1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TỔNG QUÁT NHÀ ĐUỜNG (618-906) TRUNG QUỐC_2 ppt

7 116 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 133,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TỔNG QUÁT NHÀ ĐUỜNG 618-906 - TRUNG QUỐC Chiến tranh đó không đạt được mục đích là trừng trị loạn thần tiếm ngôi mặc dầu chiếm được Liêu Dương và nhiều thành khác, bắt được 7 vạn người

Trang 1

TỔNG QUÁT NHÀ ĐUỜNG (618-906) -

TRUNG QUỐC

Chiến tranh đó không đạt được mục đích là trừng trị loạn thần tiếm ngôi mặc dầu chiếm được Liêu Dương và nhiều thành khác, bắt được 7 vạn người Triều Tiên đem về làm nô lệ Theo lệ, 7 vạn nô lệ đó sẽ chia cho tướng sĩ, nhưng Thái tôn không nỡ, thấy họ khóc lóc thảm thiết vì cha con vợ chồng phải chia nhau, nên bỏ tiền ra chuộc họ và cho họ định cư

ở Trung Quốc, kiếm việc làm ăn

Bi kịch giành ngôi

Dựng nên nhà Đường, thống nhất giang sơn là công của Thế Dân Thái

tử Kiến Thành và Tề Vương Nguyên Cát thấy cha quí Thế Dân và các tướng đều kính trọng, tuân lệnh Thế Dân, sinh lòng ghen ghét, sợ Thế Dân sẽ giành ngôi của Kiến Thành, nên ton hót với một ái phi của Cao

Tổ (Lí Uyên), vu cho Thế Dân tội này tội nọ; hơn nữa, họ đã 2 lần mưu sát Thế Dân mà thất bại (một lần đầu độc trong một bữa tiệc, nhưng Thế Dân chỉ thổ ra máu mà không chết) Họ tính mưu sát lần nữa, Thế Dân biết được, phải ra tay trước, cùng với Uất Trì Kính Đức núp trong vườn cấm sau cung, đợi sáng sớm Kiến Thành và Nguyên Cát vào chầu mà bắn chết Cao Tổ hay tin ghê gớm đó chỉ lẩm bẩm: “Ta có ngờ đâu tới nông nổi này Phải làm gì bây giờ?” Chính ông ta do dự, nhu nhược,

Trang 2

biết bụng dạ xấu của Kiến Thành mà không ngăn được nên xảy ra bi kịch ấy Đó là nhược điểm của chế độ quân chủ phương Đông: hầu hết ông nào cũng nhiều con, và rất ít ông sáng suốt lựa được người giỏi để truyền ngôi, thành thử con thường tranh ngôi với nhau

Vụ đó là một vết đen trong đời Thế Dân Chẳng những anh và em ông bị ông giết, mà theo lệ, cả 5 đứa con trai của anh và 5 đứa con trai của em cũng bị xử tử nữa, sợ sau này chúng trả thù cho cha!

Kiến Thành chết rồi, Cao tổ truyền ngôi cho Thế Dân, năm đó 26 tuổi,

mà lên làm Thái Thượng hoàng được một năm rồi chết Thế Dân lên ngôi (627-650), gần cuối đời, phải thấy cảnh chính thái tử của ông làm phản ông, muốn giết ông để cướp ngôi Hắn chắc có dòng máu rợ Hồ trong huyết quản, không chịu học hành, chỉ thích sống đời du mục, dựng lều trong vườn cấm, cùng với một bọn lưu manh cướp bóc dân chúng nào cừu, nào rượu (chứ không chịu mua), đem về nhậu nhẹt, hát những bài hát Hồ Nhiều đại thần khuyên Thái tôn truất ngôi thái tử của hắn mà đưa người con khác lên, nhưng ông không chịu, cứ giữ đúng tôn pháp nhà Chu, chỉ con cả của dòng vợ chính mới được nối ngôi Sau hắn nghe lời bạn xúi giục, âm mưu giết cha để cướp ngôi mà mau được sống theo

ý mình Âm mưu bị lộ, Thái tôn không nỡ giết, chỉ đày đi Tứ Xuyên, năm sau hắn chết tại đó Ông đưa Lí Trị lên làm Thái tử, sau thành Cao tôn Ông này hiền lương, nhưng nhu nhược, quyền hành vào cả tay Võ

Trang 3

hậu, một người đàn bà dâm loạn mà thông minh, khiến cho nhà Đường nghiêng ngửa suýt mất

