Kinh tế tri thức ảnh hưởng của kinh tế tri thức tới sự nghiệp CNH-HĐH ở nước ta
Trang 1Thư viện điện tử trực tuyến
LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới hiện thực để phục vụ cho những lợi ích sống còn của mình, con người ngày càng khám phá ra bí mật của thế giới ấy, càng nắm bắt được quy luật vận động và phát triển của nó, cũng như tìm ra cách vận dụng những quy luật đó vào các lĩnh vực hoạt động của mình, trước hết là sản xuất ra của cải vật chất, lĩnh vực hoạt động cơ bản nhất của đời sống xã hội Bằng những tri thức kinh nghiệm và những tri thức
lý luận tích lũy được trong quá trình nhận thức thế giới, con người đã sáng tạo
ra những công cụ ngày càng tinh vi và hoàn hảo Chúng đánh dấu trình độ chinh phục của loài người với tự nhiên, là thước đo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại trong lịch sử
Trong xã hội hiện đại, nguyên nhân hàng đầu của tăng năng suất lao động, của sự đa dạng hoá sản phẩm tiêu dùng là do con người đã áp dụng đã áp dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào sản xuất Điều đó được thể hiện trước hết ở việc nâng cao trình độ thiết bị máy móc, sự sâu sắc và tăng cường chuyên môn hoá lao động sự tăng lên của xã hội sản xuất.Tất cả các quả trình
đó có sự tác động qua lại lẫn nhau thông qua những cơ chế của chúng và cùng một hướng phát triển đã làm cho các qui trình sản xuất trở nên nhịp nhàng, tự động hoá và đạt hiệu quả cao Song rõ ràng đó không phải là qui trình vận động một cách tự phát, được khẳng định một lần cho xong, mà là các quá trình luôn được vận động, thông qua sự can thiệp và tính năng động, tích cực của chủ thể
Ngày nay cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại dẫn tới nền kinh
tế tri thức đã tạo ra những bước nhảy vọt trong sản xuất của nhân loại và trong quan niệm về lực lượng sản xuất xã hội Đối với những nước đang phát
triển “con đường công nghiệp hoá rút ngắn thời gian” đó sẽ tránh được nguy
cơ tụt hậu xa hơn về mặt kinh tế Bởi vì khoảng cách giữa các nước giàu
Trang 2Thư viện điện tử trực tuyến
nghèo chính là sự cách biệt về tri thức, năng lực sáng tạo và sử dụng tri thức
Trong bối cảnh đó các nước “đi sau” chỉ có thể phát triển khoa học công
nghệ, giáo dục-đào tạo nhằm tăng nhanh vốn tri thức, khả năng sử dụng tri thức, mới có thể rút ngắn được khoảng cách với các nước tiên tiến Từ nhận thức đó đứng trên quan điểm duy vật biện chứng Trong bài viết này em xin
đề cập tới :
"Kinh tế tri thức - ảnh hưởng của kinh tế tri thức tới sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá ở nước ta"
Trang 3Thư viện điện tử trực tuyến
CHƯƠNG 1: KINH TẾ TRI THỨC LÀ GÌ?
