đặt vấn đềBiến dạng khuỷu vẹo vào trong Cubitus varus deformity, là một di chứng thường gặp sau gãy trên lồi cầu xương cánh tay, cũng như các chấn thương gây tổn thương sụn tiếp hợp ở đầ
Trang 1đặt vấn đề
Biến dạng khuỷu vẹo vào trong (Cubitus varus deformity), là một di chứng thường gặp sau gãy trên lồi cầu xương cánh tay, cũng như các chấn thương gây tổn thương sụn tiếp hợp ở đầu dưới xương cánh tay trẻ em
Việc phòng ngừa di chứng này chưa thể áp dụng triệt để, bởi một trong những cơ chế gây ra biến dạng khuỷu vẹo trong là do rối loạn sự cốt hoá đầu dưới xương cánh tay sau gãy trên lồi cầu, hoặc chấn thương vùng khuỷu Lồi cầu và ròng rọc phát triển không đều nhau, lồi cầu ngoài thường phát triển hơn làm cho khuỷu vẹo vào trong [75], [78] Nguyễn Trung Sinh thông báo tỷ
lệ khuỷu vẹo trong sau gãy trên lồi cầu xương cánh tay năm 1971 là 41,8%[15], Nguyễn Đức Phúc (1994) là 40% [13], Oh C W (1997) là 50% [75], Nguyễn Ngọc Hưng (1999) là 18,9% [5] và theo thống thông báo gần đây nhất (2005) của Devnani A S tỷ lệ này là 18% [39]
Biến dạng khuỷu vẹo trong thường Ýt ảnh hưởng đến chức năng vận động của khớp khuỷu [42], [80] Mục tiêu của điều trị là đem lại thẩm mỹ cho bệnh nhân đặc biệt khi nhu cầu thẩm mỹ của người dân ngày càng được nâng cao Tuy nhiên trong một số công trình nghiên cứu gần đây cho thấy biến dạng khuỷu vẹo trong có thể dẫn đến tổn thương dây thần kinh trụ, làm bán trật khớp, lỏng lẻo khớp…[49], [68],[75], vì vậy vấn đề điều trị ngày càng được lưu tâm nhiều hơn
Năm 1951 King D và Secor C tiến hành điều trị khuỷu vẹo trong bằng phương pháp đục chêm xương mở phía trên lồi cầu trong, ghép một mảnh xương chày rồi sau đó cố định bằng hai đinh steinmann Từ đó đến nay các tác giả đã đưa ra nhiều phương pháp cắt xương như: Đục xương hình chêm trên lồi cầu ngoài, đục xương hình vòm…[42], [66], [86], cũng như các
Trang 2phương pháp cố định khác nhau: Cố định bằng bột, xuyên hai đinh kirschner chéo hoặc song song nhau, bắt vít, cố định bằng nẹp vít và cố định ngoài [3], [71] Phương pháp cố định ngoài hai bên bằng CERNC đã được ứng dụng điều trị khuỷu vẹo trong từ năm1992 tại bệnh viện trung ương quân đội 108, bệnh viện 103 và hiện nay đã được triển khai nhiều nơi trong cả nước Viện khoa học chỉnh hình-phục hồi chức năng cũng đã ứng dụng phương pháp này điều trị cho bệnh nhân khuỷu vẹo trong và bước đầu đã thu được những kết
quả nhất định Từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá kết quả ứng dụng phương pháp cố định ngoài hai bên bằng cọc Ðp ren ngược chiều trong điều trị khuỷu vẹo trong”
Trang 3Chương 1 Tổng quan
1.1 Đặc điểm giải phẫu sinh lý vùng khuỷu
Khuỷu nối cẳng tay vào cánh tay, gồm các khu ở trên và ở dưới nếp gấp khuỷu độ 2 khoát ngón tay Ở phía trước là nếp gấp khuỷu, ở phía sau là khu mỏm khuỷu và ở giữa là khớp khuỷu
1.1.1 Khớp khuỷu
Là một khớp gấp duỗi cẳng tay vào cánh tay, nối xương cánh tay với xương trụ (khớp ròng rọc) và xương quay (khớp lồi cầu) Ngoài ra ở trong khớp khuỷu còn có khớp quay- trụ trên
- Đầu trên xương trụ: Hình cái móc mà ngành sau là mỏm khuỷu, ngành trước là mỏm vẹt và ở giữa là diện khớp (hõm ròng rọc hay sigma lớn) Ở phía bên ngoài có hõm quay hay sigma bé, tiếp khớp với chung quanh chỏm xương quay Mỏm khuỷu lắp vào hố khuỷu ở xương cánh tay khi cẳng tay duỗi, và thấy ở trên mỏm một lõm ngang, hai bên mõm là hai rãnh bên Rãnh ngoài rộng hơn và nông hơn rãnh trong (rãnh ròng rọc-khuỷu) Mỏm khuỷu ở trên cùng một đường ngang với mỏm trên ròng rọc và mỏm trên lồi cầu ở tư thế khuỷu duỗi hoàn toàn
Trang 4- Chỏm xương quay: Đầu chỏm lõm (đài quay) và xoay quanh dưới lồi cầu Chung quanh chỏm tiếp khớp với hõm sigma bé của xương trụ
Hình 1.1 Giải phẫu đầu dưới xương cánh tay và khớp khuỷu
1.1.1.2 Phương tiện nối khớp [4]
- Bao khớp: Bao khớp mỏng ở phía trước Dính ở dưới đến tận cổ xương quay, nên chỏm xoay tù do trong khớp
- Dây chằng: Vì khớp khuỷu chỉ có động tác gấp, duỗi nên dây chằng bên rất chắc Hệ thống dây chằng khớp khuỷu gồm có:
+ Dây chằng bên trong (dây chằng bên trụ): Đi từ mỏm trên ròng rọc tới xương trụ xung quanh hâm sigma lớn gồm có 3 bã:
Bó trước đi tới bờ trong mỏm vẹt
Bó giữa đi tới mỏm vẹt đến tận bờ trong xương trụ
Bã sau hay dây chằng bardinet, tỏa như cái quạt tới mỏm khuỷu Ngoài ra lại có dây chằng Cooper đi từ mỏm khuỷu tới mỏm vẹt
Trang 5Bó trước không chắc, mạnh như hai bó giữa và sau
+ Dây chằng bên ngoài(dây chằng bên quay): Cũng có 3 bó như dây chằng bên trong, đi từ mỏm trên lồi cầu rồi cũng tỏa ra như dây chằng trong, xuống dưới để dính vào xương trụ ở quanh hâm quay
Bó trước vòng quanh phía trước chỏm và cổ xương quay để bám cùng với dây chằng vòng vào bờ trước hõm quay
