Các chữ viết tắt BN : Bệnh nhân ĐTBT : Điều trị bảo tồn ĐTPT : Điều trị phẫu thuật MNH : Mức nước hơi TR : Tắc ruột TRSM : Tắc ruột sau mổ... sau một thời gian được tổ chức hoá và tạo th
Trang 1NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THANH LONG
Hà Nội - 2004
Trang 2Các chữ viết tắt
BN : Bệnh nhân ĐTBT : Điều trị bảo tồn ĐTPT : Điều trị phẫu thuật MNH : Mức nước hơi
TR : Tắc ruột TRSM : Tắc ruột sau mổ
Trang 3đặt vấn đề
Tắc ruột là một cấp cứu bụng ngoại khoa phổ biến Trong số các bệnh lý cấp cứu ổ bụng, tắc ruột chiếm khoảng 5% và đứng hàng thứ hai sau bệnh viêm ruột thừa, trong số đó TRSM chiếm khoảng 70% trường hợp [3], [23], [33] TRSM là những trường hợp TR cơ học phát sinh từ hậu quả của lần mổ
ổ bụng trước (dính, xoắn, dây chằng, xơ hẹp ruột )
Bệnh có thể xuất hiện sớm ngay trong giai đoạn hậu phẫu hoặc ngược lại sau lần mổ trước một thời gian dài, có thể hàng chục năm sau
Cho đến nay, mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong hồi sức và điều trị nhưng
tỷ lệ tử vong do TR nói chung và TRSM nói riêng còn ở mức cao từ 3-10%, [9] [23] [33] Trong những trường hợp TR do nghẹt tỷ lệ này có thể lên tới 20-30% [49] mà nguyên nhân chủ yếu là phẫu thuật muộn khi ruột đã bị hoại tử gây
ra tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc
Khác với những trường hợp TR cơ giới khác, phẫu thuật là biện pháp điều trị duy nhất để giải quyết tình trạng TR thì trong một số trường hợp TRSM, việc điều trị bảo tồn bằng hút dịch dạ dày, kháng sinh, bồi phụ nước
và điện giải có thể giúp cho bệnh nhân qua khái giai đoạn TR và tránh được cuộc phẫu thuật Tuy nhiên cho đến nay mặc dù có nhiều nghiên cứu về vấn
đề này nhưng việc xác định chính xác tình trạng TR do nghẽn hay do nghẹt, khi nào phẫu thuật ngay, khi nào điều trị bảo tồn vẫn còn gặp nhiều khó khăn
và là một thách thức thực sự đối với các phẫu thuật viên
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu hồi cứu những trường hợp TRSM đã điều trị tại bệnh viện Việt Đức từ tháng 1/2000 đến tháng 12/2002 Nghiên cứu của chúng tôi nhằm giải quyết những vấn đề sau:
1 Nghiên cứu chỉ định điều trị tắc ruột sau mổ tại Bệnh viện Việt Đức
2 Đánh giá kết quả sớm sau phẫu thuật tắc ruột sau mổ
Trang 4Thần kinh chi phối phúc mạc: lá phúc mạc thành được chi phối bởi nhánh thần kinh của tủy sống, lá tạng được chi phối bởi các nhánh của thần kinh giao cảm chi phối cho các tạng tương ứng
Trong khoang phúc mạc có lớp dịch mỏng giúp cho 2 lá phúc mạc trượt lên nhau dễ dàng, khi phúc mạc bị tổn thương chúng sẽ dính với nhau làm cho các đoạn của ống tiêu hoá dính với nhau hoặc dính vào thành bụng gây hạn chế nhu động, đồng thời có thể gây ra TR [13] [36]
Về tổ chức học, phúc mạc được cấu tạo bởi hai lớp: Lớp thanh mạc là một lớp tế bào biểu mô lát đơn, luôn tiết ra một lớp dịch mỏng làm thấm ướt phúc mạc, giúp cho chúng trơn trượt lên nhau một cách dễ dàng trong ổ bụng Lớp dưới thanh mạc là lớp mô sợi liên kết góp phần thúc đẩy quá trình tạo sợi
và dính trong bụng nhất là khi phúc mạc bị tổn thương [1]
Trang 51.1.2 Các phân khu ổ bụng
Mạc treo đại tràng ngang chia ổ bụng làm hai tầng: Tầng trên và tầng dưới Hai tầng này có thành phần và tính chất bệnh lý khác nhau Ở tầng trên các tạng đều quây quanh hậu cung mạc nối, ở tầng dưới có mạc treo ruột non chạy từ trên xuống dưới, từ góc Treitz đến góc hồi manh tràng chia ổ bụng dưới ra làm hai khu: khu phải và khu trái [13] Những phẫu thuật ở tầng trên mặt treo đại tràng ngang rất Ýt khi gây ra TRSM trái lại những phẫu thuật ở tầng dưới mạc treo đại tràng ngang (nơi tập trung các quai ruột non) thường gây ra dính và TRSM
1.1.3 Ruột non: Gồm ba đoạn: tá tràng, hỗng tràng, hồi tràng
- Tá tràng được cố định vào thành bụng sau bởi mạc dính Treitz nằm ở tầng trên và một phần sau của đại tràng ngang
- Hỗng tràng và hồi tràng không có giới hạn rõ rệt và được treo vào thành bụng sau bởi một mạc treo chung liên tục Về phương diện giải phẫu và bệnh lý, hai đoạn không khác nhau cơ bản và đều được gọi là ruột non [2]
Hỗng tràng dài 5,5 - 9 m (trung bình 6,5 m), hồi tràng dài 0,7 - 1m, các khúc đầu rộng 3cm, các khúc cuối nhỏ 2cm, các quai ruột xếp lại thành 14-16 quai, chiều dài mỗi quai 20-25cm, có quai dài tới 30-40 cm Từ khúc
1 đến 7 quai ruột nằm ngang phía trái ổ bụng, từ quai thứ 8 trở đi các quai ruột nằm dọc, đến khi còn 10 - 15 cm nó chạy ngang nối tiếp với góc hồi manh tràng [13], [56]
- Cấu tạo ruột non có 4 lớp xếp từ ngoài vào trong: Thanh mạc, cơ, dưới niêm mạc và niêm mạc Lớp niêm mạc đảm bảo toàn bộ quá trình hấp thu ở ruột, bề mặt lớp niêm mạc có nhiều van tràng, chiếm 1/2 - 2/3 chu vi ruột non, cao khoảng 6 - 8mm, dày 3cm, cách nhau 6 - 8 mm, có khoảng 800 - 900 nếp,
