Xã hội chủ nghĩa có phải là kế hoạch hóa toàn bộ nền kinh tế
Trang 1MỞ ĐẦU
Công cuộc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền
kinh tế thị trường ở nhiều nước trong thời gian qua đã thu hút được sự chú ý của
đông đảo các giới nghiên cứu cũng như nhiều tầng lớp xã hội, nhất là các giới
doanh nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới, bởi tính triệt để và quy mô rộng
lớn của nó đối với các quốc gia đang chuyển đổi, sự lựa chọn mô hình phát triển
nền kinh tế thị trường là rất quan trọng trong và gặp không ít khó khăn, ngay cả
đối với những nước có nền công nghiệp khá phát triển
Trước khi chuyển sang kinh tế thị trường, ở các nước xã hội chủ nghĩa đã
từng xây dựng mô hình kinh tế kế hoạch hoá, và khi kinh tế kế hoạch hoá buộc
phải nhường bước cho kinh tế thị trường thì bản thân nó ắt phải có những
khuyết tật lớn Phải chăng trong lý luận của C.Mác về xây dựng chủ nghĩa xã
hội đã có những sai lầm hay trong thực tiễn quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở các nước đã có những điều bất ổn ?
Đối với Việt Nam , Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI (1986) của Đảng đã
đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu bước chuyển biến căn bản
của nền kinh tế nước ta, từ vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Đây là một yêu cầu cần thiết và cấp bách, cũng là một quá trình phức tạp, đầy
khó khăn, đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm túc quy luật của quá trình hình thành và
phát triển của kinh tế thị trường
Trên thực tế, sau hơn 10 năm đổi mới, diện mạo kinh tế - xã hội nước ta
đã thay đổi một cách căn bản, nhưng bên cạnh đó, cũng có không ít hạn chế và
thách thức, đòi hỏi phải có sự quan tâm hơn nữa của Đảng và Nhà nước, sự
đoàn kết, tin tưởng của toàn thể nhân dân, nhằm xây dựng đất nước ngày càng
phát triển, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội
Trang 2NỘI DUNG
I XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CÓ PHẢI LÀ KẾ HOẠCH HOÁ TOÀN BỘ
NỀN KINH TẾ
Từ cuối những năm 80 lại đây, hầu hết các nền kinh tế kế hoạch xây dựng
từ 30 - 40 năm, thậm chí 70 năm, đều lần lượt chuyển sang kinh tế thị trường
Trong số các nước chuyển sang kinh tế thị trường (KTTT), có một số nước công
khai từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) để đi theo hướng tư bản chủ
nghĩa Trong trường hợp đó, chuyển sang KTTT là lẽ đương nhiên, vì họ cho
rằng, chế độ sở hữu tư nhân không thể dung hợp được với việc kế hoạch hoá
toàn bộ nền kinh tế Nhưng cũng có những nước chuyển sang KTTT mà không
từ bỏ con đường XHCN, cũng như của riêng bất kỳ một phương thức sản xuất
nào, mà là một hình thái chung của nhiều phương thức sản xuất, trong đó có
phương thữc sản xuất XHCN Lập luận luận này không giống với lý luận của
C.Mác về CNXH - một phương thức sản xuất dựa trên nền tảng công hữu, vì
thế, tất yếu phải gắn liền với việc kế hoạch hoá toàn bộ nền kinh tế Như vậy, có
phải CNXH và KTTT là hoàn toàn mâu thuẫn với nhau ? Có thể xây dựng được
một nền KTTT theo định hướng XHCN hay không?