Chính trị

- Thời nông nghiệp, bất kì dân tộc nào cũng cho nghề nông là căn bản Phải tự túc về lương thực trước đã Ngũ cốc có dư thì nước mới giàu được, thiếu thì không thể mua của nước ngoài được vì phương tiện

chuyên chở rất khó, dân sẽ đói và sẽ nổi loạn Cho nên sau một thời gian loạn lạc, ông vua sáng nghiệp nào cũng nghĩ ngay đến việc ban ruộng đất cho dân cày, khuyến nông, giảm thuế

- Cao tổ cũng tố chúc lại triều đình, sửa đổi quan chế, nhưng công việc này đến thời Thái tôn mới tiến mạnh Các sử gia Trung Quốc đều cho Thái tôn là một vĩ nhân, cầm quân đã giỏi mà trị nước giỏi hơn nữa Ông hơn Hán Võ đế, sáng suốt mà đại độ, không độc tài Chỉ có mỗi một điều

ân hận là bắt buộc phải giết anh để lên ngôi

Đức quí nhất của ông là biết lựa người, dùng người và nghe lời can gián Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối là những kinh tế gia có tài, Ngụy Trưng làm Gián nghị đại phu, Tch ou Souei-liang (?) làm Thái sử, đều có tư cách cao, dám nói thẳng, chép sự thực

Trang 4

Ngụy Trưng trước là tay chân của Thái tử Kiến Thành, vậy mà khi giết Kiến Thành rồi, Thế Dân thấy Nghị Trưng cương trực, đã không trị tội

mà còn thu dụng liền Nhưng Ngụy Trưng vẫn không nể Thế Dân, hễ thấy có lỗi thì vạch ra, có lần cương quyết chống đối giữa triều đình Thế Dân giận lắm, trở vô cung còn hầm hầm nói với hoàng hậu: “Tên khốn nạn đó còn sống thì ta không bao giờ làm chủ được Trước kia ta đã kéo

nó từ dưới bùn lên đấy.” Hoàng hậu hỏi kẻ khốn nạn đó là ai, ông kể lại đầu đuôi cho bà nghe Bà làm thinh, lặng lẽ về phòng riêng, lát sau, trở lại với bộ lễ phục đẹp nhất Ông ngạc nhiên hỏi, bà đáp: “Thiếp nghe nói một vị minh quân thì luôn luôn gặp được một bề tôi trung và thành thực

Bệ hạ mới nhận rằng Ngụy Trưng chính là hạng bề tôi trung và thành thực đó Vậy bệ hạ là một minh quân, và thiếp bận lễ phục này để mừng

bệ hạ đây.”

Một hôm khác, Thế Dân tò mò muốn biết viên Thái sử viết gì về mình, viên này đáp:

“Thần chép hết ngôn hành của bệ hạ, cả tốt lẫn xấu, chép đúng để làm gương cho đời sau Nhưng thần chưa bao giừ được nghe nói có một vị hoàng đế nào lại đọc những gì Thái sử viết về mình.” - “Vậy nếu ta làm bậy điều gì, khanh cũng chép sao?” - “Đó là bổn phận của thần.” Một viên phụ tá của Thái sử nói thêm: “Mà nếu quan Thái sử không chép thì bọn hạ thần chúng tôi cũng sẽ chép.”

Trang 5

Thế Dân bảo: “Ta rán noi gương vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Vũ thời xưa, ta lựa người có tài để giúp ta trị nước, đuổi những kẻ bất tài đi, và không bao giờ nghe những lời nịnh bợ của bọn tiểu nhân Nếu ta giữ được 3 điều đó tới chết thì không ai có thể chê ta được.” Viên Thái sử nói: “Mấy lời bệ hạ vừa thốt cũng sẽ được chép trong sử.”

Khi Cao tổ mới chết, Thái tôn thả ngay 3.000 cung nữ, cho về với cha

mẹ Đó là lần đầu tiên mà có thể là lần duy nhất trong lịch sử Trung Quốc

Ông tổ chức triều đình, đại khái cũng theo các thời trước, chỉ thay đổi chi tiết cho hoàn bị hơn Quyền tập trung vào vua hết Vua có ba vị Thái

sư, Thái phó, Thái bảo (gọi là tam sư) làm tối cao cố vấn Chức họ cao, nhưng không có quyền Điều hành cơ quan hành chính là Thượng thư tỉnh gồm 6 bộ: bộ Lại, bộ Hộ, bộ Lễ, bộ Binh, bộ Hình và bộ Công Mỗi

bộ có một trưởng quan gọi là Thượng thư, một thứ quan là Thị lang Cũng có một bộ tựa như bộ thuộc địa để cai trị các lãnh thổ ở xa: Mông