Trang 6van tràng có nhiều ở hỗng tràng, càng về phía hồi tràng các nếp van tràng càng nhỏ dần và biến mất
- Mạch máu và thần kinh:
Ruột non được cấp máu bởi động mạch mạc treo tràng trên động mạch này phân nhánh tạo thành một mạng hình vòng cung và tiếp tục đi vào các lớp của thành ruột bằng nhiều nhánh nhỏ cho tới tận đỉnh các nhung mao
Hệ thống tĩnh mạch của ruột non bắt nguồn từ đỉnh các nhung mao Các
hệ thống tĩnh mạch này họp dần với nhau, tạo thành hệ thống tĩnh mạch đi theo các động mạch tương ứng và cuối cùng đổ vào các tĩnh mạch mạc treo tràng trên nằm trong mạc treo ruột Do các mạch máu nằm trong thành ruột, nên khi TR ruột giãn quá to gây cản trở tuần hoàn và thiếu máu ruột [53] Sinh lý hấp thu và bài tiết của ruột: Ruột có 4 hoạt động để tăng cường hấp thu đó là: co nghẹt, cử động quả lắc, nhu động, phản nhu động Các hoạt động này được thực hiện tự động dưới sự điều khiển của đám rối Auerbach Những kích thích tại chỗ cũng nh- trên dây X đều làm tăng hoạt động nhu động của ruột
Dịch tiêu hóa bài tiết trung bình khoảng 5 - 10 lít/24 giờ, chỉ có dịch dạ dày có pH < 1,5 có tính acid, còn lại các dịch khác đều có tính kiềm [14] Trong lòng ruột có nhiều loại vi khuẩn, càng xuống phía cuối hồi tràng, càng có nhiều vi khuẩn trong đó có các vi khuẩn lên men thối gần giống nh- của đại tràng Trong điều kiện bình thuờng vi khuẩn phát triển trong lòng ruột
mà không gây ra bệnh
Trang 71.2 Nguyên nhân và cơ chế phát sinh dính và dây chằng sau mổ ổ bụng
Bất cứ can thiệp nào vào ổ phúc mạc cũng có thể gây tổn thương phúc mạc (chấn thương, nhiễm trùng, phản ứng viêm do dị vật ) và gây ra dính, dây chằng trong ổ bụng Các tổn thương phúc mạc tiến triển theo 2 hướng:
* Hoặc tái tạo lại phúc mạc bình thuờng nhờ sự phát triển của các tế bào biểu mô che phủ phần phúc mạc bị tổn thương Nguồn gốc của các tế bào biểu
mô này còn đang được tranh luận, trước kia người ta cho rằng các tế bào này
có nguồn gốc từ những tế bào đa năng dưới biểu mô [30] [47] Nhưng những nghiên cứu mới đây đã chứng minh được vai trò quan trọng của các tế bào xung quanh nơi tổn thương kể cả những tế bào có trong dịch phúc mạc [47]
* Hoặc tiến triển theo hướng bệnh lý: Các tế bào xơ và các mạch máu tân tạo phát triển tạo nên các dây chằng và dính [61] Quá trình diễn biến này diễn ra khá nhanh trong khoảng 6-8 ngày nhưng khó có thể xác định chính xác thời gian hình thành vĩnh viễn dính và dây chằng
Sinh lý bệnh của quá trình hình thành dây chằng và dính khi phúc mạc bị tổn thương được trình bày theo sơ đồ sau:
Trang 81.3 Sinh lý bệnh của TRSM
Khi tắc ruột gây ra các rối loạn toàn thân và tại chỗ
1.3.1 Tại chỗ
- Tăng nhu động: Trong giai đoạn đầu của bệnh, nhu động của ruột tăng
về tần số và cường độ, cố gắng đẩy các chất trong lòng ruột qua chỗ tắc làm cho áp lực trong lòng ruột tăng, sau đó nhu động giảm xuống và dừng lại, sau một thời gian yên lặng, nhu động ruột lại tăng trở lại Hiện tượng nhu động ruột tương ứng với những cơn đau bụng của bệnh nhân [54] Đây là triệu chứng cơ bản để phân biệt TR cơ năng và TR cơ giới
Trong giai đoạn muộn, khi quai ruột ở phía trên chỗ tắc giãn căng, nhu động sẽ thưa dần sau đó mất, nhất là trong trường hợp TR do nghẹt [56]
- Chướng ruột: Bình thường trong lòng ruột chứa hơi và dịch, hơi có từ hai nguồn: 80% do nuốt vào và 20% do hiện tượng lên men trong lòng ruột Trong TR, hơi ứ đọng ở đoạn ruột trên chỗ tắc từ nuốt không khí và một phần
từ sự trung hòa Bicarbonat cộng với sự lên men của vi khuẩn trong lòng ruột,
vì khi Nitrogene không được hấp thu bởi niêm mạc ruột nên hậu quả là ruột ứ đọng nhiều ở đoạn ruột trên chỗ tắc Hơi này có từ nuốt không khí và một phần từ sự trung hoà khí Bicarbonat cộng với sự lên men của vi khuẩn trong lòng ruột và vì khí Nitrogene không được hấp thu bởi niêm mạc ruột Hậu quả
là 70% khí Nitrogene ứ đọng trong lòng ruột [38], [62]
- Vi khuẩn phát triển: Trong TR, các quai ruột ở trên chỗ tắc bị giãn do ứ trệ dịch và hơi, vi khuẩn tại đó phát triển mạnh đồng thời ruột giãn làm cho
Trang 9niêm mạc ruột bị tổn thương do ứ trệ tuần hoàn và thiếu máu, vi khuẩn và các độc tố của vi khuẩn xâm nhập dễ dàng vào máu và qua thành ruột vào ổ bụng gây ra tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc do vậy trong điều trị TR cần dùng kháng sinh toàn thân sớm [26] [27]
- Rối loạn tuần hoàn ruột: áp lực ruột bình thường từ 2 - 4mmHg: Khi ruột bị tắc đoạn ruột phía trên giãn căng do ứ trệ hơi và dịch tiêu hoá làm cho
