1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ VÔ KINH THỨC PHÁT DO NGUYÊN NHÂN TRUNG ƯƠNG pot

4 484 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 143,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tất cả những nguyên nhân gây vô kinh nguyên phát đều có thể là những nguyên nhân gây vô kinh thứ phát, trừ những bất thường bẩm sinh về giải phẫu ở bộ phận sinh dục và những bất thường b

Trang 1

BS Chu Thị Thu Hương – BV Bưu Điện Hà Nội

Vô kinh là một trong những triệu chứng của

các bất thường về giải phẫu hoặc nội tiết có

thể làm cho người phụ nữ bị vô sinh Hiện nay, người

ta đã hiểu rõ hơn về cơ chế sinh bệnh cũng như cách

điều trị một số trường hợp vô kinh và vô sinh Tuy

nhiên, cũng còn đó các nguyên nhân gây vô kinh

không thể khắc phục được, nhất là các khiếm khuyết

về mặt giải phẫu, như không có tử cung chẳng hạn

Vô kinh có 2 dạng: nguyên phát và thứ phát Vô kinh

nguyên phát là trường hợp bé gái đã qua tuổi dậy

thì mà vẫn không có kinh nguyệt, còn vô kinh thứ

phát là trường hợp mất kinh sau khi đã từng có kinh

bình thường trước đó

Tất cả những nguyên nhân gây vô kinh nguyên phát

đều có thể là những nguyên nhân gây vô kinh thứ

phát, trừ những bất thường bẩm sinh về giải phẫu ở

bộ phận sinh dục và những bất thường bẩm sinh khác Thí dụ, hội chứng Turner, hội chứng thượng thận sinh dục, hội chứng Rokitansky v.v…

Theo tài liệu Aâu, Mỹ, những nguyên nhân phổ biến nhất của vô kinh thứ phát là ở vùng dưới đồi (78%), buồng trứng (8%), ngoài bộ phận sinh dục (7%), tuyến yên (2%) Trong đó, nguyên nhân từ vùng dưới đồi và tuyến yên là các nguyên nhân trung ương gây vô kinh có thể khắc phục được biến chứng vô sinh tốt hơn so với nguyên nhân từ các vùng khác

VÔ KINH THỨ PHÁT NGUYÊN NHÂN VỎ NÃO, VÙNG DƯỚI ĐỒI

Có hai nhóm: nhóm do các yếu tố tâm thần và nhóm

do các tổn thương thực thể Thật ra, cả hai nhóm nguyên nhân này phần lớn đều là do từ vỏ não tác

Trang 2

động xuống vùng dưới đồi chứ không phải khởi phát

từ vùng dưới đồi Những yếu tố tâm thần, tâm lý có

thể là sang chấn tinh thần trong gia đình như ly dị,

tang tóc, thay đổi hoàn cảnh sống, hành trình đường

dài, lo sợ v.v…, có khi tưởng tượng có thai cũng gây

ra vô kinh Trong thế giới chiến tranh lần thứ hai, tại

châu Âu, người ta thấy có tới 50% phụ nữ bị mất kinh

vì lo lắng sợ sệt và đói kém

Những thương tổn thực thể như viêm não, sang chấn

sọ não làm ảnh hưởng đến chức năng vùng dưới đồi

hay các nhóm nhân ở trên vùng dưới đồi như hệ

thống viền, cấu tạo lưới Không hiếm những trường

hợp xảy ra trong thời kỳ thai nghén của người mẹ

dẫn tới tổn hại cho đứa con như nhiễm khuẩn, nhiễm

độc thai nghén, tia xạ, thuốc Trong các thuốc, người

ta lưu ý đến fenotiazin, reserpin, các thuốc bế hạch

có tác động lên vùng dưới đồi

Nhiều trường hợp vô kinh sau đẻ kèm theo béo bệu

trong khi có thai và sau thời gian ngừng cho bú,

những trung tâm của vùng dưới đồi không được dinh

dưỡng đầy đủ Thật khó phân biệt vô kinh nguyên

nhân vùng dưới đồi với vô kinh nguyên nhân tuyến

yên vì mặc dầu nguyên nhân là từ vùng dưới đồi

nhưng cuối cùng vẫn dẫn đến kém hoạt động của

tuyến yên

VÔ KINH THỨ PHÁT NGUYÊN NHÂN TUYẾN YÊN

Vì khả năng dự trữ hoạt động cao của tuyến yên nên

ít khi có vô kinh do nguyên nhân suy tuyến yên Hay

gặp nhất là suy tuyến yên sau sinh và u tuyến yên

Trong các khối u, cần phân biệt những khối u không

hoạt động nội tiết như khối u kỵ sắc, u họng - vòm

sọ và những khối u sinh nội tiết như u tế bào ái toan

gây chứng khổng lồ, bệnh lớn cực, u tế bào ái kiềm

gây bệnh Cushing, u tuyến yên sinh prolactin gây

chứng vô kinh tiết sữa Những khối u tế bào kị sắc của tuyến yên tuy không chế tiết hormon, không gây các triệu chứng nội tiết nhưng cũng gây được vô kinh

