1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GIÁO TRÌNH BỆNH TRUYỀN NHIỄM THÚ Y (PHẦN ĐẠI CƯƠNG) part 5 pot

22 627 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 309,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình thức phát sinh dịch Các yếu tố thiên nhiên và xã hội kết hợp với đặc tính của mầm bệnh chi phối quá trình phát sinh dịch, làm dịch có thể biểu hiện dưới những hình thức khác nhau,

Trang 1

còn yếu kém và quan niệm về bệnh dịch còn lệch lạc thì chừng đó dịch

bệnh của gia súc cũng như của người vẫn còn tồn tại

VIII Hình thức và biến động của phát sinh và lưu hành dịch

1 Hình thức phát sinh dịch

Các yếu tố thiên nhiên và xã hội kết hợp với đặc tính của mầm bệnh chi phối quá trình phát sinh dịch, làm dịch có thể biểu hiện dưới những hình thức khác nhau, như sau:

1.1 Dịch tán phát (dịch lẻ tẻ)

Số con phát bệnh lẻ tẻ trong một thời gian dài, một vài con mắc bệnh ở chuồng này rồi lan sang một vài con ở chuồng khác, ví dụ bệnh tụ huyết trùng, uốn ván,

1.2 Dịch địa phương

Dịch địa phương phát ra giới hạn trong một địa phương, một vùng, không lan rộng, ví dụ bệnh nhiệt thán

1.3 Dịch lưu hành và dịch đại lưu hành

Trong dịch lưu hành bệnh phát ra và lan rộng ở một số nơi trong một thời gian ngắn Phạm vi dịch có thể là một huyện, có khi là một tỉnh (ví dụ, bệnh dịch tả lợn)

Trong dịch lớn (đại dịch hay dịch đại lưu hành) bệnh phát ra ồ ạt, lan tràn rất nhanh, rất rộng, trong thời gian ngắn lan hàng mấy tỉnh, có khi

cả nước hoặc nhiều nước (cúm, dịch tả trâu bò, lở mồm long móng, )

Cách phân ra các loại dịch trên chỉ là tương đối nhưng có ý nghĩa nhất định đối với việc chẩn đoán bệnh và phòng chống dịch bệnh cảm nhiễm

2 Sự biến động tần suất phát sinh dịch

2.1 Tính chất mùa

Mùa trong năm với những đặc điểm riêng về cường độ bức xạ, nhiệt độ, thời gian chiếu sáng trong ngày, lượng mưa, ảnh hưởng tới sự phát triển của cây cỏ, ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng thức ăn gia súc Cũng như vậy, các yếu tố trung gian truyền bệnh là sinh vật tùy theo mùa mà thay đổi về loài, về số lượng và cường độ hoạt động Mùa ảnh hưởng đến cơ năng sinh lý và sức đề kháng của cơ thể gia súc, ảnh hưởng

Trang 2

đến sự tồn tại của mầm bệnh trong cơ thể gia súc và ngoại cảnh Hoạt động

xã hội, lễ tết có tính chất mùa kết hợp với các yếu tố thiên nhiên cũng làm cho dịch có tính chất mùa

Ở phía bắc nước ta, người ta cũng nhận thấy một số đặc điểm phát sinh theo mùa Do chế độ gió mùa, phía bắc nước ta có hai mùa rõ rệt Ở miền Nam, vùng châu thổ sông Cửu Long chịu ảnh hưởng của mùa nước

