Tư tưởng của Lê-nin về CNTB nhà nước trong tác phẩm : Bàn về thuế lương thực, vận dụng tư tuỏng này ở Việt Nam
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU
V.I.Lênin (1870 - 1924) là vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản Nga và
giai cấp vô sản toàn thế giới Người đã cống hiến toàn bộ sức lực và trí tuệ
cho sự nghiệp đấu tranh để giành, giữ chính quyền Xô Viết và xây dựng
CNXH ở nước Nga Lênin đã kế thừa và phát huy sáng tạo học thuyết của
C.Mác để xây dựng hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin Những quan
điểm, tư tưởng của Người về thời kỳ quá độ đã và đang được vận dụng ở
nhiều quốc gia Đặc biệt, lý luận của Lênin về chủ nghĩa tư bản Nhà nước -
một trong những nội dung cơ bản của Chính sách kinh tế mới, được Người
trình bày trong tác phẩm: "Bàn về thuế lương thực" (được xuất bản năm
1921), là tư tưởng hoàn toàn mới mẻ chưa có tiền lệ về mặt lý luận cũng như
thực tiễn về bước quá độ lên CNXH ở những nước tiểu nông Người đã nêu
sự cần thiết của CNTB nhà nước trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất cho
CNXH trong thời kỳ qúa độ và các hình thái của nó mà trước đây Mác và
Ăngghen chưa đề cập tới Lênin khẳng định: "CNTB nhà nước sẽ là một bước
tiến so với tình hình hiện nay trong nước Cộng hoà Xô Viết của chúng ta Nếu
chẳng hạn trong khoảng nửa năm nữa, mà ở nước ta đã thiết lập được CNTB
nhà nước thì nó sẽ là thắng lợi to lớn và là điều kiện đảm bảo chắc chắn nhất
rằng qua một năm sau, CNXH nước ta sẽ được củng cố hoàn toàn và trở nên
vô địch".(1)
Như vậy, CNTB nhà nước thực chất là gì? Nó có vai trò, tác dụng như
thế nào trong thời kỳ quá độ? Các hình thức biểu hiện của CNTB nhà nước ra
sao? Cần vận dụng lý luận về CNTB nhà nước của Lênin vào thực tiễn Việt
Nam như thế nào? Để phân tích rõ các vấn đề trên, em chọn đề tài: "Tư
tưởng của Lênin về CNTB nhà nước trong tác phẩm: "Bàn về thuế lương
thực" Vận dụng tư tưởng này ở Việt nam."
Đề tài được kết cấu 2 phần:
Trang 2Phần I: Lý luận của Lênin về CNTB nhà nước
Phần II: Vận dụng lý luận của Lênin về CNTB nhà nước ở Việt Nam
B PHẦN NỘI DUNG
PHẦN I
LÝ LUẬN CỦA LÊNIN VỀ CNTB NHÀ NƯỚC
1 Khái niệm và bản chất của CNTB nhà nước
* Khái niệm: "Chủ nghĩa tư bản nhà nước là một thứ Chủ nghĩa tư bản
mà chúng ta có thể hạn chế, có thể quy định giới hạn, Chủ nghĩa tư bản nhà
nước đó gắn liền với nhà nước, mà nhà nước chính là công nhân, chính là bộ
phận tiên tiến của công nhân, là đội tiên phong, là chúng ta" (1)
"Chủ nghĩa tư bản nhà nước là sự giám sát của nhà nước đối với chủ
nghiệp và thương nhân, những người hoạt động trong hợp tác xã tư sản" (2)
Theo Lênin, "CNTB nhà nước là xấu so với CNXH CNTB là tốt so với
thời trung cổ, với nền tiểu sản xuất, với chủ nghĩa quan liêu do tình trạng
phân tán của những người tiểu sản xuất tạo nên Vì chúng ta chưa có điều
kiện để chuyển trực tiếp từ nền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hội, bởi vậy,
trong một mức độ nào đó, CNTB là không thể tránh khỏi, nó là sản vật tự
nhiên của nền tiểu sản xuất và trao đổi, bởi vậy, chúng ta phải lợi dụng
CNTB (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường CNTB nhà nước) là mắt
xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và CNXH, làm phương tiện, con
đường, phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên" (3)