áp lực trong lòng ruột tăng cao, có khi tăng cao gấp 10 lần bình thường, tuy nhiên người ta chỉ đo được áp lực từ 4-14 mmHg nhờ khả năng tự giảm áp lực bằng cách trào ngược dịch và hơi lên dạ dày [69] Sự ứ đọng và ứ trệ tuần hoàn do tăng áp lực trong lòng ruột phối hợp với hiện tượng co thắt tiểu động mạch làm cho ruột thiếu máu, phù nề và dẫn đến hoại tử Trong trường hợp
TR do nghẹt ruột, ruột và mạc treo bị nghẹt gây thiếu máu ruột dẫn đến hoại
tử nhanh chóng
1.3.2 Toàn thân
Các rối loạn toàn thân là hậu quả của rối loạn tại chỗ
- Mất nước, điện giải và rối loạn thăng bằng toan kiềm do:
+ Nôn do phản xạ: do trào ngược đẩy lượng dịch ứ đọng trên chỗ tắc ra ngoài làm giảm áp lòng ruột
+ Giảm hấp thu ruột và tăng tính thấm thành mạch ruột làm mất nước từ lòng mạch vào ruột
- Nhiễm trùng, nhiễm độc: Do độc tố của vi khuẩn, và các vi khuẩn xâm nhập vào máu và ổ phúc mạc Tình trạng này còn xuất hiện muộn nhất là khi ruột thiếu máu hoại tử
Trang 10Rối loạn toàn thân gây nên hàng loạt các biểu hiện trên lâm sàng nh-: mất nước điện giải, cô đặc máu, Hematocrit tăng, hồng cầu, bạch cầu tăng, sốt, suy thận, sốc
1.4 Những nguyên nhân gây TRSM
1.4.1 Dính
Bất cứ phẫu thuật nào trong ổ bụng cũng có thể gây dính ruột [63] Mức
độ dính sau mổ phụ thuộc vào mức độ tổn thương phúc mạc, tình trạng nhiễm bẩn ổ bụng của lần mổ trước và cơ địa của từng bệnh nhân Ruột có thể dính ở nhiều mức độ khác nhau, có khi toàn bộ các quai ruột dính với nhau và dính với thành bụng làm cho việc mổ ổ bụng và gỡ dính gặp nhiều khó khăn Dính
có thể lỏng lẻo dễ gỡ, nhưng có khi rất chặt khó phân định ranh giới giữa các tạng, nên gỡ dính rất dễ gây rách thanh mạc và thủng ruột
Không phải cứ có dính ruột là có TR, tắc ruột thường phát sinh khi có các yếu tố thuận lợi nh- ruột viêm nhiễm, phù nề, gập góc đột ngột mới gây tắc (khoảng 30% trường hợp ) [12] [64]
Dính là một trong những nguyên nhân chính gây ra TRSM do vậy có tác giả dùng thuật ngữ "tắc ruột do dính sau mổ" [9]
1.4.2 Xoắn ruột
Ruột có thể bị xoắn do mét quai ruột dính vào thành bụng hay một tạng lân cận hoặc do dây chằng gây ra tắc ruột đột ngột Ruột bị hoại tử nhanh chóng giống nh- nghẹt ruột do dây chằng
Thương tổn này đòi hỏi phải được phẫu thuật ngay nếu không sẽ hoại tử ruột nhanh chóng
Trang 111.4.3 Dây chằng
Dây chằng là một trong những nguyên nhân chính gây TRSM được tạo
ra do: máu đọng, dị vật, màng tơ huyết, giả mạc sau một thời gian được tổ chức hoá và tạo thành các dây xơ, các dây này đi từ quai ruột này tới quai ruột khác hoặc dính vào thành bụng làm nghẹt ruột và gây hoại tử ruột nhanh chóng do thiếu máu nên đòi hỏi phải được phẫu thuật sớm
Dây chằng và dính là nguyên nhân cơ bản và thường gặp nhất trong TRSM [64]
tố, bản chất thương tổn, vị trí tắc, đã điều trị hay chưa [18]
1.5.1 Lâm sàng
* Cơ năng:
Trang 12- Đau bụng cơn: là triệu chứng luôn có và xuất hiện đầu tiên, có các tần
số và cường độ khác nhau, tuy không đặc hiệu nhưng nếu không có cơn đau, thì không nên đặt ra chẩn đoán tắc ruột cơ học [18]
- Nôn: là triệu chứng xuất hiện khá sớm kèm với đau, lúc đầu nôn thường do phản xạ, nôn nhiều hay Ýt, sớm hay muộn còn phụ thuộc vào vị trí tắc, tắc càng cao thì nôn càng nhiều lúc đầu nôn ra dịch tiêu hoá, giai đoạn muộn bệnh nhân có thể nôn ra dịch ruột hoặc dịch bẩn như phân
- Chướng bụng: xuất hiện muộn hơn và ở các mức độ khác nhau, tùy theo vị trí tắc, tắc hoàn toàn hay không, dễ đánh giá ở những người gầy, khó đánh giá ở những bệnh nhân béo hay đang có thai
- Bí trung đại tiện: là triệu chứng quan trọng và trung thành của TR nhưng triệu chứng này rất Ýt có ý nghĩa trong chẩn đoán sớm vì phụ thuộc vào chủ quan của bệnh nhân, cơ địa bệnh nhân, hơn nữa phải trên 24h mới có giá trị, còn 12-24h chỉ nghi ngờ [60]
* Thực thể:
- Toàn thân phụ thuộc vào giai đoạn TR sớm hay muộn và do nghẹt hay
do nghẽn
+ Giai đoạn đầu: Không rõ mất nước
+ Giai đoạn tiếp theo: Mất nước
+ Giai đoạn muộn: Sốc: - Giảm khối lượng tuần hoàn
- Nhiễm trùng nhiễm độc
- Khám bụng:
Sẹo mổ cũ, vị trí, tính chất sẹo, gợi ý khả năng tắc ruột
Bụng chướng, tùy mức độ
Trang 13Rắn bò, quai ruột nổi là triệu chứng có giá trị trong chẩn đoán và chỉ định điều trị, nếu có điểm đau, phản ứng thành bụng thường do nghẹt ruột Các dấu hiệu viêm phúc mạc thấy khi ruột đã bị hoại tử
Đặc biệt trong TR sớm sau mổ là bệnh cảnh rất khó chẩn đoán, khi bệnh nhân chưa có trung tiện Thầy thuốc thường bỏ qua hoặc nhầm với có nhu động trở lại hoặc cho rằng còn liệt ruột sau mổ
Theo một số tác giả TR sớm sau mổ trong vòng 30 ngày đầu sau mổ được gọi là TR sớm sau mổ [12], [21]
1.5.2 Chẩn đoán hình thái TRSM
Mặc dù rất khó chẩn đoán được trước mổ nhưng vì tính nguy hiểm và khẩn cấp của nó, nên rất nhiều tác giả cố gắng đưa ra các tiêu chuẩn mong phát hiện sớm xoắn ruột, nghẹt ruột Trên thực tế rất khó phân biệt giữa tắc ruột do nghẽn và tắc ruột do nghẹt [41] [44]
Tuy vậy các tài liệu đều được đưa ra dấu hiệu gợi ý nh-: đau liên tục, dữ dội, mạch nhanh, điểm đau khu trú, phản ứng thành bụng, sốt, bạch cầu tăng [65]
1.5.3 Các thăm khám cận lâm sàng
1.5.3.1 Xquang bụng không chuẩn bị
Chụp Xquang bụng không chuẩn bị, là phương pháp rất có giá trị trong chẩn đoán TR Những hình ảnh tắc ruột có thể xuất hiện sớm ngay cả khi dấu hiệu lâm sàng chưa rõ ràng [7] [18]
Dựa vào các hình ảnh trên phim chụp bụng không chuẩn bị ta có thể chẩn đoán xác định TR cũng như vị trí và nguyên nhân TR đống thời đánh giá
sự tiến triển của TR [40] [70]
Trang 14Dấu hiệu của TR trên phim chụp bụng không chuẩn bị là hình ảnh MNH trong tắc ruột non, các MNH có chân rộng và tập trung ở giữa bụng, khi tắc thấp ở đại tràng các MNH có chân hẹp và nằm dọc theo khung đại tràng
Tỷ lệ chẩn đoán TR trên film Xquang bụng không chuẩn bị là trên 80% [56], [58] có tác giả tỷ lệ phát hiện cao 90% [51]
Dấu hiệu Xquang thường song song với tiến triển của TR, nếu lưu thông tiêu hóa bị ngừng lại, thì sẽ xuất hiện hình ảnh TR trên Xquang, nếu trở lại bình thường Xquang sẽ trở lại bình thường, như vậy dựa vào các dấu hiệu Xquang có thể đánh giá được tiến triển của TR [40], [73] Chụp bụng không chuẩn bị còn giúp chẩn đoán vị trí tắc dựa vào:
- Thành quai ruột: ở ruột non thành mỏng hơn, các nếp niêm mạc xếp sát nhau, đi từ bờ ruột nọ đến bờ ruột kia, đến hồi tràng các nếp niêm mạc Ýt hơn, thẳng hơn còn ở đại tràng các nếp niêm mạc không đi hết chiều ngang
mà kéo lõm thành ruột thành ngấn, rất thưa thớt [22]
- Hình dạng: theo kinh điển MNH ở ruột non, chiều ngang rộng, chiều cao thấp, ở đại tràng MNH hẹp và cao tuy nhiên điều này chỉ có ý nghĩa tương đối
Chụp bụng không chuẩn bị có thể gợi ý cơ chế tắc ruột Nghẹt: thành ruột dày, mất niêm mạc, quai ruột, cố định nếp niêm mạc dày, giảm nhu động, tăng dịch trong lòng ruột, có dịch trong ổ bụng [38]
Cho dù hội chứng TR thể hiện với nhiều hình thức nào đi nữa, dấu hiệu Xquang vẫn là dấu hiệu chủ yếu, và không thể thiếu được trong chẩn đoán, theo dõi và chỉ định mổ
1.5.3.2 Chụp Xquang có cản quang: về mặt ưu điểm chẩn đoán có thể
xác định được vị trí tắc, TR hoàn toàn hay không hoàn toàn
Trang 15Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm thường phải mất thời gian nguy cơ tăng áp lực ruột, hạn chế do nôn, thuốc bị pha loãng bởi dịch da dày hay do nhiều nguy cơ do thuốc cản quang gây nên [31], [38] Do vậy phương pháp này chỉ được áp dụng trong điều kiện tình trạng toàn thân và tại chỗ của bệnh nhân cho phép
1.5.3.3 Siêu âm:
Siêu âm là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh từ lâu đã được áp dụng rộng rãi trong y học: nhưng việc áp dụng vào chẩn đoán theo dõi TR còn rất mới mẻ [10] Các tác giả cho rằng, khi TR các quai ruột chướng dịch và hơi, vị trí lại luôn thay đổi nên việc thăm khám bị hạn chế rất nhiều, kết quả Ýt giá trị Trong những năm gần đây cũng có tác giả nghiên cứu siêu âm trong chẩn đoán và theo dõi TRSM còng thu được một số kết quả nhất định Trong đó Ogata M and Coll tác giả cho rằng siêu âm có độ nhạy tương đương Xquang không chuẩn bị 88% và 96% nhưng độ đặc hiệu cao hơn nhiều (96% và 65%) [48]
Ngoài ra siêu âm còn thấy được hiện tượng tăng nhu động trên chỗ tắc cũng nh- hiện tượng ứ trệ hơi và dịch trong lòng ruột, giúp chẩn đoán sớm
TR [29] Meisner khẳng định độ nhạy của siêu âm trong chẩn đoán sớm TR tới 98%, siêu âm có thể phân biệt rõ TR cơ năng sau mổ và TR cơ giới [43] Siêu âm cũng cho biết sớm và chính xác lượng dịch trong ổ bụng một bằng chứng cho thấy sự tiến triển nặng lên của tình trạng TR Mặc dù siêu âm
có nhiều ưu điểm, nhưng cũng có những hạn chế của nó là không chẩn đoán được nguyên nhân của TRSM (dính, dây chằng, xoắn), mặt khác do độ nhậy cao nên trong một số trường hợp siêu âm cho kết quả dương tính giả đối với bệnh nhân rối loạn tiêu hóa và một số bệnh khác, do vậy siêu âm cần phối hợp với Xquang và lâm sàng để chẩn đoán và chỉ định điều trị - theo dõi - TRSM
Trang 161.5.3.4 Chụp cắt lớp vi tính (Computer Tomography) (CT)
Là phương tiện chẩn đoán hình ảnh hiện đại và mới mẻ Trong một số nghiên cứu cho thấy CT rất hữu Ých trong việc chẩn đoán TR do nghẽn ở những bệnh nhân TRSM với những dấu hiệu được phát hiện như phù mạc treo, thành ruột dày CT có tiêm thuốc cản quang xác định được 81-93% trường hợp do nghẹt[37] [59]
CT cũng nhạy trong việc chẩn đoán xác định, vị trí, nguyên nhân gây tắc trong TRSM Tuy nhiên mặc dù CT có nhiều giá trị chẩn đoán, song giá thành quá đắt, chưa phù hợp với điều kiện hoàn cảnh nước ta, chưa áp dụng rộng rãi trong chẩn đoán TRSM
