Ba giai đoạn phát triển của CNTB trong công nghiệp và ứng dụng ở Việt Nam
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
hủ nghĩa tư bản trong công nghiệp hiện nay có sự phát triển nhảy vọt
về Khoa học Công nghệ, nguồn lực tri thức và về phương thức sản
xuất Trong đó lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đều phát triển
ở đỉnh cao,chủ nghĩa tư bản là lực lượng tiên phong chiếm lĩnh lâu đài khoa học,
đó là những ưu thế đặc trưng mà các nước đã và đang phát triển trong đó có Việt
Nam Chưa thể có và cũng chưa theo kịp, nhưng cũng không vì thế mà chúng ta
không thể không nhắc tới " Ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản trong
công nghiệp " Đây thực chất là ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản từ
thấp lên cao và cũng là giai đoạn nâng cao năng suất lao động của chủ nghĩa tư
bản Qúa trình tổ chức sản xuất, từ lao động thủ công cho tới lao động chuyên
môn, từ lao động chân tay sang lao động sử dụng máy móc và xây dựng cơ sở
vật chất cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Do đó nó đóng vai trò vô
cùng quan trọng trong sự phát triển về Kinh tế -Xã hội và làm lên thành công
cho chủ nghĩa tư bản ngày nay
Chính vì vậy trong xu thế tất yếu hội nhập và phát triển như hiện nay điều
đặt ra hiện nay đối với Đảng và nhà nước nói chung và các Thành phần Kinh tế
trong nước nói riêng Là muốn phát triển nền Kinh tế của đất nước, để theo kịp
với các nước khác trên thế giới Không còn cách nào khác, đối với Khoa học
Công nghệ Nghị Quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã chủ trương là phải "Đi
Tắt Đón Đầu" tức là phải áp dụng những thành tựu khoa học mới nhất hiện đại
nhất của thế giới vào nền Kinh tế của đất nước hiện nay Mặt khác trên cơ sở
thực tế nền Kinh tế nước mình, để có được nền tảng vững chắc cho sự phát triển
toàn diện thì phải có sự vận dụng có chọn lọc Ba giai đoạn phát triển của chủ
nghĩa tư bản Vì vậy việc đưa ra vấn đề :
"Ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp và ứng
dụng ở Việt Nam" trong bài tiểu luận này xuất phát từ tính thời sự của nó, đối
với nền Kinh tế của nước ta hiện nay Trong phạm vi bài viết này em đề cập tới
các vấn đề sau:
C
Trang 2Chương I : Tiền đề ra đời của quá trình tổ chức sản xuất
Chương II : Tại sao nói công trường thủ công là nguyên nhân ra đời của đại
công nghiệp cơ khí ?
Chương III : Tầm quan trọng của đại công nghiệp cơ khí đối với phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa
ỨNG DỤNG Ở VIỆT NAM ĐỐI VỚI NỀN ĐẠI CÔNG NGHIỆP
Vì đây là lần đầu tiên em viết tiểu luận nên không tránh khỏi những thiếu
sót kính mong các thầy, cô giáo có thể bổ sung để bài viết của em được tốt hơn
trong các lần sau Em cũng chân thành cám ơn sự hướng dẫn của các Thầy Cô
giáo đã giúp em hoàn thành tốt bài tiểu luận này
Trang 3PHẦN NỘI DUN NG CHƯƠNG I : TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC SẢN