CNTB nhà nước hiện đại hơn rất nhiều so với nền kinh tế của các nước
tiểu nông đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH Lênin khẳng định: "CNTB
1 Sđd, tập 45, tr 102
2 Sđd, tập 43, tr 249
Trang 3nhà nước dưới quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản và chính Đảng của nó là
ngưỡng cửa CNXH, là điều kiện thắng lợi chắc chắn của CNXH" (1) Như vậy
CNTB nhà nước mà Lênin đề cập đến là một kiểu tư bản có nghĩa vụ thực
hiện các mục tiêu của giai cấp vô sản đề ra, là công cụ để nhà nước vô sản
thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình là chuẩn bị tiền đề vật chất cho CNXH
Lênin phân tích bản chất của CNTB nhà nước dưới chế độ Xô Viết là sự kết
hợp giữa kỹ thuật hiện đại của CNTB với nhà nước vô sản, từ đó đi lên
CNXH Nhà nước vô sản không đại diện cho giai cấp tư sản, mà đại diện cho
giai cấp vô sản, giai cấp công nhân, là đại biểu cho lực lượng sản xuất tiến bộ
Nhà nước Xô Viết là nhà nước Chuyên chính vô sản, đại biểu cho lợi ích của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp công
nhân nó khác về bản chất so với nhà nước Chuyên chính tư sản Trong các
nước tư bản nhà nước là của giai cấp tư sản, do đó sở hữu nhà nước trong xã
hội tư bản chính là sở hữu của giai cấp tư sản Còn trong nhà nước XHCN,
nhà nước là sở hữu công cộng, tập thể của nhân dân lao động chính vì vậy
CNTB nhà nước ở nước Nga Xô Viết so với các nước TB CNTBNN ở nước
Nga phản ánh mối quan hệ của giai cấp công nhân với các nhà TB, chịu sự
lãnh đạo của giai cấp công nhân Lênin khẳng định: "CNTBNN là sự giám sát
của nhà nước đối với chủ xí nghiệp và thương nhân, những người hoạt động
trong HTX sản xuất" Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở một đất nước mà
giai cấp vô sản nắm chính quyền thì CNTBNN là thứ chủ nghĩa tư bản chịu
sự kiểm kê, kiểm soát của nhà nước vô sản, là hệ thống các quan hệ kinh tế
khách quan giữa nhà nước vô sản với các nhà nước tư bản trong và ngoài
nước Nó là CNTB được dung nạp, được phát triển trong một giai đoạn nhất
định Giới hạn đó do nhà nước vô sản ấn định và được điều chính theo những
mục tiêu của nhà nước vô sản, phù hợp với từng giai đoạn phát triển
Trang 4Thời kỳ quá độ vận dụng vào kinh tế có nghĩa là trong thời kỳ đó có
những thành phần những bộ phận, những mảnh của CNTB và CNXH đan xen
nhau Đó là năm thành phần kinh tế:
Một là: kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính
chất tự nhiên
Hai là: kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ Phần lớn trong thành phần kinh
tế này là kinh tế của trung nông sản xuất và bán lúa mì Nền kinh tế này dựa
trên chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất của người lao động và dựa trên lao
động của bản thân người chiếm hữu tư liệu sản xuất Họ sản xuất để bán, để
trao đổi, còn chỉ tiêu dùng cho cá nhân một phần
Ba là: kinh tế của CNTB tư nhân Đó là kinh tế của các nhà tư bản loại
nhỏ và vừa Nền kinh tế này dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân và tư bản chủ
nghĩa về tư liệu sản xuất và dựa trên lao động làm thuê của công nhân Các
nhà tư bản sản xuất cho thị trường và theo đuổi giá trị thặng dư, lợi nhuận
Bốn là: kinh tế của CNTBNN Trong thành phần kinh tế này, vừa có
những nhân tố của CNXH vừa có những nhân tố của CNTB Lúc bấy giờ ở
Nga, thành phần kinh tế này chưa được thực hiện bao nhiêu, mặc dù các chủ
trương, chính sách về CNTBNN đã được ban hành
Năm là: kinh tế XHCN Thành phần kinh tế này dựa trên chế độ công
hữu XHCN về tư liệu sản xuất dưới 2 hình thức: hình thức sở hữu toàn dân và
hình thức sở hữu tập thể
Tất cả các thành phần đó đan xen nhau trong nên kinh tế của nước Nga
Xô Viết trong thời kỳ quá độ Phân tích quan hệ sản xuất và năng lực sản xuất
của năm thành phần kinh tế của nước Nga hồi đó, Lênin cho rằng CNTBNN
là một chế độ kinh tế cao hơn kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ và kinh tế tư bản
Trang 5tu nhân, nhưng dù ở trình độ thấp hơn chế độ kinh tế XHCN Do đó
CNTBNN là một bước tiến trong tình hình kinh tế nước Nga Xô Viết hồi đó,
một nước là kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ của tiểu tư sản và kinh tế tư bản tư
nhân đang chiếm ưu thế
Trang 62 Vai trò - tác dụng của CNTBNN
CNTBNN là một thành phần kinh tế đặc biệt quan trọng đối với sự phát
triển xây dựng nền tảng kinh tế của đất nước vì TBNN là một bước tiến lớn,
Lenin chỉ ra rằng: "Nó sẽ đưa chúng ta lên đến CNXH bằng con đường chắc
chắn nhất" Đó là một điều khẳng định của Lênin trong thời gian đó, ngoài sự
nghiệp đưa đất nước đi lên CNXH nên kinh tế tư bản nhà nước là việc tổ chức
quản lý khoa học kỹ thuật hiện đại hơn so với nền kinh tế nhà nước Xô Viết
thời đó Theo Lênin CNTBNN tất nhiên và nhất định phải có nghĩa là một
bước tiến lên CNXH CNTBNN là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ cho CNXH, là
phòng chờ đi vào CNXH, là nấc thang lịch sử mà giữa nó với nấc thang được
gọi là CNXH thì không có nấc thang nào cả Vậy CNTBNN là cơ sở để đi lên
CNXH Đây là thành phần kinh tế đặc trưng nhất, nổi bật nhất, góp phần giúp
nhà nước Xô Viết chống lại tình trạng phân tán, tản mạn và quan liêu của sản
xuất nhỏ Mặt khác, nó giúp nhà nước Xô Viết tiếp cận được nguồn vốn, trình
độ quản lý tiên tiến, đảm bảo cho sự thắng lợi, bắc những chiếc cầu trung gian
nhỏ vững chắc, dùng các mắt xích trung gian tạo điều kiện thuận lợi cho bước
chuyển từ nên tảng sản xuất lên CNXH " Chừng nào mà giai cấp công nhân
học biết cách giữ gìn trật tự nhà nước chống tình trạng vô chính phủ của tiểu
tư hữu, chừng nào mà giai cấp công nhân học được cách sắp đặt tổ chức sản
xuất với quy mô lớn toàn quốc, trên cơ sở CNTBNN, thì khi ấy… tất cả các
con chủ bài đều nằm trong tay công nhân và sẽ đảm bảo cho CNXH được
củng cố "
3 Các hình thức biểu hiện của CNTBNN
Lênin đã chỉ ra rằng những hình thức của CHTBNN đó là tô nhượng,
HTX, đại lý, cho thuê Đây là những phương pháp đúng đắn đảm bảo cho sự
chuyển biến từ CNTBNN sang CNXH
Trang 7a Hình thức tô nhượng
Tô nhượng là gì? "Đó là một giao kèo, một sự liên kết, một liên minh
giữa chính quyền và nhà nước Xô viết, nghĩa là nhà nước vô sản,với
CNTBNN , chống lại thế lực tự phát tiểu tư hữu (có tính chất gia trưởng và
tiểu tư sản) "tô nhượng là hợp đồng giữa nhà nước và một nhà tư bản, người
này cam kết tổ chức hoặc hoàn thiện sản xuất (chẳng hạn như: đẵn và chở gỗ,
khai thác than, dầu lửa, khoáng sản ) trả cho Nhà nước một phần sản phẩm
sản xuất ra, và nhận một phần khác với danh nghĩa là lãi Có nghĩa là "chính
quyền Nhà nước XHCN giao cho nhà tư bản tư liệu sản xuất của mình: nhà
máy, vật liệu, hầm mỏ, nhà tư bản tiến hàng kinh doanh với tư cách là một
