1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước về cổ phần hóa theo hướng thành lập các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay

196 349 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý nhà nước về cổ phần hóa theo hướng thành lập các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Việt Xô
Trường học Học viện Hành chính
Chuyên ngành Quản lý nhà nước về cổ phần hóa theo hướng thành lập các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 196
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khoán TTCK bị sụt giảm làm cho tính thanh khoản và định giá của các công ty và TCT lớn khi tham gia thị trường là vấn đề đang gây cản trở to lớn cho việc thực hiện lộ trình cổ phần hoá,

Trang 1

Tác giả Luận án xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc, các thầy, các cô tại Học viện Hành chính, khoa Sau đại học, khoa Quản lý nhà nước về kinh tế Xin trân trọng cảm ơn bạn bè đồng nghiệp ở Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương, Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Hà Nội, Tổng công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội, Tổng Công ty Đầu tư phát triển Hạ tầng Đô thị, Tổng Công ty Vận tải Hà Nội, Tổng Công ty Thương mại Hà Nội, Tổng Công ty Du lịch Hà Nội, Tập đoàn Đầu tư phát triển nhà và Đô thị, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông v.v đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp Nghiên cứu sinh trong suốt quá trình học tập tại Học viện và hoàn thành bản Luận án này

Do điều kiện chủ quan và khách quan bản Luận án chắc chắn còn những thiếu sót Tác giả Luận án rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng vấn đề được lựa chọn nghiên cứu./

Hà Nội, tháng 9 năm 2011

Tác giả luận án

Nguyễn Việt Xô

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tư liệu trong Luận án là trung thực và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của Luận án chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào

Hà Nội, tháng 9 năm 2011

Tác giả luận án

Nguyễn Việt Xô

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

H1 Bảng xếp hạng 10 công ty lớn nhất thế giới năm 2007 và 2008 27

H2 Bảng thống kê tốc độ tăng trưởng chung của các DNNN sau CPH 40

H3 Mô hình chuyển đổi của các DNNN sang TĐKT 54 H4 Mô hình tổ chức của một số tập đoàn kinh tế Việt Nam 100

H5 Sơ đồ tổ chức hình tháp và quy định về đầu tư của TĐKT NN và

Trang 4

ĐM&PTDN Đổi mới và phát triển doanh nghiệp

BCVT Bưu chính viễn thông

NĐ-CP Nghị định chính phủ

HNKTQT Hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU 9

1 Lý do lựa chọn đề tài 9

2 Mục đích nghiên cứu của Luận án 10

3 Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án 11

5 Phương pháp nghiên cứu của Luận án 11

6 Những đóng góp mới của luận án: 12

7 Kết cấu của Luận án 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CỔ PHẦN HOÁ THEO HƯỚNG THÀNH LẬP CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ 18

1.1 TẬP ĐOÀN KINH TẾ 18

1.1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế 18

1.1.2 Vai trò của tập đoàn kinh tế 20

1.1.3 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế 21

1.1.4 Điều kiện hình thành tập đoàn kinh tế 36

1.2 CỔ PHẦN HÓA THEO HƯỚNG THÀNH LẬP CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ 38

1.2.1 Khái niệm cổ phần hóa theo hướng thành lập các tập đoàn kinh tế 38

1.2.2 Tính tất yếu khách quan của cổ phần hóa theo hướng thành lập các tập đoàn kinh tế 38

1.2.3 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế 42

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng cổ phần hóa theo hướng thành lập các tập đoàn kinh tế 48

1.3 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG THÀNH LẬP CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ 50

1.3.1 Khái niệm quản lý nhà nước về cổ phần hóa theo hướng hình thành các tập đoàn kinh tế 50

Trang 6

1.3.2 Mục tiêu quản lý nhà nước về cổ phần hóa theo hướng hình thành các tập

đoàn kinh tế 50

1.3.3 Những yêu cầu cơ bản của quản lý nhà nước về cổ phần hóa theo hướng hình thành các tập đoàn kinh tế 55

1.3.4 Vai trò của quản lý nhà nước về cổ phần hóa theo hướng hình thành các tập đoàn kinh tế 55

1.3.5 Nội dung quản lý nhà nước về cổ phần hóa theo hướng hình thành các tập đoàn kinh tế 57

1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CỔ PHẦN HOÁ THEO HƯỚNG THÀNH LẬP CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở MỘT SỐ NƯỚC 58 1.4.1 Trung Quốc .58

1.4.2 Hàn Quốc 60

1.4.3 Các nước khu vực Đông Nam Á 62

1.4.4 Các nước đang chuyển đổi 63

1.4.5 Các nước phát triển trên thế giới 66

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 70

CHƯƠNG 2 73

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CỔ PHẦN HÓA THEO HƯỚNGTHÀNH LẬP CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 73

2.1 THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ CỦA VIỆT NAM 73

2.1.1 Tiến trình cổ phần hoá từ năm 1992 đến 2005 .73

2.1.1.1 Giai đoạn thí điểm cổ phần hoá: Từ tháng 6/1992 đến tháng 5/1996 (thực hiện theo Quyết định số 202/CT) 73

2.1.1.2 Giai đoạn mở rộng cổ phần hoá: Từ tháng 5/1996 đến tháng 6/1998 (thực hiện theo Nghị định số 28/CP) 74

2.1.1.3 Giai đoạn đẩy mạnh cổ phần hoá: Từ tháng 6/1998 đến nay (năm 2004) (thực hiện theo Nghị định số 44/CP và số 64/CP) 74

Trang 7

2.2 THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC TẬP ĐOÀN KINH

TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 79

2.2.1 Điều kiện cho việc hình thành tập đoàn kinh tế ở Việt Nam 79

2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CỔ PHẦN HOÁ THEO HƯỚNG THÀNH LẬP CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 82

2.3.1 Thực trạng hệ thống các văn bản pháp luật về chuyển doanh nghiệp nhà nước, Tổng công ty nhà nước thành tập đoàn kinh tế 82

2.3.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ công chức .85

2.3.2.1 Đội ngũ cán bộ của Ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp Trung ương 85

2.3.2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ các tập đoàn kinh tế .88

2.3.3 Tổ chức bộ máy quản lý 91

2.3.3.1 Tổ chức bộ máy của Ban Chỉ đạo Đổi mới và phát triển doanh nghiệp 92

2.3.3.2 Bộ máy tổ chức quản lý tập đoàn kinh tế 93

2.3.4 Quản lý tài chính công 103

2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CỔ PHẦN HOÁ THEO HƯỚNG HÌNH THÀNH CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ 112

2.4.1 Đánh giá chung: 112

2.4.2 Đánh giá trên giác độ quản lý nhà nước về cổ phần hóa theo hướng hình thành các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam 114

2.4.2.1 Về thể chế, chính sách 114

2.4.2.2 Về Đội ngũ cán bộ công chức: 119

2.4.2.3 Về Bộ máy tổ chức quản lý: 122

2.4.2.4 Về Quản lý tài chính công: 123

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 123

CHƯƠNG 3 126

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CỔ PHẤN HOÁ THEO HƯỚNG THÀNH LẬP CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 126

Trang 8

3.1 PHƯƠNG HƯỚNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CỔ PHÀN HÓA THEO

HƯỚNG THÀNH LẬP CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 128

3.1.1 Quan điểm phát triển Việt Nam đến 2020 129

3.1.2 Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 131

3.1.2.1 Về cổ phần hoá theo hướng thành lập các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam 136 3.1.3.2 Xu hướng phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam: 144

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CÓ TÍNH ĐỊNH HƯỚNG CHO VIỆC THÀNH LẬP CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ TỪ VIỆC CỔ PHẦN HÓA CÁC TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC 149

3.3 CÁC GIẢI PHÁP CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CỔ PHẦN HÓA THEO HƯỚNG HÌNH THÀNH CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM.150 3.3.1 Xây dựng và ban hành đồng bộ các chính sách và pháp luật về quản lý nhà nước đối với cổ phần hóa theo hướng thành lập các tập đoàn kinh tế 151 3.3.2 Hoàn thiện tổ chức bộ máy 164

3.3.3 Củng cố, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức 165

3.3.3.1 Công tác tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ quản lý tập đoàn kinh tế 166

3.3.3.2 Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cán bộ 166

3.3.4 Những giải pháp đổi mới công cụ quản lý nhà nước 167

3.3.4.1 Về nâng cao tính tự chủ về vốn của các doanh nghiệp cổ phần hóa, của các tập đoàn kinh tế 167

3.3.4.2 Hoàn thiện chính sách tài chính, tiền tệ 169

3.3.4.3 Xác định cơ cấu quản lý đối với các công ty cổ phần trong các tập đoàn kinh tế: 171

3.4 TĂNG CƯỜNG KIỂM TRA GIÁM SÁT 173

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 175

KHUYẾN NGHỊ 176

KẾT LUẬN 185

TÀI LIỆU THAM KHẢO 188

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Trong những năm qua, thực tiễn của quá trình cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã khẳng định CPH DNNN là một giải pháp cơ bản để tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả DNNN, đổi mới khu vực kinh tế nhà nước (NN), góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đổi mới DNNN, trong đó CPH là trọng tâm, đã được khẳng định là một bộ phận của công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam Đổi mới DNNN từ nay trở đi không còn chỉ là tái cơ cấu khu vực kinh tế NN mà còn thực hiện nhiệm vụ dẫn dắt khu vực kinh tế NN làm nòng cốt trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế, trở thành công cụ vật chất then chốt để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đồng thời thực hiện nhiệm vụ định hướng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (XHCN) Để thực hiện được những mục tiêu trên, nhất là trong bối cảnh số lượng DNNN phải CPH còn nhiều, quy mô, tính chất của các DNNN phải CPH phức tạp hơn trước nhiều, công cuộc CPH DNNN trong thời gian tới phải hướng tới việc hình thành các Công ty cổ phần (CTCP) có vốn lớn đủ sức cạnh tranh với các công ty và các tập đoàn kinh tế (TĐKT) nước ngoài, việc CPH các tổng công ty (TCT) lớn (các TCT 90, 91) là xu hướng tất yếu

từ việc CPH các TCT này sẽ hình thành các TĐKT đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ là những DN làm nòng cốt định hướng cho sự phát triển

Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương chính sách thực hiện việc CPH DNNN cũng như việc hình thành các TĐKT của nước ta Bối cảnh nền kinh tế Việt Nam tham gia hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới là yêu cầu khách quan của việc phải cơ cấu lại sâu rộng hơn nữa khu vực DNNN, tiến tới xóa bỏ những bao cấp, đặc quyền của khu vực DNNN nhằm đáp ứng đòi hỏi của việc mở cửa hơn nữa nền kinh tế, gia nhập WTO, thực thi các cam kết quốc tế và khu vực Tuy nhiên thực tế hiện nay cho thấy việc CPH các công ty và TCT lớn của NN là vấn đề rất khó khăn, việc thị trường chứng

Trang 10

khoán (TTCK) bị sụt giảm làm cho tính thanh khoản và định giá của các công ty và TCT lớn khi tham gia thị trường là vấn đề đang gây cản trở to lớn cho việc thực hiện lộ trình cổ phần hoá, các TĐKT của nước ta mới thành lập đã gặp nhiều khó khăn về vốn khi TTCK là kênh cung cấp tài chính cho các tập đoàn đang khó khăn, do vậy việc NN thực hiện các chủ trương, chính sách kích cầu cho TTCK để thúc đẩy việc CPH các công ty lớn và các TCT

NN hình thành một thị trường vốn lớn cho việc hình thành các TĐKT ở nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Hơn nữa việc Vinashin mất khả năng trả nợ buộc chính phủ phải cơ cấu lại, vấn đề quản lý các TĐKT và việc CPH theo hướng thành lập các TĐKT là điều cấp thiết cả lý luận và thực tiễn

Tác giả là cán bộ nhiều năm công tác quản lý ở các doanh nghiệp nhà nước, đã tiếp cận nhiều với thực tế và có những kinh nghiệm nhất định về

quản lý nhà nước các doanh nghiệp nhà nước, nên chọn vấn đề “ Quản lý nhà nước về Cổ phần hóa theo hướng thành lập các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài Luận án tiến sỹ quản lý hành chính công

Việc nghiên cứu đề tài giải quyết được những vấn đề lý luận và thực tiễn bức xúc đặt ra hiện nay ở nước ta, phù hợp với chuyên ngành quản lý hành chính công, và hơn nữa cho phép tác giả kết hợp lý thuyết trong học tập, nghiên cứu với hoạt động thực tiễn của bản thân

2 Mục đích nghiên cứu của Luận án

Mục đích nghiên cứu của luận án là đóng góp xây dựng hệ thống cơ

sở lý luận về QLNN đối với CPH các DN và quá trình hình thành các TĐKT Trên cơ sở đó phân tích thực trạng QLNN đối với CPH theo hướng thành lập các TĐKT hiện nay, đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước (QLNN) đối với CPH theo hướng thành lập các TĐKT đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới của đất nước trong thời kỳ hội nhập sâu rộng

Trang 11

3 Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án

- Xây dựng hệ thống cơ sở lý luận có liên quan đến nội dung và phương pháp QLNN đối với CPH theo hướng thành lập các TĐKT ở nước ta

- Phân tích thực trạng QLNN về CPH theo hướng thành lập các TĐKT

- Đề xuất những giải pháp QLNN về CPH theo hướng hình thành các TĐKT mạnh ở Việt Nam đáp ứng trọng trách dẫn dắt nền kinh tế và hội nhập

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án

- Đối tượng nghiên cứu của Luận án:

Quá trình CPH các DNNN, QLNN đối với CPH theo hướng hình thành các TĐKT trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta

- Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu về CPH và việc hình thành các TĐKT, QLNN đối với CPH theo hướng hình thành các tập đoàn kinh tế này ở tầm vĩ mô Chỉ nghiên cứu hình thành các TĐKT nhà nước Phạm vi nghiên cứu xét trong toàn quốc từ sau năm 2001 Đề tài tập trung vào các chủ trương, chính sách, cũng như các giải pháp ở tầm vĩ mô về QLNN đối với CPH theo hướng hình thành các TĐKT Đề tài sẽ không chủ yếu nghiên cứu quản lý cụ thể trong nội bộ một tập đoàn (quản lý ở tầm vi mô)

5 Phương pháp nghiên cứu của Luận án

Phương pháp luận: Phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, trên cơ sở nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp tổng hợp: Để hệ thống hoá các tài liệu, số liệu thứ cấp phục vụ cho việc xây dựng cơ sở lý luận, góp phần phân tích thực trạng cổ phần hoá, quá trình hình thành các TĐKT ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

và xác định chủ trương chính sách của Đảng và NN các định hướng phát triển các TĐKT trong thời kỳ hội nhập của Việt Nam

Trang 12

- Phương pháp phi thực nghiệm: Phương pháp thu thập thông tin được thực hiện bởi những quan sát, khảo sát thực tế, từ các công ty thực hiện CPH cũng như các TĐKT đã hình thành trong giai đoạn hiện nay nhằm thu thập các thông tin sơ cấp góp phần phân tích và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến tiến trình CPH và quá trình hình thành các TĐKT ở Việt Nam

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp

và nghiên cứu các báo cáo chuyên đề để thu thập các ý kiến từ phía các chuyên gia trong lĩnh vực CPH và hình thành các TĐKT trên thế giới và nước ta nhằm góp phần phân tích và nhận định chính xác đầy đủ hơn về thực trạng, nguyên nhân làm chậm tiến trình CPH và việc hình thành các TĐKT ở Việt Nam

- Phương pháp so sánh, phân tích: Để có những nhận định xác đáng

và khách quan ngoài việc so sánh, phân tích tình hình CPH từ năm 1992 đến nay, Luận án còn phân tích các số liệu, dữ liệu để so sánh tiến trình CPH của nước ta với một số nước như Trung Quốc, Hunggari và việc hình thành các TĐKT ở một số nước có điều kiện gần giống với Việt Nam

- Phương pháp khái quát hoá: Quá trình CPH để hình thành các TĐKT chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố chủ quan cũng như khách quan; đồng thời cũng biểu hiện thông qua nhiều chỉ tiêu khác nhau; tuy nhiên Luận

án chỉ khái quát hoá một số nhân tố ảnh hưởng và chỉ tiêu biểu hiện cơ bản làm tiền đề cho việc đánh giá tiến trình CPH theo hướng thành lập các TĐKT ở Việt Nam và khẳng định cổ phần hóa theo hướng thành lập các TĐKT là khách quan

6 Những đóng góp mới của luận án

6.1 Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về CPH theo hướng hình thành các TĐKT ở Việt Nam; đưa ra quan niệm về CPH theo hướng thành lập các TĐKT; khẳng định sự cần thiết khách quan nhà nước quản lý CPH theo hướng hình thành các TĐKT ở Việt Nam; xây dựng một cách hệ thống các nội dung QLNN về CPH theo hướng hình thành các TĐKT ở Việt Nam

Trang 13

hiện nay (về thể chế, về tổ chức bộ máy, về đội ngũ cán bộ công chức, về giám sát, kiểm tra )

6.2 Luận án đã làm rõ sự cần thiết phải nâng cao năng lực quản lý của nhà nước đối với quá trình CPH theo hướng hình thành các TĐKT; phản ánh được bản chất, đặc điểm và hình thức biểu hiện của các tập đoàn kinh tế nói chung, tập đoàn kinh tế Việt Nam nói riêng Từ đó phát hiện và phân tích sâu sắc những tồn tại bất cập, hạn chế trong cơ chế, chính sách, khuôn khổ pháp luật cho việc hình thành các TĐKT như: địa vị pháp lý; chế độ tài chính; mô hình quản lý cũng như các mối quan hệ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ các thành viên trong tập đoàn

6.3 Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động của quá trình CPH theo hướng hình thành các TĐKT Luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN về cổ phần hóa theo hướng thành lập các TĐKT ở Việt Nam hiện nay Bao gồm: (a) Triệt để tách biệt chức năng thực hiện các quyền chủ sở hữu với chức năng quản lý hành chính NN theo quy định của Luật doanh nghiệp; (b) Tăng cường cơ chế giám sát và tổ chức thực hiện giám sát của các cơ quan QLNN về sử dụng vốn, tài sản NN đối với tập đoàn, TCT; (c) Xây dựng một hệ thống tiêu chí an toàn về mặt tài chính trong hoạt động sản xuất - kinh doanh để làm cơ sở cho giám sát, QLNN tại các tập đoàn, TCT; (d) Phân công, phân cấp rõ trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ

sở hữu NN đối với tập đoàn, TCT (d.1.)Xác định đầy đủ vai trò và trách nhiệm của các bộ, ban, ngành, UBND trong quản lý, giám sát việc sử dụng vốn, tài sản tại các tập đoàn, TCT

7 Kết cấu của Luận án

Ngoài các phần lời cảm ơn, mục lục, lời nói đầu, các ký hiệu viết tắt, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, Luận án gồm 187 trang, bố cục thành

3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về cổ phần hoá theo hướng thành lập các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Trang 14

Chương 2: Thực trạng về quản lý nhà nước theo hướng thành lập các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm thực hiện quản lý nhà nước về cổ phần hoá theo hướng thành lập các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Trang 15

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

Việc CPH DNNN là trọng tâm của quá trình đổi mới DN, đây là vấn

đề hết sức quan trọng là cơ sở cơ bản cho quá trình hình thành các TĐKT và

là vấn đề hết sức cần thiết ở tất cả các quốc gia Vì vậy trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này

Tình hình nghiên cứu trong Học viện Hành chính quốc gia:

- Mô hình TĐKT trong CNH-HĐH (2002) tác giả Vũ Huy Từ (chủ biên), NXB Chính trị quốc gia Trong công trình này tác giả khẳng định quá trình CNH-HĐH đất nước đòi hỏi nền kinh tế phải có các TĐKT, phải xây dựng được các TĐKT

- Luận văn: Đổi mới quản lý đối với TCT NN theo hướng hình thành các TĐKT của tác giả Nguyễn Thị Ngân, Học viện hành chính quốc gia (2004) Tác giả luận văn đã chỉ ra tính tất yếu khách quan đổi mới QLNN đối với Tổng CT 90-91, theo hướng sẽ chuyển các TCT NN sang mô hình CTM-CTC và hình thành các TĐKT