1) Nguồn gốc của kinh tế tri thức
Từ những năm 70 trở lại đây, tiến bộ khoa học kỹ thuật dần trở nhân tố
quyết định đến sự phát triển kinh tế Quan niệm “Khoa học kỹ thuật là lực sản
xu ất thứ nhất” bắt đầu trở thành hiện thực.Sự cạch tranh trong thế giới ngày
nay đã trở thành cuộc cạch tranh quốc lực tổng hợp, lấy kinh tế làm cơ sở, lấy khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khoa học kỹ thuật cao để mở đường Trên thực
tế, năm 1997 giá trị sản xuất khoa học kỹ thuật trong ngành công nghệ thông tin ở Mỹ đã vượt 10% giá trị tổng sản phẩm quốc nội, tổng giá trị xuất khẩu trong ngành dịch vụ có hàm lượng chất xám cao (mà chủ yếu là kỹ thuật thông tin) chiếm gần 40% tổng giá trị hàng xuất khẩu Gần 50% tổng giá trị xuất khẩu quốc nội của các nước thành viên Tổ chức hợp tác kinh tế (OECD)
có được từ các ngành sản xuất có tri thức là nền tảng
Từ đầu những năm 70 đến nay có nhiều cách nói về nền kinh tế tương lai Trước tiên là Z.K.Brezinski, nguyên Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Trong tác phẩm “Giữa hai thời đại-nhiệm vụ của Mỹ trong thời đại kỹ thuật điện tử”,
Brezinski đã từng nói: Chúng ta đang đứng trước một “thời đại kỹ thuật điện
tử” Năm 1973, Nhà Xã hội học Mỹ Daniel Bell gọi thời đại này là “xã hội hậu công nghiệp” Năm 1982, nhà Kinh tế và nhà tương lai học của Mỹ J.Naisbitt trong cuốn “Đại xu thế” đã đưa ra khái niệm mới “Kinh tế thông tin”, lấy nền tảng sản xuất chủ yếu dựa vào nền kinh tế mới để đặt tên cho loại
hình kinh tế này Năm 1986, trong cuốn “Xã hội kỹ thuật cao”, các nhà Kinh
tế Anh đã nêu ra khái niệm “Kinh tế kỹ thuật cao” Năm 1990 tổ chức nghiên cứu của Liên hợp quốc đã đưa ra khái niệm “kinh tế tri thức” để xác định tính
Trang 4Thư viện điện tử trực tuyến
chất của loại hình kinh tế mới này Năm 1996, Tổ chức Hợp tác kinh tế định
nghĩa rõ ràng là “Kinh tế lấy tri thức làm cơ sở” (Knowledge based
economy) Đây là lần đầu tiên hệ thống chỉ tiêu và dự đoán của loại hình kinh
tế mới này được nêu ra Tháng 2-1997, Tổng thống Mỹ B.Clinton đã dùng
cách nói “kinh tế tri thức” (Knowledge economy) như tổ chức nghiên cứu của Liên hợp quốc đã nêu ra trước đây “Báo cáo về sự phát triển của thế
gi ới” (World Development Report) của Ngân hàng thế giới xuất bản năm
1998 đã đặt tên nền kinh tế đó là “Nền kinh tế tri thức của phát triển”
(Knowledge for Development)
Việc xác định cho đúng tên gọi của loại hình kinh tế mới tuy rất phức tạp, nhưng nó đã giúp cho con người từng bước xây dựng nên một khái niệm
mới ngày càng rõ ràng, đó là “Nhân loại đang bước vào một thời đại kinh tế
m ới, lấy việc chi phối, chiếm hữu nguồn tài nguyên trí lực, và lấy việc sử
d ụng, phân phối, sản xuất của tri thức làm nhân tố chủ yếu” Nói ngắn gọn đó
là “Thời đại mà khoa học kỹ thuật là lực lưọng sản xuất thứ nhất” Trải qua
30 năm khảo nghiệm, có thể khẳng định rằng, đây là một khái niệm khoa học Nếu phân chia các giai đoạn phát triển kinh tế của loài người thì có thể chia thành kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp và kinh tế kỹ thuật cao Thực
tế khái niệm “kinh tế tri thức” là khái niệm mới về một loại hình kinh tế mới
khác với loại hình kinh tế trước đây Loại hình kinh tế trước đây lấy công nghiệp truyền thống làm nền tảng sản xuất, lấy nguồn tài nguyên thiếu và ít ỏi
làm chỗ dựa để phát triển sản xuất “Kinh tế tri thức” lấy công nghiệp kỹ thuật
cao làm lực lượng sản xuất thứ nhất, lấy trí lực làm chỗ dựa chủ động, có như vậy mới có thể giữ cho kinh tế phát triển
2) Mối quan hệ giữa tri thức và kinh tế
Có thể nói sự khác nhau cơ bản nhất giữa con người và động vật là sự sáng tạo, mà động lực đầu tiên của sự sáng tạo là tri thức Vì vây, bất kỳ một