Cổ, Tân Cương, Tây Tạng, v.v , nhưng không có bộ ngoại giao vì

Trung Hoa tự coi là hơn hết thảy các dân tộc khác, nên việc ngoại giao chỉ là tiếp các sứ thần tới dâng cống phẩm thôi Lại có một Ngự sử đài, tức cơ quan giám sát

Trang 6

Toàn quốc chia làm 10 đạo (như tỉnh ngày nay); dưới đạo có châu, rồi huyện, hương, lí, thôn

Các cải cách của Thái tôn về tổ chức hành chánh tỉnh đáng coi là quan trọng và lâu bền nhất Nhà Tần đặt ở đầu mỗi quận một quan văn coi về hành chánh và một quan võ coi về võ bị, quyền ngang nhau Nhà Hán bỏ chế độ đó, chỉ dùng quan văn thôi Nhưng sau đời Hán, nước loạn lạc, sự cai trị các quận giao cho quan võ do bọn vương hầu cử

Thái tôn loại lần lần các quan võ đó, mà đích thân lựa những người có học, có hạnh tốt thay vào Chế độ tuyển cử đó có vào đời Tùy, nhưng tổ chức còn sơ sài Thái tôn theo Tùy, đặt ra khoa tiến sĩ trọng văn từ, khoa minh kinh trọng sự tinh thông một kinh Lễ bộ coi việc khảo thí; người nào đậu rồi, muốn làm quan thì phải thi lại ở bộ Lại, có đậu mới được bổ dụng Như văn hào Hàn Dũ (coi ở sau) đậu tiến sĩ mà thì 3 lần ở bộ Lại đều rớt, phải sống nghèo khổ 10 năm Cũng có một số con nhà quí tộc, đại quan liêu, đại địa chủ chẳng cần thi cũng được bổ dụng Thói thiên

vị, bổ dụng người thân đó thời nào, dân tộc nào cũng có, nhưng ở Trung Hoa vẫn ít hơn

Các kì thi tổ chức rất nghiêm và rất công bằng Thí sinh mà gian lận thì

bị trừng trị nặng, giám khảo mà gian lận thì bị cách chức

Chế độ thi cử ở nước ta thời trước theo đúng của Trung Hoa nên tôi

Trang 7

không cần chép dài dòng, chỉ nhấn vào điểm này: không biết từ đời nào Trung Hoa mới chuyên dùng thi phú để tuyển nhân tài, chứ đời Thái tôn tuy trọng văn từ thật, nhưng không khinh hẳn những môn ngày nay ta gọi là kĩ thuật hay chuyên môn: toán, luật, sử, thư pháp[2] Qua được những môn đó rồi mới tới môn tứ thư, ngũ kinh, thi, văn (theo Tsui Chi trong sách đã dẫn, tr 125, 126)

Chính sách dùng thi cử để lựa người cai trị dân đó tiến bộ nhất đương thời, học giả phương Tây nào (nhất là các triết gia Pháp ở thế kỉ XVIII) cũng nhận vậy Nó rất bình dân, làm cho quyền hành của giới quí tộc bị thay thế bằng quyền hành của tài năng, trí tuệ Có thể nói văn minh

Trung Hoa tồn tại được mấy nghìn năm một phần lớn là nhờ nó

Đời sau, có lẽ từ nhà Tống, người ta quá coi trọng thi văn, coi thứ văn tám vế (phú) là cái thước để đo nhân tài, cứ thuộc nhiều câu sáo là đậu, không cần có thực học, có kiến thức, và cái tệ đó kéo dài mãi tới cuối đời Thanh trong 8 thế kỉ, chương trình học không làm cho tư tưởng tiến

bộ, mà giai cấp sĩ sa đọa, thành một bọn quan lại cố hữu, vênh váo, độc tài, thường tham nhũng: có thời một tổ chức bán được tới 2 vạn bằng cấp, trước khi bị phát giác Ngô Kính Tử, một tác giả đời Thanh (thế kỉ XVIII) đã phúng thính lối thi cử đó và mạt sát chế độ quan lại trong bộ Nho lâm ngoại sử, vậy mà nó vẫn tồn tại đến cách mạng Tân Hợi (1911) rồi mới bị bãi bỏ

Ngày đăng: 26/07/2014, 00:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm