1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thuyết trình luật kinh tế "Bầu dồn phiếu công ty cổ phần" ppsx

32 1,1K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó Kể từ ngày 1/07/2006, đối với các Công ty Cổ phần khi bầu thành viên trong Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát thì bắt buộc phải áp dụng phương thức bầu dồn phiếu theo Luật Doa

Trang 3

Nội Dung Trình Bày

Kiến Nghị Đề Xuất Nội Dung

Đặt Vấn Đề

Trang 4

  Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, tiêu chí để đánh giá sự thành công của các doanh nghiệp không chỉ dựa trên yếu tố về minh bạch hoá thông tin với cổ đông, khách hàng, nhân viên và cộng đồng mà doanh nghiệp hướng tới Mà các doanh nghiệp chỉ có thể đạt được sự thành công lâu dài và bền vững nếu có một bộ máy tổ chức công ty hoạt động một cách hiệu quả phù hợp với những tiêu

chuẩn , trình độ trong nước và tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế.

Trang 5

Trong đó Hội Đồng Quản Trị và Ban Kiểm Soát Của Công Ty Cổ Phần có nhiệm vụ rất quan

trọng HĐQT quyết định hướng phát triển công

ty trong tương lai- điều này lại không thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ.Còn Ban Kiểm Soát thì có

nhiệm vụ giám sát công việc quản lý và điều

hành của HĐQT & GĐ công ty.Do đó việc bầu chọn HĐQT và Ban Kiểm Soát là rất quan trọng.

Trang 6

Do đó Kể từ ngày 1/07/2006, đối với các Công ty

Cổ phần khi bầu thành viên trong Hội đồng

quản trị và Ban kiểm soát thì bắt buộc phải áp

dụng phương thức bầu dồn phiếu theo Luật

Doanh Nghiệp 2005 Đây được coi là một trong những cơ sở bảo vệ cổ đông thiểu số Xuất phát

từ vấn đề đó mà nhóm chúng tôi chọn đề tài

“ Bầu dồn phiếu công ty cổ phần “ làm bài

thuyết trình của mình

Trang 7

I Khái Niệm

Theo quy định pháp luật hiện hành cùng với tài liệu tham

khảo, phương thức bầu dồn phiếu áp dụng đối với việc bầu

các thành viên trong Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát trong Công ty Cổ phần được quy định ( điểm c, Khoản 3, Điều 104 LDN05) và ( Điều 17 NĐ 139/2007 hdth Luật DN).

Khi biểu quyết bầu thành viên HĐQT và BKS, mỗi cổ đông có tổng số biểu quyết tương ứng với tổng số cổ phần sở hữu,

nhân với số thành viên được bầu trong HĐQT hoặc số thành viên bầu BKS

Trang 8

tuy nhiên cổ đông có quyền sử dụng tổng số

quyền bầu cử của mình cho một ứng cử viên;

hoặc một số ứng cử viên với số lượng bầu cho

mỗi ứng cử viên không bắt buộc phải bằng nhau; hoặc chỉ bầu một phần tổng số quyền bầu của

mình cho một hoặc một số ứng cử viên, phần

quyền bầu còn lại có thể không bầu cho bất kỳ ứng cử viên nào Số lượng ứng viên được bầu

trong mỗi phiếu không được vượt quá số lượng tối đa được phép bầu.

Trang 9

Bầu dồn phiếu

( LDN 05) 75

phiếu O O O O

Trang 10

Ví dụ:

Số lượng thành viên bầu vào HĐQT là 5 người (trong số 6 người được giới thiệu), vào BKS là

3 người (trong số 4 người được giới thiệu)

Ông X là cổ đông nắm giữ 1.000 cổ phần có quyền biểu quyết

Như vậy, quyền bầu cử HĐQT của ông X là (1.000 * 5) = 5.000 phiếu và quyền bầu cử BKS là (1.000 * 3) = 3.000 phiếu

Trang 11

LOGO

Xác định tổng số quyền bầu cử của 1 cổ đông

Số thành viên được bầu

1000

x

5

Nhân Bằng

5000

Tổng Số Cổ phần nắm giữ

Tổng Số Quyền Bầu Cử

Trang 12

LOGO

Tại điểm c, khoản 3, Điều 104 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: "Việc biểu quyết bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu dồn

phiếu, theo đó mỗi cổ đông có tổng số phiếu biểu quyết

tương ứng với tổng số cổ phần sở hữu nhân với số thành

viên được bầu của Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát và

cổ đông có quyền dồn hết tổng số phiếu bầu của mình cho một hoặc một số ứng cử viên".

