1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình -Vi hóa sinh kỹ thuật môi trường -chương 4-5 ppsx

14 384 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 388,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những người làm công tác vệ sinh phải tạo điều kiện sống sao cho vi sinh vật gây bệnh không xâm nhập vào nước, thức ăn, không khí,…Ở những nơi chúng xâm nhập được thì phải có biện pháp t

Trang 1

CHƯƠNG 4 VI SINH VẬT TRONG KHÔNG KHÍ

Không khí mà con người chúng ta thở hàng ngày là một môi trường không khí

vô trùng Tuy nhiên may sao môi trường này không thích hợp cho sự phát triển của vi

sinh vật Nếu không khí tuyệt đối tỉnh, ta có thể thấy được các chất lơ lửng trong không

khí rơi xuống đất Tuy nhiên do sự khuấy động của gió cho phép một khối lượng lớn

chất rắn lơ lửng tồn tại một thời gian dài trong không khí Các chất rắn lơ lửng này là

giá mang vi sinh vật đi trong một khoảng đường dài

Hình 4 1 : Ô nhiễm không khí do công nghiệp

1 SỐ LƯỢNG VÀ CHỦNG LOẠI VI SINH VẬT TRONG KHÔNG KHÍ

Vi khuẩn, nấm và virus là những vi sinh vật chiếm ưu thế trong không khí Do

sự thiếu hụt chất dinh dưỡng trong không khí đã hạn chế sự tồn tại của các tế bào dinh

dưỡng trong một thời gian dài Tuy nhiên một số loại vi khuẩn (vi khuẩn, nấm) có khả

năng tạo bào tử cho phép thời gian tồn tại của chúng trong không khí lâu hơn rất nhiều

Để tồn tại, các tế bào dinh dưỡng đòi hỏi trong môi trường một độ ẩm nhất định Độ ẩm

không khí do sự phân tán của các bụi nước VD có thể là các hoạt động của con người

như khi anh ta hắt hơi, nói …các hạt bụi nước phân tán này bay hơi rất nhanh do đó các

tế bào dinh dưỡng không thể phân tán xa khỏi nguồn

2 CÁC LOẠI BỆNH LIÊN QUAN ĐẾN KHÔNG KHÍ

Các bệnh thường gặp liên quan đến không khí bao gồm:

- Bệnh bạch hầu

- Bệnh ban đỏ

- Bệnh lao

- Bệnh viêm phổi

Trang 2

- Bệnh ho gà

- Bệnh đậu mùa

- Bệnh thủy đậu

- Bệnh sởi

- Bệnh quai bị

- Bệnh cúm

- Common cold

- Bệnh nấm

Ngày nay với sự phát triển đô thị - khoa học kỹ thuật (KHKT) đã thúc đẩy sự phát

triển của các loại bệnh liên quan đến không khí này

3 KIỂM SOÁT VI SINH VẬT TRONG KHÍ

Một trong những vấn đề khó khăn nhất về vệ sinh môi trường hiện nay là kiểm

soát các loại bệnh liên quan đến không khí Không có biện pháp xử lý nào có thể xử lý

toàn bộ các vi sinh vật trong không khí Những người làm các công việc có cường độ

tiếp xúc với những người lân cận cao tại các thành phố lớn có nguy cơ lây nhiễm cao

Những nạn dịch lây lan này rất phổ biến ở Châu Âu và Châu Á, chúng lan rộng từ thành

phố này đến thành phố khác trong một thời gian ngắn

Hình 4 2 : Ô nhiễm không khí do cháy rừng

Ánh sáng mặt trời là một vũ khí tiềm tàng tiêu diệt các mần bệnh trong không

khí Tia cực tím trong ánh sáng mặt trời đã tiêu diệt nhiều loại vi sinh vật trước khi

chúng lây nhiễm vào các động vật máu nóng Do tính sát trùng của tia UV nên nó đã

được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thới giới để khử trùng không khí Tuy nhiên do

khả năng thâm nhập yếu nên tia UV chỉ sử dụng trong phạm vi hẹp Với một cường độ

lớn, tia UV là một tia độc hại đối với con người, do đó nó được khuyến cáo sử dụng ở

một hàm lượng nhất định

Các hóa chất như propylene glycol và triethylene glycol cũng được sử dụng để

phun vào không khí để khử trung vùng bị ô nhiễm Trong các tòa nhà, ô nhiễm không

Trang 3

khí chủ yếu do bụi khi mọi người đi bộ bay lên, do đó vệ sinh sàn nhà sẽ làm giảm mật