Trang 5Thư viện điện tử trực tuyến
hoạt động nào của con người không tách rời tri thức Những kiến thức được tích luỹ, quy nạp để hình thành nên hệ thống chính là khoa học Đối tượng của nghiên cứu khoa học là tri thức và kỹ thuật Đó cũng chính là tri thức khoa học và khoa học kỹ thuật
Nghiên cứu khoa học thời cổ rất đơn giản, nghiên cứu và sản xuất gắn liền với nhau “Người cha của Vật lý học” người cổ HyLạp-Acsimet (287-212 trước công nguyên) vừa nghiên cứu vật vật lý học lại vừa chế tác công cụ theo nguyên tắc vật lý Bắt đầu từ thế kỷ 17 mới có sự phân chia giữa cơ sở nghiên cứu với phát triển kỹ thuật Đại biểu là Newton-Nhà Vật lý học (1642-1727), bắt đầu nghiên cứu lý thuyết Tuy nhiên thành quả nghiên cứu của họ rất ít được ứng dụng Nguyên nhân chủ yếu là do trong quá trình hình thành nên hệ thống khoa học tự nhiên hiện đại, các môn học tách rời nhau, nghiên cứu dần
đi theo chiều sâu hơn Mặt khác, cùng với sự phát triển ngày càng sâu sắc của
lý luận, việc ứng dụng kỹ thuật ngày càng khó khăn hơn
Từ phát hiện khoa học đến phát minh kỹ thuật, trước đầu thế kỷ 20 mất khoảng 30 năm, đầu thế kỷ 20 đến giữa thế kỷ 20 là 10 năm, đến cuối thế kỷ
20 rút ngắn lại còn khoảng 5 năm Kết quả này làm cho khoảng cách giữa phát hiện khoa học và phát minh kỹ thuật ngày càng thu hẹp hơn, nhiều kết quả sẽ được đưa vào thực tế hơn Bởi vì, nếu 1 nhà khoa học thành công trong việc phát hiện khoa học mà thời gian đưa vào ứng dụng trong thực tế lâu thì rất khó cho họ có thành tích trong phát minh kỹ thuật Thế nhưng nếu chu kỳ rút ngắn sẽ làm cho phát hiện khoa học và phát minh kỹ thuật sẽ do một người thực hiện, do vậy phát minh kỹ thuật sẽ sớm trở thành hiện thực Ngày nay do
sự ứng dụng của thành quả nghiên cứu lý luận khoa học mới tăng nhanh Quá
trình thay đổi này có thể thấy được trong (bảng 1) trang sau so sánh phát
minh và phát hiện khoa học
Đồng thời việc thực hiện kỹ thuật cao làm cho nhân tố tri thức vượt xa nhân tố vật chất Ví dụ thời gian nghiên cứu đối với một số công trình nghiên
Trang 6Thư viện điện tử trực tuyến
cứu về sinh học tương đối ngắn, số vốn bỏ ra lại không nhiều, một người hoặc một nhóm người có thể tự đứng ra nghiên cứu, nên chu kỳ nghiên cứu được rút lại tương đối ngắn Có thể đi thẳng từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu khai thác Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu chủ yếu dựa vào tri thức, có thể nhảy qua nghiên cứu ứng dụng, trực tiếp ra thị trường, thu được hiệu quả kinh
tế như khai thác phần mềm máy tính Nguyên nhân của hiện tượng này là do khi tiến hành nghiên cứu cơ bản đã phát hiện thấy giá trị uứng dụng của công trình Do tính chất của nghiên cứu cơ bản có thay đổi lớn, nên buộc phải có cơ cấu tổ chức để liên hệ với thị trường Vì thế, hàng loạt khu công nghiệp kỹ thuật cao mới đã được ra đời
Trang 7Thư viện điện tử trực tuyến
199
1
4 năm
Ngu ồn: Sách thực hành Triết học - ĐH QL&KD Hà Nội - Tr.9
3) Khái niệm kinh tế tri thức
Kinh tế tri thức là kinh tế dựa trên nền tảng tri thức, lấy tri thức, trí tuệ, khoa học và công nghệ làm chủ đạo; lực lượng những người lao động có học
Trang 8Thư viện điện tử trực tuyến
vấn cao, tinh thông chuyên môn nghiệp vụ, được đào tạo cơ bản, có hệ thống
và hiện đại là chủ thể của hoạt động kinh tế
Nền kinh tế tri thức chủ yếu vẫn là nền kinh tế hàng hoá, vẫn tuân theo qui luật giá trị, vẫn vận động theo cơ chế thị trường và hiện diện trong cơ chế thị trường nhưng tri thức đã trở thành nền tảng, cốt lõi quyết định sự phát triển của nó
a) Thế nào là tri thức?