Bó giữa cũng vòng quanh, nhưng ở phía sau chỏm và cổ xương quay để cùng với dây chằng vòng bám vào bờ sau hâm quay
Bã sau bám vào mỏm khuỷu
+ Dây chằng trước và dây chằng sau:
Hai dây chằng này rất mỏng đi từ xương cánh tay xuống xương trụ và xương quay Ngoài ra dây chằng sau lại có thớ ngang, đi từ bờ hố khuỷu bên này tới bờ kia để giữ mỏm khuỷu khỏi trật ra ngoài
Ngoài ra còn có dây chằng khớp quay trụ trên gồm:
+ Dây chằng vòng: Là dây chằng vòng quanh cổ xương quay, bám vào
bờ trước và bờ sau hâm sigma bé Rộng ở trên và hẹp ở dưới, giữ chỏm xương không tuột ra ngoài Dây chẳng này được coi như một diện khớp vì có sụn bọc ở mặt trong
+ Dây chằng vuông: Dây chằng này buộc cổ xương quay vào bờ dưới hõm sigma bé rất chắc
Trang 6Hình 1.2 Bao khớp và dây chằng của khuỷu
1.1.2 Đặc điểm giải phẫu cơ, mạch máu và thần kinh vùng khuỷu [4]
1.1.2.1 Các nhóm cơ phía trước
Có ba nhóm cơ tạo nên hai mảng nhị đầu có mạch máu và thần kinh chạy qua
- Nhóm cơ ở giữa gồm có hai cơ: Cơ nhị đầu nằm trên cơ cánh tay trước Hai cơ thọc vào giữa hai nhóm cơ bên
+ Cơ nhị đầu chạy xuống tách làm hai chẽ cân bám vào lồi củ nhị đầu xương quay và cân trên ròng rọc
+ Cơ cánh tay trước bám vào mỏm vẹt xương trụ
- Nhóm cơ ngoài: Gồm hai cơ ngửa và hai cơ duỗi cổ tay quay dài và ngắn + Cơ ngửa dài và cơ duỗi cổ tay quay dài bám vào bờ ngoài xương cánh tay, cơ ngửa ở trên, cơ quay ở dưới
Trang 7+ Cơ duỗi cổ tay quay ngắn và cơ ngửa ngắn cũng bám mỏm trên lồi cầu Cơ ngửa ngắn còn bám vào phía sau hâm sigma nhá
- Nhóm cơ trong: Có các cơ sấp tròn, cơ gấp cổ tay quay (cơ gan tay lớn), cơ gan tay bé, cơ trụ trước bám vào mỏm trên lồi cầu trong
+ Cơ gấp chung nông có hai bó: Bó ròng rọc-vẹt và bó quay
+ Cơ gấp chung sâu: Bám chính vào xương trụ và một phần vào xương quay
1.1.2.2 Cơ phía sau Cơ tam đầu bám vào mỏm khuỷu trừ đầu mỏm
- Thần kinh giữa: Chạy kèm động mạch cánh tay đi vào máng nhị đầu trong
- Thần kinh trụ: Chạy từ trên xuống nằm sau vách liên cơ trong và đi vào rãnh ròng rọc-khuỷu Dây thần kinh này dễ bị tổn thương trong các chấn thương vùng khuỷu
1.1.3 Sự cốt hóa đầu dưới xương cánh tay [63]
Có 4 tâm cốt hóa phụ ở đầu dưới xương cánh tay:
- Điểm lồi cầu ngoài phát hiện lúc 2 tuổi
- Điểm mỏm trên ròng rọc phát hiện lúc 6 tuổi
- Điểm ròng rọc phát hiện lúc 8 tuổi
Trang 8- Điểm mỏm trên lồi cầu ngoài phát hiện lúc 10 tuổi
Các điểm cốt hóa chỉ dính hoàn toàn vào thân xương lúc 19-20 tuổi [63]
Hình 1.3 Các tâm cốt hoá phụ đầu dưới xương cánh tay [63]
1.1.4 Sụn tiếp hợp đầu dưới xương cánh tay [85]
Sụn tiếp hợp là chỗ nối giữa đầu và thân xương có vai trò quan trọng đến
sự phát triển chiều dài của xương và được chia làm bốn khu vực sau:
- Khu vực 1: Gồm các tế bào mầm nằm sát với bản xương Đây là các tế
bào không biệt hóa được nuôi dưỡng bởi động mạch đầu xương Thương tổn lớp tế bào này làm ngừng sự phát triển của sụn tiếp hợp
- Khu vực 2: Nằm sát khu vực 1, gồm các tế bào sụn phát triển nhanh,
được nuôi dưỡng bởi động mạch đầu xương Khu vực này đáp ứng cho xương phát triển theo chiều dài
- Khu vực 3: Gồm các tế bào nở to, đó là các tế bào sụn trong quá trình
chín trước khi bị canci hóa Khu vực này được nuôi bằng động mạch nuôi từ hành xương và không có hoạt động phát triển ở đây Đây là vùng yếu nhất của sụn tiếp hợp Các thương tổn của sụn thường nằm ở khu vực này
- Khu vực 4: Bao gồm các tế bào cốt hóa tạm thời Chúng được cấp máu
từ động mạch nuôi của hành xương
Trang 9Hình 1.4 Bèn khu vực của sụn tiếp hợp [85]
1.2 Giải phẫu chức năng khớp khuỷu
Khớp khuỷu với chức năng chính là gấp duỗi cẳng tay và được coi như
là một khớp bản lề Bao gồm ba khớp: khớp ròng rọc - trụ, khớp lồi cầu - quay và khớp quay - trụ trên [14]
1.2.1 Khớp ròng rọc – trô
Trong khớp khuỷu xương trụ xoay với xương cánh tay quanh một trục ngang Bao gồm hõm sigma lớn của đầu trên xương trụ khớp với ròng rọc của đầu dưới xương cánh tay Trục của ròng rọc tạo với trục của thân xương cánh tay một góc vẹo ra ngoài [34] Tư thế vẹo ngoài này của khuỷu được gọi là góc mang (Carring angle) Góc mang được xác định ở tư thế khuỷu duỗi hoàn toàn, xương cánh tay xoay trong 45o, cẳng tay sấp 45o, gan bàn tay đối diện với đùi Beals R.K năm 1976 đã tìm ra góc mang bình thường từ lúc sơ sinh đến 4 tuổi là 15o
và nó sẽ tăng lên đến 17,5o ở người lớn [23] Trong công trình nghiên cứu về vận động khớp khuỷu, Bernard F., Morrey M.D và cộng
Trang 10sự (1976) đã nhận thấy có sự thay đổi góc mang từ vẹo ngoài đÕn góc vẹo trong khi cẳng tay gấp [25]
Để đánh giá kết quả nắn chỉnh gãy đầu dưới xương cánh tay Baumann