XUẤT
1 Hiệp tác giản đơn là gì ?
Hiệp tác giản đơn tư bản chủ nghĩa là hình thức xã hội hoá lao động, là
hình thức Hiệp tác của nhiều người lao động cùng làm một công việc giống
nhau trong một xí nghiệp tư bản
Hình thức hiệp tác giản đơn này được hình thành trong thời kỳ sơ khai trong các
xí nghiệp tư bản kể cả những xí nghiệp vừa và nhỏ , những xí nghiệp có quy mô
lớn
Hình thức này đòi hỏi tính độc lập của mỗi một người công nhân trong xí nghiệp
giống như việc gom nhiều sản xuất riêng lẻ của nhiều người lao động thủ công
về một nơi cùng làm việc dưới sự quản lý của xí nghiệp
2. Những điểm chung cơ bản giữa hiệp tác giản đơn và sản xuất hàng hoá
nhỏ
Chúng ta biết thực chất của hiệp tác giản đơn là sản xuất của người lao động thủ
công với kỹ thuật thủ công Chính vì thế nên mỗi một người công nhân đều làm
ra một sản phẩm hoàn chỉnh mà sản xuất hàng hoá nhỏ là sản xuất của từng cá
thể riêng lẻ Vì thế có thể nói rằng:" hiệp tác giản đơn cũng chính là hình thức
tổng hợp của nhiều nền sản xuất nhỏ mà thành" Hay nói cách khác sản xuất
hàng hoá nhỏ là hình thái chuyển hoá của Hiệp tác giản đơn
3 Cơ sở của quá trình tổ chức sản xuất
Về cơ bản sản xuất hàng hoá nhỏ và hiệp tác giản đơn đều giống nhau nhưng
nếu chúng ta xét trên phương diện hình thức tổ chức thì lại có những điểm khác
nhau rõ rệt Nếu như sản xuất hàng hoá là lao động riêng lẻ của mỗi cá nhân nên
sản xuất thường rất phân tán gây khó khăn cho việc thu mua hàng hoá rất nhiều
Hơn nữa vì là sản xuất cá thể nên quy mô nhỏ cá thể hay hộ gia đình Do vậy
việc tập trung hàng hoá tốn nhiều chi phí mà hiệu quả lại không được như mong
muốn còn Hiệp tác giản đơn thì lại khác vì tập trung sản xuất trong xí nghiệp có
Trang 4sự quản lý và điều tiết ở tầm vi mô và cả vĩ mô của chủ tư bản Nên việc mua
hàng hoá với số lượng lớn rất dễ dàng mà lại có thể giảm được chi phí rất nhiều,
đây là điểm khác nhau cơ bản giữa hai hình thức sản xuất này
Hơn nữa một đặc điểm khác nữa cũng rất quan trọng, sản xuất hàng hoá nhỏ thì
tư liệu sản xuất là của nhười lao động, lao động là cho bản thân mình và mình
được hưởng chứ không phụ thuộc vào ai Ngược lại Hiệp tác giản đơn thì tư liệu
của chủ tư bản họ chỉ là những người làm thuê,làm công ăn lương theo sản
phẩm hay ngày công lao động Tất cả những yếu tố đó đã dẫn tới những ưu thế
của Hiệp tác giản đơn so với sản xuất hàng hoá nhỏ như sau:
Việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ổn định hơn
Tiết kiệm được tư liệu sanr xuất và giảm chi phí xây dựng
Kích thích khả năng xây dựng của nhiều người
Tạo ra sức sản xuất mới, sức sản xuất tập thể lớn hơn sức sản xuất của nhiều
cá nhân cộng lại
Rút ngắn thời gian tạo ra một sản phẩm
Đảm bảo tính thời vụ và khẩn cấp trong công việc
Bảo đảm việc mở rộng hoặc thu hẹp về không gian và tiết kiệm hư phí
Tất cả những ưu thế trên đều đưa tới một kết luận rằng Hiệp tác giản đơn năng
xuất lao động lớn hơn năng xuất cá thể đồng thời sự khác nhau giữa Hiệp tác
giản đơn và sản xuất hàng hoá nhỏ nói nên tính chất của Hiệp tác giản đơn là
chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, lao động làm thuê và quan hệ mới
quan hệ tư bản thống trị lao động làm thuê Đây chính là cơ sở của quá trình tổ
chức sản xuất trong các xí nghiệp của chủ nghĩa tư bản và nền tảng của nó là
Hiệp tác giản đơn
&
CHƯƠNG II TẠI SAO NÓI CÔNG TRƯỜNG THỦ CÔNG LÀ NGUYÊN NHÂN RA
ĐỜI CỦA ĐẠI CÔNG NGHIỆP CƠ KHÍ ?
