Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và công cuộc xóa đói giảm nghèo ở nước ta
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước cùng với những
chính sách của Đảng,Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, đời sống
của nhân dân được cải thiện Song những khó khăn về đói nghèo vẫn còn ảnh
hưởng rất lớn đến quá trình phát triển của đất nước Trong quá trình đổi mới đất
nước, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng đến quá trình xoá đói giảm nghèo kết
hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm
phát huy những thế mạnh của đất nước, qua đó cũng đạt những thành tựu đáng
kể về kinh tế nhưng những tác động của đói nghèo có phần nào đã làm giảm tốc
độ phát triển kinh tế đất nước
Trên cơ sở đó qua bài viết này em xin phép được bàn tới “Một số vấn đề về
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và công cuộc xoá đói giảm nghèo ở nước ta hiện
nay” nhằm làm rõ hơn về công cuộc xoá đói giảm nghèo cũng như quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta cũng như những cơ hội và thách thức trong
thời kỳ mở cửa và hội nhập
Tuy nhiên do kiến thức còn hạn hẹp nên trong bài này không thể tránh khỏi
những thiếu sót Em rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để
bài viết này được hoàn chỉnh hơn
NỘI DUNG
Trang 2I CÁC KHÁI NIỆM
1 Khái niệm về đói nghèo
• Khái niệm về đói nghèo của thế giới
Theo quan điểm chung thì những người có thu nhập dưới 1/3 mức trung
bình của xã hội thì coi là loại nghèo khổ
Tại hội nghị về xoá đói giảm nghèo ở khu vực Châu á- Thái Bình Dương
do ESCAP tổ chức vào tháng 9/1993 ở Băng Cốc đã đưa ra khái niệm nghèo
“Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn
những nhu câu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội thừa
nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội và phong tục tập quán của một
địa phương”
• Khái niệm nghèo đói ở Việt Nam
Việt Nam nói chung vẫn là nước nghèo, thu nhập bình quân đầu người
thấp, đầu những năm 90 chỉ đạt khoảng 200 USD / người/ năm, đến đầu năm
1997 mới đạt 320 USD / người/ năm Chính vì vậy qua nhiều khảo sát , nghiên
cứu các nhà quản lý ở các bộ, nghành đã đi đến thống nhất cần có khái niệm
riêng, chuẩn mực riêng cho nghèo và đói
Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thoả mãn một
phần nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng với mức sống
tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện
Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống nhỏ hơn mức
sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống
2 Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
• Cơ cấu kinh tế là tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền
kinh tế quốc dân, giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, những tương tác qua lại cả
về vật chất và số lượng, trong những không gian và điều kiện kinh tế xã hội cụ
thể, chúng vận động hướng vào mục tiêu nhất định Theo quan điểm này, cơ
cấu kinh tế là một phạn trù kinh tế, là nền tảng của cơ cấu xã hội và chế độ xã
hội Cơ cấu kinh tế còn là phạm trù trừu tượng, muốn nắm vững bản chất của cơ
Trang 3cấu kinh tế một cách có hiệu quả cần xem xét từng loại cơ cấu cụ thể của nền
kinh tế quốc dân
• Cơ cấu ngành kinh tế : là tổng thể các nghành hợp thành các tương quan
tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ của các nhóm nghành của nền kinh tế quốc dân Khi
phân tích cơ cấu nghành của một quốc gia người ta thường phân tích thành ba
nhóm nghành chính:
+ Nhóm nghành nông nghiệp : Bao gồm các nghành nông, lâm, ngư
nghiệp
+ Nhóm nghành công nghiệp : Bao gồm các nghành công nghiệp và xây
dựng
+ Nhóm nghành dịch vụ: Bao gồm thương mại, dịch vụ
• Cơ cấu lãnh thổ : Là nghành cơ cấu kinh tế thực chất là hai mặt của một
thực thể thống nhất và là biểu hiện của sự phân công lao động xã hội Cơ cấu
lãnh thổ hình thành gắn liền với cơ cấu nghành và thống nhất trong vùng kinh
tế Việc chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ phải đảm bảo sự hình thành và phát triển
có hiệu quả cuả các nghành kinh tế, các thành phần kinh tế theo lãnh thổ và trên
phạm vi cả nước phù hợp với đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội, phong tục tập
quán, truyền thống của mỗi vùng, nhằm khai thác triệt để thế mạnh của vùng
đó
II NỘI DUNG CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU KINH TẾ
1 Nội dung
Dự thảo các văn kiện trình Đại hội IX xác định nhiệm vụ đưa đất nước ta cơ
bản thành nước công nghiệp vào năm 2010 Đây là nhiệm vụ hết sức nặng nề và
khó khăn bởi đến nay nước ta chưa thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát
triển Để thực hiện nhiệm vụ này, đòi hỏi phải có sự nỗ lực cao, trên cơ sở đường
lối rõ ràng và có luận cứ khoa học Trong tổng thể các vấn đề cần giải quyết, việc
xác định phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữ vị trí quan trọng Khi đề
Trang 4cập đến xác định phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta có mấy vấn
đề cần xem xét:
Trước hết cơ cấu kinh tế được xác định là cơ cấu linh hoạt, có khả năng
thích nghi nhanh với sự biến đổi của môi trường trong nước và quốc tế, trước
hết và chủ yếu là sự tiến bộ khoa học và công nghệ, chi phí ( tài chính và thời
gian) cho điều chỉnh thấp
Thứ hai đánh giá lại một cách toàn diện và sâu sắc những lợi thế mà lâu nay
nhìn nhận được một cách lạc quan Tài nguyên và nhân lực của nước ta chỉ tạo
nên lợi thế có tính chất ngắn hạn của một nền kinh tế có trình độ phát triển thấp
kém
Thứ ba định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nghành chủ yếu phải xuất
phát từ cầu thi trường, trên cơ sở khai thác có hiệu quả khả năng chứ không thể
xuất phát thuần tuý từ khả năng
Thứ tư huy động, phân bổ và quản lý sử dụng vốn đầu tư vẫn được coi là
điều kiện trọng yếu cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển ở nước ta
Thứ năm đánh giá và phân laọi khả năng cạnh tranh và dự báo triển vọng
cạnh tranh của các nghành kinh tế để có giải pháp xử lý hợp lý
Theo đó có thể phân các nghành kinh tế thành các nhóm sau:
a. Nhóm thứ nhất: Bao gồm các nghành tạo được ưu thế nổi trội không cạnh
tranh trên thị trường quốc tế sẽ được ưu tiên phát triển với nhịp độ cao
Nhóm nghành này bao gồm hai phân nhóm lớn:
- Các nghành truyền thống đã và sẽ tiếp tục xác lập được vị thế trên thị
trường
Những nghành còn lại bao gồm:
+ Các nghành phát triển trên cơ sở lợi thế về tài nguyên như : Nông nghiệp,
ngư nghiệp và khai thác
+ Các nghành phát triển trên cơ sở lợi thế về lao động như may mặc, giày
dép, lắp ráp cơ khí, điện tử…
Trang 5- Những nghành mới phát triển đại diện cho trình độ khoa học công nghệ cao(