và Sandegard E đã tìm ra một góc để đánh giá trục của khuỷu trên phim quang trước sau Đó là góc tạo bởi trục của thân xương cánh tay và đường thẳng tuyến tiếp với bờ của phần ngoài hành xương đầu dưới xương cánh tay (góc này được gọi là góc Baumann) bình thường góc này là 70o
[65] Dail (1999) [32] đã tiến hành đo góc Baumann ở 98 trẻ từ 2 đến 3 tuổi ở Trung Quốc và thấy góc này là 64-80o
ở trẻ trai và 65-81 ở trẻ gái, ông thấy có sự liên quan chặt chẽ giữa góc Baumann và góc mang
- Nếu góc Baumann càng nhỏ thì khuỷu càng vẹo ra ngoài
- Nếu góc Baumann càng lớn thì khuỷu càng vẹo vào trong
Hình 1.5 Sơ đồ biểu thị góc Baumann [65]
Năm 1988 Openheim W.I và cộng sự đã sử dụng góc cánh-cẳng tay để đánh giá góc mang Góc này được tạo bởi trục xương cánh và trục xương
Trang 11cẳng tay trong tư thế khuỷu duỗi hoàn toàn Góc này mở ra ngoài từ 5-15o
ở người bình thường [76]
Hình 1.6 Sơ đồ biểu thị góc cánh- cẳng tay [76]
1.2.2 Khớp lồi cầu quay
Đây là khớp góp phần vào chức năng xoay của cẳng tay và không phụ thuộc vào sự gấp duỗi của khuỷu tay
David K cho rằng có thể khớp khuỷu bị cứng nhưng cẳng tay vẫn xoay bình thường và ông còn cho rằng nếu khớp lồi cầu quay bị loại bỏ, sự gấp, duỗi khuỷu tay cũng không bị ảnh hưởng [34]
1.2.3 Khớp quay - trụ trên
Khớp này có cùng đặc điểm chức năng với khớp lồi cầu quay là xoay cẳng tay Hai khớp trên có chung dây chằng và có diện khớp nối liền đồng thời cùng chung mét bao hoạt dịch [14]
1.2.4 Biên độ vận động của khớp khuỷu
1.2.4.1 Biên độ gấp, duỗi khuỷu
Biên độ gấp duỗi khuỷu đo được khi bệnh nhân ở tư thế đứng, cánh tay duỗi thẳng, ngón năm sát vào đùi, lòng bàn tay hướng ra phía trước Bình
Trang 12thường động tác gấp khuỷu từ 140°- 150° (trung bình là 145°), động tác duõi khuỷu từ 0°- 10° [10]
Ở nữ giới, động tác duỗi khuỷu chủ động quá mức có thể đạt 10° Biên
độ này được coi là bình thường khi biểu hiện đều cả hai bên khuỷu và trong tiền sử chưa bị chÊn thương vùng khuỷu Khi duỗi khuỷu bị hạn chế, biên độ
đó được biểu hiện bằng con số âm, ví dụ khuỷu duỗi -30° có nghĩa là còn thiếu 30° nữa mới đạt được mức duỗi khuỷu bình thường (trích từ [2] )
1.2.4.2 Biên độ sấp ngửa cẳng tay
Để đánh giá biên độ sấp ngửa cẳng tay cần phải bất động xương cánh tay và xương trụ ở tư thế gấp 90° Vị trí 0° khi bàn tay duỗi thẳng ngón cái chỉ lên trời Bình thương biên độ động tác sấp cẳng tay là 90° và biên độ động tác ngửa là 90° [10]
1.3 Đặc điểm giải phẫu bệnh của biến dạng khuỷu vẹo trong
Có ba loại di lệch của đầu dưới xương cánh tay trong biến dạng vẹo khuỷu vào trong [65], [72]:
- Di lệch nghiêng trong tạo góc mở vào trong
- Di lệch nghiêng ra sau làm khuỷu ưỡn quá mức
- Di lệch xoay trong của đầu ngoại vi
Trong ba loại trên thì biến dạng xoay trong của đầu dưới xương cánh tay
là biến dạng khó phát hiện nhất Trên lâm sàng biến dạng này được bù trừ bởi khớp vai Để phát hiện biến dạng này, Naito A và cộng sự năm 1990 đã đề xuất chụp cắt lớp vi tính để xác định góc xoay trong trước và sau phẫu thuật [72] Năm 1994 Mahaisavasiya B [65] nghiên cứu góc xoay trong ở 29 bệnh nhân bị biến dạng vẹo khuỷu vào trong bằng cách sử dụng mẫu xương cắt trong phẫu thuật cắt xương hình chêm để đánh giá biến dạng xoay Kết quả
Trang 13cho thấy góc xoay trong trung bình là 27o
(15o-45o) Ngoài ra biến dạng đầu dưới gập ra sau làm cho khuỷu ưỡn quá mức cũng khá phổ biến
Sù di lệch, biến dạng đầu dưới xương cánh tay có thể gây nên biến chứng liệt thần kinh trụ, bán trật khớp khuỷu Năm 1995 Abe M [20] đã nghiên cứu 15 bệnh nhân liệt dây thần kinh trô do biến dạng khuỷu vẹo vào trong và thấy rằng rãnh thần kinh trụ bị nông lại và có sự biến dạng lồi cầu trong Năm 2001 Shawn W.O [81] đã thông báo biến dạng khuỷu vẹo vào trong làm cho mỏm khuỷu di lệch vào trong, làm căng gân cơ tam đầu, giãn dây chằng bên ngoài Kéo xoay xương trụ ra sau ngoài làm bán chật khớp khuỷu và mất sự vững chắc của khớp
1.4 Nguyên nhân bệnh sinh của biến dạng khuỷu vẹo trong
Khuỷu vẹo trong là biến dạng góc thông thường nhất do hậu quả của gẫy trên lồi cầu và chấn thương vùng sụn tiếp hợp đầu dưới xương cánh tay ở trẻ
em Có nhiều quan điểm về cơ chế bệnh sinh của biến dạng khuỷu vẹo vào trong French P.R [42] cho rằng biến dạng khuỷu vào trong do sù di lệch vào trong và sự xoay trong của đầu gãy ngoại vi mà sự di lệch này là do sù co kéo của cơ gấp và sấp cẳng tay cẳng tay
Nguyễn Quang Long [6], Sandegard E [80], Khare G.N [55] đều cho rằng để khắc phục sự nghiêng và xoay trong của đầu ngoại vi, ngoài việc nắn chỉnh và cố định ổ gãy vững chắc còn phải làm giảm bớt sự co kéo của cơ gấp
và cơ sấp vào đầu ngoại vi bằng bất động cẳng tay ở tư thế khuỷu gấp 90o
, cẳng tay sấp 45o
sau nắn chỉnh hoặc sau phẫu thuật
