Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 1MỞ ĐẦU
Như ta đã biết, Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác
định mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ đi lên chủ
nghĩa xã hội, đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mà về
thực chất đây chính là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ
chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xhcn
Xét về phương diện lý luận, mô hình trên đã khẳng định tính tất yếu của
Việt Nam phải trải qua kinh tế thị trường Đây là hoàn toàn đúng đắn, không chỉ
xét riêng về phương diện lý luận mà nhận thức này đã được kiểm chứng bằng
thực tiễn của cả nhân loại và Việt Nam Không còn nghi ngờ gì nữa, cho đến
nay trên thế giới những nước có nền kinh tế phát triển nhất cũng chính là những
nước có bề dày phát triển kinh tế thị trường dài nhất Cả thế giới ngày nay đang
bị sức hút, đang bị hấp dẫn bởi tình độ phát triển ngoạn mục của các nước ở
đỉnh cao của phát triển kinh tế thị trường Một số nước đi sau chỉ trong một thời
gian ngắn (chừng 30 năm) hoá thành rồng (đó là các nước NICS), bởi vì, trước
hết, họ chấp nhận và đi theo mô hình kinh tế thị trường ngay từ đầu, họ biết khai
thác tối đa kinh nghiệm và sự hỗ trợ của các nước có nền kinh tế thị trường phát
triển Trái lại, mô hình kế hoạch hoá tập trung qua thực tiễn 70 năm tồn tại, rốt
cuộc, đã đẩy chủ nghĩa xã hội lâm vào khủng hoảng Việt Nam nhờ sớm nhận
thức được tính tất yếu phải phát triển kinh tế thị trường, đề ra đường lối đổi mới,
nên 20 năm qua đã thu được những thành tựu bước đi đáng khích lệ Sự kiểm
chứng qua thực tiễn phát triển qua nhân loại như trên đủ để xác nhận tính đúng
đắn, về mặt lý luân, tính tất yếu phải trải qua kinh tế thị trường của mọi quốc gia
có trình độ phát triển lực lượng sản xuất lạc hậu muốn tiến lên cùng thời đại
Đây là sự nhận thức hoàn toàn đúng đắn, xét về công tác nghiên cứu lý luận của
Việt Nam trong những thập kỷ qua Rất tiếc, sự nhận thức về kinh tế thị trường
ở Việt Nam hiện nay trong nhiều trường hợp mới chỉ đến thế
Trang 2Khi đi sâu vào nghiên cứu, cụ thểhoá những điều kiện cho sự hình thành,
phát triển (tức là cơ sở khách quan) của kinh tế thị trường còn khá nhiều vấn đề
mang tính chủ quan, duy ý chí, mang tính giáo điều mà chúng ta sẽ có dịp nói
đến sau này
Trên cơ sở nghiên cứu những học thuyết về vài trò kinh tế của Nhà nước
trong nền kinh tế thị trường và những tìm tòi tham khảo tài liệu sách báo trong
những năm gần đây cùng với sự hướng dẫn của giáo viên bộ môn, emđã chọn đề
tài “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” Đồng
thời đề tài cũng giúp em hiểuvà thấy được những chính sách, giải pháp và hướng
đi đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong quá trình đổi mới nền kinh tế Việt
Nam
Với những hiểu biết và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, những sai sót
mắc phải trong khi thực hiện sẽ là điều không thể tránh khỏi, em rất mong nhận
được những lời phê bình và góp ý quý báu của cô giáo
Em xin chân thành cảm ơn
Trang 3NỘI DUNG
I BẢN CHẤT CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao, khi tất cả
các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều được tiền tệ hoá; các
yếu tố của sản xuất như đất đai và tài nguyên, vốn bằng tiền và vốn vật chất, sức
lao động, công nghệ và quản lý; các sản phẩm và dịch vụ tạo ra; chất xám đều là
đối tượng mua bán, là hàng hoá
Kinh tế thị trường được coi như một hệ thống các quan hệ kinh tế, khi các
quan hệ kinh tế giữa các chủ thể đều biểu hiện qua mua bán hàng hoá dịch vụ
trên thị trường
Kinh tế thị trường là các tổ chức nền kinh tế - xã hội, trong đó, các quan
hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua mua bán hàng