- Luận văn: Tăng cường QLNN nhằm thúc đẩy các TCT NN sang hoạt động theo mô hình CTM - CTC của tác giả Lê Cao Thế, Học viện hành chính quốc gia (2006)

- Hội thảo: “QLNN đối với các TĐKT ở Việt Nam” do Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội tổ chức Trong đó tác giả luận án có bài tham

luận: “Bàn về vấn đề tích tụ và tập trung vốn điều kiện hình thành các TĐKT

ở Việt Nam” (3/2010)

- Tọa đàm với chủ đề: “Các biện pháp nâng cao hiệu quả nền kinh tế

NN từ việc hình thành các TĐKT ” do Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Hà Nội

tổ chức và tác giả luận án chủ trì (2010)

- Luận án tiến sỹ: " CPH các doanh nghiệp nhà nước là tiền đề thiết lập nền kinh tế thị trường Việt Nam" ( năm 2001) tác giả Trịnh Thị Thu Hương

Trang 16

Tình hình nghiên cứu ngoài Học viện Hành chính:

- "Thành lập và quản lý các TĐKT ở Việt Nam" (1996) tác giả Nguyễn Đình Phan, NXB Chính trị quốc gia

- "Thận trọng với việc thành lập các tập đoàn kinh tế" Thủ tướng Võ Văn Kiệt

- "Tập đoàn kinh tế Việt Nam - hiện trạng và xu hướng phát triển" Viện Nghiên cứu kinh tế Việt Nam

- "Thực trạng hoạt động của các tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam và định hướng phát triển"

Còn nhiều bài báo, tạp chí cũng như các công trình nghiên cứu về đề tài về CPH, về TĐKT, về sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước, về quản

lý nhà nước các TĐKT, quản lý nhà nước các tổng công ty nhà nước, các công ty cổ phần có vốn góp của nhà nước, công ty TNHH nhà nước một thành viên , nhưng các công trình và đề tài đó chưa có đề tài nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và hệ thống về QLNN đối với CPH theo hướng hình thành các TĐKT, từ lý luận và thực tiễn phù hợp với điều kiện Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Tình hình nghiên cứu của bản thân nghiên cứu sinh: Ngoài các bài báo nghiên cứu khoa học và tham luận hội thảo khoa học nêu trên, tác giả còn tham gia và chủ trì nhiều đề tài, chuyên đề, đề án cấp Thành phố và của

cơ quan như: Đề án thành lập các TCT Du Lịch, TCT Vận tải Hà Nội, TCT Đầu tư và Phát triển hạ tầng, TCT Thuơng mại Hà Nội và Thành lập các Khối DN Hà Nội

Tất cả các công trình nghiên cứu trước đây đều nghiên cứu trên các giác độ: Cổ phần hóa DNNN, sự hình thành nền kinh tế thị trường Việt Nam

từ CPH, sự chuyển đổi các TCT NN sang mô hình CTM-CTC, các TĐKT

VN, QLNN các nội dung đó, QLNN đối với CPH, QLNN đối với các TĐKT, QLNN quá trình chuyển đổi xắp xếp các DNNN, QLNN nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, QLNN quá trình chuyển TCT 90-91 sang Mô

Trang 17

hình CTM-CTC và TĐKT Nhưng kết nối quá trình CPH DN để hình thành các TĐKT NN thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến một cách

hệ thống và nhất là tiếp cận trên giác độ quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước đối với cổ phần hoá theo hướng hình thành các tập đoàn kinh tế là quá trình đổi mới một cách toàn diện luật pháp, chính sách và cách thức tác động vĩ mô của chính phủ đối với cổ phần hoá và quá trình hình thành các tập đoàn kinh tế nhằm đạt được các định huớng và mục tiêu phát triển của nền kinh tế

Quá trình cải cách hệ thống quản lý nhà nước về doanh nghiệp đã được triển khai mạnh mẽ ở các nước trên thế giới từ cuối những năm 70 và đầu những năm 80 Đến nay, Chính phủ đã nhận thấy sự cần thiết phải đổi mới việc quản lý đối với doanh nghiệp Lý do quan trọng nhất của việc này

là do sự can thiệp quá mức nhiều khi phi kinh tế có tính chất hành chính của Chính phủ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp làm cho chúng mất quyền chủ động sáng tạo, tạo tâm lý trông chờ ỷ lại vào Nhà nước, thủ tiêu cơ chế cạnh tranh trong doanh nghiệp, dẫn đến hệ thống doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả và kìm hãm sự phát triển nền kinh tế quốc dân Sự cần thiết phải đổi mới QLNN về doanh nghiệp là cấp thiết, ở các quốc gia khác nhau, do yếu tố lịch sử, do những điều kiện về chính trị - kinh tế - xã hội, nhận thức, quan niệm về xây dựng và phát triển nền kinh tế

là khác nhau, do đó, việc đổi mới quản lý nhà nước trong khu vực doanh nghiệp ở từng nước, trong từng thời kỳ cũng khác nhau, và có những lý do

cụ thể khác nhau

Ở Việt Nam, QLNN đối với DNNN đã được Đảng và Nhà nước chú

ý quan tâm trong quá trình đổi mới, việc thực hiện cổ phần hoá và sự cần thiết phải hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh đã được Nhà nước đặt biệt quan tâm

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CỔ PHẦN HOÁ THEO HƯỚNG THÀNH LẬP CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.1 TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế

Tập đoàn kinh tế nhà nước, trên đây gọi tắt là tập đoàn kinh tế cho phù hợp với đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Theo Nghị định số 101/2009/NĐ-CP ngày 05/11/2009 của Chính phủ

về thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế nhà

nước, TĐKT nhà nước được định nghĩa như sau: “Tập đoàn kinh tế nhà nước là nhóm công ty có quy mô lớn liên kết dưới hình thức công ty mẹ - công ty con và các hình thức khác, tạo thành tổ hợp các doanh nghiệp gắn bó chặt chẽ và lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác”[38]

Có nhiều quan niệm khác nhau về TĐKT Nhưng theo cách chung

nhất, TĐKT có thể được hiểu là một cơ cấu sở hữu, tổ chức và kinh doanh

đa dạng, có quy mô lớn Nó vừa có chức năng sản xuất, vừa có chức năng liên kết nhằm tăng cường khả năng tích tụ, tập trung cao các nguồn lực ban đầu (vốn, sức lao động, công nghệ…) để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường nhằm tối đa hoá lợi nhuận Theo các tác giả của cuốn sách “Thành lập và quản lý các tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam” được xuất bản năm

1996, “Tập đoàn kinh tế là pháp nhân kinh tế do Nhà nước thành lập gồm nhiều doanh nghiệp thành viên có quan hệ với nhau về sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và tài chính trên quy mô lớn” Từ điển Thương mại Anh - Pháp - Việt định nghĩa tập đoàn kinh tế (group) là thực thể kinh tế gồm một công ty

“mẹ” và các công ty khác mà nó kiểm soát hay tham gia trong đó Mỗi công

ty trong đó có thể kiểm soát hoặc tham gia vào các công ty khác nữa Theo tác giả Phan Quang Trung (trong báo cáo chuyên đề về tập đoàn kinh tế):

“Tập đoàn kinh tế là một thực thể kinh tế thực hiện sự liên kết giữa các đơn

Trang 19

vị thành viên là các doanh nghiệp có quan hệ với nhau về công nghệ và lợi ích kinh tế”

Tính tất yếu khách quan và mục đích của việc hình thành các tập đoàn kinh tế: Việt Nam đang trên con đường phát triển và hội nhập mạnh

mẽ vào nền kinh tế quốc tế một cách toàn diện và bình đẳng Chúng ta đang từng bước gỡ bỏ hàng rào về hành chính, thuế quan… Các DN của Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh bình đẳng với các TĐKT (tập đoàn kinh tế) đa quốc gia hùng mạnh trên thế giới đặc biệt là sau khi chúng ta gia nhập

tổ chức thương mại Thế giới (WTO) Thực tế, kinh nghiệm các nước cho thấy những TĐKT mạnh ở cả khối kinh tế NN và kinh tế tư nhân sẽ là “đội quân chủ lực” đảm bảo quá trình hội nhập thành công Sự phát triển các TĐKT là tất yếu của quá trình hợp tác phát triển các loại hình DN, các mối quan hệ hợp tác đầu tư trên cơ sở nhu cầu phát triển thị trường và hội nhập

kinh tế quốc tế

TĐKT (tập đoàn kinh tế) là một tổ hợp các DN (doanh nghiệp) gồm CTM (công ty mẹ), các CTC (công ty con ) và các DN liên kết khác CTM là hạt nhân của TĐKT, là đầu mối liên kết các DN thành viên, DN liên kết với nhau, nắm quyền kiểm soát, chi phối các quyết sách, chiến lược phát triển nhân sự, chi phối hoạt động của các thành viên Bản thân tập đoàn không có

tư cách pháp nhân chỉ CTM, CTC, các DN liên kết mới có tư cách pháp nhân Các tập đoàn có thể hoạt động trong một hay nhiều lĩnh vực khác nhau Các DN thành viên và các DN liên kết có quan hệ với nhau về vốn, đầu tư, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các DN tham gia liên kết

Do quá trình hội nhập của nước ta vào nền kinh tế thế giới nên việc

tổ chức sắp xếp các DN nhỏ, manh mún thành những DN lớn để đủ khả năng đối tác cũng như cạnh tranh với DN nước ngoài, tăng cường vị trí của DN

NN trong việc bảo đảm vai trò chủ đạo, dẫn dắt các DN thuộc các thành phần kinh tế khác hoạt động theo định hướng XHCN, và các tập đoàn hoạt

Trang 20

động có hiệu quả sẽ làm nòng cốt trong nền kinh tế XHCN Do nền kinh tế hội nhập sẽ phải chấp nhận cạnh tranh, cạnh tranh tất yếu dẫn đến tích tụ và tập trung vốn vì vậy tất yếu sẽ hình thành DN lớn, các TĐKT thực sự vững mạnh có đầy đủ các phẩm chất thương mại và thị trường