Đối với những bệnh nhân đến muộn (TRSM ở giai đoạn muộn) các biểu hiện lâm sàng nặng nề, sốc, trụy mạch, nhiễm trùng nhiễm độc, mất nước điện giải nghiêm trọng, thiểu niệu, vô niệu Việc chẩn đoán và chỉ định phẫu thuật không khó nhưng tiên lượng xấu, tỷ lệ tử vong cao Do vậy một yêu cầu đặt ra với các thầy thuốc là phải chẩn đoán và xử lý được sớm TRSM
Trang 17Trong điều trị TRSM việc xác định chính xác TR do nghẹt (phải phẫu thuật ngay) hay TR do nghẽn (có thể điều trị bảo tồn) là một việc rất khó khăn, nhiều trường hợp các triệu chứng lâm sàng không điển hình và rõ ràng Các nghiên cứu cho thấy ngay cả với những phẫu thuật viên có kinh nghiệm cũng chỉ xác định chính xác 70% trường hợp TR do nghẽn và 40% trường hợp TR do nghẹt
Theo tác giả Nguyễn Văn Hải, bất cứ bệnh nhân nào có sẹo mổ cũ ổ bụng vào viện vì đau bụng liên tục, dữ dội phải nghĩ ngay TR nghẹt [6] Theo Silen W và cộng sự [56], Snyder D và cộng sự [58] nhận thấy chẩn đoán nghẹt ruột trước mổ chỉ thấy trên 1/4 số bệnh nhân TRSM và các dấu hiệu lâm sàng kinh điển dùng để phân biệt Tắc do nghẹt và TR do nghẽn vẫn chưa chắc chắn Do vậy nếu chỉ dựa trên tứ chứng cổ điển để chẩn đoán và đợi đủ các triệu chứng để chỉ định phẫu thuật thì đã muộn, vì nguyên nhân gây TR rất khác nhau mà có bệnh cảnh lâm sàng khác nhau Việc chỉ định phẫu thuật phải dựa trên cơ sở chẩn đoán xác định được sự có mặt TR do nghẹt hay TR gập góc mới chính xác [18]
TR do nghẹt (dây chằng, xoắn ruột, thoát vị trong ) có thể gây hoại tử ruột rất nhanh khi chỉ vài giờ hay trong vài ngày đầu tiên sau khi khởi phát, TR
do nghẹt cũng có thể xảy ra sau một thời gian TR do nghẽn kéo dài, quai ruột giãn to đè Ðp thành ruột làm ứ máu thành ruột, những trường hợp này nếu không chỉ định mổ sớm, dễ tiến triển thành viêm phúc mạc tiên lượng rất xấu [18]
Michael và Scott Jone nhận thấy các dấu hiệu nghẹt là: sốt, nhịp tim nhanh, điểm đau khu trú, bạch cầu tăng Tuy nhiên tác giả cũng nhấn mạnh sự phân biệt này cũng không chắc chắn [44]
Trang 18Muro A và Millan [46] cũng thống nhất với Micheal và Scott Jone [44]
về 4 dấu hiệu của nghẹt ruột Nếu có nghẹt ruột (đánh giá trong mổ) thì Ýt nhất có 2 trong 4 triệu chứng trước mổ Cohn I [29] đánh giá cao triệu chứng mạch nhanh vì theo ông giai đoạn đầu, mạch nhanh là dấu hiệu của nghẹt ruột, còn về sau là do ảnh hưởng của mất nước, điện giải của nhiễm trùng, nhiễm độc Tác giả cũng đề cập đến dấu hiệu phản ứng thành bụng nhưng cho rằng nó chỉ có giá trị khi kèm với mạch nhanh, sốt, bạch cầu tăng
Gamma A.L và cộng sự [65] đưa ra tiêu chuẩn phản ứng thành bụng, bạch cầu trên 16.000, huyết áp tụt và tiền sử TRSM một hoặc nhiều lần Tác giả đề nghị chỉ phẫu thuật khi có một hoặc nhiều các yếu tố tiên lượng trên, riêng đối với bệnh nhân trên 70 tuổi chỉ định mổ rộng rãi hơn
- Ranson J.H [51] nhận thấy các dấu hiệu gợi ý nghẹt ruột là đau liên tục, dữ dội, sờ thấy khối trên bụng, mạch nhanh, sốt trên 38o, bạch cầu tăng, huyết áp tụt
- Seror D và cộng sự [55], Bùi Thanh Hải và Phạm Duy Hiển [5] chỉ đưa ra một yếu tố nghi ngờ TR do nghẹt là mạch nhanh, khi có dấu hiệu mạch nhanh 100 lần/1 phút thì xem xét chỉ định phẫu thuật, nếu có kèm theo dấu hiệu nôn mửa nhiều lần liên tục hoặc đau bụng cơn dữ dội thì chỉ định phẫu thuật lại càng chắc chắn
- Theo Jone S.R [39] thời điểm phẫu thuật dựa vào 3 yếu tố: thời điểm tắc (biểu hiện bằng mất dịch nặng: rối loạn nước điện giải, sự không cải thiện chức năng sống và nguy cơ của nghẹt ruột theo tác giả chỉ có thể điều trị bảo tồn an toàn khi không có các dấu hiệu: sốt, mạch nhanh, bạch cầu cao, điểm đau khu trú
- Theo Nguyễn Đức Ninh: chỉ nên bảo tồn khi bụng chướng vừa, không
có điểm đau khu trú, không có rối loạn toàn thân (mạch, huyết áp, nước
Trang 19tiểu ) Nên mổ sớm ở bệnh nhân đau dữ dội, nôn mửa nhiều, bụng có một vùng đau hay phản ứng, còn đợi huyết áp tụt, bụng chướng, hay có phản ứng bụng hay cảm ứng phúc mạc thì đã muộn, khó tránh khỏi cắt đoạn ruột [17], [18]
- Nguyễn Hữu Thành cho rằng: đau nhiều, nôn nhiều, mất nước, bụng chướng nhiều, dấu hiệu rắn bò, Ên đau nên mổ ngay [23]
- Bùi Mạnh Hải, Phạm Duy Hiển: dấu hiệu mạch nhanh có giá trị theo dõi TRSM và là dấu hiệu trung thành báo hiệu xoắn ruột và hoại tử ruột, cần đặt vấn đề mổ sớm các tác giả còn cho biết nên mổ sớm đối với loại TR sớm sau mổ [5]
- Đỗ Phú Đông nhận thấy quá nửa số TRSM điều trị bảo tồn thành công nên khuyên rằng điều trị nội trước tiên và theo dõi một vài triệu chứng nếu thấy nặng lên thì chỉ định mổ [3]