điện tử, tin học, công nghệ thông tin, cơ - điện tử, vật liệu mới, các chế phẩm sinh
học cao cấp) Những nghành này dần chiếm vị trí cao, quan trọng trong cơ cấu
kinh tế
b. Nhóm thứ hai bao gồm các nghành có thể triển vọng nâng cao khả năng cạnh
tranh trên thị trường cũng cần được ưu tiên thoả đáng nhằm biến khả năng
ấy thành hiện thực Nhóm này có diện khá rộng, bao gồm hai loại:
- Các nhóm nghành nước ta có lợi thế, nhưng hiện nay phát triển theo kiểu
truyền thống( tự nhiên), mức độ đầu tư khoa học và công nghệ còn thấp( trình độ
sản xuất thấp) nên sản phẩm không có sức cạnh tranh trên thị trường trong và
ngoài nước như nông sản thực phẩm nhiệt đới( chè, rau, hoa quả, hồ tiêu, gia súc,
gia cầm….), một số loại cây công nghiệp( cao su, dâu tằm…), cây công nghiệp
chế biến lương thực
- Các nhóm nghành thị trường trong nước có nhu cầu, đã có cơ sở vật chất nhất
định nhưng trình độ sản xuất lại lạc hậu, việc đầu tư khoa học và công nghệ chưa
thoả đáng nên chưa đủ khả năng chiểm lĩnh thị trường trong nước và thâm nhập
thị trường nước ngoài Có thể liệt kê một số nhóm nghành điển hình gồm : sản
xuất vật liệu xây dựng thông thường và cao cấp, cơ khí sản xuất cho công nghiệp
nhẹ, nông nghiệp, phụ tùng cho công nghiệp nặng và kim khí tiêu dùng, một số
nghành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất phân bón và chế phẩm
phục vụ trồng trọt, chăn nuôi
Nhóm nghành sẽ được phát triển mạnh hơn nhưng trong thời gian đầu chưa
thể có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế Chẳng hạn công
nghiệp hoá chất gắn liền với công nghiệp hoá dầu, luyện kim đen và luyện kim
màu, các hoạt động và dịch vụ của kinh tế thị trường như tài chính, ngân hàng,
bảo hiểm…
c. Nhóm nghành thứ ba là các nghành trên thị trường không vấp phải sự cạnh
tranh gay gắt do đặc thù của sản xuất hoặc tiêu dùng, dung lượng thị trường nhỏ
d. Nhóm thứ tư bao gồm các nghành có khả năng cạnh tranh thấp do năng lực
sản xuất hạn chế, khả năng không thể theo kịp sự biến đổi của nhu cầu, việc đầu
tư không mang lại hiệu quả mong muốn Cân tính toán đầy đủ sự tác động của
Trang 6toàn cầu hoá và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế để định hướng đầu tư theo yêu
cầu phát huy lợi thế và đảm bảo hiệu quả đầu tư
2 Các nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta
Xác định và thực hiện các phương hướng và biện pháp nhằm chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hương hội nhập là một trong những nhiệm vụ quan trọng của
quản lý nhà nước về kinh tế Để thực hiện nhiệm vụ này cần phải nghiên cứu và
phân tích kỹ các nhân tố khách quan và chủ quan có ảnh hưởng đến quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cần khẳng định ngay rằng thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình
thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu nghành Bởi vậy, sự hình
thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường trong nước( thị trường hàng hoá,
dịch vụ, thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ…) có
tác động mạnh đến quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nhưng
hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nào là phụ thuộc vào chiến
lược và các định hướng phát triển của Nhà Nước trong từng thời kì có tính đến
các yếu tố trong bối cảnh mở cửa và hội nhập quốc tế