Trang 15

Theo quy định tại Điều 29, Nghị định 102/2010/NĐ-CP

ngày 1/10/2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp, thì phương thức dồn phiếu bầu thực hiện như sau:

Trước và trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, các cổ đông có quyền cùng nhau lập nhóm để đề cử và dồn

phiếu bầu cho người do họ đề cử

Số lượng ứng cử viên mà mỗi nhóm có quyền đề cử phụ thuộc vào số lượng ứng cử viên do Đại hội quyết định

và tỷ lệ sở hữu cổ phần của mỗi nhóm Nếu Điều lệ

công ty không quy định khác hoặc Đại hội đồng cổ

đông không quyết định khác thì số lượng ứng cử viên

mà các nhóm có quyền đề cử thực hiện như sau:

Trang 16

 Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 10% đến dưới 20% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được đề cử tối đa

Trang 17

 - Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 60% đến dưới 70% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được đề cử tối đa

Trang 18

Nguyên tắc bầu dồn phiếu cơ sở bảo vệ cổ đông thiểu số ?

Cổ đông thiểu số trong Công ty cổ phần thường đi liền tỷ lệ

biểu quyết vấn đề quan trọng nào đó của Công ty là thấp so cổ đông lớn Nếu áp dụng phương thức bầu dồn phiếu họ có thể lien kết lại với nhau để bầu những thành viên vào HĐQT hoặc BKS dễ dàng hơn so với cổ đông lớn Đây có thể coi là điểm tiến bộ của LDN05.

Trang 19

Vậy hiểu như thế nào về Cổ đông thiểu số ?

Như ta đã biết, hiện tại chưa có định nghĩa rõ ràng cổ

đông thiểu số là nhưng thế nào ? Theo quy định Luật

doanh nghiệp đề cập vấn đề này : “ cổ đông hoặc nhóm

cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông

trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn quy đinh tại điều lệ Công ty “… Tôi cho rằng ý nghĩa để xác định cổ đông thiểu số như trên còn nhiều hạn chế, vì đối những Công ty cổ phần niêm yết , một

cá nhân sở hữu dưới 10% tổng số cổ phần thì bản chất hoàn toàn khác Vậy nên chăng pháp luật cần đưa ra

một tỷ lệ tương đối trong sở hữu cổ phần của các cổ

đông

Trang 20

Tuy nhiên, cổ đông sáng lập vẫn ưu tiên nhất :

Tách riêng biệt những quy định ở trên, ở phần này tôi xin trích dẫn 1 phần trong tập bài giảng Chủ thể Kinh doanh – trường Đại học Luật TpHCM.: Đối với cổ đông sáng lập, họ có thể nắm giữ loại cổ phần ữu đãi biểu quyết, từ đó họ có thể chi

phối công ty ngay cả khi không có tỷ lệ vố cổ phần chi phối, tức Công ty không xuất hiện Nhóm cổ đông thiểu số.

Vd : Công ty cổ phần thành lập vốn điều lệ 10 tỷ, chia thành 1 triệu cổ phần có mệnh giá 10.000 đồng Trong đó các cổ đông sáng lập chỉ có thể nắm giữ khoảng 40% vốn cổ phần nhưng

họ lại muốn có quyền chi phối công ty Từ đó, họ có thể

chọn mô hình cấu trúc vốn sau: 70% cổ phần phổ thông, theo quy định LDN05, cổ đông sáng lập phải nắm giữ ít nhất 20% cổ phần phổ thông ( khoản 5 Điều 84)

Trang 21

Như vậy họ đã nắm giữ được 14% tổng vốn cổ phần

Mặt khác, 30% cơ cấu vốn ban đầu, họ quy định trong Điều lệ là cổ phần ưu đãi biểu quyết ( do chính họ nắm giữ , với tỷ lệ biểu quyết 1: 2) tức là họ có quyền biểu quyết đối số cổ phần ưu đãi này là 60 phiếu Quay lại

14% cổ phần phổ thông Vậy họ tỷ lệ số phiếu biểu

quyết 74/56 và như vậy chi phối Công ty

Luật DN05, nhằm hướng bảo vệ cổ đông thiểu số, tuy nhiên tùy vào từng quy định cốt lõi bên trong Công ty nên ý nghĩa bảo vệ chỉ mang tính tương đối

Trang 22

Tại Điểm c, Khoản 3, Điều 104 Luật Doanh nghiệp 2005 thì:

“Việc bầu thành viên HĐQT hoặc ban kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu, theo đó mỗi cổ đông có tổng

số phiếu biểu quyết tương ứng với tổng số cổ phần sở hữu nhân với số thành viên được bầu của HĐQT hoặc ban kiểm soát và cổ đông có quyền dồn hết tổng số phiếu bầu của mình cho một

hoặc một số ứng cử viên”.