Khare G.N và cộng sự (1991) [55] trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm tử thi và nghiên cứu lâm sàng 60 trẻ em bị gãy trên lồi cầu xương cánh tay đã kết luận: Cơ tam đầu cánh tay là yếu tố chính gây nên sự nghiêng vào bên trong của đầu ngoại vi trong tư thế cẳng tay ngửa Vì vậy tác giả khuyên nên cố
Trang 14định cẳng tay trong tư thế sấp, sau nắn chỉnh gãy trên lồi cầu xương cánh tay
sẽ ngăn chặn được biến dạng khuỷu vẹo trong
Ribault L.[78] cho rằng biến dạng khuỷu vẹo trong sau gãy trên lồi xương cánh tay trẻ em là do rối loạn sự phát triển ở đầu dưới xương cánh tay sau chấn thương, đặc biệt là sự phát triển quá mức của lồi cầu ngoài Năm
2000 Oh C.W [75] cho rằng biến dạng khuỷu vẹo trong là do sự kém phát triển của lồi cầu trong do thiếu máu nuôi dưỡng
Tóm lại có ba nguyên nhân gây biến dạng vẹo khuỷu vào trong sau gãy trên lồi cầu xương cánh tay ở trẻ em:
- Sù di lệch của đầu ngoại vi do nắn chỉnh chưa hết di lệch, cố định không chắc dẫn đến di lệch thứ phát gây ra liền lệch
- Di lệch thứ phát do co kéo của cơ gấp và sấp cẳng tay
- Do lực chấn thương làm tổn thương tới sụn tiếp hợp của đầu dưới xương cánh tay dẫn đến sự phát triển quá mức của lồi cầu ngoài hoặc kém phát triển của lồi cầu trong làm lệch trục khớp khuỷu
Xong hầu hết các tác giả đều có chung một nhận xét là sau một chấn thương vùng khuỷu, đặc biệt là gãy trên lồi cầu cầu xương cánh tay, gãy lồi cầu đơn thuần Đầu dưới thường bị biến dạng rõ rệt là nguyên nhân chính gây lệch vẹo trục của khớp khuỷu
1.5 Tổng quan về điều trị
1.5.1 Về chỉ định điều trị
Cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau trong chỉ định điều trị khuỷu vẹo trong Smith L.(1960) chủ trương trì hoãn phẫu thuật cho đến khi đứa trẻ hết tuổi dậy thì, tức là ở giai đoạn cuối của quá trình phát triển bộ xương Như vậy sẽ hạn chế được những tái phát sau phẫu thuật [82] French P.R.(1959) thì cho rằng chỉ định phẫu thuật chủ yếu để khắc phục hồi phục thẩm mỹ vì vậy can thiệp chủ yếu do yêu cầu của bệnh nhân [42] Theo
Trang 15Ippolito E và cộng sự [51] thì bên cạnh việc phục hồi thẩm mỹ phẫu thuật còn giúp cải thiện chức năng vận động của khớp khuỷu, do đó chủ trương phẫu thuật cho những bệnh nhân có biến dạng nặng Năm 1991 Darielsson L.S [33] chủ trương chỉ tiến hành phẫu thuật cho những bệnh bị biến dạng với góc cánh - cẳng tay lớn hơn -15o
Lê Văn Hội (1997) [3] đưa ra chỉ định phẫu thuật như sau: Bệnh nhân trên 15 tuổi có góc cánh cẳng tay lớn hơn -10o, với bệnh nhân dưới 15 tuổi thì phẫu thuật khi góc cánh cẳng tay lớn hơn -20o
nhằm tránh tái phát sau mổ
1.5.2 Tình hình điều trị biến dạng khuỷu vẹo trong
Để điều trị biến dạng khuỷu vẹo khuỷu vào trong phương pháp duy nhất là phẫu thuật cắt xương phía trên lồi cầu xương cánh tay để chỉnh trục khớp khuỷu
Có nhiều phương pháp cắt xương để chỉnh trục:
- Cắt xương mở phía trên lồi cầu trong và ghép xương
- Cắt xương chéo để chỉnh biến dạng xoay
- Cắt xương hình chêm phía trên lồi cầu ngoài
- Cắt xương hình vòm (dome osteotomy)
- Cắt xương hình năm cánh bên ngoài (pentalateral osteotomy)
- Cắt xương dịch từng bước (step - cut translation osteotomy)
Sau khi cắt xương chỉnh trục tiến hành cố định với nhiều phương pháp khác nhau tùy thuộc vào lứa tuổi, trang thiết bị kỹ thuật và kinh nghiệm của từng phẫu thuật viên
1.5.2.1 Phương pháp cắt xương mở bên trong và ghép xương
Phương pháp này được King D và Secor C [58] mô tả năm 1951 Đường cắt xương ngang phía trên lồi cầu trong để lại vỏ xương phía ngoài tạo bản lề xương Sau đó bẻ đầu dưới xương cánh tay ra ngoài để chỉnh biến dạng khuỷu vẹo trong, và ghép xương tự thân vào chỗ khuyết xương sau khi đã chỉnh trục
Trang 16Ưu điểm của phương pháp này là kỹ thuật đơn giản dễ làm, tuy nhiên nó cũng bộc lộ nhiều nhược điểm như:
- Làm tăng thêm chiều dài của xương cánh tay
- Cố định không vững
- Gây thêm chấn thương ở nơi khác khi lấy xương ghép
Hình 1.7 Kỹ thuật cắt xương mở bên trong của King D
và Secor C (1951) [58]
1.5.2.2 Phương pháp cắt xương chéo để chỉnh biến dạng xoay
Phương pháp này được Amspacher J.C và Messeough J.R mô tả năm
1964 [21], đường rạch da là đường dọc phía sau xương cánh tay chính giữa cơ tam đầu, ở 1/3 dưới xương cánh tay, tách cơ tam đầu bộc lộ xương cánh tay Dùng cưa lắc cắt xương chéo khoảng 3-4 cm theo hướng từ sau ra trước từ trên xuống dưới Dùng đục sắc mỏng để sửa mặt cắt xương sau đó chỉnh xoay
và nghiêng trong của đầu ngoại vi Áp sát hai mặt cắt và cố định bằng một vít xương.Sau mổ đặt một nẹp bột ở phía sau cố định 4 đến 6 tuần phương pháp này có nhược điểm là đường mổ lớn dễ gây tổn thương mạch máu thần kinh
Trang 17Mặt khác theo Terry Canale S.[84] thì việc chỉnh biến dạng xoay là không cần thiết bởi vì đã được khớp vai bù trừ, không ảnh hưởng nhiều đến thẩm mỹ chức năng của người bệnh