Không giống tư bản và lao động, tri thức cố gắng trở thành một hàng
hoá công cộng (hoặc như các nhà kinh tế học gọi là “không có sự kình địch”
Tri thức một khi được phát hiên và công bố thì việc chia sẻ nó cho nhiều người sử dụng hơn sẽ có chí phí cận biên bằng 0 Thứ hai người tạo ra tri thức khó ngăn cản được những người khác sử dụng chúng Các công cụ như bảo vệ
bí mật thương mại và bằng sáng chế, bản quyền và thương hiệu chỉ dành cho những người tạo ra tri thức một sự bảo vệ ít ỏi nào đó mà thôi
b) Phân biệt các loại tri thức
Sẽ là hữu ích nếu phân biệt được các loại tri thức khác nhau what), là loại tri thức về sự kiện, ngày nay đang giảm dần tầm quan trọng Biết tại sao (know-what) là tri thức về thế giới tự nhiên, xã hội và suy nghĩ của con người Biết ai đó (know-who) là về thế giới của các quan hệ xã hội và
(know-là tri thức về ai biết cái gì và ai có thể (know-làm gì Việc biết những người cần thiết đôi khi còn quan trọng đối mới đổi mới hơn là biết được các nguyên tắc khoa học Biết chỗ và biết thời gian (know-where và know-when) đang ngày càng quan trọng trong nền kinh tế linh hoạt và năng động Biết cách làm (know-how) là biết về các kỹ năng thực hiện công việc ở mức độ thực hành
c) Tầm quan trọng của tri thức
Tri thức là sức mạnh, bởi nó là chất dinh dưỡng cho sự phát triển trí tuệ
và năng lực sáng tạo trí tuệ vô tận của loài người Cá thể là hữu hạn nhưng
Trang 9Thư viện điện tử trực tuyến
nhân loại là vô cùng Dân tộc nào sớm tự ý thức được những hạn chế, những giới hạn của chính mình, biết tiếp thu những tinh hoa nhân loại ở mọi thời đại, kết hợp với bản sắc truyền thống vốn có với những tinh hoa bên ngoài mình, biết tiêu hoá và làm chủ những giá trị ấy, biến nó thành của mình, làm phong phú và giàu có bản thân mình thì dân tộc ấy chủ động tìm thấy triển vọng của mình , dân tộc đó sẽ phát triển và trường tồn Ngược lại sẽ khó tránh khỏi suy thoái và diệt vong Hoặc tiến kịp đá phát triển chung, khẳng định một cách xứng đáng trong thế giới hoặc sẽ không bao giờ, sẽ mãi mãi đi sau, rơi vào tình cảnh nô lệ và lệ thuộc vào nước khác Có khẳng định được không hay lại
tự phủ định chính mình-đó là thách thức lớn nhất đặt ra với mọi quốc gia-dân tộc trên lộ trình phát triển, trước hết là phát triển kinh tế Tri thức kết tinh trong sản phẩm, trong kinh doanh và trong hoạt động kinh tế nói chung
4) Đặc điểm của kinh tế tri thức
Thứ nhất, đặc điểm lớn nhất làm khác biệt kinh tế tri thức khác với các
kinh tế công nghiệp và kinh tế nông nghiệp chính là tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất của sản xuất, hơn cả lao động và tài nguyên.Vốn quí nhất trong nền kinh tế tri thức là tri thức Tri thức là nguồn lực hàng đầu tạo ra sự tăng trưởng kinh tế Không phải như các nguồn lực khác bị mất đi khi sử dụng, tri thức và thông tin có thể được chia sẻ, và trên thực tế lại tăng lên khi
sử dụng Do vậy, nền nền kinh tế tri thức là một nền kinh tế dư dật chứ không phải là khan hiếm Sự sáng tạo, đổi mới thường xuyên là động lực chủ yếu nhất thúc đẩy sự phát triển Công nghệ đổi mới rất nhanh vòng đời công nghệ rut ngắn: quá trình từ lúc ra đời, phát triển rồi tiêu vong của một lĩnh vực sản xuất, hay công nghệ chỉ mấy năm, thậm chí mấy tháng Các doanh nghiệp muốn trụ được và phát triển phải luôn đổi mới công nghệ sản phẩm Sáng tạo