Khoản 4, Điều 17, Nghị định 139/2007/NĐ-CP quy

định: “Người trúng cử thành viên HĐQT hoặc thành

viên ban kiểm soát được xác định theo số phiếu bầu tính

từ cao xuống thấp, bắt đầu từ ứng cử viên có số phiếu bầu cao nhất cho đến khi đủ số thành viên quy định tại điều lệ công ty”

Trang 23

Trên thực tế, ĐHCĐ của một số công ty còn có những cách hiểu khác nhau về quy định bầu dồn phiều Điều này dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất, làm nảy sinh những mâu thuẫn không cần thiết trong việc quản lý, điều hành doanh nghiệp Hiện có 2 cách hiểu như sau:

quy định tại Điểm a, Khoản 3, Điều 104 Luật Doanh

nghiệp 2005 thì quyết định của ĐHCĐ được thông qua tại cuộc họp khi được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông dự họp chấp thuận

Trang 24

Do đó, áp dụng Điểm a và Điểm c, Khoản 3, Điều 104 Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định 139/2007/NĐ-

CP thì người trúng cử thành viên HĐQT hoặc ban kiểm soát được xác định “theo số phiếu bầu tính từ cao xuống thấp” và tối thiểu phải đạt ít nhất 65% tổng số phiếu

biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận

rằng, theo Khoản 4, Điều 17 Nghị định

139/2007/NĐ-CP thì người trúng cử thành viên HĐQT hoặc ban kiểm soát được xác định theo số phiếu bầu “tính từ cao xuống thấp, bắt đầu từ ứng cử viên có số phiếu bầu cao nhất

cho đến khi đủ số thành viên quy định tại điều lệ công ty”

Trang 25

Như vậy, theo Nghị định 139/2007/NĐ-CP thì việc xác định

người trúng cử vào thành viên HĐQT hoặc ban kiểm soát được xác định theo số phiếu bầu từ cao xuống thấp cho đến khi đủ

ứng viên và không bắt buộc phải đảm bảo điều kiện “được ít

nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp

chấp thuận”.

Vậy đâu là cách hiểu đúng theo quy định của Luật Doanh nghiệp

2005 và văn bản hướng dẫn thi hành? Chúng ta có thể lấy ví dụ cụ thể để hiểu rõ hơn về quy định này Công ty X tiến hành bầu thành viên HĐQT Số thành viên cần bầu là 5 người và số ứng

cử viên trong trường hợp này giả sử có 5 người (A, B, C, D và E) Giả thiết, vốn điều lệ của công ty X là 1 tỷ đồng, tổng số cổ phần là 100.000 cổ phần Vì bầu 5 thành viên HĐQT nên số

phiếu sẽ được nhân với 5 Như vậy, tổng số phiếu bầu là

500.000 cổ phần.

Trang 26

Giả sử 500.000 cổ phần đó được phân chia như sau: ông

A - 150.000 cổ phần, tương đương 150%; ông B -

150.000 cổ phần, tương đương 150%; ông C - 100.000

cổ phần, tương đương 100%; ông D - 95.000 cổ phần, tương đương 95% và ông E - 5.000 cổ phần, tương

đương 5%

Với kết quả như trên, theo cách hiểu thứ hai thì 5 ứng

cử viên trên đều trúng cử thành viên HĐQT công ty X Điều này dẫn đến sự bất hợp lý là ông E, chỉ với số

phiếu bầu chiếm 5% tổng số cổ phần có quyền biểu

quyết vẫn trúng cử thành viên HĐQT Theo cách hiểu này, nếu công ty X có số lượng ứng cử viên bằng với số thành viên HĐQT do ĐHCĐ quyết định thì kết quả bầu

cử luôn đảm bảo tất cả ứng cử viên đều trúng cử.

Trang 27

Theo cách hiểu thứ nhất thì chỉ có 4 ứng cử viên A, B,

C, D là đáp ứng đủ điều kiện trở thành thành viên

HĐQT Cách hiểu này có vẻ hợp lý hơn vì theo Khoản

3, Điều 104 Luật Doanh nghiệp 2005 thì quyết định của ĐHCĐ được thông qua khi ít nhất 65% tổng số cổ phần biểu quyết của cổ đông dự họp chấp thuận

Hiện một số công ty cổ phần vẫn hiểu khác nhau đối

với quy định bầu dồn phiếu Điều này đặt ra yêu cầu

cần có sự giải thích, hướng dẫn chính thức từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để việc áp dụng pháp luật

được thống nhất và đồng bộ.  

Trang 28

Bầu dồn phiếu là một quy định mới lần đầu tiên được luật hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, được áp dụng đối với việc bầu thành viên HĐQT

và ban kiểm soát trong công ty cổ phần Hiện tại, hai

văn bản pháp lý có quy định liên quan đến bầu dồn

phiếu là Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định

139/2007/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp 2005 là vẫn chưa đủ để hướng dẫn các công ty cổ phần thực hiện

một cách có hiệu quả

Trang 29

Hiện một số công ty cổ phần vẫn hiểu khác nhau đối với quy định bầu dồn phiếu Điều này đặt ra yêu cầu cần có

sự giải thích, hướng dẫn chính thức từ cơ quan nhà

nước có thẩm quyền để việc áp dụng pháp luật được

thống nhất và đồng bộ Để Luật sớm đi vào cuộc sống thì rất cần có Nghị định hướng dẫn thi hành luật về

trách nhiệm của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc

doanh nghiệp, căn cứ trên chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp Như vậy, các doanh nghiệp vừa dễ

dàng áp dụng và các cổ đông, nhà đầu tư cũng thuận

tiện trong việc theo dõi phân tích

Trang 32

www.themegallery.com

Ngày đăng: 26/07/2014, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w