1 Kinh tế kế hoạch hoá vì sao thất bại ?
1.1- Lý luận của C.Mác :
Qua 40 năm nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (PTSX
TBCN), Mác đã đi đến kết luận : CNTB càng phát triển thì nó càng tạo ra
những lực lượng sản xuất và tiền đề vật chất chín muồi cho một PTSX cao hơn -
đó là PTSX CSCN mà giai đoạn đầu là CNXH Mác chưa bao giờ nói đến
PTSX CNXH mà nền tảng lại lạc hậu, thậm chí lạc hậu rất xa so với các nước
TBCH phát triển vậy, tiền đề vật chất chín muồi cho việc thiết lập CN XH là gi
? Chính là nền đại sản xuất cơ khí mang tính xã hội hoá cao, và khi xã hội trực
tiếp nắm lấy các lực lượng sản xuất, trở thành chủ sở hữu duy nhất của các lực
lượng sản xuất thì lúc đó, nền sản xuất xã hội tất yếu sẽ được tổ chức một cách
Trang 3kế hoạch, có ý thức, không phải đi đường vòng thông qua các quan hệ thị
trường nữa
Khi nghiên cứu cơ sở kinh tế của CNTB, C.Mác nhận thấy chế độ chiếm
hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất đã mâu thuẫn với tính chất xã hội hoá
của lực lượng sản xuất, nên trong tác phẩm “Tuyên ngôn Đảng cộng sản”, Mác
và Ănghen đã nêu lên luận điểm : “Đặc trưng của CNCS không phải là xoá bỏ
chế độ sở hữu chung, mà là xoá bỏ chế độ sở hữu tư sản”, vì “Chế độ sở hữu tư
sản hiện tại lại là biểu hiện cuối cùng và hoàn nhất của sự sản xuất và chiếm
hưũ sản phẩm dựa trên cơ sở những đối kháng giai cấp, trên cơ sở người này
bóc lột những người kia” Mác và Ănghen cũng đã viết “Phải tuỳ theo hoàn
cảnh lịch sử đương thời”, và cũng đã phân biệt sở hữu cá nhân với sở hữu tư
nhân, đồng thời tuyên bố CNCS không hoàn toàn xoá bỏ sở hữu cá nhân Đối
với sự chuyển dịch từ sở hữu tư nhân sang sở hữu xã hội, sở hữu hỗn hợp, Mác
quan niệm là sở hữu theo nghĩa các TLSX được sử dụng có tính xã hội, hoặc ở
mức cao hơn là TLSX thuộc về xã hội Những biễn đổi đó phải được coi là quá
trình phát triển lịch sử tự nhiên, do tính chất và trình độ phát triển lịch sử tự
nhiên
1.2- Từ lý luận đến thực tiến
Nhìn lại quá trình xây dựng CNXH ở các nước XHCN trong những thập
kỷ qua, rõ ràng có sự khác nhau quá lớn giữa CNXH trong dự toán khoa học
của Mác và CNXH trên thực tế
Tình thế cách mạng ở nhiều nước cho phép những người cộng sản giành
được chính quyền ngay khi trong nước chưa có những lực lượng sản xuất chín
muồi cho việc thiết lập CNXH Đáng lẽ ra, phải kiên trì chủ động tạo ra các lực
lượng sản xuất ấy thuận theo các quy luật kinh tế tự nhiên - điều mà Mác và
Lênin nhiều lần nhân mạnh - thì những nước này lại nóng vội, áp đặt CNXH bất
chấp các điều kiện kinh tế thực tại Bằng biện pháp hành chính, người ta tự đặt
ra những điều kiện kinh tế tưởng chừng như phù hợp với đòi hỏi của CNXH
Trang 4Để cho nền kinh tế kế hoạch hoá có được cái nền tảng công hữu như
trong dự đoán khoa học của Mác, người ta đã mở rộng tràn lan khu vực kinh tế
quốc doanh cả ở những ngành sản xuất thủ công manh mún, cả ở những cửa
hàng, cửa hiệu tủn mủn Nông dân và thợ thủ công bị cưỡng ép tập hợp thành
các đơn vị kinh tế tập thể mà cơ sở vật chất kỹ thuật vẫn là kỹ thuật thủ công
truyền thống
Để tạo ra cái vẻ bề ngoài là chế độ công hữu chiếm ưu thế, để loại trừ tất
cả những gì không phải là XHCN và kế hoạch hoá, và cũng để thực thi một
cách hình thức chủ nghĩa dự đoán khoa học của Mác về tương lai của sản xuất
hàng hoá, người ta đã dùng biện pháp hành chính để hạn chế, cấm đoán sản xuất
cá thể và thị trường tự do - những hình thái có vai trò rất tích cực đối với sự
phát triển kinh tế lúc bấy giờ Trong việc thực hiện cải tạo sở hữu về TLSX,
người ta đã thủ tiêu hoàn toàn những gì gọi là tư hữu , mà khi nêu lên luận điểm
của mình, Mác và Ănghen chỉ đặt vấn đề xoá bỏ chế độ sở hữu TBCN về
TLSX, hơn nữa, việc xoá bỏ chế độ sở hữu này gắn liền với sở hữu tư bản cá
thể Ở đó quyền sở hữu, quyền sử dụng và quản lý TLSX nằm trong cùng một
chủ thể kinh tế, dùng nó để bóc lột lao động người khác
Kế haọch pháp lệnh được áp dụng không chỉ cho khu vực đại sản xuất cơ
khí thuộc sở hữu toàn dân, mà còn được áp đặt cho cả hàng vạn chủ sở hữu tập
thể, thâm chí cả cho một số sản phẩm của hàng triệu chủ sở hữu cá thể ( thịt lợn,
gia cầm ) Bằng kế hoạch pháp lệnh, người ta sắp đặt mọi mặt của đời sống
kinh tế theo những tiêu chuẩn và định mức thống nhất, kể từ khâu sản xuất đến
các khâu phân phối, lưu thông, giá cả, tiêu dùng
Một nền kinh tế kế hoạch hoá như thế rõ ràng không có gì giống với CN
XHKH của Mác Nó thiếu đi cái cơ sở vật chất kỹ thuật của riêng nó, đó là nền
đại sản xuất cơ khí bao trùm toàn bộ xã hội và gắn liền đó là chế độ sở hữu toàn
dân Như thế, nó đã thiếu đi cái nền tảng vững chắc mà từ nền tảng này mới có
thể xây dựng tiếp được Chính vì áp dụng một cách cứng nhắc và có nhiều lệch
Trang 5lạc, sai lầm kéo dài nên trong thực tế, việc xây dựng CNXH ở các nước này đã
trở thành kém hiệu quả, trì trệ và cuối cùng tất yếu là thất bại, phá sản
Sự phá sản mô hình CNXH ở Liên Xô cũ và các nước Đông Âu buộc các
nước XHCN nói chung phải nhận thức lại cho đúng quan điểm, lý luận của
Mác, để từ đó tiếp tục điều chỉnh, đổi mới nhằm tìm ra mô hình thích hợp đưa
các nước thoát ra khỏi khủng hoảng, kiên trì đi theo định hướng XHCN, tạo tiền
để cho xây dựng CNCS
2 Đối với Việt Nam, cần xây dựng nền kinh tế theo hướng nào?