hoá, dịch vụ trên thị trường và thái độ cư xử của từng thành viên chủ thể kinh tế
là hướng vào việc tìm kiếm lợi ích của chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị
trường
a Ưu điểm
Với cách hiểu như trên ta có thể thấy kinh tế thị trường có một số ưu điểm
như sau:
-Kinh tế thị trường thúc đẩy việc cải tiến kỹ thuật tăng năng suất lao động
làm cho sản phẩm hàng hoá phong phú đa dạng, giá thành hạ, thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển nhanh Bởi mục đích của người sản xuất hàng hoá làcó
lãi cao nhất, do đó họ phải làm thế nào để có giá trị cá biệt của hàng hoá là thấp
nhất Muốn vậy, họ phải tăng năng suất lao động Vì vậy phải caỉ tiến kĩ thuật,
nâng cao trình độ tay nghề, tổ chức quản lý sản xuất trong đó yếu tố quan trọng
nhất, yếu tố có tính chất quyết định là kĩ thuật Cải tiến kĩ thuật lúc đầu ứng
Trang 4dụng ở từng người, từng xí nghiệp sau lan rổnga toàn xã hội làm xuất hiện một
ngành mới Và nhưvậy lực lượng sản xuất đã phát triển thêm một bước
-Kinh tế thị trường thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển
nhanh chóng làm cho sự chuyên môn hoá và hiệp tác hoá ngày càng cao Do đó,
quá trình xã hội hoá sản xuất, xã hội hoá lao động phát triển nhanh Đó là xu
hướng phát triển của nền kinh tế hiện đại
-Kinh tế thị trường thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung sản xuất cao độ,
các mối quan hệ kinh tế phát triển, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng và
phát triển nhanh
Mặc dù với những ưu điểm không thể phủ nhận như trên, nền kinh tế thị
trường cũng không tránh khỏi những khuyết tật cố hữu
-Trong nền kinh tế thị trường lợi nhuận vừa là động lực vừa là mục đích
của các chủ thể kinh tế Vì lợi nhuận kích thích của chủ thể kinh tế năng động,
ra sức cải tiến kĩ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao trình độ tay nghề làm sản
phẩm hàng hoá phong phú đa dạng mà giá trị lại giảm xuống Nhưng cũng vì lợi
nhuận, họ bất chấp những thủ đoạn, những gian trá giả dối trong kinh doanh
Bản thân họ thì được lợi nhưng cái lợi đó so với những thiệt hại đồng thời gây ra
cho người tiêu dùng và toàn xã hội là quá nhỏ bé không thể bù đắp Mục tiêu
kinh tế của đất nước không thực hiện được Về kinh tế thì như vậy còn đạo đức
tình người trong xã hội cúng bị xem nhẹ và lãng quên
-Bản chất thì trường là bất bình đẳng, kẻ mạnh thì sống, kẻ yếu thì chết
Trong cạnh tranh ai không cải tiến kỹ thuật, năng suất thấp, giá trị cao thì lỗ, trở
thành người nghèo và ngược lại Qua đó sự phân hoá giàu nghèo gia tăng mà tệ
nạn xã hội cũng dễ phát triển
-Nền kinh tế thị trường có cơ cấu không hợp lý, mất cân đối Những
ngành nghề nào trong xã hội đem lại lợi nhuận cao sẽ có nhiều người tham gia
Trang 5và ngược lại Bởi trong cơ chế thị trường sự gia nhập hay rút lui khỏi một ngành
nghề, lĩnh vực là tự do
-Kinh tế thị trường tạo ra sự ô nhiễm môi trường Do mục đích người sản
xuất là lợi nhuận cao nhất, họ phải tiết kiệm chi phí triệt để Những chất thải độc
hại trong quá trình sản xuất chưa có tác động trực tiếp đến họ không được xử lý
Ô nhiễm môi trường sống chung của toàn xã hội là tất yếu
-Cũng do một phần các nguyên nhân trên nền kinh tế thị trường không
tránh khỏi những đợt sóng khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát, suy thoái về kinh
tế Kinh tế thị trường phải gắn với thị trường, thông qua thị trường người sản
xuất mới biết được hàng hoá của mình có được xã hội chấp nhận hay không
Trang 6II NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:
1 Thực trạng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Thị trường hàng hoá và dịch vụ đã hình thành, phát triển và đang mở rộng
từ khi đổi mới Nhiều loại hàng hoá và dịch vụ đã có khả năng cạnh tranh trên