Song khác với các TĐKT thế giới, hầu hết đều đi từ các các công ty nhỏ, hoạt động rất hiệu quả, tích tụ vốn và phát triển quy mô dần trở thành các tập đoàn khổng lồ, các TĐKT Việt Nam được thành lập dựa trên các TCT có quy mô chưa lớn, yếu kém trong quản lý, đang trong quá trình xóa

bỏ bao cấp, độc quyền, các vị trí chủ chốt chưa được bổ nhiệm theo hướng đặt mục tiêu kinh tế là quan trọng nhất, không dựa trên năng lực quản trị kinh doanh Vì vậy các TĐKT hiện nay vẫn chưa khẳng định và phát huy được vai trò của mình trong việc ổn định nền kinh tế còn non trẻ nước ta mà vẫn còn trông chờ vào sự bảo hộ của Chính phủ

Tuy nhiên việc thành lập các TĐKT vẫn phải tiến hành và có vai trò then chốt trong nền kinh tế NN, nó sẽ là công cụ điều tiết thị trường, đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế, thể hiện vai trò năng lực của hoạt động quản

tranh và hiệu quả hoạt động của DN

1.1.2 Vai trò của tập đoàn kinh tế

a.Tập trung và huy động các nguồn lực hình thành nhóm công ty có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, cần phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 21

b Giữ vai trò đảm bảo các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân, ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế

c Thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, phát triển các thành phần kinh tế khác

d Tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả đối với vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trong tập đoàn

e Tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật về TĐKT Mục tiêu thành lập các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam: thành lập các tập đoàn kinh tế Nhà nước ở nước ta là cần thiết, là một tất yếu trong tiến trình đổi mới kinh tế, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, mở cửa với thế giới bên ngoài, chủ động và tích cực đẩy mạnh hội nhập quốc tế, đặc biệt là hội nhập kinh tế quốc tế Chủ trương của Đảng và quyết sách của Nhà nước về việc xây dựng các tập đoàn kinh tế Nhà nước thành các tập đoàn mạnh, làm nòng cốt của kinh tế Nhà nước, tạo

ra sức mạnh vật chất - kinh tế để kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo dẫn dắt sự phát triển kinh tế ở nước ta được thực tiễn xác nhận là một chủ trương đúng, một quyết sách kịp thời

1.1.3 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế

Các TĐKT trên thế giới và Việt Nam có những đặc điểm chủ yếu sau:

a Có quy mô lớn về vốn, lao động, doanh thu và phạm vi hoạt động TĐKT là một mô hình tiêu biểu về sự tích tụ và tập trung vốn, tạo thành sức mạnh và hiệu quả kinh tế nhờ quy mô TĐKT là tổ chức kinh tế có khả năng phát triển cao về lực lượng sản xuất, tiềm lực lớn về tài chính, đặc biệt có khă năng phát huy sức mạnh nguồn nhân lực bằng những động lực và biện pháp thiết thực, tạo khả năng cạnh tranh vượt trội so với các doanh nghiệp riêng lẻ

Yếu tố rất quan trọng đối với tập đoàn đó là lao động Lực lượng lao động trong tập đoàn không chỉ lớn về số lượng, mà còn phải mạnh về chất lượng Lực lượng lao động trong các tập đoàn kinh tế được tuyển chọn, đào

Trang 22

tạo, đánh giá, sử dụng, đãi ngộ và đào thải theo những tiêu chuẩn và các quy trình nghiêm ngặt

Phạm vi hoạt động của các tập đoàn kinh tế rất rộng, không chỉ trong một quốc gia, mà còn mang tính toàn cầu Với chiến lược cạnh tranh, chiếm lĩnh và khai thác thị trường, các tập đoàn kinh tế mở rộng quy mô bằng việc cắm nhánh ra nước ngoài, tăng cường hợp tác, liên kết và phân công lao động quốc tế Vì vậy, ngày nay các tập đoàn lớn có hàng trăm, hàng nghìn cơ sở hoạt động trên thế giới

b Hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực

Việc lựa chọn lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn hoạt động có lợi nhuận cao là đòi hỏi cấp thiết của các tập đoàn kinh tế bên cạnh việc duy trì lĩnh vực, ngành nghề về địa bàn truyền thống Lịch sử đã chứng minh, ban đầu hầu hết các tập đoàn kinh tế xuất phát từ sở hữu nhà nước thuộc các lĩnh vực sản xuất và thương mại, sau đó chúng có xu hướng mở rộng tư nhân hoá và dần chuyển sang các lĩnh vực khác như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, nghiên cứu khoa học…Xu hướng chung là các tổ chức tài chính, ngân hàng

và nghiên cứu khoa học ngày càng được các tập đoàn chú trọng vì nó là đòn bẩy tạo lên sự phát triển của tập đoàn Mục đích hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực của các tập đoàn kinh tế là phân tán rủi ro, mạo hiểm vào các ngành, các lĩnh vực và các địa bàn khác nhau, giúp cho hoạt động của tập đoàn luôn được bảo toàn và hiệu quả cao, đồng thời tận dụng được cơ sở vật chất, nguồn nhân lực

c Đa dạng về cơ cấu tổ chức và sở hữu

Ban đầu phần lớn các TĐKT đều thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế như điện, thép, dầu hoả, sản xuất vũ khí… sau đó, do tính kém hiệu quả, các TĐKTNN được chuyển dần sang mô hình tư nhân hoá, cổ phần hóa

Các tập đoàn đều có nhiều thành viên là các công ty, xí nghiệp và chi nhánh tham gia với nhiều công ty lớn làm trụ cột và người đứng đầu (hoặc tổ chức đứng đầu) công ty đó thường nắm giữ một số cổ phiếu (hoặc tài sản)

Trang 23

lớn nhất trong tập đoàn, chi phối các quyết định quan trọng trong tập đoàn

Tổ chức đứng đầu đó có thể là một công ty tài chính hoặc ngân hàng lớn để huy động và đầu tư cho các công ty thành viên theo các dự án phát triển, đồng thời giữ vai trò chi phối, kiểm soát các công ty thành viên

Về sở hữu, các TĐKT hầu hết là đa sở hữu Công ty mẹ thông thường là CTCP Các CTC có thể là cổ phần, có thể một chủ sở hữu của CTM hoặc dưới dạng khác

Các tập đoàn thành viên có thể phối hợp với nhau theo kiểu liên kết dọc hoặc liên kết ngang, hoặc chỉ giới hạn trong một chuyên ngành nào đó Trong cơ cấu tổ chức, các tập đoàn đều thực hiện quản lý theo đa khối (Multidivision Form hay M - Form) Mô hình tổ chức M – Form là kết quả của hoạt động của tập đoàn trong quá trình mở rộng, đa dạng hoá về quy mô, sản phẩm và thị trường

d Các TĐKT thường có trung tâm nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ (R & D Centre) Trung tâm này có các công ty “con” nằm trong các công ty thành viên của tập đoàn Các trung tâm nghiên cứu của tập đoàn

có vai trò phát triển và định hướng các công nghệ, các lĩnh vực, các sản phẩm cần đầu tư, phát triển trong thời gian tới đối với tập đoàn Mặt khác, các trung tâm này còn là nơi đào tạo nguồn nhân lực cho tập đoàn

e TĐKT được tổ chức, quản lý, hoạt động theo thứ bậc rõ ràng và được điều hành tập trung

Các vấn đề quan trọng, chiến lược được điều hành bởi công ty mẹ Mối liên hệ giữa công ty mẹ và các công ty thành viên được thông qua các nguyên tắc: lợi thế cổ phần, lợi thế công nghệ và lợi thế nguồn nhân lực

Đặc điểm của các TĐKT trên thế giới và tại Việt Nam

Trên thế giới:

Khi chưa thống nhất về khái niệm, mô hình và các tiêu chí của TĐKT, đặc điểm của chúng sẽ là căn cứ nhằm làm rõ mô hình kinh doanh này Đặc điểm của các TĐKT có thể khắc họa trên những nội dung sau:

Trang 24

Thứ nhất, quan hệ sở hữu hỗn hợp:

Khi nhìn nhận về TĐKT từ phía chủ sở hữu, ta sẽ không có tiêu chí

cụ thể để nhận diện hay phân loại TĐKT mà chúng thường hoạt động và tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau: sở hữu NN, gia đình, cổ phần … Trên thế giới hiện nay vẫn tồn tại mô hình tập đoàn thuộc sở hữu NN hoặc NN chiếm

sở hữu áp đảo như Tập đoàn Petronas (Malaixia), Temasek (Singapore), BP (Anh), Credit Lyonnais (Pháp)… Nhìn chung, hầu hết các TĐKT trên thế giới là sở hữu hỗn hợp Tính chất đa sở hữu của các tập đoàn trên thế giới hiện nay phản ánh quá trình phát triển của mô hình kinh doanh với hình thức TĐKT khi mà qui mô sản xuất lớn đòi hỏi lượng vốn khổng lồ

Thứ hai, liên kết vốn mang tính phổ biến, chi phối các liên kết khác:

Đặc trưng nổi bật nhất của các TĐKT là hình thức liên kết và sự thôn tính các chủ thể nhỏ tạo thành một tập thể các cá thể lớn hơn, trong đó liên kết về vốn mang tính phổ biến hơn cả Trong các tập đoàn sự liên kết có thể giữa những đơn vị cùng ngành, giữa những ngành khác nhau thì là liên kết

đa ngành Cụ thể hơn, liên kết cùng ngành là sự phối hợp, hợp tác gắn bó giữa những DN cùng ngành, lĩnh vực trên một số nội dung nhất định nhằm tăng qui mô hoạt động, giảm chi phí, mở rộng năng lực sản xuất… Liên kết

đa ngành là sự hợp tác giữa các DN thuộc các ngành khác nhau nhằm bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau cho quá trình sản xuất hay phát triển những sản phẩm mới cần tới sự hợp tác đa ngành Việc liên kết đa ngành là sự thiết lập mối quan hệ tương hỗ giữa nhiều ngành, nhiều lĩnh vực nhằm bổ sung, phát huy những lợi thế, hoàn thiện qui trình sản xuất hay nâng cao năng lực trong từng khâu của qui trình … tạo ra những quy trình sản xuất ngày càng hoàn thiện từ khâu nghiên cứu triển khai đến sản xuất, phân phối