do thùy trước tuyến yên bị hủy hoại

Hội chứng Sheehan

Nguyên nhân

Sau đẻ, tuyến yên giảm nhanh thể tích, song song với việc giảm khối lượng tuần hoàn chung của sản phụ Nếu xảy ra mất máu nhiều trong khi đẻ hoặc sau khi đẻ thì lượng máu cung cấp cho tuyến yên càng giảm nhanh và thùy trước tuyến yên bị hoại tử

Khoảng 15% những trường hợp choáng mất máu do đẻ dẫn tới giảm tiết hormon hướng sinh dục Nếu bị hoại tử 90% tuyến yên, sẽ dẫn tới mất hẳn chế tiết các hướng hormon Tỷ lệ gặp: 1/ 5000 - 1/ 10.000 trường hợp đẻ

Triệu chứng

Sớm nhất là triệu chứng mất sữa do tuyến yên không còn chế tiết được prolactin Sau đó vú teo dần

Rụng lông nách và lông mu

Bộ phận sinh dục teo dần

Nếu nặng hơn, suy chức năng tuyến giáp và tuyến thượng thận sẽ nổi bật lên Da vàng, huyết áp tụt

Mất kinh

Người bệnh mệt mỏi, gầy mòn

Âm đạo khô, các tuyến bã và tuyến nhờn giảm hoạt động

Giảm hoặc mất dục tình

Trong những thể nhẹ, có thể vẫn còn kinh nhưng

ít, đồng thời không có dấu hiệu suy tuyến vỏ



















Trang 3

Sở dĩ không sạm da là vì tuyến yên bị suy, không

chế tiết được ACTH mà ACTH lại gây sạm da Trong

bệnh Addison, suy tuyến vỏ thượng thận nên thiếu

corticoid làm cho tuyến yên tăng tiết ACTH và gây

sạm da

Các xét nghiệm bổ sung

Điều trị

thượng thận, suy tuyến giáp vì các tế bào chế

tiết ACTH và các tế bào chế tiết TSH không bị

tổn hại như những tế bào chế tiết hormon hướng

sinh dục

Một điểm quan trọng nên lưu ý là mặc dầu có

suy tuyến vỏ thượng thận chăng nữa, người bệnh

vẫn không có dấu hiệu sạm da Các dấu hiệu

khác của suy tuyến vỏ thượng thận vẫn có như

giảm huyết áp, mệt mỏi



Định lượng thấy các hướng hormon giảm thấp,

trước hết là các hormon hướng sinh dục

Đường huyết thấp cũng có giá trị tốt giúp chẩn

đoán bệnh





Trước hết phải bồi phụ sự thiếu hụt hormon giáp

trạng nếu có biểu hiện suy tuyến giáp

Nhưng cũng phải cho cortisol (mỗi ngày 10 - 20

mg) để giải quyết tình trạng thiếu hormon của vỏ

thượng thận

Chế độ ăn nhiều đạm, nhiều hydrat carbon và

nhiều NaCl so với bình thường

Cho estrogen làm giảm bớt những triệu chứng

do suy buồng trứng gây ra

Đối với những thể nhẹ, có thể có thai, đẻ con

khỏe mạnh bình thường Đối với những thể nặng

nhưng không có suy giáp trạng và thượng thận

nhiều tới mức phải điều trị hormon liều cao, có

thể điều trị vô sinh, kích thích phóng noãn bằng các hormon hướng sinh dục thay thế











Bệnh Simmonds

Nguyên nhân do teo hay hoại tử tuyến yên không liên quan đến thai nghén, sẩy thai Bệnh cảnh rất giống hội chứng Sheedan

Hội chứng vô kinh tiết sữa

Có 3 hội chứng được lưu ý trong chẩn đoán: hội chứng Chiari - Frommel, hội chứng Argonz - del Castillo, hội chứng Forbes - Albright…

Hội chứng Chiari - Frommel

Sau đẻ cho bú kéo dài nhiều năm, đến khi ngừng cho con bú vẫn tiết sữa kéo dài và vô kinh Tử cung teo trầm trọng, nội mạc tử cung teo, béo bệu Rối loạn hoạt động của hệ thống vùng dưới đồi - tuyến yên, dẫn đến tăng tiết prolactin, tiết sữa và vô kinh