thị trường khu vực và thế giới Thị trường hàng hoá và dịch vụ đang từng bước
đáp ứng được yêu cầu tiêu dùng và dịch vụ trong nước Tuy nhiên, thị trường
này mới hình thành, khả năng cạnh tranh vẫn còn thấp Thị trường hàng hoá
phát triển nhanh ở khu vực thành thị và các đô thị lướn, khu vực nông thôn còn
rất đơn giản Tổ chức thị trường còn thiếu chặt chẽ Thị trường dịch vụ, nhất
làdịch vụ chất lượng cao (bảo hiểm, tài chính, ngân hàng, tư vấn, khoa học -
công nghệ, đào tạo v.v…) còn ở trình độ rất thấp và chưa thực sự hội nhập quốc
tế Nhiều loại hình dịch vụ công trong cơ chế thị trường chưa được xác lập Dịch
vụ y tế, giáo cục trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn
lúng túng Tính cạnh tranh và hội nhập khu vực và quốc tế trong lĩnh vực dịch
vụ còn thấp
Thị trường lao động ở nước ta mới bắt đầu hình thành và mang tính tự
phát Thị trường phát triển không đồng đều và bị chia cắt giữa các vùng, các khu
vực kinh tế Quan hệ cung - cầu về thị trường lao động còn bị chia cắt, khép kín,
thiếu thông tin và đang bị các hàng rào, lực cản khác chi phối như quy định về
hộ khẩu, nhà ở v.v… Quy mô thị trường nhỏ hẹp và nói chung chưa vận hành
theo nguyên tắc thị trường Tỷ lệ lao động tham gia vào thị trường lao động còn
rất thấp Tính chung trên phạm vi cả nước, mới chỉ có khoảng 17% lao động
tham gia vào thị trường này Khu vực nông thôn chiếm hơn 60% lực lượng lao
động nhưng mới chỉ khoảng hơn 4% lao động thực sự tham già vào thị trường
lao động Điều đáng quan tâm đối với thị trường lao động ở nước ta là số lượng
lao động lớn, nhưng cơ cấu lao động và chất lượng lao động còn nhiều bất cập
Trang 7so với yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất Ngành nghề ít, chất lượng tay nghề
thấp là rào cản về sự cạnh tranh với thị trường lao động khu vực và quốc tế
Thị trường bất động sản tuy mới hình thành nhưng đang phát triển đa
dạng Đây là một thị trường nhạy cảm, liên quan đến quyền sở hữu tư nhân về
các tư liệu sản xuất chủ yếu Thị trường bất động sản đang diễn ra chủ yêu ở một
số thành phố và đô thị lớn, khi sôi động, khi lắng chìm theo tín hiệu của hệ
thống chính sách bất động sản của Nhà nước Thị trường bất động sản đang bị
méo mó và hoạt động không lành mạnh, thiếu minh bạch Ở các khu vực đô thị
khoảng 70% giao dịch bất động sản là do “thị trường ngầm” chi phối Thị
trường bất động sản đang rất thiếu một môi trường pháp lý nhất quán, rõ ràng,
minh bạch, nhất là đất đai, nhà ở Tính công khai và hệ thống thông tin về Thị
trường bất động sản đang còn sơ khai ở nước ta Cần phải thiết lập quyền sở
hữu tư nhân đối bới bất động sản Đây là một vấn đề mới vì nền kinh tế nước ta
đang ở giai đoạn tích luỹ ban đầu, từng cá nhân và xã hội chưa có nhiều bất
động sản
c Thị trường tài chính:
Thị trường tài chính đang trong giai đoạn bước đầu hình thành, mang
nặng tính chất quá độ từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị
trường Đặc điểm cơ bản của Thị trường tài chính ở nước ta hiện nay là phần lớn
giáo dịch chính trên thị trường là bằng tiền mặt Thị trường tài chính đang tiềm
ẩn nhiều khiếm khuyết, chưa đồng bộ, thiếu minh bạch Dàn giáo dịch thị trường
tài chính chưa đáng kể,vốn ứ đọng trong dân còn lớn, đồng tiền hoạt động chưa
hiệu quả Sự phát triển chậm chạp, thiếu đồng bộ của các yếu tố Thị trường tài
chính là một trong những nhân tố chủ yếu làm chậm tiến trình đổi mới, gây
nhiều cản trở đối với sự phát triển và bền vững của nền kinh tế nước ta Một
mâu thuẫn lớn của nền kinh tế nước ta trước mắt và lâu dài là thiếu vốn phát
triển, phải vay vốn nước ngoài trong khi đó các nguồn vốn trong nước chưa
Trang 8được huy động và sử dụng có hiệu qua, do chưa được phân bố theo tín hiệu của
thị trường