Hình 1.8 Kỹ thuật cắt xương chéo của Amspacher J.C
và Messenbaugh J.R (1964)[21]
1.5.2.3 Phương pháp cắt xương hình vòm
Matsushita (1997) [66] áp dụng điều trị cho 12 bệnh nhân biến dạng khuỷu vẹo trong Ông cho rằng phương pháp này có thể chỉnh tốt được biến dạng xoay và phòng ngừa được sự nhô ra của lồi cầu ngoài xương cánh tay Nhược điểm của phương pháp là phải bộc lộ rộng gây tổn thương phần mềm nhiều
1.5.2.4 Phương pháp đục xương hình năm cánh bên ngoài
Năm 1989 Laupattarakasem W [61] và cộng sự mô tả kỹ thuật cắt xương hình năm cánh bên ngoài điều trị chỉnh trục khuỷu vẹo trong Theo ông phương pháp này có ưu điểm chỉnh được biến dạng gập góc Dịch chuyển đầu
Trang 18trung tâm vào bên trong sẽ tránh được sự phình ra của lồi cầu ngoài Nhưng
dù sao phương pháp này gây tổn thương phần mềm nhiều, kỹ thuật đục xương khó khăn và có nhiều nguy cơ gây tổn thương mạch máu thần kinh
1.5.2.5 Phương pháp cắt xương dịch từng bước
Từ năm 1993-2002 Kim H.T [57] điều trị 19 bệnh nhân khuỷu vẹo trong bằng kỹ thuật cắt xương dịch từng bước và cố định nẹp chữ Y
Ưu điểm là cố định vững, kết quả chỉnh trục tốt
Nhược điểm là kỹ thuật phức tạp làm tổn thương phần mềm nhiều
1.5.2.6 Phương pháp cắt xương hình chêm phía trên lồi cầu ngoài xương cánh tay
Hình 1.9 Kỹ thuật French cải biên bởi Bellemore và Barrett
Trang 19Được French P.R mô tả đầu tiên năm 1959 Phương pháp này được nhiều tác giả áp dụng vì có ưu điÓm là:
- Kỹ thuật đơn giản dễ làm
- Ít gây thương tổn mạch máu thần kinh
- Có thể đồng thời chỉnh được cả 3 biến dạng vẹo trong, xoay trong và ưỡn quá mức
Kỹ thuật:
Đường mổ là đường phía sau 1/3 dưới xương cánh tay, tách nửa ngoài của cơ tam đầu Rạch cốt mạc và bộc lộ xương cánh tay Khoan hai lỗ làm điểm dẫn đường cho việc cắt xương sau đó vít hai vít, một vít ở đầu trung tâm phía sau, một vít ở đầu ngoại vi phía trước Tiến hành cắt xương hình chêm giữa hai lỗ khoan để lại thành xương bên trong tạo bản lề xương
Nắn chỉnh để áp sát hai mặt cắt vào nhau sao cho khuỷu được chỉnh vẹo
ra ngoài khoảng 5 - 10o Cố định bằng dây thép buộc hình số 8 qua hai đầu của đinh vít
Sau mổ đặt một nẹp bột phía sau trong tư thế khuỷu gấp 90o
cẳng tay sấp
45o trong thời gian 3 tuần
* Kỹ thuật French P.R cải biên bởi Bellemore M.C và Barrett L.R.(1984) [24]
Khác với kỹ thuật của French P.R là bắt hai vít ở bên ngoài, song song với cạnh trên và dưới của hình chêm
* Năm 1988 Derosa G.P và Grazino G.P [38] đã đưa ra kỹ thuật cắt xương hình chêm và cố định bằng một đinh vít vào vỏ xương
Trang 20Kỹ thuật được tiến hành như sau: Bộc lộ đầu dưới xương cánh tay qua đường rạch da phía sau ngoài tiến hành đục chêm xương sao cho cạnh trên của chêm xương vuông góc với trục của xương cánh tay Đỉnh ở phía trong, đáy ở phía ngoài nhưng còn để lại bó ngoài Đặt khớp lại hai đầu xương và cố định giữa đầu trung tâm và phần còn lại của đầu ngoại vi bằng một vít xương Đặt nẹp bột ở phía sau với khuỷu gấp 90o, cẳng tay sấp 45o
và cố định trong 4 tuần Phương pháp này có nhược điểm khó cắt chêm xương
Hình 1.9 Kỹ thuật Derosa G P và Grazino J P (1988)
* Kỹ thuật dùng đinh chữ U cố định
Darielsson L.R và cộng sự năm 1991 đã sử dụng đinh hình chữ U để cố định sau khi cắt bỏ chêm xương trên lồi cầu ngoài xương cánh tay
Ưu điểm của phương pháp này là dễ làm tuy nhiên dùng đinh chữ U để
cố định thường không vững, dễ tuột đinh, cho nên sau khi mổ cần phải đặt nẹp bột ở phía sau [33]
Trang 21Hình 1.10 Kỹ thuật dùng đinh chữ U để cố định
* Kỹ thuật dùng đinh kirschner cố định
Có hai dạng cố định bằng đinh kirschner:
- Cố định bằng cách xuyên 2 đinh kirschner song song từ lồi cầu ngoài lên trên vào trong
- Xuyên hai đinh kirschner chéo nhau
Phương pháp này được Ribault L và Latouche J.C [78] áp dụng năm
1990 để điều trị cho 8 bệnh nhân và thu được kết quả tốt Phan Đức Minh Mẫn [8] và cộng sự (1996) đã sử dụng kỹ thuật French P.R cải biên bằng một đinh kirschner và dây thép néo Ðp sè 8 Điều trị cho 18 bệnh nhân biến dạng khuỷu vẹo trong, 17/18 bệnh nhân đạt kết quả tốt, một trường hợp bị thất bại Năm 2001 Lê Thanh Sơn [16] đánh giá kết quả điều trị 31 trường hợp bị biến dạng khuỷu vẹo trong đã được phẫu thuật xuyên 2 đinh kirschner chéo với thời gian theo dõi trung bình là 4 năm 6 tháng Kết quả tốt chiếm 32,3%, kết quả khá chiếm 22,6% kết quả xấu chiếm 45,1%
Trang 22Hình 1.11 Kỹ thuật của Ribault L và Latouch J C (1990)
Trang 23Nhược điểm là phải béc lộ rộng làm tổn thương phần mềm nhiều
1.6 Tình hình áp dụng phương pháp cố định ngoài điều trị biến dạng khuỷu vẹo trong