Trang 51 Thế nào là công trường thủ công?
Công trường thủ công là xí nghiệp hiệp tác tư bản chủ nghĩa dựa trên cơ sở phân
công lao động kỹ thuật
2 Các hình thức cơ bản của công trường thủ công
Quá trình chuyển hoá từ hiệp tác giản đơn sang công trường thủ công được
hình thành từ hai con đường do đó đã hình thành nên hai hình thức Công trường
thủ công
a Công trường thủ công hỗn tạp
Là hiệp tác giữa những người thợ thủ công có nghề chuyên môn khác nhau
để làm một công việc có liên quan đến sản phẩm của phân xưởng
b Công trường thủ công hữu cơ
Là hiệp tác giữa những người thợ thủ công có chuyên môn giống nhau mỗi
người chỉ làm một công đoạn của sản phẩm
3 Sự khác nhau giữa phân công lao động trong công trường thủ công và
phân công lao động xã hội
Nếu như phân công lao động xã hội là phân công giữa các nghành nghề với nhau
trong xã hội thì phân công lao động trong Công trường thủ công là phân công
trong nội bộ xí nghiệp hay giữa các bộ phận khác nhau trong cùng một nghành
nghề trong phân xưởng Mặt khác phân công lao động xã hội thì tư liệu sản xuất
phân tán
trong tay những người sản xuất độc lập và dưới sự lãnh đạo của nhiều ông chủ
khác nhau, còn ngược lại trong Công trường thủ công thì tư liệu sản xuất trong
tay tư bản hay dưới sự lãnh đạo của một ông chủ nhất định Với công cụ sản
xuất của lao động xã hội thì đa năng nên người công nhân ở đây là người công
nhân hoàn chỉnh, do đó sản phẩm của những người công nhân này cũng hoàn
chỉnh Đặc trưng này đi
ngược lại hoàn toàn so với phân công lao động trong Công trường thủ công,
công cụ trong Công trường thủ công thì được chuyên môn hoá tới từng bộ phận
sản phẩm nên người công nhân ở đây chỉ là công nhân bộ phận Mỗi ngườiđược
Trang 6giao nhiệm vụ làm một bộ phận của sản phẩm, điều này nói nên rằng đã có sự
chuyên môn hoá trong lao động sản xuất trong công trường thủ công Vì vậy đã
tạo nên sự phân hoá rõ rệt giữa hai loại hình phân công lao động này và đây
chính là yếu tố đặc trưng cấu thành Công trường thủ công
4 Vì sao hiệp tác giản đơn không phải là điều kiện ra đời của đại công
nghiệp cơ khí ?
Nếu ta xem xét Hiệp tác giản đơn và Công trường thủ công về hình thức
thì đều giống nhau, bởi đều dựa trên kỹ thuật thủ công và lao động thủ công là
cơ bản Nhưng nếu xét về hình thái lao động sản xuất thì lại khác nhau rõ rệt,
Hiệp tác giản đơn không có sự phân công lao động, không có sự chuyên môn
hoá trong lao động nên lao động ở đây là lao động hoàn chỉnh và rất cụ thể Đi
ngược lại với Hiệp tác giản đơn là Công trường thủ công sự chuyên môn hoá
trong từng công đoạn
Vì vậy công trường thủ công đã dẫn tới những ưu thế hơn so với Hiệp tác giản
đơn
Quá trình chuyên môn hoá trong lao động làm cho tay nghề và trình độ của
người lao động được chuyên môn hoá
Tiết kiệm được thời gian do công cụ lao động được chuyên môn hoá
Công cụ ngày càng được cải tiến hoàn thiện hơn để phù hợp với tay nghề của
người lao động
Tất cả những ưu điểm đó đã đưa năng suất lao động của công trường thủ công