là linh hồn của sự đổi mới Trong nền kinh tế tri thức, của cải làm ra dựa chủ yếu vào cái chưa biết; cái đã biết không còn giá trị nữa; tìm ra cái chưa biết tức là tạo ra giá trị mới Khi phát hiện ra cái chưa biết thì cũng tức là loại trừ
Trang 10Thư viện điện tử trực tuyến
10
cái đã biết Cái cũ mất đi thay thế bằng cái mới, nền kinh tế, xã hội luôn đổi
mới Đó là dặc trưng của sự phat triển sự tiến hoá của xã hội sắp tới: phát
tri ển từ cái mới, chứ không phải từ số lượng lớn dần lên
Thứ hai, sự chuyển đổi cơ cấu Các công nghệ mới, các ý tưởng mới là
chìa khoá cho việc tạo ra việc làm mới và nâng cao chất lượng cuộc sống Do
đó nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao dịch chuyển nhanh cơ cấu Nhưng đây cũng là nền kinh tế mang tính rủi ro, vì nó luôn biến động, luôn có nhiều thách thức mới Trong khi nền kinh tế dựa vào sự sản xuất hàng loạt, quy chuẩn hoá, thì nền kinh tế tri thức dựa trên cơ sở sự sản xuất linh hoạt hàng hoá và dịch vụ đưa vào công nghệ cao Các doanh nghiệp không ngừng đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm Công nghệ trở thành nhân tố hàng đầu trong việc tạo ra năng suất, sự tăng trưởng và việc làm.Cho nên, sản xuất công nghệ trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất, tiêu biểu cho nền sản xuất tương lai Phát triển nhanh các doanh nghiệp sản xuất công nghệ, trong đó khoa học và sản xuất được nhất thể hoá, không phân biệt trong phòng thí nghiệm với công xưởng, những người làm việc trong đó là công nhân tri thức,
họ vừa nghiên cứu vừa sản xuất Các khu công nghệ (technology park) hình thành và phát triển rất nhanh Đó là những nơi sản xuất công nghệ, thường được gọi là vườn ươm công nghệ, là cái nôi của ngành công nghiệp tri thức ở đây hội tụ các điều kiện thuận lợi để nhất thể hoá quá trình nghiên cứu, thực nghiệm khoa học, triển khai công nghệ và sản xuất dựa vào công nghệ cao, tiêu hao ít nguyên liệu, năng lượng thải ra ít phế thải, cho nên nền kinh tế tri thức có thể thực hiện được sản xuất sạch, không gây ô nhiễm môi trường Kinh tế tri thức là nền kinh tế phát triển bền vững
Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi trong mọi lĩnh vực và
thiết lập mạng thông tin đa phương tiện phủ khắp nước, nối với hầu hết các tổ chức, các gia đình Thông tin trở thành tài nguyên quan trọng nhất của nền kinh tế Mọi người đều có nhu cầu thông tin và dễ dàng truy nhập vào các kho
Trang 11Thư viện điện tử trực tuyến
11
thông tin cần thiết cho mình Mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội đều có tác động của công nghệ thông tin để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả Cũng chính vì vậy, nhiều người gọi nền kinh tế tri thức là nền kinh số, nền kinh tê mạng, nền kinh tế Internet, nền kinh tế điện tử.Thương mại điện tử, thị trường ảo, tổ chức ảo, xí nghiệp ảo, làm việc từ xa được sử dụng rộng rãi, làm cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trở nên rất nhanh nhạy, linh hoạt; khoảng cách bị xoá dần, ý nghĩa của vị trí địa lý giảm đi Xã hội thông tin phát triển