Tương ứng với từng mối quan hệ liên kết là những cấp độ khác nhau,

có thể là liên kết chặt chẽ lâu bền hay chỉ mang tính thời vụ nhất định tuỳ thuộc lĩnh vực liên kết và mục đích của các bên tham gia Trong các mối quan hệ liên kết thì mối liên kết về vốn giữa CTM và các CTC là quan hệ mang tính chất nền tảng của TĐKT Các đối tượng tham gia liên kết do xuất

Trang 25

phát từ nhu cầu tự thân là chính, chiến lược chung của tập đoàn tạo ra những tiền đề cho các liên kết kinh tế nhưng mối liên kết khó có thể thực hiện bằng những quyết định hành chính Điều ràng buộc các mối liên kết này chủ yếu thể hiện ở tính lợi ích mà mỗi bên đem lại cho nhau Tùy thuộc vào tính chất liên kết của các mối quan hệ hoặc mức độ đóng góp của từng bên mà quyền hạn sẽ được thống nhất phân chia Nếu giữa các công ty hợp tác góp vốn, góp công nghệ hay CTM đầu tư, góp vốn ở các CTC thì quyền hạn và trách nhiệm được qui định bởi tỷ lệ vốn góp của từng bên Bên cạnh đó, với nguồn vốn khổng lồ các TĐKT còn thường xuyên có mối liên kết với các DN khác thông qua vốn góp của CTM với tỷ lệ chưa đủ mức chi phối (cổ đông thông thường) hoặc tạo những liên kết ngoài vốn với các DN độc lập, tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh như gia công, phân phối …

Thứ ba, có qui mô lớn về vốn, doanh thu, lao động:

Mỗi TĐKT đều có qui mô riêng, tuỳ thuộc ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, thời điểm khác nhau và quốc gia khác nhau Nói đến TĐKT là người

ta nghĩ tới ngay một khối các công ty kinh doanh hợp tác, liên kết với qui

mô vốn lớn, mặc dù không có tiêu chí đánh giá qui mô vốn, doanh thu, lao động, nhưng đôi khi giá trị thị trường của các TĐKTcó khi lớn hơn cả tổng sản phẩm quốc nội của một quốc gia Cụ thể:

- Tập đoàn Wal-Mart có tổng số 2.055.000 nhân viên Tổng tài sản của Wal-Mart là 163,514 tỷ USD

- Tập đoàn Exxon Mobil có 107.100 nhân viên Tổng tài sản của Exxon trong là 242,082 tỷ USD

- Tập đoàn này Royal Dutch Shell có 104.400 nhân viên, Tổng tài sản của Shell đạt con số 269,470 tỷ USD

- Tập đoàn BP có 97.600 nhân viên Tổng tài sản của BP tính đến cuối năm là 236,076 tỷ USD

- Tập đoàn Toyota có 316.121 nhân viên Tổng tài sản của Toyota là 326,099 tỷ USD

Trang 26

Điểm quan trọng là khi xác định qui mô vốn của một DN lớn, của một TĐKT là cơ cấu hợp thành giá trị Ngoài vốn cố định, vốn lưu động, vốn nhân lực … còn một bộ phận quan trọng là giá trị thương hiệu Ở một số tập đoàn, giá trị thương hiệu có khi chiếm đến trên 50% tổng giá trị thị trường nhưng lại không nằm trong sổ sách của tập đoàn

Đặc điểm dễ nhận thấy của TĐKT là doanh thu lớn và hoạt động với quy mô lớn Nhiều tập đoàn với qui mô kinh doanh toàn cầu, chi nhánh ở hàng trăm quốc gia nên doanh thu khổng lồ, chẳng hạn tập đoàn Exxon Mobil, năm 2007 doanh thu đạt mức 372,824 tỷ USD, tập đoàn Wal-Mart Stores đạt 351,139 tỷ USD (trích nguồn tin: VnEconomy / Fortune) Trong tốp

500 công ty hàng đầu dựa trên doanh thu năm 2008 được tạp chí Fortune bình chọn, tập đoàn Nike có doanh thu thấp nhất, đứng thứ 500 cũng đạt doanh thu lên tới 13,739 tỷ USD Trong bối cảnh kinh doanh hiện đại, hầu hết tất cả các TĐKT đều kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực, đa quốc gia với rất nhiều sản phẩm hàng hoá phong phú, hướng tới nhiều thành phần xã hội Chính sự hiểu biết và nguồn lực mạnh mẽ đã mang tới doanh thu khổng lồ cho các TĐKT

Riêng về tiêu chí lợi nhuận, một số nghiên cứu cho rằng tiêu chí lợi nhuận lớn là một đặc điểm cơ bản của tập đoàn bởi qui mô hoạt động, tiềm lực vốn lớn, kinh doanh đa ngành… Theo nhiều tác giả, không nên dùng tiêu chí lợi nhuận trong ngắn hạn (1-3 năm) bởi trong nền kinh tế thị trường, chuyện thua lỗ là bình thường và một tập đoàn có lợi nhuận âm trong vài ba năm cũng chưa nói lên điều gì, thậm chí đó còn có thể là chiến lược trong kinh doanh Chẳng hạn tập đoàn hùng mạnh General Motors năm 2006 bị thua lỗ 10,6 triệu USD nhưng vẫn đứng thứ 3 trong danh mục 500 công ty hàng đầu năm 2006 Có tập đoàn hai năm liên tiếp thua lỗ như Vodafone: Năm 2005 thua lỗ 13,910 triệu USD, năm 2006 tiếp tục lỗ 39,092 triệu USD nhưng vẫn có tên trong danh sách Theo xếp hạng năm 2008, hai tập đoàn ô

tô danh tiếng là General Motors và Ford Motor thua lỗ lần lượt là 38,723 tỷ USD và 2,723 tỷ USD nhưng vẫn được xếp hạng thứ 4 đối với General Motors và thứ 7 đối với Ford Motor

Trang 27

H1: Bảng xếp hạng 10 công ty lớn nhất thế giới năm 2007 và 2008

Năm 2007 Tên công ty Xếp hạng Doanh thu (tỷ

USD)

Lợi nhuận (tỷ USD)

Năm 2008 Tên công ty Xếp hạng Doanh thu (tỷ

USD)

Lợi nhuận (tỷ USD)

Trang 28

Mặc dù lợi nhuận không phải là tiêu chí đặc trưng của các tập đoàn, nhưng ngoài những số cá biệt, hầu hết các tập đoàn đều có lợi nhuận rất lớn với tốc độ tăng trưởng ngoạn mục, đồng thời nó làm nên sức mạnh, vị thế của mỗi tập đoàn trong môi trường cạnh tranh toàn cầu

Lực lượng lao động đông đảo về số lượng, trình độ cao cũng là một đặc điểm của tập đoàn Về số lượng, theo công bố của Fortune 2008, tập đoàn Wal-Mart Stores có trên 2 triệu lao động (2.055.000 người), tập đoàn McDonald’s có 390 ngàn người, Citigroup có 380.500 người hay General Elictric với 327 ngàn lao động Lực lượng lao động của các tập đoàn không giới hạn trong phạm vi quốc gia, lãnh thổ mà phân bố ở khắp nơi trên thế giới Microsoft, Coca-Cola, PepsiCo … là ví dụ tiêu biểu về tính đa sắc tộc,

đa quốc tịch, đa ngôn ngữ, nhiều màu da của đội ngũ lao động và cán bộ quản lý trong cơ cấu toàn tập đoàn Đội ngũ cán bộ quản lý trong các tập đoàn là những nhân vật xuất sắc, có ảnh hưởng to lớn không chỉ đến sự lớn mạnh của bản thân mỗi tập đoàn mà còn tác động đến nhiều lĩnh vực kinh tế

xã hội Nếu như Bill Gate, ông chủ của tập đoàn quyền lực Microsoft với cầu khẩu hiệu nổi tiếng “thế giới trên bàn phím” đã làm thay đổi cách thức làm việc, thói quen trong các giao dịch thông thường qua các sản phẩm phần mềm của mình với khoảng 95% máy tính cá nhân trên toàn thế giới đang sử dụng thì Jack Welch, nhà điều hành thiên tài của General Electric đã thay đổi thói quen sinh hoạt của các gia đình trên thế giới thông qua các sản phẩm của tập đoàn, hay Andrew Grove, hiện là Chủ tịch HĐQT của tập đoàn Intel với hơn 100 chi nhánh, bán hàng trên 30 quốc gia đã làm thay đổi thế giới qua bộ vi xử lý với xấp xỉ 90% máy tính cá nhân hiện đang sử dụng; với cái tên McĐonal’s, Raymond Kroc không chỉ biến bó thành thương hiệu đắt giá nhất thế giới trong ngành công nghiệp ăn uống mà hơn thế, ông đã xây dựng

“văn hoá ẩm thực, phong cách ẩm thực”, làm thay đổi phong cách ăn uống của một bộ phận lớn cư dân với chiến lược kết hợp toàn cầu hoá và địa phương hoá sản phẩm của mình

Trang 29

Thứ tư, tập đoàn không có tư cách pháp nhân, cơ cấu tổ chức phức tạp:

Tập đoàn là tổ hợp kinh doanh chứa đựng trong đó các DN có tư cách pháp nhân, nhưng bản thân tập đoàn lại không phải là một pháp nhân Luật DN năm 2005 của Việt Nam quan niệm TĐKT là nhóm công ty có quy

mô lớn Cũng chính vì không có tư cách pháp nhân nên tập đoàn không chịu trách nhiệm liên đới về mặt pháp lý trong quá trình hoạt động đối với các công ty thành viên Nghĩa là nếu có một công ty thành viên trong tập đoàn vi phạm pháp luật thì cũng sẽ không ảnh hưởng đến CTM và CTC khác dưới góc độ pháp lý CTM và các công ty thành viên tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình trước pháp luật, về các khoản đầu tư trong giới hạn nhất định theo điều lệ của mỗi tập đoàn và quyết định của HĐQT