Các nguồn lực và lợi thế của đất nước là cơ sở để hình thành và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo một cách bền vững và có hiệu quả Tài nguyên thiên
nhiên(khoáng sản, hải sản, lâm sản, nguồn nước …)và các điều kiện tự nhiên (khí
hậu, thời tiết, bờ biển…)phong phú và thuận lợi tạo điều kiện phát triển các
ngành công nghiệp dịch vụ, ngư nghiệp, nông nghiệp … Tuy nhiên, việc khai
thác các yếu tố này phục vụ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn phụ
thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Thông thường ở mỗi giai đoạn
phát triển, người ta tập trung khai thác các tàI nguyên có lợi thế, trữ lượng lớn,
giá trị kinh tế cao, nhu cầu thị trường lớn và ổn định…Như vậy, sự đa dạng và
phong phú của tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến
quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, là nhân tố phải tính đến trong
quá trình hoạch định chiến lược cơ cấu
Trang 7Dân số, lao động được xem là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh
tế Sự tác động của các nhân tố này lên quá trình hình thành và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế được xem xét trên các mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất, kết cấu dân cư và trình độ dân trí, khả năng tiếp thu khoa học kỹ
thuật mới…là cơ sở quan trọng để phát triển các nghành công nghiệp, kỹ thuật
cao
quy mô và cơ cấu của nhu cầu thị trường Đó là cơ sở để phát triển các nghành
nghề công nghiệp và các nghành phục vụ tiêu dùng
Thứ ba sự phát triển của các nghành nghề truyền thống trong công nghiệp
cũng như các nghành kinh tế khác thường gắn liền với tập quán truyền thống,
phong tucj của một địa phương, một cộng đồng người Thêm vào đó vị trí địa lý
kinh tế của đất nước cũng là một yếu tố cần được xem xét khi hình thành cũng
như định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng mở cửa và hội nhập giai
đoạn hiện nay
Sự ổn định của thể chế chính trị và đường lối đối ngoại rõ ràng và mở rộng, đa
dạng hoá, đa phương hoá các mối quan hệ… Là một lợi thế quan trọng của nước
ta trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Song trong việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế cho dù la chuyển dịch theo hướng nào) thì Nhà nước đóng vai trò quyết
định
nghành và theo vùng lãnh thổ
hạn chế, thậm chí gây áp lực để các doanh nghiệp, các nhà đầu tư( cả trong và
ngoàI nước) phát triển sản xuất kinh doanh theo định hướng Nhà nước đã định
Cùng với đó kết quả làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung theo hướng xuất
nhập khẩu là nhờ có tiến bộ khoa học kỹ thuật – công nghệ trong thời kỳ mở cửa
và hội nhập vào đời sống kinh tế khu vực và trên Thế giới
III THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CÔNG CUỘC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM
Trang 81 Thực trạng
Nghèo đói là một trong những thách thức lớn của nhân loại hiện nay Vào
những năm cuối của thế kỷ XX, trên thế giới vẫn còn khoảng 1,5 tỷ người sống
trong tình trạng đói nghèo Đây là một trở ngại lớn mà không một quốc gia nào
không quan tâm và tìm cách giải quyết trong quá trình phát triển của mình Vào
những năm gần đây, công cuộc đổi mới của đất nước ta đã và đang đem lại những
biến đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế, xã hội, trong nhiều năm liên tục chúng ta