Từ sau năm 1954, nền kinh tế miền Bắc nước ta được vận hành theo mô
hình kế hoạch hoá tập trung, trong đó toàn bộ hoạt động kinh tế từ sản xuất đến
phân phối, tiêu dùng đều được quyết định bởi cơ quan Nhà nước Không thể
phủ nhận những ưu điểm của mô hình này trong thời kỳ đất nước có chiến
tranh, tuy nhiên, duy trì quá lâu một mô hình rập khuôn, mà bản than nó vốn có
không tí những nhược điểm, trong điều kiện một nền kinh tế lạc hậu, trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất xã hội thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém thì không
thể tránh khỏi tụt so với thế giới Chính vì thế, đại hội VI (1986) của Đảng đã
khẳng định quan điểm phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng XHCN
2.1- Thực trạng kinh tế - xã hội khi chuyển sang KTTT
Khi chuyển sang KTTT, nền KT-XH nước ta đứng trước hoàn cảnh rất
khó khăn : Đất nước đã và đang bước quá độ lên CNXH từ một xã hội vốn là
thuộc địa nửa phong kiến, lại vừa trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ
chống Pháp và chống Mỹ với những tàn phá nặng nề của chiến tranh; tàn dư
thực dân, phong kiến còn nhiều ; nền kinh tế lạc hậu, lực lượng sản xuất thấp
kém, mang nặng tính tự cấp, tự túc và chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế tập
trung quan liêu bao cáp, đời sống xã hội khó khăn
Trang 6Khó khăn lớn nhất trước hết là nền kinh tế hàng hoá còn kém phát triển,
vẫn còn mang nặng tính chất tự cấp tựtúc : cơ sở vật chất- kỹ thuật và công
nghệ lạc hậu, cơ cấu kinh tế mất cân đối, kém hiệu quả, mang nặng đặc trưng
của nền kinh tế nông nghiệp độc canh, năng suất lao động và thu nhập quốc dân
thấp, thị trường trong nước chưa phát triển và bị chia cắt, quản lý kém năng
động, tác phong còn chậm, máy móc dẫn tới hiện tượng cửa quyền làm cắt đứt
mối liên hệ giữa các ngành trong nền kinh tế
Khó khăn lớn tiếp theo là ảnh hưởng nặng nề của nền kinh tế chỉ huy với
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Đó là mô hình gần như đối lập với nền kinh
tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường : quan hệ hàng hoá, tiền tệ bị xoá
bỏ ; sản xuất hàng hoá, tài chính - tiền tệ theo nguyên tắc giao nộp, cấp phát
nhằm đảm bảo thực hiện kế hoạch ; cơ chế quản lý chủ yếu theo lệnh tập trung
nhưng lại được điều hành bởi nhiều đầu mối của các ngành chức năng Mô hình
này dẫn đến hậu quả : Các động lực kinh tế gần như bị triệt tiêu, khuyến khích
sự ỷ lại, lười biếng, gây lãng phí nhân lực và tài sản quốc gia ; mục tiêu phát
triển sản xuất, cải thiện đời sống bị cản trở
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai BCHTW Đảng (khoá VI) đã nhận định :
“Từ sau cuộc tổng điều chỉnh giá, lương, tiền cuối năm 1985, tình hình kinh tế -
xã hội nước ta, trước hết là tình hình phân phối, lưu thông ngày càng xấu đi Bộ
Chính trị và BCH TW Đảng (khoá V) đã phân tích sai lầm, khuyết điểm trên
lĩnh vực này và đề ra các biện pháp khắc phục, nhưng nhìn chung, tình hình
không được cải thiện mà còn trở nên căng thẳng, rối ren hơn Nền kinh tế càng
lâm vào tình trạng lạm phát trầm trọng, bội chi ngân sách lớn, giá cả tăng vọt,
đồng tiền mất giá nhanh, tiền lương thực tế giảm sút, đời sống của nhân dân lao
động gặp nhiều khó khăn, công bằng xã hội bị vi phạm, các hiện tượng tiêu cực
tiếp tục phát triển Tình hình đó tác động rất xấu tới toàn bộ các hoạt động sản
xuất, kinh doanh và sinh hoạt xã hội” Nghị quyết cũng khẳng định rằng : “Thực
trạng nói trên là hậu quả tổng hợp của nhiều yếu tố cùng tác động trong nền
kinh tế và đời sống xã hội mà nguyên nhân chủ yếu, vừa sâu xa, vừa trực tiếp là
Trang 7việc duy trì quã lâu cơ chế tập trung quan liêu, bao cáp, vi phạm quy luật khách
quan trong quản lý kinh tế.”