Cơ cấu tổ chức của TĐKT khá đa dạng, không có khuôn mẫu thống nhất Cơ cấu tổ chức được xây dựng trên nền tảng văn hóa, đặc điểm ngành nghề kinh doanh, phong cách quản lý, chiến lược xây dựng và phát triển của mỗi tập đoàn Nhìn chung, cơ cấu tập đoàn thường có một CTM và các CTC, trong đó CTM thường đảm nhiệm các chức năng như phát triển thị trường, ứng dụng công nghệ mới, điều phối toàn tập đoàn vận động đến mục tiêu đã định sẵn thông qua chiến lược chung, qua tỷ lệ vốn góp hay những quan hệ khác Thông thường, các TĐKT thường được tổ chức theo 3 dạng

cơ cấu: (1) Cơ cấu tổ chức hình tháp: Đỉnh tháp là trung tâm quyền lực, điều hành mọi hoạt động của toàn tập đoàn, sự phát triển kéo dài theo nhánh (mở rộng đáy hình tháp) nhưng đảm bảo trật tự từ trên xuống (2) Cơ cấu tổ chức phân cấp: Các quan hệ thường được phân định và giới hạn theo cấp quản lý như cấp 1 chỉ quản lý cấp 2, cấp 2 chỉ quản lý cấp 3; cấp 1 không can thiệp, quản lý cấp 3 (3) Cơ cấu tổ chức mạng lưới: Các quan hệ đan xen, ban đầu

là một trung tâm, phát triển theo sơ đồ mạng, sau đó mỗi nhân tố trong mạng

có thể phát triển thành một trung tâm độc lập với đầy đủ các quan hệ như trong mạng lưới ban đầu

Trang 30

Thứ năm, phạm vi hoạt động rộng và kinh doanh đa ngành:

TĐKT có phạm vi hoạt động rộng, không chỉ giới hạn trong lãnh thổ quốc gia mà có thể phân bố ở nhiều quốc gia trên thế giới Mở rộng phạm vi

là chiến lược của hầu hết các tập đoàn trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt hiện nay, bởi qua đó, các tập đoàn tận dụng lợi thế về lao động, thị trường, tránh được hàng rào thuế quan, tìm được những thị trường giàu tiềm năng,

mở rộng thị trường cả đầu vào và đầu ra của sản phẩm Tập đoàn P&G có nhà máy sản xuất tại hơn 80 quốc gia trên thế giới, hơn 300 sản phẩm của tập đoàn này được tiêu thụ tại gần 200 nước Tập đoàn McDonald’s năm

2005 có trên 31.000 cửa hàng phân bố trên 121 quốc gia trên thế giới và mỗi ngày tập đoàn này phục vụ 46 triệu khách hàng đủ các màu da, ngôn ngữ với hơn 50 triệu cái bánh kẹp thịt kiểu Hamburger Đó là chưa kể đến hàng loạt các cửa hàng ăn nhanh được McDonald’s mua lại nhưng không đổi tên, chẳng hạn hệ thống cửa hàng Partner-Brands ở Mỹ hay Prêt à Manger ở Anh Tập đoàn Nokia năm 2004 đã cung cấp 200 triệu chiếc điện thoại trên toàn thế giới, mỗi năm Nokia phải mua, sản xuất và vận chuyển hơn 60 tỷ linh kiện sản xuất trên phạm vi toàn cầu

Kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực là đặc điểm dễ nhận thấy trong các TĐKT Thông thường, mỗi tập đoàn lựa chọn những ngành chủ chốt và những ngành mũi nhọn, bên cạnh đó, những lĩnh vực mạo hiểm và những ngành có liên quan được lựa chọn đầu tư Cũng có những tập đoàn kinh doanh rất đa dạng và các ngành không liên quan đến nhau Điển hình là tập đoàn Unilever với trên 1.600 sản phẩm độc lập, từ kinh doanh mỹ phẩm (sản phẩm Dove) đến bột giặt (Omo), từ đồ uống (trà Lipton) đến kem đánh răng… nhưng nhìn chung, hầu hết các tập đoàn lựa chọn một số ngành chủ lực, đồng thời mở rộng những lĩnh vực mới tùy thuộc chiến lược và mục tiêu phát triển

Các sản phẩm trong TĐKT hết sức đa dạng tùy thuộc chiến lược phát triển sản phẩm, chiến lược xây dựng thương hiệu Có những sản phẩm mang

Trang 31

thương hiệu tập đoàn trên toàn cầu như hệ thống khách sạn Hilton nhưng cũng có những sản phẩm nổi tiếng hơn cả tên của tập đoàn (ở Việt Nam, thương hiệu sản phẩm bột giặt OMO được biết đến nhiều hơn tên của công

ty Unilever mặt dù tập đoàn này có tới hơn 1.600 thương hiệu sản phẩm độc lập)

Thứ sáu: Đặc điểm về quan hệ đầu tư:

- Quan hệ đầu tư xuôi: Là việc CTM đầu tư vào CTC, quan hệ đầu tư

có thể kéo dài theo chuỗi tương ứng với mô hình tổ chức tổ chức của mỗi tập đoàn Quan hệ đầu tư xuôi gồm hai loại: (1) CTM đầu tư vào CTC trực tiếp (CTC cấp 1), công ty này tiếp tục đầu tư vào CTC cấp 2…; (2) CTM vừa đầu tư vào CTC cấp 1, vừa đầu tư vào CTC cấp 2 (không thuộc cấp dưới trực tiếp) Đặc điểm nổi bật của quan hệ đầu tư xuôi là sự chi phối trực tiếp của công ty cấp trên với công ty cấp dưới (nhận đầu tư) với thứ bậc được phân định khá rõ ràng

- Quan hệ đầu tư ngang: Ngoài quan hệ đầu tư xuôi vốn là đặt trưng của mối liên kết tài chính trong mỗi tập đoàn, quan hệ đầu tư ngang của các CTC cùng cấp tạo mối quan hệ chặt chẽ hơn, đồng thời hạn chế việc các công ty bên ngoài kiểm soát các công ty thành viên Đặc điểm của quan hệ đầu tư ngang là một CTC có thể trở thành CTM của một CTC đồng cấp, hoặc cũng có thể trở thành CTC của cả CTM và công ty đồng cấp, tạo mối liên kết và kiểm soát nhiều chiều trong nội bộ tập đoàn

- Quan hệ đầu tư ngược, đầu tư chéo: Ngoài quan hệ đầu tư xuôi, đầu

tư ngang, quan hệ đầu tư ngược, đầu tư chéo phản ánh trình độ phát triển của các tổ chức tài chính và mối quan hệ đan xen của các hình thức sở hữu Biểu hiện của quan hệ đầu tư ngược là công ty cấp dưới có thể đầu tư trở lại đối với công ty cấp trên trực tiếp (CTM) hoặc công ty cùng cấp với CTM trực tiếp Đầu tư chéo còn biểu hiện bằng việc một công ty không chỉ đầu tư đối với CTC trực tiếp mà có thể đầu tư đối với CTC của một công ty cùng cấp khác

Trang 32

Về mặt lý thuyết, các quan hệ đầu tư có thể phân định dưới 3 hình thức nêu trên nhưng trên thực tế, ít có TĐKT nào áp dụng cứng nhắc một trong các hình thức đó, quan hệ đầu tư được thiết lập trên cơ sở lợi ích giữa các thành viên và lợi ích chung của cả tập đoàn Với sự phát triển mạnh của thị trường tài chính, các TĐKT hiện nay thường áp dụng cả 3 hình thức quan

hệ nêu trên, tạo nên mối quan hệ đầu tư đan xen với cấu trúc sở hữu hỗn hợp

Kết quả của các quan hệ đầu tư đan xen là các công ty có mối quan

hệ chặt chẽ trên cơ sở đầu tư vốn Mỗi công ty trong tập đoàn có thể chịu sự chi phối của một hoặc một số công ty khác, đồng thời cũng có thể chi phối một/một số công ty nào đó Một công ty cụ thể có thể vừa là CTM, vừa là CTC, vừa đi đầu tư, vừa nhận đầu tư, kể cả đối với CTM của một tập đoàn

Sự phát triển cao của thị trường tài chính và mối quan hệ đầu tư đan xen có thể tạo ra những CTM của tập đoàn là CTC, chịu sự chi phối của một số công ty khác Mô hình này thường được gọi là tập đoàn trong tập đoàn

* Đặc điểm của các tập đoàn kinh tế Việt Nam:

a Được hình thành chủ yếu từ việc chuyển đổi và tổ chức lại các TCT NN theo quyết định của Chính phủ

Khác với sự hình thành của các TĐKT tư bản nước ngoài (được hình thành trên cơ sở sáp nhập, mua bán, đầu tư vốn giữa các DN), sự hình thành của hầu hết các TĐKT Việt Nam theo mô hình CTM - con là kết quả và là giải pháp để thực hiện chủ trương đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các DN NN mà cụ thể hơn là các TCT NN của Chính phủ Hiện nay đã có 11 TĐKT được hoạt động theo mô hình CTM - CTC được thành lập từ kết quả của sự chuyển đổi, sắp xếp lại các TCT NN

b Đang hoạt động trong những ngành kinh tế mũi nhọn, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, là một trong những công cụ điều hành kinh tế

vĩ mô của Chính phủ

Trang 33

Hầu hết các tập đoàn này đều hoạt động trong các ngành kinh tế trọng điểm của quốc gia như: Điện lực, Dầu khí, Bưu chính viễn thông, Than

và khoáng sản, bởi vì đây là các ngành, lĩnh vực mà tư nhân và các thành phần kinh tế khác không muốn đầu tư hoặc khó thể thực hiện được do hạn chế về năng lực tài chính hoặc kinh nghiệm quản lý Do đó, hoạt động của các tập đoàn này không chỉ tác động và đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội mà còn là một trong những công cụ điều tiết hiệu quả kinh tế

vĩ mô của Chính phủ Việc điều hành các TĐKT cùng tham gia vào việc kìm chế lạm phát trong năm 2008 là một minh chứng sinh động Đây có lẽ là đặc trưng rất cơ bản và rõ nét nhất của các TĐKT Việt Nam hoạt động theo mô hình CTM - CTC so với các tập đoàn tư bản nước ngoài và các TĐKT tư nhân

c Quy mô và khả năng tích tụ vốn của các TĐKT Việt Nam còn hạn chế, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp, chưa có tính chủ động, chiến lược