bên ký kết là người thuê tư liệu sản xuất XHCN, và thu được lợi nhuận do tư
bản mà mình bỏ ra, rồi nộp cho Nhà nước XHCN một phần sản phẩm" Người
nhận tô nhượng là nhà tư bản Họ kinh doanh theo phương thức tư bản để lấy
lợi nhuận, họ đồng ý thoả thuận với chính quyền vô sản để cốt thu được lợi
nhuận bất thường, lợi nhuận siêu ngạch hoặc để có được loại nguyên liệu mà
họ không thể tìm đươc hoặc khó tìm đươc bằng cách khác Chính quyền Xô
viết cũng có lợi ; lực lượng sản xuất phát triển, số lượng sản phẩm tăng lên
ngay hoặc trong một thời gian ngắn nhất" (1) "So với những hình thức khác
của CNTBNN trong lòng chế độ Xô viết, thì CNTBNN dưới hình thức tô
nhượng, có lẽ là hình thức đơn giản nhất, rành mạch nhất, sáng tỏ nhất, có
hình thù rõ rệt nhất" (2) "Với việc ban hành thuế lương thực thì nhiệm vụ
quan trọng nhất của tất cả các cán bộ của Đảng và của các cơ quan Xô Viết
là phải biết áp dụng những nguyên tắc, những nguyên lý, những cơ sở chính
sách tô nhượng (tức là giống như CNTBNN trong lĩnh vực tô nhượng) vào
những hình thái khác nhau của CNTB, của tự do buôn bán, của sự trao đổi
Trang 8địa phương " (1) Tô nhượng là một loại hợp đồng cho thuê, người tư bản trở
thành người đi thuê một phần tài sản của nhà nước, theo một hợp đồng và
trong một thời gian nhất định, nhưng nhà tư bản đi thuê không thể trở thành
người sở hữu được Quyền sở hữu vẫn là của Nhà nước Mức độ và những
điều kiện trong đó tô nhượng sẽ có lợi và không nguy hại cho Nhà nước
XHCN là tuỳ thuộc vào sự so sánh lực lượng của Nhà nước đó và giai cấp tư
sản Tô nhượng cũng là một hình thức đấu tranh, là sự tiếp tục của đấu tranh
giai cấp dưới một hình thức khác, chứ tuyệt nhiên không phải là sự thay thế
đấu tranh giai cấp bằng hoà bình giai cấp CNTB dưới hình thức tô nhượng,
chính quyền Xô Viết tăng cường được nền đại sản xuất, tăng thêm số lượng
sản phẩm một cách nhanh chóng, củng cố được quan hệ kinh tế do Nhà nước
điều chỉnh, nó giúp cải thiện nhanh chóng tình trạng sản xuất, đời sống của
công nhân và nông dân Khi chính sách tô nhượng thắng lợi, sẽ đưa lại một số
ít xí nghiệp lớn kiểu mẫu ngang trình độ của CNTB tiên tiến, hiện đại, mấy
chục năm nữa, những xí nghiệp ấy sẽ hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của Nhà
nước Xô Viết Dưới hình thức tô nhượng là hình thức cao của CNTBNN, là
hình thức để chuyển nền sản xuất lớn TBCN sang sản xuất lớn XHCN, giai
cấp công nhân có thể học tập quản lý nền đại công nghiệp cơ khí hoá và xã
hội hoá Lênin nhấn mạnh "Tô nhượng là không đáng sợ, nếu chúng ta chỉ
giao cho những người được tô nhượng một vài nhà máy, còn đa số nhà máy
vẫn giữ lại", "Chừng nào mà chúng ta nắm trong tay tất cả các xí nghiệp
quốc doanh và chứng nào chúng ta cân nhắc một cách chính xác và nghiêm
túc xem chúng ta có thể tiến hành tô nhượng những gì, với điều kiện như thế
nào và mức độ ra sao" (2) CNTB ở đây hoàn toàn bị kiểm soát mà nó chỉ hoạt
động nhằm làm cho những tư liệu sản xuất được sử dụng một cách hiệu quả
hơn phục vụ cho sự nghiệp xây dựng CNXH
b Hình thức HTX
1 Sđd, tập 43, tr 270
Trang 9Lênin chỉ ra 2 loại hình hợp tác xã, đó là hợp tác xã tiêu dùng và hợp
tác xã sản xuất “Hợp tác xã tiêu dùng là sự tập hợp công nhân và nông dân,
nhằm mục đích cung cấp và phân phối những sản phẩm cần thiết cho họ”, “