* Từ năm 1990 khoa Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã tiến hành dùng phương tiện cố định ngoài theo phương pháp Greifensteiner để điều trị cho bệnh nhân khuỷu vẹo trong
Lê Văn Hội (1997) [3] đã đánh giá kết quả 5 bệnh nhân khuỷu vẹo trong, được đục xương chỉnh trục và cố định ngoài theo phương pháp Greifensteiner Có một trong hai bệnh nhân được kiểm tra xa đạt kết quả tốt, một trường hợp cho kết quả xấu [3]
Hình 1.13 Kỹ thuật cố định ngoài theo Greifensteiner
* Phương pháp cố định ngoài hai bên bằng CERNC của Nguyễn Văn Nhân được Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 ứng dụng điều trị cho các bệnh nhân khuỷu vẹo trong từ năm 1992
Trang 24Năm 1997 Lê Văn Hội [3] cũng đã đánh giá kết quả chỉnh trục và cố định ngoài hai bên bằng CERNC cho 14 bệnh nhân biến dạng khuỷu vẹo trong Kết quả khá tốt là 9/11 bệnh nhân chiếm (81,8%) và kết quả xấu là 2/11 bệnh nhân [3]
Hình 1.14 Kỹ thuật cố định ngoài hai bên bằng CERNC
* Từ năm 1990-1996 Karatusun V [53] đã áp dụng kỹ thuật Ilizarov để
cố định cho 7 bệnh nhân tuổi từ 6-15, sau khi đục xương chỉnh trục biến dạng khuỷu vẹo trong Thời gian theo dõi xa trung bình là 66,7 tháng Tất cả các bệnh nhân đều đạt kết quả tốt
* Năm 2003 Koch, Peter và cộng sự [59] báo cáo 4 bệnh nhân nam có tuổi trung bình 9,85 Đo biên độ góc mang trung bình trước mổ là -15,5o
Các bệnh nhân được đục hình chêm mở bên trong và cố định ngoài bằng khung cố định ngoài của AO, kết quả khá và tốt là 3/4 bệnh nhân chiếm (75%)
Nhìn chung điều trị phẫu thuật biến dạng vẹo khuỷu vào trong hiện nay
có nhiều phương pháp Kỹ thuật cắt xương hình chêm bên ngoài trên lồi cầu xương cánh tay được các phẫu thuật viên sử dụng rộng rãi Xu hướng là đục thấp đúng chỗ di lệch của đầu ngoại vi, tạo điều kiện liền xương nhanh Cố định sau đục xương chỉnh trục, được các tác giả áp dụng với nhiều loại phương tiện cố định khác nhau Mỗi phương pháp đều có những ưu nhược
Trang 25điểm riêng Vì vậy việc lựa chọn một phương pháp phù hợp đối với từng bệnh nhân, từng cơ sở điều trị là rất cần thiết nhằm đem lại kết quả tốt nhất cho người bệnh
Trang 26Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi bao gồm 42 bệnh nhân biến dạng khuỷu vẹo trong được điều trị tại Viện Khoa học Chỉnh hình và Phục hồi chức năng từ tháng 5 năm 2003 đến tháng 7 năm 2005 bằng phương pháp cố định ngoài hai bên bằng CERNC
Trong đó số bệnh được chúng tôi trực tiếp thăm khám và điều trị là 13 bệnh nhân Số còn lại được nghiên cứu qua hồ sơ bệnh án, phim X-quang và gọi tái khám
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Lựa chọn bệnh nhân
Chúng tôi tiến hành lựa chọn bệnh nhân với các tiêu chuẩn sau đây:
- Tất cả bệnh nhân trên 15 tuổi, những trường hợp dưới 15 tuổi chúng tôi lựa chọn những cháu có sự phát triển sớm về thể chất và nhỏ nhất là 11 tuổi
- Các bệnh nhân đều được xác định có tiền sử gãy trên lồi cầu xương cánh tay hoặc chấn thương vùng khuỷu Loại trừ những trường hợp khủyu vẹo trong không do chấn thương (bệnh mềm xương, u đầu dưới xương cánh tay )
2.2.2 Nghiên cứu hồi cứu
Chúng tôi thu thập hồ sơ bệnh án, phim X-quang của những bệnh nhân đã được điều trị biến dạng khuỷu vẹo trong bằng phương pháp cố định ngoài từ tháng 7/2003 đến tháng 11/2004
Trang 27Thu thập các chỉ tiêu lâm sàng, X-quang và kết quả sau phẫu thuật các bệnh nhân này được mời đến khám lại, chụp phim X-quang để kiểm tra Qua
đó đánh giá và phân tích để rót ra kết quả điều trị
2.2.3 Nghiên cứu tiến cứu
Được chúng tôi tiến hành từ tháng 4/2005 đến tháng 7/2005 bao gồm các bước sau:
- Thăm khám lâm sàng, chẩn đoán
- Tham gia phẫu thuật
- Theo dõi kiểm tra sau phẫu thuật và ghi chép lại các số liệu để đánh giá kết quả
2.2.4 Nghiên cứu các chỉ tiêu lâm sàng và X-quang
2.2.4.1 Chỉ tiêu lâm sàng
- Tuổi và giới
- Thời điểm bị chấn thương
- Phương pháp điều trị sau chấn thương
- Thời gian từ lúc bị chấn thương đến khi phát hiện biến dạng
- Thời gian từ lúc phát hiện biến dạng đến lúc được phẫu thuật
- Mức độ teo cơ bằng đo chu vi cánh tay hai bên để so sánh
- Biên độ vận động của khớp khuỷu
- Dấu hiệu tổn thương thần kinh ngoại biên
- Phân loại các thể biến dạng:
+ Biến dạng vẹo khuỷu vào trong đơn thuần
+ Biến dạng vẹo khuỷu vào trong kèm theo hạn chế vận động khớp khuỷu + Biến dạng vẹo khuỷu vào trong kèm theo tổn thương thần kinh
Trang 282.2.4.2 Chỉ tiêu X-quang trước phẫu thuật
Khớp khuỷu được chụp ở hai tư thế thẳng và nghiêng Vị trí chụp từ 1/3 giữa xương cánh tay đÕn 1/3 giữa xương cẳng tay Căn cứ vào phim thẳng để
đo góc cánh - cẳng tay
+ Góc mở ra ngoài được tính là góc dương (+)
+ Góc mở vào trong được tính là góc âm (-)
Đánh giá tình trạng đầu dưới xương cánh tay xem có thưa xương, gai xương, u xương hay không và tình trạng của khớp khuỷu như thế nào
- Bệnh nhân tiến cứu được cố định với 2 đinh Steinmann (nhóm B)
2.2.5.1 Chuẩn bị bệnh nhân trước mổ
+ Đánh giá tình trạng toàn thân và tại chỗ cho phép can thiệp phẫu thuật + Làm đầy đủ các xét nghiệm cần thiết
+ Nhịn ăn uống 6 giờ trước phẫu thuật
+ Đo góc cánh cẳng tay để dự kiến hình chêm xương sẽ đục
+ Giải thích cho gia đình và bệnh nhân về tình trạng bệnh, khả năng phục hồi thẩm mỹ, phục hồi chức năng vận động của khớp khuỷu cũng như những biến chứng trong và sau mổ
2.2.5.2 Chuẩn bị dụng cụ
+ Bao gồm bộ dụng cụ phẫu thuật xương chi trên
Trang 29+ Khoan điện, đinh Steinmann đường kính 2,5 mm và 3,0 mm
+ Bé CERNC loại dài 18cm
Thì 1: Rạch da theo đường sau ngoài ở 1/3 dưới xương cánh tay đến
cách mỏm trên lồi cầu ngoài xương cánh tay 1 cm, đường rạch dài khoảng 4 đến 5cm Tách cơ tam đầu ra phía sau trong Rạch màng xương dùng lóc xương tách màng xương, bộc lộ xương cánh tay Tiến hành phác vẽ một chêm xương với đáy ở ngoài, đỉnh ở bên trong xương cánh tay, cạnh dưới của hình chêm xương vuông góc với trục của cẳng tay, góc của hình chêm bằng góc cánh- cẳng tay đo được trên phim X-quang thẳng trước mổ cộng với 5 - 10o, tùy thuộc vào góc cánh-cẳng tay bên đối diện
Thì 2: Người phụ để tay bệnh nhân ở tư thế ngửa, cẳng tay gấp 45o Tiến hành xuyên một đinh Steinmann song song với cạnh dưới của hình chêm ngay trên mỏm trên lồi cầu ngoài xương cánh tay và cách cạnh này 1,5-2cm trước khi khoan chúng tôi tiến hành rạch da bằng mũi dao nhọn để tránh xoắn vặn
Trang 30làm tổn thương da, khoan với vận tốc chậm và bơm nước để tránh làm bỏng xương và tổ chức phần mềm Sau khi xuyên qua thành xương bên kia thì dừng lại Xuyên đinh Steinmann thứ hai phía trên cạnh trên của hình chêm khoảng 1,5 - 2cm và song song với cạnh này và cũng dừng lại sau khi xuyên qua thành xương bên kia
Thì 3: Tiến hành đục chêm xương như đã phác thảo bằng đục sắc mỏng
và để lại thành xương bên trong tạo bản lề xương Chỉnh Ðp hai mặt cắt của hình chêm xương vào với nhau và chỉnh di lệch xoay và ưỡn quá mức nếu có, sao cho kiểm tra góc cánh- cẳng tay mở ra ngoài ương ứng với tay bên lành Cẳng tay không còn xoay trong, khuỷu không ưỡn quá mức và hai mặt của hình chêm xương phải áp sát vào nhau Chúng tôi không khoan tiếp mà gõ nhẹ 2 đinh Steinmann để xuyên qua phần mềm bên kia tránh tổn thương mạch máu và thần kinh Lắp bộ cọc Ðp ren ngược chiều vào đinh Steinmann đã xuyên vặn chặt các ốc cố định đinh Steinmann và vặn Ðp sát hai mặt cắt vào nhau Với kỹ thuật xuyên ba đinh steinmann Chúng tôi sẽ xuyên đinh steinmann thứ ba sau khi đã vặn chặt ốc kẹp hai đinh seinmann thứ nhất và thứ hai Nhằm đảm bảo ba đinh cùng nằm trên một mặt phẳng
Thì 4: Kiểm tra lại trường mổ, bơm rửa betadin, đóng vết mổ, quấn bông
cồn bảo vệ chân đinh và băng Ðp vết mổ với bông mỡ, tháo garô
Trang 31
Hình 2.1 Kỹ thuật cố định ngoài bằng CERNC
2.2.6 Theo dõi sau phẫu thuật
+ Bất động bằng treo cao tay ở tư thế cẳng tay gấp 90o
+ Dùng kháng sinh 5 ngày
+ Sử dụng các thuốc giảm đau, an thần, chống phù nề
+ Thay băng lần đầu sau mổ 24 giê
+ Chụp X-quang thẳng nghiêng để kiểm tra kết quả kết xương
+ Sau 5-7 ngày cho bệnh nhân ra viện theo dõi điều trị ngoại trú
2.2.7 Luyện tập sau mổ
+ Nguyên tắc luyện tập:
- Luyện tập sớm ngày thứ 3 sau mổ
- Tập thường xuyên và tăng dần số lần cũng như thời gian từng lần
- Tập từ chủ động đến có trợ giúp
+ Quy trình luyện tập:
- Trong 3 tuần đầu: Bệnh nhân chủ động tập gấp duỗi nhẹ nhàng 4-6 lần/ngày, mỗi lần 10 phót
- Từ tuần thứ 4-6: Tập gấp, duỗi tối đa ngày 4-6 lần, mỗi lần 15 phót
- Sau khi tháo khung cố định cho bệnh nhân tập với lực đối kháng
và sự trợ giúp của người nhà
Tập thường xuyên cho đến khi vận động khớp khuỷu trở lại bình thường Nếu điều kiện cho phép bệnh nhân tập luyện tại khoa Phục hồi chức năng với sự hướng dẫn của kỹ thuật viên
Trang 322.2.8 Tổ chức theo dõi ngoại trú
Chúng tôi giữ bệnh nhân điều trị nội trú 5 ngày nếu ổn định cho bệnh nhân ra viện
Hướng dẫn bệnh nhân thay băng giữ sạch các chân đinh và tập vận động khớp khuỷu
Bệnh nhân được hẹn kiểm tra lại 6 tuần sau mổ Chụp X-quang kiểm tra
có can xương chắc thì tháo bỏ phương tiện cố định đồng thời hướng dẫn bệnh nhân tập vận động gấp duỗi cho đến khi tầm vận động khớp khuỷu bình thường Theo dõi đánh giá kết quả xa ghi lại các số liệu về lâm sàng và lưu giữ phim X-quang
2.2.9 Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật
2.2.9.1 Kết quả gần (thời gian theo dõi 8 tuần)
+ Liền sẹo sau mổ
+ Đánh giá kết quả chỉnh trục sau mổ
+ Biến chứng gần:
- Tổn thương thần kinh
- Di lệch ổ kết xương
- Nhiễm khuẩn vết mổ, nhiễm khuẩn chân đinh