Thứ tư, nền kinh tế tri thức thúc đẩy sự dân chủ hoá Thông tin đến với
mọi người Mọi người đều dễ dàng truy cập các thông tin cần thiết Dân chủ hoá các hoạt động và tổ chức điều hành trong xã hội được mở rộng Người dân nào cũng có thể được thông tin kịp thời về các quyết định của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức có liên quan đến họ và họ có thể thể có ý kiến ngay nếu thấy không phù hợp Việc tập hợp ý kiến của nhân dân rất dễ dàng và thuận tiện Nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” có điều kiện thuận lợi để thực hiện Cách tổ chức quản lý cũng sẽ thay đổi Trong thời đại thông tin, mô hình chỉ huy tập trung, có đẳng cấp tỏ ra không còn phù hợp Người ta
sử dụng nhiều hơn mô hình phi đẳng cấp, phi tập trung; mô hình mạng, trong
đó tật dụng các quan hệ ngang; thông tin được đến tất cả mọi người, mọi nơi một một cách thuận lợi, nhanh chóng, không cần đi qua các khâu trung gian
Đó là mô hình tổ chức dân chủ, rất linh hoạt trong điều hành, dễ thích nghi với đổi mới, khơi dậy sự năng động sáng tạo của mọi người
Thứ năm, hình thành xã hội học tập Giáo dục rất phát triển Mọi
người đều phải học tập, học thường xuyên, học ở trường và học ở trên mạng
để không ngừng trau dồi kĩ năng, phát triển trí sáng tạo Mọi người thường xuyên được cập nhật kiến thức, chủ động theo kịp sự đổi mới và cs khả năng thúc đẩy sự đổi mới Với sự bùng nổ thông tin và sự luôn đổi mới kiến thức,
mô hình giáo dục truyền thống: đào tạo xong ra làm việc không còn phù hợp,
Trang 12Thư viện điện tử trực tuyến
12
mà phải theo mô hình học tập suốt đời: đào tạo cơ bản, ra làm việc và tiếp tục đào tạo, vừa đào tạo vừa làm việc Các hình thức giáo dục thường xuyên, nhất
là giáo dục thông qua mạng rất phát triển Con người học tập suốt đời, vừa học vừa làm việc Hệ thống giáo dục phải đảm bảo cho mọi người bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu cũng có thể học tập được Mạng thông tin có ý nghĩa rất quan trọng cho việc học tập suốt đời.Trong nền kinh tế tri thức, khoản đầu tư cho giáo dục và khoa học chiếm tỷ lệ rất cao Nói chung, đầu tư vô hình (cho con người, cho giáo dục, khoa học, văn hoá-xã hội ) cao hơn đầu tư hữu hình (xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật) Phát triển con người trở thành nhiệm vụ trung tâm của xã hội Vốn con người thực sự là vốn quí nhất
5) Các tiêu chí của kinh tế tri thức
- Cơ cấu GDP
- Cơ cấu giá trị gia tăng
- Cơ cấu lao động
- Cơ cấu tư bản
> 70% do các ngành sản xuất và dịch
vụ ứng dụng công nghệ cao
> 70% do lao động trí óc mang lại
> 70% là “công nhân tri thức”
> 70% là tư bản con người
“Nền kinh tế tri thức sẽ hình thành và phát triển nhanh nền kinh tế và triệt
để hơn công nghiệp”
Trang 13Thư viện điện tử trực tuyến
13
CHƯƠNG 2: KINH TẾ TRI THỨC VÀ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP
HOÁ-HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM
1) Kinh tế Việt Nam những năm đầu sau chiến tranh
Sau năm 1975, tình hình trong nước và quốc tế đã có những thay đổi cơ bản và sâu sắc Đất nước thống nhất đặt ra yêu cầu hợp nhất nền kinh tế theo