lũ, dịch bệnh ở gia súc cũng thể hiện tính chất mùa rõ rệt

Mùa mưa ở Nam Bộ và Bắc Bộ trùng mùa hè trong lịch năm, có thời tiết ấm áp, mưa nhiều, rất thuận lợi cho cây trồng và các loại rau cỏ phát triển, do đó gia súc được ăn no đủ Nhưng mùa mưa cũng là mùa thuận lợi cho một số mầm bệnh phát triển (vi khuẩn tụ huyết trùng phát triển mạnh trong điều kiện ẩm ướt, nha bào nhiệt thán do mưa và nước ngập đưa từ lòng đất lên mặt đất), các loại côn trùng và ve bét sinh sản nhanh và phát dục ngắn ngày (ruồi chỉ sinh nở vào mùa hè có độ nhiệt thích hợp với chúng), do đó vào mùa này thường gặp các bệnh tụ huyết trùng trâu bò, bệnh nhiệt thán (vùng đồng bằng), bệnh tiên mao trùng và nhiều bệnh không truyền nhiễm khác như bệnh lợn con tiêu chảy cứt trắng, bệnh chướng hơi dạ cỏ, nghẽn lá sách, say nắng, cảm nóng,

Mùa hanh khô ở Bắc Bộ và Nam Bộ trùng mùa đông trong lịch năm, cây cỏ cằn cỗi, gia súc thiếu thức ăn, mầm bệnh giữ được độc lực ngoài thiên nhiên, lại là mùa gia súc cày kéo phải làm việc nhiều trong điều kiện mưa phùn gió bấc (ở miền Bắc), nên đó là mùa có nhiều bệnh do virut phát triển như bệnh dịch tả trâu bò, bệnh dịch tả lợn, bệnh Newcastle (Niucatxơn),

Mùa hanh khô cũng là mùa của các bệnh giun sán, bệnh lê dạng trùng, cũng là mùa của những bệnh do dinh dưỡng kém (bệnh cầu trùng gà, ) dễ phát sinh khi cơ thể thiếu vitamin Vào mùa này do gia súc nhai lại thiếu cỏ nên phải gặm cỏ khô cứng sát đất nên dễ nhiễm nha bào nhiệt thán (ở miền núi) và do có những tháng mùa mưa phùn ẩm ướt, độ ẩm không khí cao trong khi nhiệt độ hạ thấp (ở miền Bắc) làm giảm sức đề kháng của cơ thể và làm vi khuẩn tăng độc lực và sinh sản, dẫn đến bệnh đóng dấu lợn

2.2 Tính chất chu kỳ

Bệnh dịch động vật xuất hiện về cơ bản theo chu kỳ nhất định khi con người chưa tác động đến Theo tài liệu nước ngoài, bệnh dịch tả trâu

Trang 3

bò có chu kỳ 3 - 5 năm (Ấn Độ), bệnh lở mồm long móng có chu kỳ 5 năm

(Đức) Ở nước ta, tính chất chu kỳ của bệnh chưa được nghiên cứu nhiều

Cho đến nay, việc giải thích tính chất chu kỳ của dịch vẫn chưa được đầy đủ Người ta cho rằng, sở dĩ dịch có tính chất chu kỳ là do sự biến đổi tính cảm thụ bệnh của động vật có tính chất chu kỳ Sau một trận dịch, số động vật còn lại được miễn dịch, tính cảm thụ của cả đàn đối với bệnh giảm đến mức thấp nhất Sau đó một thời gian, đàn động vật có mật

độ cao dần do sinh đẻ thêm, nhập thêm động vật chưa được miễn dịch, do động vật lành bệnh trước kia đã hết miễn dịch, và khi mật độ của đàn tăng đến mức cao nhất và gặp các điều kiện bên ngoài bất lợi đối với sức đề kháng thì dịch lại tái phát ra Tính chất chu kỳ cũng biểu hiện rõ rệt đối với dịch của dã thú Tính chất chu kỳ có lẽ trùng hợp với những biến đổi có tính chất chu kỳ trong vũ trụ