độ vi khuẩn trong không khí Thường xuyên lau sàn nhà sẽ giữ cho nồng độ vi sinh vật

ở mức tối thiểu

Biện pháp lọc giúp giảm thiểu vi sinh vật và bụi Thiết bị lọc bụi là một ống

bằng thủy tinh, bên trong là vật liệu lọc vi sinh vật làm bằng cotton Nhược điểm của hệ

thống lọc này là vấn đề tắc lọc do các hạt bụi dính vào

Thiết bị thiết kế lắng điện tử đã được thay thế và được xem như máy lọc không

khí Ở đây không khí sẽ đi qua những tấm kim loại lên đến hàng ngàn volt Các hạt tích

điện trong không khí sẽ bám vào các tấm kim loại nên được tách ra khỏi không khí Khi

các tấm kim loại đã dính đầy bụi, điện cực sẽ bị ngắt và tấm kim loại được rửa bằng

nước nóng Sau đó sáy khô tấm kim loại và mở điện cực trở lại để tiếp tục sử dụng

Nước cũng được sử dụng như một nhân tố lọc các hạt bụi trong không khí Khí

được dẫn qua một lớp màn ngăn cách bằng nước, nước sẽ giữ lại các hạt bụi Trong một

số trường hợp người ta phun nước để làm giảm mật độ vi sinh vật trong không khí

(mưa)

4 LẤY MẪU VI SINH VẬT TRONG KHÔNG KHÍ

Cách lấy mẫu vi sinh vật trong không khí tốt nhất là sử dụng một đĩa petri chứa

môi trường nuôi cấy thích hợp, đặt đĩa petri ở nơi cần lấy mẫu trong vài phút (thời gian

phụ thuộc vào mức độ ô nhiễm của vi trí lấy mẫu) Vi sinh vật trong không khí sẽ dính

trên mặt thạch và sẽ phát triển thành các khuẩn lạc sau một thời gian ủ ở nhiệt độ thích

hợp Các loại vi sinh vật phát triển chủ yếu trên bề mặt thạch là nấm, Actinomycetes,

Yeast và vi khuẩn

Phương pháp mới nhất nhằm xác định số lượng và chủng loại vi sinh vật trong

không khí là phương pháp membrance (giấy lọc vi sinh) Giấy được đặt trong một ống

lọc phía trên gắn một máy bơm không khí định lượng Kết quả thu được là số lượng

khuẩn lạc trên một đơn vị thể tích khí

Hình 4 3 : Thiết bị thu mẫu khí

Trang 4

5 ẢNH HƯỞNG CỦA MƯA ĐỐI VỚI VI SINH VẬT TRONG KHÔNG KHÍ

Các hình thái hơi nước kết tủa như mưa, tuyết, mưa đá hoặc mưa tuyết giữ vai

trò quan trọng trong việc làm sạch ô nhiễm không khí Ở giai đoạn đầu trận mưa, nước

mưa chứa hàm lượng vi khuẩn ô nhiễm cao, nhưng càng về sau nước mưa càng sạch Ở

những nơi thu gom nước mưa từ mái nhà để sử dụng cần lưu ý xả bỏ lượng nước thu

gom ở đầu trận mưa, chỉ thu lại nước mưa ở giai đoạn sau Chất lượng nước thu gom

này phụ thuộc vào điều kiện môi trường khu vực

Ở các đô thị lớn ngoài nồng độ bụi phát tán trong không khí do khí hậu và các

hoạt động sống của con người, trong không khí còn chứa một lượng không khí nhỏ khói

bụi từ các nhà máy và các phương tiện giao thông Do đó chất lượng nước mưa bị ảnh

hưởng rất nhiều bởi các hoạt động này

Ở nông thôn với mật độ dân cư thưa, cây xanh nhiều, chất lượng nước mưa

tương đối tốt, chỉ bị ảnh hưởng nhỏ bởi phân bón nông nghiệp

Tuy nhiên hiện nay, với tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật ngày càng cao, bầu

khí quyển bao quanh trái đất bị ảnh hưởng nghiêm trọng và không còn mang tích chất

cục bộ của từng khu vực Các hiện tượng như mưa acid, thủng tầng ozon có tính chất