Hội chứng Argonz - del Castillo

Vô kinh tiết sữa xảy ra trong trường hợp chưa đẻ lần nào

Hội chứng Forbes - Albright

Vô kinh tiết sữa do có khối u tuyến yên

NHÌN CHUNG

Có tới 50% các trường hợp tiết sữa không rõ nguyên nhân Nhưng một số nguyên nhân có thể gây tiết sữa: dùng estrogen, dùng thuốc chữa bệnh tâm thần (như Aminazin chẳng hạn), những kích thích ở ngực,

Trang 4

ở vú (sẹo mổ, bỏng, sang chấn…), những bệnh nội

tiết (thiểu năng giáp trạng, tăng tiết TRH) v.v… làm

tăng tiết prolactin

Chẩn đoán dựa thêm vào chụp hố yên, khám mắt

xem có dấu hiệu chèn ép vào giao thoa thị giác của

tuyến yên to không, định lượng prolactin xem có cao

không (bình thường 15 - 450mUI/ L)

ĐIỀU TRỊ

Nếu không thấy có nguyên nhân thực thể, có thể

dùng 2 - brom - alpha - ergocriptin, tức bromocriptin

(biệt dược hay được dùng là Parlodel) dùng kéo dài

qua nhiều tháng, mỗi ngày 1 - 2 viên, mỗi viên

2,5 mg Có thể tăng liều sử dụng đến 5 mg hoặc

7,5 mg Tác dụng phụ có thể có là buồn nôn, nhức

đầu, chóng mặt, có khi ngất xỉu do tác dụng hạ

huyết áp khi thay đổi tư thế Nên cho bệnh nhân

uống thuốc vào buổi tối trước khi đi ngủ để tránh các

tác dụng phụ kể trên Trong khi dùng có thể có thai

Nếu nghi ngờ có khối u sinh prolactin của tuyến yên

thì không nên để có thai vì nội tiết thai nghén có

thể kích thích phát triển nhanh khối u tuyến yên

dẫn đến những tai biến nguy hiểm như chèn ép

vào giao thoa thị giác gây mù lòa hoặc chảy máu khối u và gây chèn ép não như kiểu xuất huyết não Tránh thai bằng những phương pháp thông thường ngoài thuốc tránh thai hormon Thí dụ, đặt vòng tránh thai, bao cao su v.v Sau 1 - 2 năm điều trị, nếu nghỉ thuốc, bệnh nhân vẫn tự có kinh được và biết chắc không có khối u tuyến yên, có thể cho phép có thai

Hiện nay ở những nước có trình độ mổ tuyến yên tốt, người ta vẫn để cho người vô kinh tiết sữa có thai Khi phát hiện thấy có dấu hiện chèn ép của u tuyến yên vào giao thoa thị giác gây biến chứng thị lực cho mắt thì người ta mổ cắt bỏ u tuyến yên, đồng thời giữ thai Ở Việt Nam, vì chưa phổ cập phẫu thuật mổ tuyến yên nên phải phá thai khi có biến chứng mờ mắt

Trước khi quyết định cho phép có thai có thể cho một số vòng kinh nhân tạo để thăm dò phản ứng của tuyến yên qua chịu đựng và các dấu hiệu cơ năng như nhức đầu, mờ mắt của người bệnh Với mục đích kích thích phóng noãn, ngoài việc sử dụng Parlodel, có thể dùng clomifen citrat, nhưng kết quả thường kém hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1BENSON & PERNOLL’S Handbook of obstetrics and gynecology Chapter 25: Menstrual abnormalities and complications 2001,

707 - 726.

BROWN, M A Primary dysmenorrheal Nursing Clinics of North America 2005, 17, 145 - 152.

Higham JM, O'Brien PMS, Shaw RW Assessment of menstrual loss using a pictorial chart Br J Obstet Gynaecol 1990; 97: 734 - 739 ISRAEL, S Diagnosis and treatment of menstrual disorders and sterility New York: Hoeber Medical division, Harper and Row 2006 NGUYỄN KHẮC LIÊU Kinh nguyệt và rối loạn kinh nguyệt NXB Y học 2001, 5 - 141.

Schlesinger KW, Rinder HM, Ragni MV Women with Bleeding Disorders In Ehrenthal DB, Hoffman MK, Hillard PJ, eds Women’s Health Book Series: Menstrual Disorders American College of Physicians/American Society of Internal Medicine: Philadelphia; 2006:

171 -195

Warner PE, Critchley HO, Lumsden MA, et al Menorrhagia I: measured blood loss, clinical features, and outcome in women with heavy periods: a survey with follow-up data Am J Obstet Gynecol 2004; 190: 1216 - 1223 [CrossRef] [Medline]

01.

02.

03.

04.

05.

06.

07.

Ngày đăng: 26/07/2014, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w