Những hiểu biết về tính quy luật ở trên giúp chúng ta các biện pháp

vệ sinh phòng bệnh mùa hè, mùa đông, đề ra lịch tiêm phòng hàng năm trước khi phát bệnh Bằng sự hoạt động chủ động và tích cực của mình, con người có thể xóa bỏ tính quy luật của dịch bệnh Ví dụ, ở nước ta cho đến khoảng năm 1987 đã xóa bỏ tính chất vùng và tính chất chu kỳ của

bệnh dịch tả trâu bò

2.3 Tính chất vùng

Nhiều bệnh dịch động vật thường xảy ra ở những vùng nhất định, rồi sau đó mới lây lan sang những vùng khác Thời tiết đất đai, cây cỏ ở một vùng đều ảnh hưởng đến sự phát triển và sức đề kháng của một loại động vật, ảnh hưởng đến sự phát triển của một loại nhân tố trung gian truyền bệnh, đến sự tồn tại của một loại mầm bệnh, do đó mà một số bệnh

có thể phát sinh ở một vùng nhất định Tuy chưa nghiên cứu kỹ ảnh hưởng của từng vùng đến sự phát sinh các loại bệnh tật, nhưng người ta đã thấy được một số bệnh truyền nhiễm chính xảy ra có tính chất vùng

Phía Bắc nước ta, về địa hình, hình thành ba vùng rõ rệt Vùng núi

có khí hậu tốt, nhiều cỏ rất thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại lớn nhưng cũng là vùng thuận lợi cho các loại động vật chân đốt phát triển (ruồi trâu, ruồi vàng, bọ chét, ) nhiều bệnh ký sinh trùng đường máu thường xảy ở vùng núi như bệnh tiên mao trùng, lê dạng trùng Vùng núi còn có nhiều dã thú nên là ổ chứa tích trữ nhiều loại mầm bệnh như dịch tả lợn,

Trang 4

Vùng trung du là vùng thường xảy ra một bệnh ký sinh trùng

đường máu như lê dạng trùng, huyết bào tử trùng Vùng đồng bằng có nhiều điều kiện phát triển chăn nuôi tiểu động vật, nhưng thường xảy ra các bệnh Newcastle (có khắp nơi), bệnh nhiệt thán, tụ huyết trùng (ở những nơi ẩm thấp, lầy lội), bệnh lợn đóng dấu (ở những vùng đất phù sa ven sông)

2.4 Tính chất xu thế của dịch và tiến hóa của bệnh truyền nhiễm

Bệnh truyền nhiễm của động vật cũng như của người đều có một quá trình tiến hóa Quá trình đó hiện nay vẫn đang diễn ra và thể hiện ngày

càng rõ rệt qua tác động của con người

Nếu quan sát trong thời gian kéo dài chúng ta sẽ thấy tần suất xuất hiện bệnh nào đó thay đổi Kết quả của việc tiêm vacxin phòng bệnh ngày càng phổ cập (do vacxin ngày càng rẻ hơn, tổ chức công tác tiêm phòng càng tốt hơn, ) và ngày càng hiệu quả dẫn đến sự thay đổi loại hình dịch, nhiều dịch lưu hành trước đây (như dịch tả lợn, dịch tả trâu bò, ) đã chỉ phát thành dịch tán phát (lẻ tẻ)

Tìm hiểu lịch sử tiến hóa của bệnh người ta thấy có bệnh từ thuở người còn là vượn vẫn còn tồn tại cho đến nay (bệnh sốt rét), có bệnh đã mất đi, có bệnh mới đã xuất hiện Những bệnh đang tồn tại cũng đã có ít hoặc nhiều thay đổi về tính chất dịch, có khi thay đổi cả về sự biểu hiện Bệnh truyền nhiễm có tiến hóa vì đó là kết quả tất yếu của sự đấu tranh giữa cơ thể sinh vật và mầm bệnh trong những điều kiện luôn thay đổi của ngoại cảnh

Từ thời đại nguyên thủy đến nay, ngoại cảnh tự nhiên đã có nhiều biến đổi Ngoại cảnh do con người tạo ra cho gia súc cũng thay đổi rất nhiều, do đó cơ thể động vật và mầm bệnh thích nghi được để tồn tại cũng phải có những thay đổi so với tổ tiên