toàn cầu, tầm ảnh hưởng trên phạm vi rộng từ quốc gia này sang quốc gia khác, từ châu

lục này sang châu lục khác Do đó kiểm soát ô nhiễm không khí cần phải có sự kết hợp

chặt chẽ của toàn bộ các quốc gia trên thế giới

Hình 4 4: Lấy mẫu không khí ngoài hiện trường

Trang 5

CHƯƠNG 5 VI SINH VẬT GÂY BỆNH VÀ CÁC CHỈ TIÊU

VỆ SINH

1 NHỮNG VI SINH VẬT GÂY BỆNH

Một số vi sinh vật có thể gây bệnh cho người, động vật và thực vật Những vi

sinh vật gây bệnh là do chúng thực hiện các phản ứng trao đổi trong vật chủ Đa số vi

sinh vật gây bệnh là loại sống ký sinh và lấy thức ăn từ vật chủ Còn dạng khác của vi

sinh vật gây bệnh là chúng sản ra các độc tố đối với vật chủ Vì vậy toàn bộ các công

trình xử lý chất thải phải có khả năng tiêu diệt được những vi sinh vật gây bệnh này Đó

cũng là trách nhiệm to lớn của những người làm công tác môi trường

1.1 Khái niệm về dịch tế bào học và các đường truyền bệnh

Có nhiều loại bệnh khác nhau, đó là bệnh đơn phát, bệnh dịch diễn ra trong từng

thời kỳ hoặc trong từng địa phương hay trong một vùng rộng lớn, thậm chí trong nhiều

nước trên thế giới Bệnh đơn phát không có tính đơn truyền Những bệnh dịch lan

truyền thường qua 3 khâu là: nguồn gây bệnh Æ Đường truyền bệnh Æ người, vật bị

nhiễm bệnh

Nguồn gây bệnh có thể là người, vật ốm đã bị mất bệnh hoặc người vật khỏe

nhưng có mang vi khuẩn gây bệnh

Đường truyền bệnh có thể:

• Qua nước: do ăn uống, tắm rửa giặt giũ, rửa thức ăn, rau cỏ, bát đĩa,…

• Qua thức ăn hay thực phẩm nói chung Vì trong nhiều loại thực phẩm có chứa

nhiều loại vi khuẩn gay bệnh

• Qua tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp giữa người bệnh với người khỏe Tiếp xúc

trực tiếp là do bắt tay, hôn, Tiếp xúc gián tiếp là do dùng chung quần áo, bát

đĩa, đồ dùng sách vở,…

• Qua không khí: là do hút thở không khí chứa hơi nước, bụi, vi sinh vật gây bệnh

kể cả đờm và nước bọt của người bệnh

• Qua côn trùng: ruồi muỗi, bọ nhặng,

Những người làm công tác vệ sinh phải tạo điều kiện sống sao cho vi sinh vật

gây bệnh không xâm nhập vào nước, thức ăn, không khí,…Ở những nơi chúng xâm

nhập được thì phải có biện pháp tẩy trùng môi trường (như với nước thải chẳng hạn)

Khi vi sinh vật gây bệnh xâm nhập được vào người, động vật chủ, thì tùy thuộc vào

nhiều yếu tố mà vật chủ có thể bị hoặc không bị mắc bệnh Như trên đã nói, đa số các vi

sinh vật gây bệnh là loại sống ký sinh vào vật chủ và phụ thuộc vào vật chủ Ngoài ra

còn tùy thuộc vào vị trí xâm nhập vào vật chủ Chẳng hạn không thể gây bệnh được khi

vi khuẩn lỵ (Disenterie) xâm nhập vào vết thương, khi vi khuẩn Difteric xâm nhập vào

nhuận tràng,…Ngoài ra còn tùy thuộc vào số lượng vi sinh vật ban đầu xâm nhập vào,