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy tập đoàn chỉ được hình thành và có điều kiện phát triển khi đã đạt tới trình độ nhất định về khả năng tích tụ và tập trung vốn, tài sản và quá trình tập trung hoá về SXKD, tích tụ, tập trung vốn và tài sản của các TCT 91 được chuyển đổi thành các TĐKT (Điện lực, Bưu chính viễn thông, Than, ) tuy có trình độ cao hơn và quy mô lớn hơn

so với các TCT khác nhưng vẫn được đánh giá là chậm và yếu so với các nước trong khu vực và chưa tương xứng với yêu cầu hình thành các TĐKT Đồng thời, trong khi phạm vi hoạt động của các TĐKT điển hình của các nước khác khác hầu như dàn trải khắp toàn cầu, các khu vực kinh tế thì phạm vi các hoạt động của các TĐKT giới hạn trong lãnh thổ Việt Nam, mặc dù có một số tập đoàn đã thực hiện đầu tư hoặc xuất khẩu ra nước ngoài nhưng tỷ trọng còn nhỏ bé

d Hợp tác và liên kết kinh doanh giữa các đơn vị trong TĐKT chưa cao, chưa thể hiện được bản chất kinh tế của TĐKT

Trang 34

Bản chất các TĐKT Việt Nam là các TCT NN thực hiện chuyển đổi trong đó liên kết trong các TCT chuyển đổi sang TĐKT chưa phù hợp với liên kết trong TĐKT Trong các TCT quan hệ giữa các đơn vị thành viên hầu hết là mang tính hành chính, sự chi phối của TCT đối với đơn vị thành viên cũng vẫn mang tính hành chính mà chưa thực sự dựa trên cơ sở quan hệ lợi ích kinh tế và tự nguyện theo nguyên tắc thị trường Sự điều hành, chi phối của TCT đối với các đơn vị thành viên không hiệu quả, ví dụ, các TCT hầu như chưa thực hiện được chức năng điều hoà vốn hợp lý giữa các đơn vị thành viên: Tập trung vốn nhàn rỗi của các DN thành viên thừa vốn cho các đơn vị thành viên thiếu vốn vay, Đồng thời, quan hệ về đầu tư vốn và tài chính, thị trường, phân công chuyên môn hoá, nghiên cứu và phát triển giữa các đơn vị thành viên trong TCT chưa thực sự chặt chẽ và rõ nét đặc trưng quan hệ giữa các DN thành viên trong TĐKT

e Trình độ tổ chức quản lý - đặc biệt là quản lý tài chính còn hạn chế để đáp ứng yêu cầu quản lý đối với TĐKT

Trong các TCT NN- đơn vị tiền thân của các TĐKT Việt Nam do chưa thực hiện phân tách rõ ràng giữa quyền sở hữu hoặc đại diện sở hữu và quyền điều hành DN do đó chưa có sự chuyên môn hoá và chuyên sâu trong công tác quản lý

Trên thực tế các TĐKT lớn của NN đều được hình thành từ quyết định hành chính trên cơ sở tổ chức lại các TCT NN, mà chưa có TĐKT nào được hình thành trên cơ sở các DN tự phát triển, tích tụ và tập trung vốn, đầu

tư chi phối các DN khác bằng các biện pháp sáp nhập, mua cổ phần, góp vốn

để hình thành các liên kết bền chặt và phát triển thành TĐKT; cũng chưa có TĐKT nào được thành lập do các DN độc lập tự nguyện liên kết với nhau để tạo thành TĐKT có tiềm lực kinh tế, tài chính đủ mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thị trường; sau đó, tiếp tục sử dụng tiềm lực đó để đầu tư mở rộng quy

mô sản xuất, lĩnh vực hoạt động và đầu tư thâm nhập, thôn tính các DN khác

để phát triển tập đoàn

Trang 35

Việc triển khai và thành lập một số tập đoàn chưa hội đủ điều kiện cần thiết, kể cả không thực hiện đúng quy định pháp luật Chẳng hạn: Việc cho phép vận hành mô hình có CTC là Công ty NN, TCT, thậm chí vẫn còn

để nguyên là Công ty thành viên hạch toán độc lập, đơn vị hạch toán độc lập Cách làm này không phù hợp với các văn bản pháp luật về mô hình CTM – CTC Các TĐKT và TCty NN đang có tình trạng đưa nguồn vốn khổng lồ của mình đem đầu tư dàn trải, đầu tư vào những lĩnh vực nhạy cảm, rủi ro như bất động sản, chứng khoán, ngân hàng mà không tập trung vào ngành kinh doanh thuộc thế mạnh của mình dẫn đến việc đồng vốn đem vào đầu tư không hiệu quả, thậm chí gây thâm hụt vào nguồn vốn NN

Việc quản lý, giám sát của NN đối với TĐKT NN cũng đang tồn tại nhiều bất cập trong việc chưa xác định đầu mối chủ sở hữu Cùng một lúc đang có nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân thực hiện vai trò chủ sở hữu đối với TĐKT dẫn đến sự trùng lặp và chồng chéo Hiện nay, các TĐKT NN lớn đang kiểm soát và chi phối các thị trường chính như: Than, điện, khoáng sản, dầu khí nhưng công tác QLNN đối với các TĐKT này vẫn chưa thật

sự chặt chẽ và đầy đủ, bộc lộ rõ nhiều mặt hạn chế Hiện nay qua hoạt động của các TĐKT ta có thể nhận thức được bên trong luôn tiềm ẩn các nguy cơ tiềm tàng của việc hạn chế cạnh tranh, độc quyền, thống lĩnh thị trường, thiếu tính công bằng trong nên kinh tế thị trường

Các TĐKT Việt Nam mà tiền thân là các TCT NN do chưa thực hiện phân tách rõ ràng giữa quyền sở hữu hoặc đại diện sở hữu và quyền điều hành DN do đó chưa có sự chuyên môn hoá và chuyên sâu trong công tác quản lý

Sau 5 năm hoạt động thí điểm, về cơ bản, TĐKTNN đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế; cùng với các TCT NN tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế; góp phần bảo đảm điều tiết vĩ mô của NN; tham gia tích cực vào việc bảo đảm

an sinh xã hội và nâng cao khả năng hội nhập kinh tế quốc tế Một số

Trang 36

TĐKTNN giữ vai trò cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân Một số TĐKTNN đã đầu tư mở rộng tầm hoạt động, phát triển ngành nghề phụ trợ, không chỉ tập trung đầu tư trong nước mà bước đầu vươn ra đầu tư ở nước ngoài, tạo dựng được hình ảnh của Việt Nam trong một số lĩnh vực đối với khu vực và trên thế giới Quy mô vốn sở hữu của các TĐKTNN tăng lên đáng kể Các tập đoàn đã huy động được một lượng vốn khá lớn

từ các thành phần kinh tế khác thông qua việc CPH các công ty thành viên của tập đoàn và thành lập mới các CTCP

Từ các đặc điểm của các TĐKT trên thế giới và đặc điểm TĐKT ở Việt Nam trên đây, chúng ta thấy tiền đề hình thành các TĐKT cũng theo quy luật chung về hình thành các TĐKT thế giới, chỉ có một điều khác là nền kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cho nên các TĐKT nhà nước ở Việt Nam được hình thành chủ yếu từ việc chuyển đổi và tổ chức lại các Tổng công ty Nhà nước theo quyết định của Chính phủ

Khác với sự hình thành của các tập đoàn kinh tế tư bản nước ngoài (được hình thành trên cơ sở sáp nhập, mua bán, đầu tư vốn giữa các DN), sự hình thành của hầu hết các tập đoàn kinh tế Việt Nam theo mô hình Công ty mẹ - con là kết quả và là giải pháp để thực hiện chủ trương đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các DN Nhà nước mà cụ thể hơn là các Tổng công ty

Nhà nước của Chính phủ

1.1.4 Điều kiện hình thành tập đoàn kinh tế

Tập đoàn kinh tế được hình thành trong những điều kiện sau:

- Sự liên kết các công ty nhỏ trong quá trình cạnh tranh

- Sự tích tụ và tập trung vốn nhất định ở một số ngành

- Xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa đời sống kinh tế

Các TĐKT được ra đời trong các điều kiện cụ thể sau:

Một là,Tác động của quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

Trang 37

Trong nền kinh tế thị trường, dưới tác động của quy luật cạnh tranh và độc quyền, quá trình tích tụ và tập trung tư bản đã hình thành các tổ chức kinh tế độc quyền Mặt khác, các doanh nghiệp, các công ty nhỏ không đủ sức chống đỡ sự chèn ép, thôn tính của các tổ chức độc quyền, muốn tồn tại buộc phải liên kết, liên hiệp với nhau nhằm tăng khả năng cạnh tranh chống lại các tổ chức độc quyền để tồn tại và phát triển Do vậy, có thể nói rằng, cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế hiện đại đã tạo ra các tập đoàn kinh tế

Hai là, tác động của tiến bộ về khoa học, công nghệ và kỹ thuật

Dước tác động của các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, thị trường luôn biến động: nhu cầu về các loại hàng hoá, dịch vụ luôn thay đổi và đa dạng

Do đó, các doanh nghiệp luôn tìm mọi biện pháp để đa dạng hoá sản phẩm,

đa dạng hoá về hình thức hoạt động nhằm phòng chống lại rủi ro và sự bế tắc của thị trường, đồng thời khai thác tối đa lợi thế về hàng hoá và dịch vụ của mình Các TĐKT có tiềm lực về kinh tế và đội ngũ cán bộ có đủ khả năng để duy trì, phát triển những trung tâm nghiên cứu về sản phẩm, dịch vụ và phương thức hoạt đọng nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của thị trường

Ba là, nhu cầu về tích tụ và tập trung vốn, giảm chi phí kinh doanh và

tối thiểu hoá các khoản thuế phải nộp

Ngoài những lý do về thị trường, về cạnh tranh, các doanh nghiệp, các công ty, khi tham gia trong tập đoàn kinh tế, còn thu được những lợi ích về kinh tế tài chính rất lớn: đó là khả năng tiết kiệm về thuế, khả năng giảm chi phí huy động vốn, tăng khả năng huy động vốn và khả năng chịu các khoản

nợ Với lý do này, các doanh nghiệp và các tập đoàn kinh tế luôn tìm kiếm

sự hợp tác trong quá trình tăng trưởng và phát triển Qúa trình tăng trưởng

và phát triển của các doanh nghiệp và tập đoàn thực hiện cả về quy mô và cả

về hình thức hoạt động Các TĐKT cho phép tích tụ tập trung vốn, giảm chi phí hạ giá thành và các khoản phải nộp Đây là lợi thế của TĐKT