đạt tốc độ tăng trưởng cao về kinh tế Nền kinh tế thị trường một mặt đem lại tính
năng động sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh cũng như nhiều lĩnh vực khác
trong đời sống kinh tế, xã hội, mặt khác cũng bộc lộ nhiều hạn chế chẳng hạn như
sự phân hoá giàu nghèo ngày càng trở nên rõ nét Do vậy xoá đói giảm nghèo
trong những năm gần đây luôn được Đảng và Nhà nước coi là vấn đề bức xúc,
gay gắt có ý nghĩa cơ bản, lâu dài nhất là đối với người dân ở nông thôn Đề giải
quyết vấn đề đói nghèo không thể bị động và thụ động bằng các biện pháp nhất
thời hoặc thuần tuý cứu trợ Về mặt cơ bản phương hướng xoá đói giảm nghèo
phải tìm they ở sự nỗ lực sản xuất của các hộ dân cư, sự quan tâm của Nhà nước
và các tổ chức xã hội Phát triển sản xuất là một gốc rễ của xoá đói giảm nghèo
và phát triển bền vững Các nhà xã hội học gần đây tiến hành khảo sát 118 hộ gia
đình tại huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ tháng 9/2000 cho they một số vấn đề
sau: Trong địa bàn khảo sát, tỷ lệ hộ nghèo tuyệt đối là 21,7% với thu nhập đầu
người theo tháng là 35.860 đồng, tỷ lệ hộ nghèo tương đối là 42,2% với thu nhập
bình quân đâu người theo tháng là 101.225 đồng, còn nhóm không nghèo chiếm
36,1% với thu nhập bình quân đầu người theo tháng là 312.736 đồng/tháng Như
vậy sự phân nhóm mức sống giữa nhóm không nghèo và nhóm nghèo tuyệt đối là
8,72 lần, giữa nhóm nghèo tương đối và tuyệt đối xấp xỉ 3 lần Cụ thể ở từng địa
bàn như sau: Khoảng cách giữa các nhóm không nghèo là nhóm nghèo ở thị trấn
là 10,15 lần, ở các xã là 7,6 – 8,44 lần Như vậy, mức độ chuyển đổi cơ cấu kinh
tế của từng vùng đã có tác động đến mức sống của các hộ gia đình nói chung Về
quy mô gia đình: Nhóm hộ nghèo tuyệt đối trung bình có 4,57 nhân khẩu với số
lao động chính trung bình là 2,19 tương tự với nhóm hộ nghèo tương đối là 4,2
và 2,13 và nhóm hộ không nghèo là 3,64 và 1,93 Vậy đông nhân khẩu là một
trong những nhân tố dẫn đến đói nghèo
Trang 9Về việc làm chính của hộ gia đình: Những hộ nghèo thường là những hộ
thuần nông Những hộ có điều kiện kinh tế ở nông thôn lại tập trung vào những
hộ có người đi làm Nhà nước(46,4%) Trước thực trạng nghèo khổ như vậy, các
hộ nghèo đã nhận thức như thế nào về tình trạng nghèo khổ của mình? Những
nguyên nhân nghèo khổ có thể chia thành 3 nhóm : Nhóm phổ biến nhất là thiếu
đất canh tác( 55,5%), rủi ro(50%), thiếu vốn(47,3%), đông con(32,9%) Nhóm
không biết cách làm ăn(20,7%), không có nghề(19%), thiếu lao động(5,6%), do
ma tuý(5,4%) Một vấn đề luôn đặt ra với các hộ nghèo là thiếu vốn Tuy nhiên
thực tế chỉ có 1/2 số hộ nghèo có vay vốn Vây tại sao hộ nghèo lại không vay
vốn?
Khi tìm hiểu nguyên nhân thì được biết là do không đủ điều kiện vay, sợ lãi
suất cao, lo không trả được nợ và thời hạn vay ngắn
Như vậy thiếu vốn là vấn đề cơ bản đối với những hộ nghèo, nhưng chỉ có
một bộ phận nhận thức được điều đó Hơn nữa mặc dù đã nhận thức được nguyên
nhân nghèo nhưng chỉ có 1/2 số hộ dám vay vốn Do đó vấn đề đặt ra với hộ
nghèo không phải chỉ là vấn đề thiếu vốn mà cả về vấn đề trình độ
Nhờ thực hiện có hiệu quả đường lối đổi mới toàn diện đất nước do Đảng khởi
xướng GDP tăng 7,8%, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 423 USD năm