- Nguyễn Đình Hối: cho rằng khi những bệnh nhân đến viện với những triệu chứng không rầm rộ thì nên điều trị nội, không cần mổ ngay, khi bệnh nhân đến muộn nhất là khi nôn ra dịch giống phân thì nên mổ ngay [12] Nh- vậy tất cả các nghiên cứu về lâm sàng, Xquang, siêu âm, CT đều nhằm mục đích chẩn đoán chính xác thương tổn chỉ định phẫu thuật kịp thời hợp lý, đây là cốt lõi của việc điều trị TRSM
1.7 Điều trị NộI CHUẩN Bị TRƯớC Mổ
Điều trị nội khoa là việc làm đầu tiên và bắt buộc, nó có thể trở thành điều trị thực thụ, nếu không nó cũng là bước chuẩn bị tốt cho bệnh nhân trước khi phẫu thuật [17] Cách thức điều trị nội khoa trước mổ cũng đã trở thành kinh điển gồm 3 biện pháp hút dạ dày liên tục, bồi phụ nước điện giải, dùng kháng sinh Trong đó hút dạ dày, ruột là biện pháp quan trọng và hữu hiệu làm giảm áp trên chỗ tắc nhằm loại bỏ vòng xoắn bệnh lý trong TRSM
Trang 20- Nghiên cứu mới đây Gersin K.S và cộng sự [34] dùng nội soi tiêu hóa, nội soi với phối hợp gây mê và giảm đau tĩnh mạch, ống soi đưa xuống trên chỗ tắc rút dịch, hơi, có thể giải quyết được TR 24-36 giờ, nội soi tiêu hóa đã mang lại nhiều giá trị trong TRSM, giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm thời gian nằm viện, tránh biến chứng do phẫu thuật và đặc biệt giảm tỷ lệ việc chỉ định mổ lại trong TR sớm sau mổ
Nghiên cứu của Choi H.K dùng Gastrografin đường uống và theo dõi sự
có mặt của thuốc trên Xquang trong việc theo dõi điều trị bảo tồn trong TR do dính, nếu sau 48 giờ không có sự cải thiện trên Xquang nên chỉ định mổ, qua sử dụng phương pháp này giảm 74% TR do dính chỉ định mổ chưa cần thiết [28]
- Vấn đề then chốt là điều trị nội đến khi nào, thời gian bảo tồn bao lâu, hiện nay vẫn chưa thống nhất :
+ Nguyễn Đức Ninh cho rằng điều trị bảo tồn 6-12 giờ không đỡ nên mổ [17] + Phạm Văn Hoàn đề nghị điều trị bảo tồn từ 12-24 giê cho những bệnh nhân chưa có biểu hiện rầm rộ [9]
+Theo Nguyễn Tháp Hùng trong bất cứ tình huống nào cũng không nên theo dõi quá 24 giờ, nếu sau 24 giờ tình trạng không được cải thiện nên mổ cấp cứu ngay [15]
+Theo Seror D và cộng sự thì điều trị bảo tồn thời gian trung bình 22 giờ và có thể kéo dài tới 5 ngày trong thời gian đó không làm tăng tỷ lệ tử vong hay tỷ lệ nghẹt ruột [55]
1.8 Điều trị phẫu thuật TRSM
Điều trị phẫu thuật cho TRSM là việc làm cần thiết vì nó giải quyết được nguyên nhân, sửa chữa thương tổn hiện có , nhưng có nguy cơ gây dính lần tiếp theo Các phương pháp xử trí phẩu thuật thường sử dụng là :
Trang 211.8.1 Gỡ dính, cắt dây chằng
Đa số những bệnh nhân mổ TRSM là gỡ dính và cắt dây chằng, giải phóng đè Ðp, lập lại lưu thông ruột, trong đó phẫu thuật viên cần phải kiên nhẫn gỡ dính, đặc biệt ở những bệnh nhân mổ lại nhiều lần, tránh làm xước thanh mạc và thủng ruột
Trong những trường hợp dây chằng gây nghẹt ruột tím đen Không được cắt dây chằng ngay mà phải cắt đoạn ruột xa chỗ hoại tử
1.8.2 Cắt đoạn ruột
Do đoạn ruột đã bị hoại tử không còn khả năng bảo tồn phải cắt bỏ hay trong những trường hợp xơ dính mất nhiều thanh cơ, mạc không khâu phủ lại được trên một đoạn ruột ngắn
Tùy từng tình trạng, vị trí tắc của bệnh nhân mà khâu nối ngay hay đưa đầu ruột ra da
1.8.5 Giải phóng ruột nghẹt và khâu lại các lỗ thoát vị nội
1.8.6 Các phương pháp điều trị bổ xung
Do tỷ lệ dính vào dây chằng khá cao 70-80% [20] Sau mổ có một số biện pháp nh-: sắp xếp mạc nối lớn dưới đường rạch ở cuối thì can thiệp
Trang 22[67] Sử dụng găng sinh học, màng sinh học chống dính, hay đổ các loại dịch vào ổ bụng: corticoid, streptokinase [16], [19] rửa ổ bụng liên tục, song các biện pháp này chưa đem lại hiệu quả mong muốn Phương pháp khâu xếp mạc treo ruột non hoặc các quai ruột với nhau (phẫu thuật Child và Noble) đây vẫn
là phương pháp cứu cánh trong những trường hợp TRSM có dính nhiều
1.8.7 Điều trị bằng phẫu thuật nội soi
Điều trị TRSM bằng nội soi, là phương pháp điều trị còn rất mới ở nước
ta phẫu thuật nội soi mang lại nhiều lợi Ých trong TR do dây chằng, dính một phần hay không có vùng thiếu máu cục bộ, sự mở rộng nội soi với TRSM nói chung có vai trò quan trọng trong việc, lập lại lưu thông sau mổ sớm, giảm thời gian nằm viện
- Peter - Fielding [49] áp dụng mổ nội soi trong những trường hợp tắc ruột đơn thuần, hay TR nghẽn phải can thiệp sớm
- Tác giả Saudermont A tỷ lệ thành công trong nội soi TRSM là 50% số trường hợp, thường chỉ định tốt nhất trong TRSM sau cắt ruột thừa [8], [72] Tuy nhiên phẫu thuật nội soi cũng còn nhiều hạn chế như: thường khó làm khi các quai ruột giãn to, ứ dịch, hay dính vào vết mổ và thành bụng khó khăn cho đường chọc troca, hay thủng ruột thứ phát do cầm máu hay đòi hỏi phẫu thuật viên giầu kinh nghiệm Nếu sử dụng nội soi trong những trường hợp có hoại tử ruột thì giá của nó đắt hơn nhiều [8]