vượt bậc so với Hiệp tác giản đơn Chính sự chuyên môn hoá trong lao động sản
xuất và nhu cầu xã hội đã đòi hỏi năng suất lao động ngày càng cao hơn nữa mà
sức lao động của con người thì hạn chế, không thể làm việc theo guồng quay đó
được Vì vậy điều đặt ra là muốn giảm bớt mệt mỏi, căng thẳng cho người công
nhân thì cần có máy móc thay thế, do đó máy móc trong công nghiệp ra đời đưa
năng suất lao động phù hợp với quy luật cung cầu của xã hội
Vì vậy Công trường thủ công là điều kiện quan trọng, là nền tảng vững chắc cho
sự đời Đại công nghiệp cơ khí mà Hiệp tác giản đơn không có cơ sở để đảm bảo
tất cả những yêu cầu cho sự ra đời
Trang 75 Vai trò của cong trường thủ công đối với sự ra đời của đại công nghiệp
cơ khí
Ta đã biết Công trường thủ công là điều kiện cần thiết để ra đời Đại công nghiệp
cơ khí, chính vì thế Công trường thủ công có một vai trò rất quan trọng đối với
sự phát triển của Đại công nghiệp cơ khí Do phân công lao động trong Công
trường thủ công đã đạt tới trình độ cao làm đơn giản hoá nhiều công việc của
người công nhân thủ công, nên có thể dùng máy móc thay thế cho lao động thủ
công hạn chế tối đa lao động chân tay đưa năng suất lao động tăng một cắch
tuyệt đối đáp ứng nhu cầu xã hội Không những thế lao động máy móc kết hợp
với chuyên môn hoá, đòi hỏi trinhf độ của người lao động cũng được nâng cao
và trình độ tay nghề lao động có sự chuyên môn hoá để phù hợp với sự phát
triển của công cụ máy móc Do vậy đã tạo ra một đội ngũ công nhân lành nghề
có trình độ chuyên môn cao, hơn nữa phân công lao động xã hội và phân công
trong công trường thủ công đã tạo ra thị trường
cho Đại công nghiệp cơ khí bởi trình độ chuyên môn cao, sự phát triển của xã
hội trong thời Đại công nghiệp đã thúc đẩy sức mua và bán về máy móc Nên đã
tạo ra một thị trường rộng lớn, chuyên biệt về từng lãnh vực xã hội cho công
nghiệp cơ khí đồng thời nó thúc đẩy Đại công nghiệp cơ khí phát triển theo xu
hướng đó
Vì vậy công trường thủ công là điều kiện cần và đủ cho sự ra đời của Đại công
nghiệp cơ khí và vừa là động lực thúc đẩy Đại công nghiệp cơ khí phát triển
&
CHƯƠNG III : TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐẠI CÔNG NGHIỆP CƠ KHÍ
ĐỐI VỚI PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
Trang 81 Thế nào là máy móc ?
Máy móc là một công cụ thay thế người lao động, từ chỗ chỉ sử dụng một
công cụ bằng cơ chế sử dụng cùng một lúc nhiều công cụ do một động lực làm
cho chuyển động
Máy móc gồm 3 bộ phận :
♦ Máy phát lực
♦ Máy truyền lực
♦ Máy công tác (trực tiếp tác động vào đối tượng lao động )
Ngày nay, với sự tác động của khoa học tiên tiến và công nghệ hiện đại
con
người đã tạo ra máy điều khiển tự động và cả người máy Được ứng dụng trong
tất cả các lãnh vực của đời sống xã hội, kể cả việc chinh phục tự nhiên của con
người
2 Công xưởng
a Máy móc trong công xưởng
Khi hệ thống máy móc được hình thành thì việc tổ chức sản xuất từ Công trường
thủ công chuyển thành công xưởng
b Đặc điểm của tổ chức công xưởng