điều kiện môi trường, biện pháp tiêm chủng phòng bệnh,…

Trang 6

Những loại vi khuẩn gây bệnh có khả năng tạo ra độc tố ngoại hoặc độc tố

nội,…

• Độc tố ngoại là độc tố do vi sinh vật tạo ra và tiết ra môi trường trong quá trình

sống – hoạt động của chúng

• Độc tố nội là những độc tố sản ra trong tế bào vi sinh vật – tức nằm trong thành

phần của tế bào Chúng chỉ thải ra môi trường khi vi sinh vật chết,…

• Thông thường thì độc tố ngoại nguy hiểm hơn độc tố nội

Khi xâm nhập vào vật chủ, các độc tố của vi khuẩn sẽ gây tác đông và làm hại các

chức năng của cơ thể vật chủ Đa số các độc tố của vi khuẩn có tác dụng độc hiệu: có

loại làm thương tổn màng não, có loại làm hại các cơ quan trong cơ thể như thận, gan,

phổi,…Không nhất thiết bệnh phát ra mãnh liệt ngay từ đầu Nhiều bệnh như lao,…

diễn ra rất nhiều năm và thậm chí một đời người bệnh

Nói chung không bệnh nào phát ra ngay sau khi người bệnh bị nhiễm bệnh mà

thường phải qua một thời gian để các loại vi khuẩn kịp phát triển Thời gian kể từ lúc

nhiễm bệnh đến lúc phát bệnh ốm - gọi là thời kì ủ bệnh

Để tiêu diệt bệnh, người ta phải triệt một trong những khâu truyền bệnh Những

người làm công tác vệ sinh phải có trách nhiệm tiêu diệt vi trùng gây bệnh trên các

đường truyền bệnh sau này

1.2 Những bệnh truyền nhiễm qua nước

Trong số những bệnh truyền nhiễm qua nước thì những bệnh đường ruột chiếm

nhiều nhất Đa số các loại vi khuẩn gây bệnh đường ruột giống nhau về hình thái, sinh

lý và thuộc họ Enterrobacteriaceae Chúng có loại trực khuẩn kích thước 1 - 3 x 0,5 -

0,6 µm, gram âm, không tạo ra bào tử và không có giáp mạc Các loài vi khuẩn của từng

bệnh khác nhau về hoạt tính men, khả năng vận động

Những loài vi khuẩn gây bệnh đường ruột cho người ta, gia súc, gia cầm là trực

khuẩn trục đường ruột (Eschericchia), vi khuẩn bệnh thương hàn và phó thương hàn -

Typhos và Paratyphos (Salmonella), vi khuẩn bệnh lỵ (Disenteria), vi khuẩn tả Cholera

(Vibrion),…

Đối với loại Escheria, ngoài trực khuẩn đường ruột E.coli, thường có các loại

trực khuẩn đường ruột gây bệnh Colenterit ở trẻ em và dạng Disenteria ở người lớn

Loại trực khuẩn đường ruột thường và loại vi khuẩn lên men là loại đối khoáng với vi

khuẩn thối rửa trực khuẩn đường ruột thải ra các chất kháng sinh như Colicin làm chết

các vi khuẩn gây bệnh khác Khi dùng chất kháng sinh để diệt vi khuẩn đường ruột thì

sẽ kích thích vi khuẩn thối rửa và những vi khuẩn gây bệnh khác

Những trực khuẩn gây bệnh đường ruột đặc biệt rất nguy hiểm ở chỗ chúng rất

thích nghi với cơ thể người, chúng bền vững với cả dịch vị của người Trong điều kiện

tự nhiên như đất, nước, kể cả thực phẩm ở da, chúng có thể tồn tại hàng tuần hoặc thậm

chí mấy tháng Tuy nhiên khi đun sôi có thể diệt chết ngay được Các dung dịch chất

kháng sinh 3 - 5% (như dung dịch chloramin, phenol, formalin,…) trong vòng 10 -15

phút có thể tiêu diệt được chúng

Trang 7

Loại vi khuẩn Salmonella là loại vi khuẩn gây bệnh thương hàn Typhos và

Paratyphos Trong số các vi khuẩn này, có loại chỉ gây bệnh đối với người (Typhos), có

loại gây bệnh cả với người, động vật (Paratyphos) Salmonella rất phổ biến trong thiên

nhiên, tồn tại trong các động vật có sừng, chó, mèo, chim, chuột, cá,…

Khi bị nhiễm bệnh Typhos hoặc Paratyphos thì ruột non bị thương tổn, đồng

thời toàn bộ cơ thể bị nhiễm độc tố nội (tức là sau khi trực khuẩn typhos bị phân hủy)