Trang 38

Bốn là, xu thế toàn cầu hoá đang trở thành một yếu tố quyết định và

chi phối sự phát triển của việc hình thành và phát triển các TĐKT

Các tập đoàn kinh tế do có sức mạnh về kinh tế và sự mong muốn tìm kiếm siêu lợi nhuận đã tạo ra các tập đoàn đa quốc gia nhờ ưu thế về đa sở hữu, khả năng kiểm soát và chi phối hoạt động của các công ty thành viên Các tập đoàn đa quốc gia ngày càng có xu hướng cạnh tranh nhau gay gắt bằng các mạng lưới toàn cầu về sản xuất, về phân phối và về huy động vốn Nhờ quy mô kinh tế, khă năng nghiên cứu, phát triển, khả năng thu thập thông tin của thị trường Với những lợi thế tuyệt đối về nhiều mặt, các tập đoàn đa quốc gia đang trở thành những động lực cơ bản trong quá trình hội nhập quốc tế

1.2 CỔ PHẦN HÓA THEO HƯỚNG THÀNH LẬP CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.2.1 Khái niệm cổ phần hóa theo hướng thành lập các tập đoàn kinh tế

Cổ phần hóa là quá trình chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công

ty cổ phần ở Việt Nam Mục tiêu của CPH (Cổ phần hóa) là:

- Tạo lập động lực sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp

- Tạo lập mô hình quản lý lãnh đạo hoàn toàn mới của doanh nghiệp theo mô hình CTCP (công ty cổ phần)

- Cổ phần hóa theo hướng thành lập các TĐKT là quá trình chuyển đổi TCT NN, các DNNN theo hướng hình thành các TĐKTNN

1.2.2 Tính tất yếu khách quan của cổ phần hóa theo hướng thành lập các tập đoàn kinh tế

Trong một thế giới toàn cầu hóa, những tiến bộ của Việt Nam nếu đặt trong bối cảnh sự phát triển về tri thức, công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì lại chưa xứng đáng với tiềm năng và những điều kiện mà mình có được Việc đưa đất nước phát triển nhanh hơn, mạnh mẽ hơn nhằm hội nhập các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới đòi hỏi Việt Nam phải có một nền kinh

Trang 39

tế vững mạnh và có sự ổn định cao Trong đó việc chuyển đổi hình thức các DNNN ( TCT NN, CTCP NN ) thành các TĐKT nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của các thành phần kinh tế mũi nhọn, tạo đà phát triển bền vững cho nền kinh tế Việt Nam

Với thực trạng nền kinh tế Việt Nam còn non kém, các DNNN đang chập chững bước vào nền kinh tế thị trường Việc thiếu kinh nghiệm, thiếu phương hướng chiến lược, đồng vốn ít ỏi thì khó có thể cạnh tranh được với các công ty nước ngoài khi Việt Nam hội nhập với Thế giới

CPH DNNN theo hướng hình thành các TĐKT nhằm tập hợp lực lượng, nguồn nhân lực, vật lực, tập trung trí tuệ vào công cuộc cải cách và công nghiệp hóa hiện đại hóa các ngành công nghiệp mũi nhọn và phát huy khả năng tối đa về nội lực cũng như thu hút được ngoại lực để thúc đẩy sự phát triển theo hướng bền vững và bắt kịp các nước phát triển trên thế giới

Thực hiện theo chủ trương này từ 2001 đến 2005 số DNNN đã được CPH và trở thành các CTCP có vốn NN đã tăng lên khá nhanh cả về số lượng công ty, lẫn năng lực vốn, lao động, tài sản và kết quả hoạt động Theo số liệu điều tra DN hằng năm của Tổng cục Thống kê từ năm 2000 cho thấy, từ số lượng CTCP có vốn NN chỉ có 305 DN trong năm 2000 đã lên

470 DN trong năm 2001, tăng 54,1%; lên 557 DN trong năm 2002, tăng 18,7%; lên 669 DN trong năm 2003, tăng 19,9%; lên 815 DN trong 2004, tăng 21,8% và lên 1.096 DN trong năm 2005, tăng 34,5% Sau 5 năm đã tăng thêm 791 DN cổ phần có vốn NN, tăng gấp gần 3,6 lần và bình quân mỗi năm tăng 158 DN, tương ứng với tốc độ tăng bình quân là 29,8%/năm

Về số lao động trong các CTCP có vốn NN đến 31 tháng 12 hằng năm đã từ gần 62 ngàn người cuối năm 2000 lên gần 281 ngàn người cuối năm 2005, sau 5 năm đã tăng thêm gần 219 ngàn lao động, tốc độ tăng trưởng chung trong 5 năm là hơn 4,5 lần và bình quân mỗi năm đã tăng 35,9% Một số chỉ tiêu về DNNN và CTCP có vốn NN

Trang 40

H2 Bảng thống kê tốc độ tăng trưởng chung của các DNNN sau CPH

Như vậy có thể thấy rằng CPH DN NN đã tạo ra được tiền đề cho các

DN có quy mô vốn, lao động lớn hơn dẫn đến hình thành các TĐKT, nhằm

tạo động lực và cơ chế quản lý năng động sáng tạo, thúc đẩy DNNN phát

triển và làm ăn có hiệu quả Tất yếu CPH theo hướng thành lập các TĐKT:

CPH theo hướng thành lập các TĐKT là một nhiệm vụ rất cần thiết

và quan trọng trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam, sẽ giải quyết được

các vấn đề sau:

 Thứ nhất: Thực hiện CPH theo hướng thành lập các TĐKT là để

giải quyết mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất Góp phần

thực hiện chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu Trước đây chúng ta

xây dựng một cách cứng nhắc chế độ công hữu, thể hiện ở một số lượng quá

lớn các DNNN mà không nhận thấy quan hệ sản xuất này không phù hợp

với lực lượng sản xuất còn nhiều yếu kém, lạc hậu Vì vậy CPH theo hướng

Ngày đăng: 26/07/2014, 08:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Ban Kinh tế Trung ương (2000), Báo cáo “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước
Tác giả: Ban Kinh tế Trung ương
Năm: 2000
51. Nguyễn Đức Tạng. Nhìn lại một năm đổi mới và sắp xếp lại DN NN . Tạp chí Tài chính tháng 1 + 2/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: NN
1. Andreja Bohm (1990): The state holding corporation: An incomplete divisional form of organization, Public Enterprise Vol.10/1990 Khác
2. Ban Cán sự Đảng Chính phủ (2003), Báo cáo sơ kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá IX) về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN và nhiệm vụ, biện pháp thúc đẩy trong năm 2003 Khác
3. Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp (2000), Báo cáo củng cố, hoàn thiện và phát triển Tổng Công ty nhà nước Khác
4. Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp (2004), Báo cáo sơ kết thực hiện Nghị quyết Trung ương ba về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN và giải pháp đẩy mạnh trong 2 năm 2004-2005 theo Nghị quyết Trung ương chín khoá IX Khác
6. Ban Kinh tế Trung ương (2001), Mô hình TCT 91 qua hoạt động của một số TCT điển hình. Hà Nội tháng 7 năm 2001 Khác
7. Báo cáo giám sát số 283/BC-BTVQH 12 ngày 24 tháng 11 năm 2009 8. Trương Văn Bân (1996), Bàn về cải cách toàn diện DNNN, (sáchtham khảo, tài liệu dịch từ tiếng Trung Quốc), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Hà nội Khác
10. Bộ Kế hoạch & đầu tư (2005), đề án hình thành và phát triển TĐKT trên cơ sở TCTNN Khác
11. Bộ Kế hoạch & đầu tư (2007), Xu thế hình thành TĐKT ở Việt Nam Khác
12. C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Khác
13. Cải cách DNNN - thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm thế giới, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội Khác
14. Dương Văn Cận và nhóm tác giả (2005), Báo cáo kết quả nghiên cứu KH: Nghiên cứu mô hình tổ chức doanh nghiệp xây dựng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, Viện Kinh tế Xây dựng, Bộ Xây dựng Khác
15. Chỉ thị số 15/TTg ngày 26/5/1999 về Hoàn thiện tổ chức hoạt động của các Doanh nghiệp nhà nước Khác
16. Chỉ thị số 20/TTg ngày 21/4/1998 về Đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới Doanh nghiệp nhà nước Khác
17. Chương trình hành động năm 2002-2007 của Chính phủ trình bày trước Quốc hội Khác
18. Trần Tiến Cường (2002), Chủ trương, định hướng hình thành và phát triển tập đoàn kinh tê và một số ý tưởng về đề án phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, Bài tham luận tại Hội thảo "Phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam&#34 Khác
19. Nguyễn Trí Dĩnh (1994), Vai trò của Nhà nước trong phát triển, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
20. Đề án 59-TW, Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế(2007), Hà Nội Khác
21. Đề tài nghiên cứu khoa học, BCN (1999), Nghiên cứu, kiến nghị hoàn thiện cơ chế hoạt động của các TCT 90 - 91 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

H5  Sơ đồ tổ chức hình tháp và quy định về đầu tư của TĐKT NN và - Quản lý nhà nước về cổ phần hóa theo hướng thành lập các tập đoàn kinh tế ở Việt  Nam hiện nay
5 Sơ đồ tổ chức hình tháp và quy định về đầu tư của TĐKT NN và (Trang 3)
H1: Bảng xếp hạng 10 công ty lớn nhất thế giới năm 2007 và 2008 - Quản lý nhà nước về cổ phần hóa theo hướng thành lập các tập đoàn kinh tế ở Việt  Nam hiện nay
1 Bảng xếp hạng 10 công ty lớn nhất thế giới năm 2007 và 2008 (Trang 27)
H2. Bảng thống kê tốc độ tăng trưởng chung của các DNNN sau CPH - Quản lý nhà nước về cổ phần hóa theo hướng thành lập các tập đoàn kinh tế ở Việt  Nam hiện nay
2. Bảng thống kê tốc độ tăng trưởng chung của các DNNN sau CPH (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w