Mặc dù xuất hiện một số hình thức giao dịc và thương mại nên hoạt động
khoa học và công nghệ nhưng cho đến nay ở nước ta chưa có Thị trường khoa
học và công nghệ Khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành hàng hoá Thị
trường khoa học và công nghệ thường là loại thị trường trình độ cao, gắn liền
với kinh tế thị trường hiện đại có công nghiệp phát triển Ở đây, hàng hoá chát
xám, thiết bị công nghệ hiện đại được thị trường chấp nhận, giao dịc theo quan
hệ cung - cầu Nền kinh tế nước ta mới chuyển sang hoạt động trên cơ chế thị
trường, muốn đi nhanh, tiến kịp các nước công nghiệp hiện đại, rất cần phát
triển nhanh Thị trường khoa học và công nghệ để tiếp cận với nền kinh tế tri
thức và công nghệ cao Nếu không có chiến lược chính sách phát triển thị trường
khoa học và công nghệ Chúng ta sẽ không có cơ hội giao dục với thị trường
khoa học và công nghệ của các nền kinh tế thị trường hiện đại và là nguy cơ của
sự tụt hậu khoa học và công nghệ
Dưới đây là những khởi sắc chủ yếu cảu mỗi thành phần và lĩnh vực kinh
tế trong nước được thể hiện trong những năm gần đây
Kinh tế Nhà nước: trong gần 20 năm qua, mặc dù số lượng các doanh
nghiệp Nhà nước liên tục giảm, từ trên 13 nghìn doanh nghiệp năm 1995 xuống
còn gần 6 nghìn doanh nghiệp năm 2003, nhưng về số lượng, chất lượng sản
phẩm và hiệu quả sản xuất, kinh doanh không ngừng được tăng lên, vì thế, vai
trò chủ đạo của nó trong cơ cấu kinh tế quốc dân tiếp tục giữ vững Tỷ trọng
doanh nghiệp Nhà nước trong cơ cấu GDP tuy có xu hướng giảm dần nhưng
không vì thế mà giảm vị trí chủ đạo của nó trong nền kinh tế Các ngành và sản
phẩm chiến lược vẫn do khu vực kinh tế Nhà nước quản lý Quy mô, kết quả,
hiệu quả sản xuất, kinh doanh vẫn không ngừng tăng lên Kinh tế Nhà nước vẫn
là nguồn thu chủ yêú của ngân sách quốc gia Không những thế, kinh tế Nhà
nước còn có vai trò then chốt trong đổi mới cơ chế quản lý, điều hành, đưa tiến
Trang 9bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất để tănguyên nhânăng suất lao động, giảm
chi phí trung gian, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu
Xu hướng này thể hiện rõ nhất trong công nghiệp
Trong công nghiệp số lượng doanh nghiệp có xu hướng giảm dần năm
cao nhất (1988) lên tới 3.163 doanh nghiệp năm 1990 là 2098, năm 1997 là
1.843năm 2000 là 1.633 và năm 2001 là 1.541 doanh nghiệp Song sự giảm sút
về số lượng doanh nghiệp không đồng nghĩa với giảm số lượng lao động và quy
mô sản xuất Lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nước về cơ bản
ổn định và có xu hướng tăng nhẹ: từ 704 nghìn người năm 1991: 750 nghìn năm
1995, 777 nghìn, năm 1997 và năm 2002 là 877 nghìn người Rõ ràng quá trình
đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước trong ngành công nghiệp, việc làm
cho người lao động vẫn được bảo đảm Một số doanh nghiệp vân tạo được việc
làm mới thu hút lao động xã hội, tạo điều kiện để mở rộng quy mô sản xuất, đa
dạng hoá và nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh cúap, duy trì được tốc độ tăng
trưởng cao, ổn định trong nhiều năm so với các thành phần kinh tế khác
Nguyên nhân của xu hướng trên là do sự tham gia của doanh nghiệp có vốn FDI
vào sản xuất công nghiệp Việt Nam ngày càng nhiều, tốc độ tăng trưởng của
khu vực kinh tế này lại cao hơn hẳn các doanh nghiệp Nhà nước, năm 1996:
24,4%, 1997: 20,6%, 1998: 23,3%, năm 2000: 21,8%, năm 2002: 14,3% và năm
2003 là 18,3% Tuy doanh nghiệp Nhà nước có xu hướng tăng trưởng chậm lại
và tỷ trọng giảm dần trong cơ cấu công nghiệp toàn ngành, nhưng xét về tính
chất của nó thì vai trò chủ đạo vẫn giữ vững, vì:
Thứ nhất, doanh nghiệp Nhà nước nắm những ngành công nghiệp then
chốt của nền kinh tế quốc dân như sản xuất điện, khai thác than, sản xuất vật