Hợp tác xã sản xuất là sự tập hợp những người tiểu nông hoặc thợ thủ công,
nhằm mục đích sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm vừa nông nghiệp (chẳng
hạn như rau, sản phẩm sữa và v.v.), vừa phi nông nghiệp (sản phẩm công
nghiệp đủ mọi loại, đồ bằng gỗ, bằng sắt, bằng da,v.v.) (1)
Theo Lênin, “các hợp tác xã cũng là một hình thức của chủ nghĩa tư bản
nhà nước nhưng ít đơn giản hơn, có hình thù rõ rệt hơn, phức tạp hơn” (2)
Các hợp tác xã của những người sản xuất nhỏ nhất định sẽ sản sinh ra những
quan hệ tư bản, tiểu tư sản, góp phần phát triển những quan hệ ấy, đẩy những
nhà tư bản nhỏ lên hàng đầu, mang lại cho họ những lợi ích lớn nhất Do đó,
tự do và quyền lợi của hợp tác xã có nghĩa là tự do và quyền lợi cho Chủ
nghĩa tư bản Song, dưới chính quyền xô-viết, hợp tác xã là một hình thái của
chủ nghĩa tư bản nhà nước cho nên trong một mức độ nào đó nó có lợi và có
ích
Lênin viết: “Chủ nghĩa tư bản hợp tác xã giống chủ nghĩa tư bản nhà
nước ở chỗ nó tạo điều kiện thuận lợi cho sự kiểm kê, kiểm soát, theo dõi, cho
những quan hệ đã ghi trong hợp đồng giữa nhà nước (ở đây là nhà nước
xô-viết) với nhà tư bản” , mặt khác, “nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hợp
và tổ chức hàng triệu người, sau đó toàn thể dân chúng; và tình hình ấy lại là
một điều lợi rất lớn cho bước quá độ tương lai từ chủ nghĩa tư bản nhà nước
lên Chủ nghĩa xã hội” (3)
Nếu mang so sánh 2 hình thức: tô nhượng và hợp tác xã, chúng ta sẽ thấy
rõ hình thức tô nhượng dựa trên cơ sở đại công nghiệp cơ khí; hợp đồng của
Trang 10nó chỉ quan hệ đến một nhà tư bản hay một hãng, một xanh - đi - ca, các - ten
hay tờ - rớt và có thời gian chính xác; việc giám sát của nhà nước đối với
người nhận tô nhượng dễ dàng hơn; việc chuyển từ tô nhượng lên Chủ nghĩa
xã hội là chuyển từ một hình thức đại sản xuất này sang một hình thức đại sản
xuất khác Còn chế độ hợp tác xã thì lại dựa trên cơ sở tiểu thủ công nghiệp;
nó bao gồm hàng ngàn, hàng triệu tiểu nghiệp chủ Mặt khác, hợp tác xã
không có hợp đồng và cũng không có thời hạn chính xác; việc giám sát các xã
viên khó khăn hơn; chuyển từ hợp tác xã của người sản xuất nhỏ lên Chủ
nghĩa xã hội là chuyển từ tiểu sản xuất sang đại sản xuất thủ tiêu một đạo luật
về HTX dễ hơn nhiều so với việc bãi bỏ một hợp đồng tô nhượng, nhưng bãi
bỏ hợp đồng tô nhượng có nghĩa là lập tức và đơn giản cắt đứt ngay những
quan hệ thực tế của sự liên minh kinh tế hay của sự "chung sống" về mặt kinh
tế với nhà tư bản, trái lại, không có sự thủ tiêu một đạo luật nào về HTX và
không một đạo luật nào nói chung có thể cắt đứt ngay được, chẳng nhưng sự
"chung" sống thực tế của chính quyền Xô Viết với các nhà tư bản nhỏ, mà nói
chung, còn không thể cắt đứt được các mối quan hệ kinh tế hiện có Đây là
một bước quá độ phức tạp hơn Nhưng nếu thành công, lại có thể bao gồm
được những khối quần chúng nhân dân đông đảo hơn, sẽ nhổ được tận gốc rễ
sâu xa hơn, dai dẳng hơn của quan hệ cũ tiền xã hội chủ nghĩa, thậm chí tiền
tư bản
Nhận thức được vai trò của hợp tác xã, Lênin đã chỉ đạo: “Các nhà chức
trách xô-viết chỉ cần kiểm tra hoạt động của các hợp tác xã để tránh sự gian
lận, việc giấu giếm nhà nước, hoặc các sự lạm quyền; bất luận thế nào cũng
không được hạn chế sự phát triển của các hợp tác xã, mà trái lại phải bằng
đủ mọi cách giúp đỡ hợp tác xã”
c Hình thức đại lý