mô hình chung, từ đó đặt ra yêu cầu mới cho một chiến lược công nghiệp hoá cho cả nước được thống nhất
Xu thế quốc tế hoá về thương mại và vốn đang và đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các nước kinh tế thị trường phát triển và đang phát triển, giúp cho họ đạt được những bước phát triển nhanh vượt bậc Nhiều nước công nghiệp hoá ở Châu á (Nics) đã duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong một thời gian dài Đặc biệt họ đã rất thành công trong việc thực hiện đường lối công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu Trong khi ấy kinh tế các nước trong khối kinh tế XHCN ngày càng gặp nhiều khó khăn, nhất là về chất lượng và sức cạch tranh của sản phẩm trên thị trường thế giới; hiệu quả thấp của toàn bộ nền kinh tế Cơ chế kế hoạch hoá tập trung nền kinh tế đã tỏ rõ sự thiếu sức sống, thiếu động lực để tiếp tục phat triển các nền kinh tế XHCN bị suy sụp vào cuối những năm 80
Đến năm 1976 cả nước có 1913 xí nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh với khoảng 52 vạn cán bộ công nhân viên Sản xuất công nghiệp năm
1976 đã vượt năm 1974-75 ( đạt 8,2 tỉ đồng giá trị tổng sản lượng tính theo giá cố định năm 1970, tương đương với 48 tỉ đồng theo giá cố định năm 1982) Trong đó công nghiệp nhóm A chiếm 34,1%, công nghiệp nhóm B chiếm 65,9%; tiểu thủ công nghiệp 37,8%; công nghiệp quốc doanh 62,7%,
Trang 14Thư viện điện tử trực tuyến
14
công nghiệp tư nhân 44,2%; công nghiệp địa phương 55,8% Những ngành then chốt của công nghiệp nặng chiếm tỉ lệ không lớn: năng lượng 5,6%, luyện kim 3,3%, cơ khí 12,3% Trong công nghiệp nhóm B, các ngành lương thực và thực phẩm vẫn chiếm tỉ trọng lớn nhất 33,6%, tiếp đó là ngành dệt, da, may, nhuộm 14,5%
Trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân, công nghiệp thu hút 10,6% tổng số lao động xã hội, 37% giá trị tài sản cố định, làm ra 38,4% tổng sản phẩm xã hội, 25,3% thu nhập quốc dân Nguồn nguyên liệu của công nghiệp nói chung còn phụ thuộc khá lớn vào nước ngoài, đặc biệt các ngành cơ khí, hoá chất Chủng loại thiết bị máy móc khá phức tạp do nhập từ nhiều nước khác nhau Trong đó, nhập của 13 nước tư bản khoảng 41%, của các nước XHCN lúc đó 46%, còn trong nước chỉ chế tạo được khoảng 13% Tình trạng không sử dụng hết công suất diễn ra phổ biến Riêng công nghiệp quốc doanh mới huy động được 62% công suất
Sản phẩm công nghiệp bình quân trên đầu người còn ở mức thấp so với
nhiều nước trên thế giới: “điện 62,8 kwh, than sạch 115,9kg, xi măng 15,1kg,
g ạch viên 75 viên, gỗ tròn 0,03 m 3 , gi ấy 1,53 tấn, muối 11,9 kg, đường mật
hoá của nền kinh tế còn thấp, công nghiệp quá nhỏ bé, đại bộ phận lao động vẫn là thủ công, năng suất lao động và thu nhập rất thấp Một số ngành công nghiệp hoạt động chủ yếu dựa vào nguyên liệu nhập khẩu ngày càng lâm vào tình trạng khó khăn hơn do nguồn dự trữ đang cạn dần
Chưa bao giờ kinh tế đất nước bị lâm vào tình trạng khó khăn như giai đoạn cuối những năm 1970 và suốt những năm 80 Sản xuất nông nghiệp trì trệ không đáp ứng được nhu cầu trong nước Công nghiệp nặng đầu tư lớn nhưng hiệu quả thấp Nhiều mặt hàng tiêu dùng cho nhân dân thiếu nghiêm
1 Niên giám thống kê, Hà Nội, 1982, Tr.187-190