Toàn bộ hệ thần kinh trung ương bị tác động - thương tổn - người bất tỉnh

Salmonella không sinh sản ở môi trường bên ngoài nhưng có thể tự bảo tồn ở

nước sông trong 6 tháng, ở nước băng giá suốt mùa đông, ở nước giếng khơi 4 tháng, ở

nước cấp thành phố dưới 3 tháng

Trong nước thải vì có sự cạnh tranh với các loài vi khuẩn khác nên Salmonella

chỉ sống được khoảng 40 ngày Chúng có thể sống trong thực phẩm, rau quả,… cho tới

khi rau quả bị thối rữa, chúng sống trong bia được 2 - 4 ngày

Salmonella bền vững cả đối với chất kháng sinh hoặc điều kiện khô ráo Dung

dịch thủy ngân 1‰ và dung dịch acid carbonic 5% phải sau nữa giờ mới tiêu diệt được

chúng Tất nhiên khi chlorua hóa nước cấp sẽ tiêu diệt được Salmonella

z Vi khuẩn Shigella gây bệnh đôi với súc vật Shigella chia làm 5 loại phụ là:

Sh.Elexneri, Sh.Sonnei, Sh.Dysenteriae, Sh Boydii, Sh.Grigoriewa Shigae

Vi khuẩn Shigella xâm nhập vào cơ thể qua miệng rồi phát triển qua niêm mạc,

đại tràng Khi tế bào vi khuẩn chết, giải phóng độc tố nội Độc tố ngấm vào thần kinh và

phản ứng lại gây tổn thương ruột

Khi bệnh phát ra thì thường bị ỉa chảy có máu lẫn mùi So với lỵ Amebs thì số

lần đi ngoài nhiều hơn

Nguồn bệnh là người đã mắc bệnh Trực khuẩn lỵ Shigella có thể truyền do tiếp

xúc trực tiếp, qua thưc ăn, nước uống đặc biệt do ruồi nhặng,…

So với Salmonella thì Shigela không bền vững bằng Nhưng nó có thể chịu đựng

được ở nhiệt độ thấp tới hàng tháng Chúng có thể tồn tại ở nước sông tới 3 tháng, ở

nước cấp thành phố 1 tháng, ở nước thải 1 tuần

Đối với dung dịch sát trùng acid cacbonic 1%, sau nữa giờ thì chúng bị tiêu diệt

Khử trùng nước cấp đô thị bằng clorua hóa có thể tiêu diệt hoàn toàn trực khuẩn lỵ

z Vi khuẩn Vibrion gây bệnh tả Cholera Đây là điển hình của bệnh truyền nhiễm qua

nước Dịch tả là bệnh rất khủng khiếp, lan truyền nhanh và tỉ lệ tử vong cao

Vi khuẩn Vibrion là loại phẩy khuẩn dài 1,5 - 2µ, đôi khi dài giống trực khuẩn

hoặc có khi ngắn hơn cầu khuẩn Nó bắt màu tốt, gram âm, không giáp mạc, không tạo

nha bào, nếu soi tươi thì rất di động Là loại hiếu khí, dễ dàng nuôi cấy trong các môi

trường kiềm yếu; không bền vững đối với môi trường acid Khi độ acid của dịch dạ dày

yếu đi thì rất dễ mắc bệnh này Vi khuẩn Vibrion xâm nhập vào cơ thể bằng thực đạo,

phát triển ở niêm mạc tiểu trường, giải phóng nội độc tố gây ra một loạt chịu chứng điển

hình, lượng mước ngưng tụ rất lớn (tới 30l/ ngày, đêm) nôn mửa và đi ngoài lỏng Cơ

Trang 8

thể bị mất nước nghiêm trọng, cường độ các quá trình gây oxy hóa giảm và các sản

phẩm chưa kịp cháy hết (CO2) sẽ đọng lại ở các mô,… Tỉ lệ tử vong rất cao

Phẩy khuẩn tả Vibrion rất nhạy với nhiệt độ cao Đun nóng tới 520C sau 30 phút

là chết, ngược lại rất thích nghi với nhiệt độ thấp Ở nước sông, nước giếng chúng bảo

tồn được 3 tháng, nước cấp sinh hoạt 1 tháng Nước thải là môi trường tốt nhất đối với

chúng nên chúng có thể tồn tại được tới 7 tháng Ở nước biển phẩy khuẩn tả còn có thể

sống lâu hơn, có thể sinh sản với vận tốc cao hơn ở nước sông

Phẩy khuẩn tả bị tiêu diệt ở dung dịch acid cacbonic 1% trong 5 phút, ở dạng

dịch thủy ngân 0,1% thì chết ngay Trong nước không có chất hữu cơ hoặc với nồng độ