2.2- Tính tất yếu của công cuộc chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam
Đối với các nước đang trong công cuộc chuyển đổi kinh tế nói chung, sự
khủng hoảng của mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã dẫn đến tính tất yếu
phải chuyển sang nền KTTT Do cơ chế quan liêu - mệnh lệnh không còn khả
năng nắm bắt những thành tự của tiến bộ khoa học - kỹ thuật công nghệ hiện đại
trên thế giới Khi tiến bộ KHKT công nghiệp chuyển sang một giai đoạn mới,
các nền kinh tế chỉ huy, tuy đạt được một số thành quả về mặt sản xuất, đã thực
sự mất dần khả năng cạnh tranh trong cuộc chạy đua kinh tế với các nước
TBCN Thiếu cơ chế thị trường và nền dân chủ cũng là một cản trở khách quan
cho sự hoà nhập vào trào lưu văn minh chung của loài người, sự tách biệt ngày
càng tăng lên dưới sự tác động mạnh mẽ của cách mạng KHKT và quốc tế hoá
đời sống KT-XH trong những năm cuối thập kỷ 80
Sự thất vọng của nhân dân vào chế độ quan liêu - cửa quyền đã đẩy các
nước đến cuộc khủng hoảng kinh tế - chính trị - xã hội rộng lớn, ảnh hưởng tới
sự tín nhiệm đối với Đảng cầm quyền (như ở Liên Xô cũ và các nước Đông
Âu) Vì thế, giải pháp duy nhất là lần lượt chuyển nền kinh tế KHHTT sang
KTTT trong thời gian ngắn nhất Là một nước thuộc hệ thống XHCN, Việt Nam
cũng không nằm ngoài hoàn cảnh trên Hơn nữa, từ thực tế các nước đi trước
cho thấy, KTTT có những ưu thế hơn hẳn : Cơ chế thị trường có khả năng tự
điều tiết nền sản xuất xã hội, tức là có thể tự động phân bổ các nguồn tài nguyên
sản xuất vào các lĩnh vực, các ngành kinh tế mà không cần bất cứ sự điều khiển
từ trung tâm nào Cơ chế thị trường làm tăng tính cạnh tranh, kích thích phát
triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế theo cả chiều rộng và chiều sâu, tăng cường
chuyên môn hoá sản xuất
Trang 8Khi chuyển sang KTTT, nền kinh tế nước ta ở trong tình trạng rất khó
khăn Đặc biệt cuối những năm 70, đầu những năm 80, kinh tế nước ta lâm vào
tình trạng khủng hoảng trầm trọng, biểu hiện ở các mặt :
- Sản xuất đình trệ trên tất cả các ngành kinh tế : Nông nghiệp, công
nghiệp, giao thông vận tải, lâm nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ
- Nền kinh tế mất cân đối nghiêm trọng, thiếu hụt lớn về thương mại,
ngoại tệ, nợ nước ngoài tăng
- Tỷ lệ thất nghiệp cao, bộ máy hành chính gián tiếp nặng nề, lạm phát
tăng nhanh
- Trật tự an toàn xã hội bị đảo lộn, kỷ cương xã hội bị xói mòn, đời sống
nhân dân gặp nhiều khó khăn
Tình hình trên do nhiều nguyên nhân bên trong và bên ngoài, nhưng cơ
bản nhất là do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Đặt ra yêu cầu cấp thiết là
phải đổi mới hệ thống cơ chế quản lý Rõ ràng, chuyển đổi sang nền KTTT là
nhằm đáp ứng yêu cầu trên bởi trước hết , đó là quá trình kết hợp giữa chuyển
nền kinh tế còn mang nặng tính chất tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hoá,
tiến tới nền KTTT, và quá trình chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, phù hợp với đặc điểm
KT-XH ở nước ta Đó đồng thời cũng là quá trình thực hiện nền kinh tế mở, hoà
nhập vào nền kinh tế thế giới, là xu thế chung của thời đại - xu thế mà mọi quốc
gia đều phải coi trọng Khi quan hệ kinh tế được mở rộng ra khỏi phạm vi một
quốc gia thì sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng Quá trình chuyển
đổi sang nền KTTT cũng là quá trình phù hợp xu hướng phát triển khách quan,
