệu, năng lượng, môi trường và tài nguyên và chế tạo tiên tiến Những khảo sát này đã xem xét thời gian thực thi những công nghệ cụ thể, những hệ quả đối với kinh tế-xã hội

và môi trường, khoảng cách trình độ giữa Trung Quốc và những quốc gia dẫn đầu, cơ sở R&D ở Trung Quốc, tác động đối với các ngành công nghiệp công nghệ cao và truyền thống Trên cơ sở cân nhắc những tiêu chí như vậy, đã nhận dạng những ưu tiên cho nghiên cứu và đầu tư phát triển công nghệ

Ở Ấn Độ, Hội đồng Thông tin và Đánh giá Công nghệ đã tìm cách xây dựng một tầm nhìn dài hạn cho Ấn Độ tới năm 2020 ở những lĩnh vực công nghệ quan trọng đang nổi lên 17 lĩnh vực công nghệ đã được nhận dạng và đóng vai trò quan trọng Phương pháp luận được Hội đồng áp dụng bao gồm việc phân tích những động lực và xu thế, được tăng cường thêm bởi những phương pháp luận TF khác nhau Những báo cáo Tầm nhìn Công nghệ 2020 đã được xuất bản năm 1996 Kể từ đó, đã có một Chương trình liên tục để cập nhật những báo cáo này và soạn ra những báo cáo chi tiết hơn về những phân ngành cụ thể

Ở cấp tổng quát, có một mức gần giống nhau giữa những ưu tiên của Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc và Ấn Độ Cả 4 nước đều nhấn mạnh rất nhiều đến những phát triển mới của CNTT và các khoa học về sự sống Cũng có một sự thừa nhận chung về những nhu cầu và cơ hội ở những lĩnh vực vật liệu mới, năng lượng và môi trường

Tuy nhiên, sự chú trọng cụ thể lại hơi khác nhau giữa 4 nước, phản ánh sự khác nhau về năng lực và giai đoạn phát triển công nghệ Trong khi cả Trung Quốc và Ấn Độ đều chú trọng vào phát triển tiếp công nghệ vật liệu bán dẫn và phần mềm, thì Nhật và Hàn Quốc có những công nghệ đó thực sự đã quá trưởng thành, bởi vậy nếu tiếp tục đầu

tư thì chỉ nhận được lợi nhuận suy giảm Cho nên, chú trọng của Nhật và Hàn Quốc phần lớn là vào những ứng dụng mới của CNTT, chẩn đoán y học và chăm sóc sức khỏe và nhằm giải quyết những thách thức để tăng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường

Trang 10

Tương tự, cũng có sự khác nhau rõ nét giữa sự chú trọng của Hàn Quốc vào những vật liệu mới, chẳng hạn như bộ nhớ nguyên tử và vi cảm biến PV cho những hệ thống giác quan nhân tạo với sự chú trọng của Trung Quốc vào vật liệu sắt thép xây dựng và Ấn Độ chú trọng vào nam châm đất hiếm, gốm cấu trúc

Công trình của các nước đều nhận dạng những phát triển năng lưc là có tầm quan trọng, nhưng sự chú trọng lại khác nhau Ấn Độ chú trọng vào cải tiến công nghệ phát điện thông thường Trung Quốc kết hợp sự quan tâm vào than, hạt nhân và các nguồn thực vật Nhật chú trọng vào công nghệ pin nhiên liệu, tàng trữ an toàn phế thải hạt nhân của nhà máy điện nguyên tử

Lựa chọn công nghệ ưu tiên phát triển tới năm 2020 ở Trung Quốc

Nhóm công tác về TF thuộc Viện Chính sách và Quản lý (IPM) của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (CAS) đã mở ra Chương trình TF tới năm 2020 ở Trung Quốc vào năm 2003 dựa trên cơ sở những nghiên cứu trước đó liên quan đến TF Mục đích của Chương trình là:

(1) Khai thác một tập hợp những phương pháp mang tính hệ thống về TF thích

hợp với trình độ và đặc trưng phát triển của Trung Quốc;

(2) Xây dựng những kịch bản về sự phát triển của Trung Quốc từ năm 2020 căn cứ

vào những nhu cầu chiến lược quốc gia và những xu hướng phát triển

KH&CN;

(3) Tiến hành khảo sát Delphi và lập ra ưu tiên phát triển công nghệ và đề ra

những khuyến nghị cần thiết để phát triển công nghệ;

(4) Xây dựng một sàn tương tác cho các khu vực Chính phủ - công nghiệp - trường

đại học - viện nghiên cứu và hình thành cơ chế để truyền thông, tư vấn và phối hợp đối với những nhóm lợi ích khác nhau;

(5) Thúc đẩy môi trường xã hội cho TF, cụ thể là văn hóa dự báo ở Trung Quốc Dưới đây đề cập đến 4 phương diện:

(6) Khung khổ TF tới 2020 ở Trung Quốc;

(7) Phương pháp luận TF tới 2020 ở Trung Quốc;

(8) Kết quả chủ yếu của khảo sát Delphi đối với 4 lĩnh vực nghiên cứu gồm:

CNTT, CNSH, công nghệ năng lượng, KH&CN vật liệu;

(9) Tác động của nghiên cứu tới việc đề ra quyết định KH&CN ở Trung Quốc Khung khổ TF 2020 ở Trung Quốc

Khung khổ này đã được hình thành trên cơ sở áp dụng những kinh nghiệm của Nhật, Đức, Anh và Hàn Quốc trong TF Để đảm bảo thành công cho TF, nhóm công tác

đã bổ sung pha mô phỏng để phát hiện tất cả những khó khăn tiềm tàng trong quá trình tiến hành kế hoạch TF

Ngày đăng: 26/07/2014, 21:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w