+ Đánh giá kết quả chỉnh trục khi rút phương tiện kết xương
2.2.9.2 Đánh giá kết quả xa (thời gian theo dõi 9 tháng)
Chúng tôi gửi thư mời bệnh nhân tới khám lại tại Khoa Chấn thương Chỉnh hình Viện Khoa học chỉnh hình - PHCN và đánh giá các chỉ số sau:
Trang 33+ Đo biên độ vận động của khớp khuỷu để đánh giá mức độ hạn chế vận động và kết quả phục hồi sau phẫu thuật Bình thường biên độ gấp khuỷu là
+ Kiểm tra đánh giá thương tổn thần kinh
+ Chụp X-quang ở hai tư thế thẳng và nghiêng:
- Đo góc cánh-cẳng tay để đánh giá kết quả chỉnh trục (so sánh với góc cánh cẳng tay bên lành) Bình thường góc này từ 5°-10°
• Khuỷu vẹo ra ngoài: Kết quả tốt
• Khuỷu thẳng: Kết quả khá
• Khuỷu vẹo trong: Kết quả xấu
- Phân tích hình thái tổ chức xương khớp trên phim X-quang + Chỉ tiêu đánh giá kết quả xa: Chúng tôi dựa vào bảng phân loại của tác giả Ippolito E (1990) [51]
* Kết quả tốt:
- Liền xương hoàn toàn, cấu trúc khối can đồng nhất
- Sự khác nhau giữa góc cánh cẳng tay 2 bên 10o
- Góc cánh-cẳng tay bên phẫu thuật > 0o
Trang 34- Biên độ vận động của khớp khuỷu không bị giảm so với trước phẫu thuật
* Kết quả khá:
- Liền xương hoàn toàn, cấu trúc khối can đồng nhất
- Sự khác nhau giữa góc cánh-cẳng tay hai bên 10o
- Liền xương hoàn toàn, cấu trúc khối can không đồng nhất
- Sự khác nhau giữa góc cánh-cẳng tay hai bên > 10o
- Góc cánh-cẳng tay bên phẫu thuật < 0o
- Biên độ vận động khuỷu hạn chế > 10o so với trước phẫu thuật Kết quả nghiên cứu được xử lý trên phần mềm EPI-INFO 6.0
Trang 35Chương 3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Đặc điểm số liệu thống kê
- Số bệnh nhân khuỷu vẹo trong bên (T) là 28 bệnh nhân và bên (P) là 14 bệnh nhân Như vậy số bệnh nhân vẹo khuỷu (T) gấp 2 lần số bệnh nhân bị vẹo khuỷu (P)
- Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 11 tuổi và lớn nhất ở tuổi 24 Tuổi trung bình lúc phẫu thuật là 15,5 tuổi
Bảng 3.1 Phân loại bệnh nhân theo lứa tuổi (n=42)
Trang 36Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo lứa tuổi
Nhận xét: Qua bảng 3.1 cho thấy nhóm tuổi từ 11-15 tuổi được phẫu thuật
nhiều hơn chiếm tỷ lệ 57%
3.1.2 Nguyên nhân gây biÕn dạng khuỷu vẹo vào trong
Bảng 3.2 Nguyên nhân biến dạng khuỷu vẹo trong (n=42)
Trang 37Nhận xét: Số liệu bảng 3.2 cho thấy biến dạng khuỷu vẹo trong chủ yếu gặp
sau gãy trên lồi cầu xương cánh tay chiếm tỷ lệ 88,1%
3.1.3 Tuổi bệnh nhân lúc bị gãy trên lồi cầu xương cánh tay hoặc chấn thương vùng khuỷu
Bảng 3.3 Tuổi bệnh nhân lúc bị gãy trên lồi cầu xương cánh tay
hoặc chấn thương vùng khuỷu (n=42)
Nhận xét: Bảng 3.3 cho thấy lứa tuổi từ 5-10 bị gãy trên lồi cầu xương cánh
tay nhiều nhất, chiếm tỷ lệ 64,3% Các bệnh nhân bị chấn thương vùng khuỷu nằm trong nhóm dưới 5 tuổi
3.1.4 Phương pháp điều trị khi bị gãy trên lồi cầu xương cánh tay hoặc chấn thương vùng khuỷu
Trang 38Nhận xét: Số liệu bảng 3.4 cho thấy sau gãy trên lồi cầu xương cánh tay chủ
yếu được điều trị bảo tồn
- Nắn chỉnh bó bột chiếm 80,9%
- Điều trị đông y là: 14,3%
Có hai trường hợp không được điều trị gì chiếm 4,8% đều nằm trong nhóm bệnh nhân bị chấn thương vùng khuỷu
3.1.5 Thời gian từ khi bị chấn thương đến khi phát hiện khuỷu vẹo trong
Bảng 3.5 Thời gian xuất hiện khuỷu vẹo trong
sau khi bị chấn thương (n=42)
Nhận xét: Từ bảng 3.5 chúng tôi nhận thấy thời gian xuất hiện khuỷu vẹo
trong sau chấn thương chủ yếu nằm trong khoảng dưới 6 tháng, chiếm 78,6% Thời gian trung bình xuất hiện vẹo khuỷu là 6,3 tháng có một bệnh nhân xuất hiện vẹo khuỷu sau hai năm
Tuy nhiên số liệu của chúng tôi ở đây là qua hỏi tiền sử bệnh nhân do đó chỉ có độ chính xác rất tương đối
Trang 393.1.6 Thời gian từ khi phát hiện biến dạng khuỷu vẹo trong đến khi được phẫu thuật chỉnh trục
Bảng 3.6 Khoảng thời gian từ lúc bị vẹo khuỷu đến khi phẫu thuật (n=42)
Nhận xét: Có một bệnh nhân được mổ muộn nhất là sau phát hiện vẹo khuỷu
19 năm Có ba bệnh nhân được mổ sớm nhất là sau ba năm.Thời gian trung bình từ khi phát hiện khuỷu vẹo vào trong đến khi được phẫu thuật là 8,3 năm
3.1.7 Đặc điểm biến dạng khuỷu vẹo trong
Bảng 3.7 Thể bệnh biến dạng khuỷu vẹo trong (n = 42)
Nhận xét: Số bệnh nhân khuỷu vẹo trong đơn thuần chiếm tỷ lệ 45,3% sau đó
là tỷ lệ bệnh nhân khuỷu vẹo trong kèm theo hạn chế gấp (35,7%) chúng tôi
Trang 40không gặp trường hợp nào biến dạng khuỷu vẹo trong kèm tổn thương thần kinh
Bảng 3.8 Độ hạn chế gấp khuỷu trước phẫu thuật (n = 42)
Nhận xét: Số liệu bảng 3.8 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân bị hạn chế gấp là 19/42
chiếm (45,2%), số bệnh nhân hạn chế gấp trên 30o
là rất Ýt Chúng tôi chỉ gặp một bệnh nhân hạn chế gấp 40o Đây là bệnh nhân kèm theo cả hạn chế duỗi
Độ hạn chế gấp trung bình trước phẫu thuật là 20,5o