Áp dung nội soi vào điều trị TRSM ở nước ta chưa được áp dụng rộng rãi, hy vọng trong thời gian tới kỹ thuật mới này được áp dụng rộng rãi hơn phát huy những ưu điểm của nó trong điều trị TRSM
Trang 23
Phẫu thuật nội soi hình ảnh dính đơn thuần được cải thiện sau phẫu thuật
ở những bệnh nhân tắc ruột một phần và tắc ruột không có biến chứng
Trang 25Chương 2
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm tất cả những bệnh nhân, không phân biệt tuổi giới, nơi cư trú,
có sẹo mổ cũ ổ bụng, được chẩn đoán là TRSM và điều trị tại Bệnh viện Việt Đức từ tháng 1/2000 đến 12/2002
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Có đầy đủ hồ sơ bệnh án tại phòng hồ sơ lưu trữ, bao gồm các phần: hành chính, lâm sàng, cận lâm sàng, cách thức mổ (những bệnh nhân có phẫu thuật ), quá trình điều trị hậu phẫu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Những bệnh nhân chẩn đoán là TRSM nhưng không có hồ sơ đầy đủ
- Những bệnh nhân được mổ vì TRSM ở bệnh viện khác sau đó mới chuyển đến điều trị tại bệnh viện Việt Đức
- Những bệnh nhân vào viện được chẩn đoán TRSM được ĐTBT không
có những triệu chứng: Đau bụng cơn, nôn, bí trung đại tiện (có hoặc không có hình ảnh MNH)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu hồi cứu mô tả
- Hồi cứu từ tháng 1/2000 đến 12/2002
- Tập hợp tất cả các số liệu phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn theo một mẫu thống nhất
- Số liệu thu được từ bệnh án của phòng Lưu trữ hồ sơ Bệnh viện Việt Đức
- Phân nhóm bệnh nhân: 454 bệnh nhân được chẩn đoán là TRSM và được điều trị tại Bệnh viện Việt Đức từ tháng 1/2000 đến tháng 12/2002 được chia làm hai nhóm ĐTBT và nhóm ĐTPT:
Trang 26Nhóm điều trị bảo tồn thành công 181 bệnh nhân
Nhóm điều trị bảo tồn không kết quả (phải điều trị phẫu thuật 114 bệnh nhân) Nhóm điều trị phẫu thuật ngay (trước 6 giờ) gồm 159 bệnh nhân
Thương tổn trong mổ gồm:
+ Nhóm bệnh nhân có hoại tử ruột: 28 bệnh nhân
+ Nhóm bệnh nhân không có hoại tử ruột : 245 bệnh nhân
Phân nhóm cơ chế gây TR trong mổ
+ Nhóm bệnh nhân TR do nghẽn, gập góc 185 bệnh nhân
+ Nhóm bệnh nhân TR do nghẹt 88 bệnh nhân
Việc phân nhóm nhằm mục đích so sánh chỉ định đề ra ban đầu và thương tổn trong mổ của từng nhóm để xác định mối tương quan giữa chúng, từ
đó xác định triệu chứng nhằm đề ra tiêu chuẩn chỉ định điều trị đối với TRSM
2.3 Các nội dung nghiên cứu
2.3.1 Một số yếu tố với điều trị
2.3.1.1 Tuổi: Được phân nhóm theo khoảng cách 10 năm
2.3.1.2 Giới : Nam: nữ
2.3.1.3 Tiền sử:
- Bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật bụng hay qua đường bụng, có sẹo mổ
cũ trên thành bụng
- Thời gian mổ cuối cùng đến khi vào viện
- Số lần đã mổ trước khi vào viện
- Số lần đã mổ TRSM
Trang 27- Loại phẫu thuật ổ bụng lần trước (theo Altermier)
2.3.1.4 Phần bệnh sử
- Hoàn cảnh và tính chất của cơn đau đầu tiên
- Thời gian xuất hiện triệu chứng đầu tiên (thời gian đau đến khi vào viện)
- Nôn: có hay không (số lượng, tính chất)
- Bí trung đại tiện có hay không
- Diễn biến triệu chứng khi khởi phát bệnh
- Thời gian diễn biến bệnh: ghi nhận tất cả các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng diễn biến từ khi vào viện trong đó đây là nghiên cứu hồi cứu mô
tả phụ thuộc vào mẫu ghi hồ sơ, những triệu chứng không ghi vào hồ sơ được coi là triệu chứng không có
2.3.2 Triệu chứng lâm sàng ở thời điểm vào viện và khi chỉ định mổ
Đau thưa nhẹ: cơn đau từ 5 cơn/giờ trở xuống
Đau nhiều (đau mau) trên 5 cơn/giờ
Đau liên tục, dữ dội, cơn đau nối tiếp nhau
+ Chướng bụng: phụ thuộc vào chủ quan của thày thuốc khi đánh giá: Không chướng, bụng xẹp,
Chướng nhẹ
Trang 28Chướng rõ: chướng rõ rệt, dễ thăm khám được
Chướng căng: nắn căng khó thăm khám
- Quai ruột nổi:
Không có quai ruột nổi
Có quai ruột nổi
- Rắn bò:
Không có dấu hiệu rắn bò
Có dấu hiệu rắn bò: xuất hiện theo từng thời gian hay chỉ thấy trong cơn đau
- Điểm đau khu trú:
Không có điểm đau khu trú
Có điểm đau khu trú
- Urê máu, Creatinin máu
2.3.2.2 Xquang và siêu âm
Trang 29* Chụp Xquang bụng không chuẩn bị hầu hết các bệnh nhân đều được chụp lúc mới vào viện, tuỳ theo có thể chụp lại lần 2 lần 3 để tìm thêm các dấu hiệu chẩn đoán và đánh giá tiến triển của bệnh
- MNH + quai ruột giãn
- Quai ruột giãn
2.3.2.3 Thời gian vào viện đến khi có chỉ định mổ
2.3.2.4 Giá trị triệu chứng chẩn đoán TR do nghẽn và do nghẹt
* Điều trị phẫu thuật
- Đối chiếu chỉ định điều trị với các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng
2.3.2.6 Đối chiếu tổn thương trong mổ với chỉ định điều trị và các triệu chứng lâm sàng khi vào viện với khi chỉ định mổ
Trang 302.3.3 Kết quả điều trị phẫu thuật
2.3.3.1 Biến chứng sớm sau phẫu thuật