♦ Công cụ là một hệ thống máy gồm những máy công cụ làm một việc giống
nhau theo kiểu Hiệp tác giản đơn, hoặc gồm những máy công cụ không giống
nhau, nhưng lại được chuyên môn hoá để làm ra một sản phẩm
♦ Sự hiệp tác lao động trong công xưởng tuỳ theo yêu cầu của máy
♦ Cần có một vai trò quản lý của người lãnh đạo
3 Cách mạng công nghiệp và công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa
a Cách mạng công nghiệp
Cách mạng công nghiệp thực chất là cuộc cách mạng kỹ thuật thay thế lao động
thủ công bằng lao động sử dụng máy móc, và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Trang 9Trong thời kỳ này máy móc được sử dụng phổ biến qua các cuộc cách mạng
công nghiệp, đặc biệt là ở nước Anh, Mỹ và Nhật Bản
Cách mạng công nghiệp bắt đầu từ máy công cụ (dệt ,sợi) lan sang máy phát lực
(sức gió, nước ,động vật , máy hơi nước )và bộ phận truyền lực
cuộc Cách mạng công nghiệp ở các nước tư bản chủ nghĩa khởi nhuồn đều là
Công nghiệp nhẹ (sợi ,dệt)
b.Máy móc công nghiệp trong nông nghiệp
Các nước tư bản chủ nghĩa đã ứng dụng rộng rãi máy móc kỹ thuật trong Nông
nghiệp và đã thu được những thành tựu to lớn về Kinh tế thông qua các cuộc
Cách mạng công nghiệp
Nước Mỹ dưới sự tác động mạnh mẽ của cách Công nghiệp đã tạo lên sự gắn
bó chặt chẽ giữa hai nghành
+ Do nguyên liệu , lương thực phục vụ cho công nghiệp
+ Do nhu cầu khai khẩn vùng đất phía tây(vùng đất màu mỡ chưa được khai
thác )
phía Bắc Kinh tế trang trại có sự phát triển đa dạng về các loại hình như trang
trại chăn nuôi gia súc , gia cầm và các đồn điền trồng cây lương thực , cây trồng
phục vụ cho Công nghiệp nhẹ ( bông , sợi ) với việc áp dụng các loại máy móc
cho năng suất cao trong Nông nghiệp
Và từ năm 1871 đến 1918 Kinh tế trang trại tư bản ở Mỹ đã mở rộng ra phạm vi
toàn nước Mỹ Sản lượng Nông nghiệp tăng dẫn tới giá trị sản lượng Nông
nghiệp cũng tăng theo
Từ 1860 là 2,5 tỷ $
đến 1910 là 10 tỷ $
Mỹ đã trở thành nước xuất khẩu lúa mì lớn nhất thế giới Đồng thời sau khi chế
độ nô lệ đồn điền ở phiá Nam bị thủ tiêu thì Nông nghiệp nước Mỹ đã tạo ra một
thị trường vững chắc và rộng lớn
Cho tới nay với việc ứng dụng Khoa học kỹ thuật vào Nông nghiệp đã đưa Nông
nghiệp mỹ nên vị trí cao trên thế giới , hơn nữa nông nghiệp còn thúc đẩy các
nghành khác phát triển theo như Giao thông vận tải , Hệ thống thuỷ lợi
Trang 10Ngoài ra ở một số nước cũng có nền Nông nghiệp phát triển nhờ áp dụng máy
móc Nông nghiệp với các cuộc cách mạng Công nghiệp ở Anh ,Nhật Bản Đặc
biệt là hai cuộc Cách mạng Công nghiệp trắng và Công nghiệp xanh diễn ra ở
đây
việc áp dụng máy móc hiện đại vào trong nông nghệp đã đưa các nước này phát
triển mạnh mẽ , không những cả về số lượng lẫn chất lượng
c Máy móc đại công nghiệp trong công nghiệp
Công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa bằng các
cuộc cách mạng đã đưa các nước này phát triển vượt bậc so với các nước Xã hội
chủ nghĩa trước kia và cả bây giờ Không những thế các nước này hiện nay đã
vượt (30-40) năm các nước trong đó có Việt Nam về Khoa học công nghệ và cả