clo 1/100.000 thì chúng cũng chết trong vòng 15 phút Để đề phòng bệnh tả, nên rửa

hoa quả bằng dung dịch acid axetic do có Vibrion, đều bị chết khi đun sôi nước Ngoài

các bệnh truyền nhiễm đường ruột, còn có các bệnh khác có thể lây truyền qua nước Đó

là bệnh do Leptospira, lỵ Amebs, bại liệt trẻ em, sốt rét nước, tularê, viêm kết mạc

z Bệnh do Leptospira là bệnh điển hình truyền qua nước Nhiễm bệnh này là do dùng

nước bị nhiễm khuẩn khi tắm Nước bị nhiễm khuẩn là do chuột đưa vào Người ta phân

chia hai dạng bệnh do Leptospira là: Veilia (sốt vàng da) và sốt rét nước Leptospira là

loại vi khuẩn hiếu khí nhưng chúng chịu đựng được ở môi trường ít oxy, rất di động và

có tiêm mao, không chịu nổi ở nhiệt độ cao, tồn tại được 5 tháng ở nước sông, 2 tháng ở

nước giếng

z Bệnh sốt vàng da là bệnh truyền nhiễm Triệu chứng ban đầu là sốt cao đột ngột, đau

các cơ và đau đầu Vi khuẩn xâm nhập và làm huỷ hoại gan, thận hoặc chảy máu ruột

z Bệnh sốt rét nước khác ở chỗ vi khuẩn thường xâm nhập qua các chỗ trầy da do tắm

và người bệnh không vàng da – mắt đỏ Để đề phòng bệnh do Leptospira người ta phải

có biện pháp bảo vệ nguồn nước, diệt chuột, tiêm chủng vacxin Đối với hệ thống cấp

nước đô thị, phải tiến hành khử trùng bằng clo hoặc các chất diệt trùng khác

z Bệnh lỵ amip (amebs) – trong thời gian ấm cũng diễn ra như bệnh lỵ thường Amip lỵ

thường gặp trong nước, đất và trong cơ thể người Amip gây bệnh lỵ có tên là Etamoeba

Histolytica

z Bệnh bại liệt – polyomealit: thường xảy ra ở trẻ em Bệnh do virut xâm nhập vào các

cơ quan hệ tiêu hoá Loại virut này rất bền vững Nó chịu đựng được điều kiện khô ráo,

nhiệt độ thấp Nhưng không chịu nổi nhiệt độ cao – đun tới 600C là chết trong vòng 15

– 20 phút Những chất sát trùng ở nồng độ thường dùng để tiêu diệt được virut bại liệt

z Bệnh Tularê Bệnh này biểu hiện ở bề ngoài có nhiều điểm giống bệnh dịch hạch

Tuy nhiên đó chỉ là bề ngoài mà thôi Bệnh này truyền bằng nhiều đường nhưng phần

lớn truyền qua nước là chính Đặc trưng của bệnh này là huỷ hoại tuyến bạch huyết

Tuyến này sưng lên Vi khuẩn gây bệnh là loại hiếu khí nhưng không tạo bào tử, lúc

non ở dạng trực khuẩn, khi già ở dạng cầu khuẩn bất động Nhiệt độ thích hợp nhất đối

với chúng là vào khoảng 370C Với nhiệt độ cao 56 – 580C trong vòng 10 phút là chúng

bị chết Chúng chịu đựng được ở nhiệt độ thấp Ở nước sông chúng bảo tồn được 1

tháng, ở nước giếng 2 tháng, ở nước cấp đô thị 3 tháng Ở dung dịch thuỷ ngân 1% chỉ

trong 3 giây là chúng chết hết Khử trùng bằng clo cũng đủ tiêu diệt chúng

Trang 9

Nguồn truyền bệnh là chuột cống, chuột đồng và chuột nhà Để phòng và chống

bệnh Tularê người ta diệt chuột và dùng vacxin

z Bệnh viêm kết mạc – connunctive: trong các đô thị có nhiều bể tắm người tắm ở

những bể đó hay bị bệnh viêm kết mạc Rõ ràng là người tắm làm cho nước nhiễm loại

vi khuẩn, trong đó có loại gây bệnh viêm kết mạc

z Ngoài những bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn còn có những bệnh khác truyền qua

nước do virut Điển hình nhất là bệnh poliomielit – bệnh bại liệt trẻ em hay còn gọi là

bệnh viêm tủy xám Bệnh do loại virut Đó là virut rất bền vững Nó chịu được cả nhiệt