phù hợp với quy luật của lịch sử “phải không ngừng phát triển và sáng tạo,
không ngừng nâng cao và đổi mới theo thực tiễn”
Trang 9II VIỆT NAM SAU HƠN 10 NĂM CHUYỂN ĐỔI SANG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG CÓ SỰ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC THEO ĐỊNH
HƯỚNG XHCN
Sau hơn 10 năm đổi mới, nền kinh tế - xã hội nước ta đã có những biến
đổi đáng kể, kinh tế dần đi vào ổn định và tăng trưởng cao, nền sản xuất phát
triển, tỷ lệ lạm phát giảm nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt với
mức thu nhập bình quân đầu người tăng Với tốc độ tăng trưởng nhanh cùng sự
ổn định kinh tế vĩ mô, từ giữa những năm 90, Việt Nam đã thoát ra khỏi khủng
hoảng KT -XH và bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển mới, giai đoạn thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1 Những thành tự bước đầu :
1.2- Những kết quả đạt được về kinh tế :
Từ một nền kinh tế tăng trưởng thấp trước năm 1986, nền kinh tế nước ta
đã từng bước được khôi phục và phát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng cao
Tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm :
Thời kỳ 86-90 là 3,9%
Thời kỳ 91-95 là 8,2%
Năm 1996 là 9,35%
Năm 1997 là 8,8%
Năm 1998 giảm xuống 5,8% do cuộc khủng hoảng TC-TT chung Châu
Á
Như vậy bước vào thập kỷ 90, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nước ta
là vào loại cao nhất trong khu vực
GDP bình quan đầu người (USD)
Năm 91 : 122 Năm 94 : 214 Năm 92 : 143 Năm 95 : 271
Trang 10Năm 93 : 181 Năm 97 : 310
năm 97 : 312 Tính chung tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân thời kỳ 1991 -
1997 tăng 8,5%/năm, trong đo khu vực 1 (nông nghiệp) tăng 4,5%, khu vực 2
(công nghiệp) tăng 13,2%, khu vực 3 (dịch vụ) tăng 8,6%
Trong công nghiệp hình thành hàng loạt các ngành công nghiệp mới (dầu
khí, hoá chất, điện tử cao cấp, lắp ráp ô tô - xe máy) Sản lượng dầu khí và sản
lượng điện tăng với nhịp độ nhanh
Sản xuất nông nghiệp từ chỗ không đủ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước,
năm 1989 đã giải quyết vững chắc vấn để lương thực và có xuất khẩu Sản
lượng lương thực năm 1975 mới đạt 11,6 triệu tấn, năm 1985 đạt 18,2 triệu tấn,
năm 1990 là 21,5 triệu tấn, năm 1995 là 27,5 triệu tấn, năm 1996 là 29,2 triệu
tấn, năm 1997 là 30,6 triệu tấn bình quân lương thực đầu người tăng từ 300 kg
năm 1986 lên 371 kg năm 1995 Xuất khẩu gạo tăng nhanh, năm 1987 là 0,12
triệu tấn, năm 1990 là 1,47 triệu tấn, năm 1995 là 2,02 triệu tấn, năm 1996 là
3,04 triệu tấn, năm 1997 là 3,68 triệu tấn Các ngành chăn nuôi, cay công
nghiệp phát triển nhanh, đặc là cao su, cà phê đều trở thành các mặt hàng xuất
khẩu chủ lực
Các hoạt động dịch vụ và thương mại phát triển mạnh mẽ theo hướng mở
rộng và đa dạng hoá thị trường Chính sách tự do hoá thương mại đã tạo nên thị
trường sôi động, giá cả tương đối ổn định Hoạt động xuất khẩu tăng nhanh với
nhịp độ trên dưới 20% hàng năm (giai đoạn 1986 - 1992), đảm bảo nhu cầu
nhập khẩu các loại vật tư và công nghệ chủ yếu, cải thiện dần cán cân thanh
toán quốc tế, năm 1991 đáp ứng được 89%, đặc biệt năm 92 đáp ứng hơn 99%,
năm 93 là 96%, năm 94 là 83%
Năm 1997, Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với hơn 120 nước, cơ cấu
ngoại thương thay đổi theo chiều hướng tích cực, bắt đầu hình thành các mặt
hàng xuất khẩu chủ lực như dầu thô, gạo, dệt may, thuỷ sản, cà phê Đặc biệt là