2001 lên 722 USD năm 2006( tăng gần 70,7%) Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân
hàng năm trên 2%, thất nghiệp cuối năm 2006 còn khoảng 5% Cùng với đó các
chính sách và giải pháp của Chính Phủ đã khiến kinh tế khu vực có bước tăng
trưởng mạnh mẽ Từ năm 2002 – 2006 có gần 170.000 doanh nghiệp đăng ký
thành lập mới.Trong nghiệm kỳ đã sắp xếp lại 3815 doanh nghiệp Nhà nước bằng
71% số doanh nghiệp Nhà nước có vào đầu năm 2002, trong đó thực hiện cổ
phần hoá 2440 doanh nghiệp Nhà nước Môi trường đầu tư cũng được cải thiện,
từ năm 2001 – 2005, tổng vốn FDI đăng ký đạt gần 21 tỷ USD, vốn thực hiện đạt
hơn 14 tỷ USD vượt 30% so với chỉ tiêu đề ra Việt Nam đã chính thức gia nhập
tổ chức thương mại quốc tế WTO
2 Giải pháp
Trước hết phải tập trung nguồn lực và sức lực phát triển sản xuất nông nghiệp
toàn diện, bền vững với cơ cấu hợp lí Chuyển đổi nhanh cơ cấu cây trồng, vật
Trang 10nuôi, đặc biệt giống cây mới có năng suất, chất lượng cao Giữ vững và tăng diện
tích trồng lúa một cách hợp lý, đảm bảo vững chắc an ninh quốc gia và dành một
phần cho xuất khẩu Diện tích hoa màu, ngô, khoai, sắn, đậu đỗ… còn tiềm
năng lớn để phát triển, đi đôi với diện tích phải hướng vào thâm canh, tăng sản
lượng và chất lượng hàng hoá đáp ứng yêu cầu chăn nuôi và xuất khẩu Cần
quan tâm nhiều hơn tới nông nghiệp trên cơ sở quy hoạch tổng thể, dự báo thị
trường giá cả, yêu cầu tiêu thụ thị trường trong nước và nước ngoài để phát triển
bền vững, lập quỹ hỗ trợ bình ổn giá nông sản, khắc phục cho được tính tự phát,
khi đến mùa được giá thì đua nhau nuôi trồng, khi giá hạ thì chặt phá gây tốn
kém sức người, sức của của nhân dân
Nghành thuỷ sản nước ta có khả năng phát triển gấp đôi, gấp ba so với hiện
nay Đây cũng là nghành kinh tế trọng yếu thu hút nhiều lao động Có chương
trình, kế hoạch phát triển đồng bộ, bền vững cả nuôi trồng, đánh bắt gắn với chế
biến, nâng cao chất lượng hàng hoá thuỷ sản Đi đôi với phát triển kinh tế biển,
chúng ta còn có nhiều tiềm năng về rừng cùng với hơn 133 ngàn trang trại, mô
hình nông lâm kết hợp, gắn sản xuất với chế biến, xuất khẩu vừa giải quyết vấn
đề kinh tế vừa bảo vệ môi trường sinh thái, thực hiện tốt việc phân vùng – rừng
đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng kinh tế Mặt khác để nông nghiệp nước ta phát
triển bền vững đòi hỏi phải đầu tư phát triển nền nông nghiệp và công nghiệp chế
biến Trước hết coi trọng chế biến lương thực, thực phẩm Quan tâm sản xuất
máy móc, công cụ cầm tay, máy xay xát cho nhân dân các vùng sâu, vùng xa,
vùng đồng bào dân tộc Một yếu tố hết sức quan trọng nữa là tăng cường sự đầu
tư của Nhà nước đi đôi với chính sách khuyến khích đầu tư của địa phương và
nhân dân để nhanh chóng tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật cho nông thôn phát triển
trước hết là cơ sở hạ tầng: đường giao thông, trường học, trạm xá, chợ, trung tâm
cụm xã đặc biệt là hệ thống hồ đập, kênh mương thuỷ lợi đảm bảo nguồn nước
vững chắc cho sản xuất nông nghiệp, cây công nghiệp và sinh hoạt đời sống nhân
dân Vấn đề quan trọng và có tính quyết định là vấn đề cán bộ cơ sở, đặc biệt là
các xã miền núi, hải đảo đang hết sức khó khăn Các tỉnh, thành phố cần tăng
cường cán bộ có trình độ năng lực và kinh nghiệm về giúp đỡ các xã thuộc vùng
sâu, vùng xa Đồng thời có kế hoạch đào tạo cơ bản đội ngũ cán bộ tại chỗ