- Ổn định: hậu phẫu diễn biến bình thường, cắt chỉ ra viện đúng ngày (thường 7 ngày)
- Nhiễm trùng vết mổ phải cắt chỉ cách quãng sớm, tách vết mổ dùng kháng sinh kèm theo
- Viêm phúc mạc: được khẳng định khi mổ lại
- Áp xe tồn dư sau mổ: được khẳng định hay theo dõi bằng siêu âm -Rò tiêu hóa sau mổ: có thể rò ra vết mổ hay rò ổ bụng gây viêm phúc mạc sau mổ
- Suy kiệt: suy giảm chức năng sống
- Tắc ruột sớm sau mổ: có những triệu chứng sớm của TRSM trong những ngày đầu điều trị phẫu thuật, được điều trị bảo tồn hay phẫu thuật
- Suy thận tăng ure và creatinin máu sau mổ
- Nặng xin về hay tử vong sau mổ (nặng xin về cũng coi nh- tử vong sau mổ)
- Số ngày nằm viện của nhóm ĐTPT được tính từ ngày mổ đến ngày ra viện
2.3.3.2 Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật
- Tốt: ra viện không có biến chứng
- Trung bình: có biến chứng nhưng điều trị khỏi
- Xấu: có biến chứng điều trị không khỏi, nặng xin về hoặc tử vong
- Kết quả điều trị bảo tồn
Các triệu chứng được cải thiện dần sau đó mất, bệnh nhân có trung tiện trở lại, bụng hết chướng, hết đau
Trang 31- Dùng ma trận xác định giá trị của một số triệu chứng TR do nghẹt và
do nghẽn, bất cứ triệu chứng nào cũng có liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới chỉ định mổ nhưng chỉ khác nhau về mức độ
- Từng triệu chứng chỉ có thể ảnh hưởng đến chỉ định, chứ không hoàn toàn quyết định được chỉ định, mỗi yếu tố ảnh hưởng Ýt hay nhiều từ đó xác định giá trị triệu chứng
d a
d
d
Trang 323.1 Một số yếu tố với điều trị
3.1.1 Tuổi của bệnh nhân
454 bệnh nhân, tuổi từ 1,5 đến 80 tuổi, tuổi trung bình 39,3 16
Trang 336 9
21 23
38 29
47 65
25
62
31 32
10 37
3 16
Biểu đồ 3.1 Phân bố tuổi của bệnh nhân
- Mắc bệnh cao nhất gặp ở lứa tuổi 30-50 tuổi (43,1%)
- Trên 60 tuổi, bệnh nhân điều trị phẫu thuật cao hơn nhóm không phẫu thuật (p < 0,05)
Trang 3425,9
19,4 13,8
Biểu đồ 3.2 Giới và điều trị
Qua bảng trên tỷ lệ nam lớn hơn nữ xét trong cả hai nhóm điều trị cũng như xét chung cho tất cả bệnh nhân của hai nhóm được phẫu thuật và nhóm không được phẫu thuật thấy tỷ lệ bệnh nhân nam cao hơn nhóm bệnh nhân
nữ, sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê p < 0,05
3.1.3 Tiền sử phẫu thuật
Bảng 3.3 Tổng số lần phẫu thuật trước đó
Trang 35Tổng sè 273 60 181 40 454 100
43,3%
56,7%
1 lÇnNhiÒu lÇn
Biểu đồ 3.3 Số lần phẫu thuật trước đó
Tỷ lệ bệnh nhân mổ bụng 1 lần chiếm hơn một nửa số bệnh nhân điều trị TRSM (56,7%) Tỷ lệ này giảm nhanh khi số lần mổ TRSM tăng lên
Bệnh nhân có tiền sử mổ bụng nhiều nhất 07 lần
Số lần mổ tăng không ảnh hưởng đến quá trình tăng điều trị phẫu thuật
Trang 3635,6%
1 lÇn
2 lÇn trë lªn
Biểu đồ 3.4 Số đã phẫu thuật TRSM
121 bệnh nhân có TRSM lần 2 trở đi chiếm (26,6%)
78/121 bệnh nhân có tiền sử đã mổ TRSM 1 lần
Có 1 bệnh nhân đã mổ TRSM nhiều nhất 6 lần
Số những bệnh nhân này phân bố trong 2 nhóm không phẫu thuật và điều trị phẫu thuật không có sự khác biệt p > 0,05
Bảng 3.5 Loại phẫu thuật đã mổ lần trước (theo phân loại của Altermier)
Loại phẫu thuật lần mổ trước thấy có phẫu thuật trước được Altermier phân loại phẫu thuật theo nguy cơ nhiễm khuẩn ra làm 4 loại:
- Loại phẫu thuật sạch là loại mổ trong điều kiện vô khuẩn, không mở thông với các khoang ống tiêu hóa, bộ phận tiết niệu, sinh dục, hô hấp
- Loại phẫu thuật sạch nhiễm: là phẫu thuật có mở bộ phận tiết niệu, sinh dục, mở đường hô hấp, mở ống tiêu hóa trong điều kiện tốt, không gây nhiễm,
mở ống mật
- Loại phẫu thuật nhiễm: vết thương do chấn thương mới, mở ống mật, hay đường tiết niệu sinh dục khi có nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn do dịch ống tiêu hóa
Trang 37- Loại phẫu thuật bẩn: viêm phúc mạc, thủng nội tạng
qua bảng 3.5 cho thấy số bệnh nhân có tiền sử mổ sạch nhiễm và sạch, chiếm tỷ lệ cao là 37,8% và 34,7% Trong đó phẫu thuật sạch nhiễm đa số là
do mổ lần trước là viêm ruột thừa chiếm 27,3% số bệnh nhân mổ tắc ruột Các loại phẫu thuật ở 2 nhóm phẫu thuật và nhóm không phẫu thuật không có sự khác biệt (p > 0,05)
Trang 38Bảng 3.6 Loại phẫu thuật trên các cơ quan của lần mổ trước
Cơ quan phẫu thuật Không
phẫu thuật
Điều trị phẫu thuật
Trang 39- Các cơ quan ở tầng trên mạc treo đại tràng ngang: dạ dày, gan mật, tuỵ không có sự khác nhau giữa hai nhóm ĐTPT và không phẫu thuật p > 0,05
Bảng 3.7 Thời gian từ lần mổ cuối đến khi TRSM
Thời gian Điều trị phẫu thuật Không phẫu thuật n %
TRSM xảy ra > 10 năm cũng chiếm tỷ lệ khá cao 12,3%
Nh- vậy nguy cơ TRSM có thể xảy ra ở bất kỳ thời gian nào trong cuộc đời mỗi bệnh nhân đã có tiền sử mổ bụng cũ
Trang 403.1.4 Thời gian từ khi đau đến khi vào viện
Bảng 3.8 Thời gian đau đến khi vào viện
Thời gian Không phẫu thuật Điều trị phẫu thuật n %