về Kinh tế, chính vì lẽ đó mà Việt Nam đã trở thành một nước tụt hậu so với các
nước khác trên thế giới đồng thời còn là một nước chậm phát triển
+Cuộc cách mạng công nghiệp trước tiên diễn ra trong Công nghiệp nhẹ (sợi ,
dệt)
+Cơ khí hoá Công nghiệp nhẹ (trông bông ,nuôi tằm )
+Công nghiệp nhẹ và Nông nghiệp phát triển dẫn tới cơ khí hoá Giao thông vận
tải
+Cơ khí hoá rộng rãi trong các nghành sẽ tăng nhu cầu về máy móc , cơ khí hoá
nghành chế tạo máy dẫn tới các nghành Công nghiệp nặng phát triển ( luyện kim
, điện ,than )
Việc mua bằng phát minh sáng chế, phát minh khoa học và kể cả chạy đua vũ
trang ( ở Mỹ và Anh) vào nửa cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 (1865 - 1918 )
đánh dấu sự bùng nổ về nền Kinh tế Mỹ Năm 1909 - 1913 nhịp độ Công
nghiệp tăng 6,9%/năm
Nhiều cơ sở Công nghiệp lớn hiện đại được xây dựng và các nghành Công
nghiệp mới ra đời như : Điện tử , Vi điện tử , Công nghệ sinh học và Công nghệ
vật liệu mới
Trang 11Không những thế nền Công nghiệp Mỹ hiên nay đứng ở vị trí độc tôn trên thị
trường Thế giới về tất cả các lãnh vực Kinh tế Công nghệ sinh học , Công nghệ
điện tử , Thông tin , Máy tính
Nhật bản khởi đầu là Công nghiệp nhẹ nhưng đã nhanh chóng chuyển sang
Công nghiệp nặng, Nhật mạnh dạn cho đầu tư Khoa học kỹ thuật và mua
bằng phát minh khoa học hiện đại nhất để ứng dụng vào sản xuất vói số tiền
lên tới 6 tỷ $ vì nếu đầu tư khoa học thì con số đố sẽ không dừng lại ở đó
Có thể nên tới 10 tỷ $ , mặt khác nhật bản còn mở và xây dựng nhiều viện
nghiên cứu để đầu tư cho khoa học , thúc đẩy nghiên cứu trong nước
Nhật đã ứng dụng thành công , công nghệ nhập khẩu hơn nữa Nhật còn đầu tư
một số nghành Công nghiệp hiện đại có hàm lượng Khoa học kỹ thuật cao và
hiệu quả lớn về Kinh tế Một mặt, Nhật còn làm giầu từ hai cuộc chiến tranh ở
Việt Nam và Triều Tiên với việc cung cấp vũ khí và phương tiện cho Mỹ Do
vậy nền Kinh tế Nhật Bản càng ngày càng được củng cố
Mặt khác vốn cho Công nghiệp trong giai đoạn đầu là trong nước mà chủ yếu là
Nông nghiệp Vào giai đoạn cuối cách mạng Công nghiệp Nhật lại dựa vào bồi
thường chiến tranh Chiến tranh ( Nga - Nhật ) , (Trung - Nhật ) và việc cướp
bóc thuộc địa , Triều Tiên ,Đài Loan , Đông bắc Trung Quốc
Hiện nay nền Công nghiệp Nhật Bản phát triển rất nhanh với tốc độ như vũ bão
đó nhật đứng đâu về xuất khẩu , và sản xuất xe hơi (toytota ) , cơ khí ,với chất
lượng hàng đầu Thế giới, và năng xuất (49 - 50 ) /năm với công nhân sắt thép
năng xuất lao động công nhân nhật 421 tấn /năm cung cấp cho thị trường thế
giới hàng năm,và còn rất nhiều nghành khác nữa như điện tử,vi tính trở thành
những hãng độc quyền toàn Thế giới
Như vậy ta thấy việc ứng dụng Khoa học công nghệ vào sản xuất đã đem lại
những tiềm lực vô cùng to lớn về Kinh tế - Chính trị và vị thế trên trường quốc
tế Đồng thời cách mạng công nghiệp cơ bản diễn ra ở nước nhật đã đảm bảo
sự toàn thắng của phương thứ sản xuất tư bản chủ nghĩa Chủ nghĩa tư bản cũng
chuyển từ cạnh tranh sang độc quyền