liệu xây dựng, sản xuất giấy, hoá chất, cơ khí chế tạo, chế biến, dệt may…
Thứ hai, trong các doanh nghiệp Nhà nước, máy móc, trang thiết bị được
đổi mới theo hướng hiện đại hoá bằng đầu tư chiều sâu dựa vào nguồn vốn đầu
tư của Nhà nước và vốn tự có của doanh nghiệp là chính
Trang 10Thứ ba, có đội ngũ cán bộ về ngành nghề và có trình độ kỹ thuật nhất
định
Thứ tư, năng suất lao động và hiệu quả kinh tế khá ổn định, nhất là những
năm gần đây, tỷ suất lợi nhuận/vốn năm 1997 : 4,19%; năm 1998: 3,4% và năm
2002 trên 4%
Thứ năm, doanh nghiệp Nhà nước có vị trí hàng đầu đóng góp vào nguồn
thu của ngân sách Nhà nước và xuất khẩu
Bảng Tỷ trọng của doanh nghiệp nh trong toàn ngành công nghiệp Việt
Trong những năm 1999 - 2003, thực hiện chủ trương cổ phần hoá doanh
nghiệp Nhà nước nên số lượng doanh nghiệp, tỷ trọng lao động, tỷ trọng giá trị
sản xuất của khu vực doanh nghiệp Nhà nước trong công nghiệp giảm dần,
nhưng mức đóng góp của nó cho ngân sách và xuất khẩu về cơ bản vẫn ổn định
và khá bền vững, vượt xa các thành phần và khu vực kinh tế khác trong ngành
công nghiệp
Những thời sắc trên đây của doanh nghiệp Nhà nước mới chỉ là bước đầu,
nhưng cũng khẳng định đó là kết quả của quá trình đổi mới doanh nghiệp Nhà
nước trong công nghiệp, theo tinh thần các quyết định 217, 388 và chủ trương cổ
phần háo trong những năm gần đây qua đổi mới, các doanh nghiệp Nhà nước
thực hiện quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, chuyển từ bao cấp sang hạch
toán kinh tế, lấy thu bù chi, trao quyền rộng rãi cho giám đốc doanh nghiệp, Nhà
Trang 11nước không cấp bù lỗ, giảm bớt các chỉ tiêu kế hoạch, pháp lệnh và từ năm 1989
đến nay chỉ còn một chỉ tiêu pháp lệnh duy nhất là nộp ngân sách Việc đăng ký
lại các doanh nghiệp Nhà nước theo quyết định 388 là một bước để kiện toàn tổ
chức và đổi mới phương thức hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước Tiếp
theo đó, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương và chính sách mới để củng cố
và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh
tế thị trường, có nhiều thành phần và khu vực kinh tế Chủ trương cổ phần hoá
các doanh nghiệp Nhà nước đã tiếp sức cho các doanh nghiệp công nghiệp Nhà
nước tiến thêm một bước trong đổi mới tổ chức và phương thức kinh doanh,
tăng thêm tính tự chủ của các giám đốc doanh nghiệp Một tác dụng cụ thể ủa
chủ trương này là bổ sung nguồn vốn lưu động đáp ứng yêu cầu vốn trong sản
xuất, kinh doanh, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của
sản phẩm công nghiệp Việt Nam trên thị trường trong nước và xuất khẩu Tỷ lệ
hàng công nghiệp quốc doanh xuất khẩu hai năm 1997 - 1998 là 18% tổng kim
ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp cả nước Trong bốn năm 2000 - 2003, tuy tỷ
trọng doanh nghiệp Nhà nước có giảm trong tổng giá trị sản xuất và xuất khẩu
do sự tăng tốc của doanh nghiệp ngoài quốc doanh và FDI dưới tác động tích
cực của luật Doanh nghiệp, nhưng vai trò chủ đạo của nó vẫn giữ vững trong cơ
cấu nền kinh tế nhiều thành phần
Trong khối doanh nghiệp công nghiệp Nhà nước, vai trò chủ đạo của
doanh nghiệp Nhà nước do Trung ương quản lý ngày càng thể hiện rõ nét Từ
năm 1998 đến năm 2003, tỷ trọng của doanh nghiệp Nhà nước do Trung ương
quản lý vẫn chiếm trên, dưới 65% tổng giá trị sản xuất của công nghiệp quốc
doanh nói chung và nhiều ngành, sản phẩm quan trọng do khu vực này sản xuất
vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng khá cao, sản xuất điện, đường, vải, dệt kim,
may mặc, giáy, bia v.v… Công nghiệp quốc doanh do địa phương quản lý cũng
có khởi sắc, nhất là những ngành sản xuất vật liệu xây dựng chế biến lương
thực, thực phẩm (xay xát gạo, sản xuất xe đạp, sản xuất bia, nước khoáng, sản
xuất đường kính)