độ sấy nóng và cả nhiệt độ thấp Tuy nhiên, nếu tăng nhiệt độ lên tới 600C thì hoạt tính

của chúng giảm và trong vòng 15- 20 phút là chúng bị tiêu diệt Loại virut này có rất

nhiều trong nước thải Tuy nhiên khi xử lý nước thải trong bể aeroten hoặc xử lý cặn

trong bể mêtan thì chúng đều bị tiêu diệt

Các công trình xử lý nước cấp khử được hầu hết các loại virut này Khử trùng

nước cấp bằng clo với nồng độ dư 0,3 – 0,5mg/l sẽ tiêu diệt được hầu hết loại virut này

2 NHỮNG CHỈ TIÊU VỆ SINH VỀ VI SINH VẬT TRONG NƯỚC

2.1 Những khái niệm chung về những vi sinh vật chỉ thị vệ sinh

Mục đích của việc kiểm tra vệ sinh trong nước là xác định mức độ an toàn của

nước đối với sức khẻo của con người Về mặt vi trùng học, ta phải tìm những vi sinh vật

gây bệnh truyền nhiễm cho người Tuy nhiên có rất nhiều vi khuẩn gây bệnh có thể tồn

tại trong nước Trong khi đó thì phương pháp phân lọc chúng rất phức tạp Phân tích

một mẫu nước để xét khả năng có mặt của tất cả các loại vi khuẩn gây bệnh có mặt

trong nước là một việc làm rất khó, không thể thực hiện được Mặt khác, để có được kết

quả phân tích cũng phải mất 2 - 3 tuần tức là khi đó dân chúng đã uống nước nhiễm

trùng rồi

Vì vậy, từ lâu (cuối thế kỷ 19) người ta đã cố tìm ra một loại vi khuẩn điển hình

nào đó đủ gây bệnh hay không gây bệnh nhưng có trong phân người và đại diện cho tất

cả VSV gây bệnh trong nước Nói cách khác, sự có mặt của những VSV đại diện trong

nước cũng nói lên sự có mặt của những VSVgây bệnh khác có trong nước Tức là nước

bị nhiễm bẩn bởi phân người Cuối cùng, người ta đã thành công Như ta đã biết: trong

phân người thường xuyên có mặt của 3 loại VSV:

Trực khuẩn đường ruột

Cầu khuẩn

Vi khuẩn yếm khí tạo nha bào mà chủ yếu là Bact.Perfingens Chẳng hạn theo

Huston và Klein trong 1ml nước thải sinh hoạt chứa khoảng 100000 - 800000 trực

khuẩn đường ruột; từ 1000 - 60000 cầu khuẩn và từ 100 - 2000 vi khuẩn yếm khí tạo

nha bào Như vậy trong nước thải sinh hoạt trực khuẩn đường ruột chiếm nhiều nhất

Tuy nhiên đây không phải là vấn đề chúng nhiều về số lượng, mà giá trị chủ yếu của

VSV chỉ thị về sự nhiễm phân và tốc độ chết của chúng phải xấp xỉ tốc độ chết của các

VSV khác Chỉ có loại vi khuẩn nào có trong phân người và tuân theo điều kiện trên

mới có thể dùng làm chỉ tiêu về nhiễm bẩn đo phân được

Trang 10

Xét 3 loại vi khuẩn có trong phân ta thấy: vi khuẩn nhóm Bact.Perfingens bảo

tồn trong nước lâu hơn những vi sinh vật gây bệnh Cầu khuẩn lại mau chết hơn Còn

trực khuẩn đường ruột có thời gian bảo tồn trong nước gần giống với những VSV gây

bệnh khác Do đó trực khuẩn đường ruột là chỉ tiêu về sự nhiễm bẩn nước

Ngoài ra người ta còn kiến nghị hai loại là VSV ưa nóng và trực khuẩn thể làm

hai chỉ tiêu phụ Tuy nhiên tất cả các chỉ tiêu vệ sinh trên đều gọi là chỉ tiêu gián tiếp vì

chúng cho biết một cách gián tiếp về sự nhiễm nước về VSVgây bệnh Nếu khi có bệnh

dịch xảy ra, các nhà vi sinh vật phải xác định đích xác loại VSV nào gây ra dịch bệnh

Khi đó gọi là chỉ tiêu vệ sinh trực tiếp về sự nhiễm bẩn nước

Ý nghĩa của chỉ tiêu về trực khuẩn đường ruột

Trực khuẩn đường ruột là nguồn gốc đầu tiên gây bệnh thương hàn, phó thương

hàn và lị Trong quá trình tiến hoá của mình, chúng có khả năng kí sinh vào cơ thể sống

đồng thời mất dần khả năng sử dụng trực tiếp các chất hoá học làm thức ăn Từ đó hình

thành các loại trực khuẩn gây ra các bệnh trên đây Nhóm trực khuẩn đường ruột

Escherichia Coli có rất nhiều trong ruột già của người từ 100 triệu - 1 tỷ con trong 1g

phân người Con người sau khi sinh ra không thể chứa trực khuẩn với 1 lượng khổng lồ

như thế được Ở trẻ sơ sinh hoàn toàn không có Sau khi sinh ra dược 20 giờ trong ruột

già của trẻ chứa nhiều vi khuẩn nhưng vẩn chưa có trực khuẩn đường ruột Qua hàng

tuần hàng tháng khi đứa trẻ bắt đầu được nuôi bằng thức ăn tạp thì E.coli mới theo vào

ruột và cư trú ở ruột già của trẻ Từ đó chúng tồn tại trong ruột già mãi mãi cho đến khi

người chết Trong quá trình sống hoạt động sinh lý của người, E.coli theo phân thải ra

môi trường E.coli có trong phân tất cả các loài súc vật Chim muông hoang dại (những

loài không tiếp xúc với người) Như vậy E.coli là chỉ tiêu vệ sinh rõ ràng, hiển nhiên về

sự nhiễm bẩn môi trường do hoạt động của con người

Để dánh giá mức nhiễm bẩn của nước về VSV, người ta dùng hai chỉ tiêu là Côli

titre và Côli chỉ số

Côli titre là thể tích nhỏ nhất của nước (tính bằng ml) trong đó chứa 1 trực

khuẩn đường ruột Chẳng hạn khi nói Côli titre là 333, nghĩa là cứ 333ml nước có chứa

1 trực khuẩn đường ruột trong 1 lít nước

Côli chỉ số là Côli chứa trong 1 lít nước Thí dụ Côli chỉ số là 3, tức là có 3 trực

khuẩn đường ruột trong 1 lít nước

Mối quan hệ của coli chỉ số và Côli titre là số nghịch đảo của nhau

Ở các nước quy định về chất lượng nước cấp phải có Côli titre không dưới 100,

ở Liên Xô (củ) không dưới 333, ở Việt Nam không dưới 50

Ý nghĩa của chỉ tiêu vệ sinh về vi sinh vật ưa nóng

Để tăng sản lượng thu hoạch nông nghiệp, người ta thường dùng phân người,

phân súc vật để bón ruộng Nhưng những chất bón trên đều chứa nhiều trực khuẩn

đường ruột và đếu có thể dẩn đến nhiểm bẩn nguồn nước, nhất là nguồn nước ngầm

Khi có dịch xảy ra người ta cần tìm nguyên nhân và biết rõ bệnh dịch xảy ra do bón

ruộng bằng phân người hay phân súc vật, hoặc do nước thải? Muốn vậy ngoài chỉ tiêu

Ngày đăng: 26/07/2014, 14:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4. 1: Ô nhiễm không khí do công nghiệp - Giáo trình -Vi hóa sinh kỹ thuật môi trường -chương 4-5 ppsx
Hình 4. 1: Ô nhiễm không khí do công nghiệp (Trang 1)
Hình 4. 2: Ô nhiễm không khí do cháy rừng - Giáo trình -Vi hóa sinh kỹ thuật môi trường -chương 4-5 ppsx
Hình 4. 2: Ô nhiễm không khí do cháy rừng (Trang 2)
Hình 4. 3: Thiết bị thu mẫu khí - Giáo trình -Vi hóa sinh kỹ thuật môi trường -chương 4-5 ppsx
Hình 4. 3: Thiết bị thu mẫu khí (Trang 3)
Hình 4. 4: Lấy mẫu không khí ngoài hiện trường - Giáo trình -Vi hóa sinh kỹ thuật môi trường -chương 4-5 ppsx
Hình 4. 4: Lấy mẫu không khí ngoài hiện trường (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w