Về phía mầm bệnh, sự phát triển của thế giới hữu cơ đã kèm theo

sự hình thành và phát triển của nhiều sinh vật ký sinh, những sinh vật ký sinh đó lại chịu ảnh hưởng của cơ thể ký chủ đấu tranh chống lại chúng, dẫn đến việc chọn lọc những cá thể hoặc loài có những biến đổi để thích nghi với cơ thể động vật và duy trì khả năng gây bệnh Về phía cơ thể động vật, nói chung đã có nhiều biến đổi qua lịch sử tiến hóa lâu dài, đặc biệt là những biến đổi mạnh do chọn lọc nhân tạo từ khi động vật được thuần hóa đến nay

Trang 5

Tất cả những biến đổi đó của điều kiện thiên nhiên, xã hội, của các

yếu tố sinh vật, đã làm cho bệnh truyền nhiễm có quá trình tiến hóa của nó Loại bệnh, sự biểu hiện của bệnh, tính chất dịch có những biến đổi nhất định, cũng có khả năng có những bệnh mới vẫn đang tiếp tục hình thành và dần dần xuất hiện

Để chẩn đoán bệnh và đề ra các biện pháp phòng chống dịch có hiệu quả, cần phải đứng trên quan điểm tiến hóa bệnh truyền nhiễm

IX Ổ dịch và ổ dịch thiên nhiên

Ổ dịch là nơi cư trú của một hoặc những nguồn bệnh cảm nhiễm trong những giới hạn lãnh thổ mà ở đó trong những hoàn cảnh nhất định tồn tại nguy cơ truyền lây cho động vật khỏe thụ cảm Ổ dịch có thể là một trại chăn nuôi, một khu chuồng hoặc toàn bộ lãnh thổ của trại, một khu chăn thả, mà ở đó có động vật nguồn bệnh của bệnh truyền nhiễm Áp dụng đối với động vật hoang dã, ổ dịch có thể là một khu rừng, những bãi hoang, là nơi cư trú của các động vật bài xuất và làm lây truyền mầm bệnh

Ổ dịch là mầm mống nguyên phát của một quá trình dịch, tạo nên mối nguy cơ tiềm tàng cho sự lan truyền tiếp theo của bệnh, là nơi tương tác của ba khâu của chuỗi dịch Nói cách khác, ổ dịch là nơi xuất hiện và duy trì "mồi lửa" của bệnh truyền nhiễm làm bùng phát "đám cháy" ở những nơi khác Cùng với ổ dịch nguyên phát thường xuất hiện ổ dịch thứ phát, là yếu tố bảo đảm tính liên tục của quá trình dịch

Cần phân biệt ổ dịch (là nơi có quá trình dịch) với khái niệm ổ bệnh (hay bệnh sào, là nơi biến đổi bệnh lý trong cá thể động vật bệnh)

Khái niệm ổ dịch áp dụng đối với mọi bệnh cảm nhiễm, nhưng mỗi một ổ dịch có những đặc trưng dịch học riêng tương ứng với bệnh đó Chẳng hạn, đặc điểm bệnh và những điều kiện cụ thể trong đó bệnh xuất hiện là những yếu tố cần tính đến khi xác định ranh giới của ổ dịch Toàn bộ lãnh thổ mà trong giới hạn đó có sự tác động của cơ chế truyền mầm bệnh từ nguồn bệnh đều nằm trong ổ dịch Ổ dịch của các bệnh có cơ chế lây truyền qua không khí có thể chỉ là khu chuồng trại trong đó động vật sống, nhưng với bệnh lây truyền nhờ động vật chân đốt môi giới thì giới hạn ổ dịch là cả vùng lãnh thổ trong đó có động vật chân đốt hoạt động

Ổ dịch có thể là đang hoạt động nếu duy trì nguy cơ lan truyền

bệnh Điều kiện để thanh trừ một ổ dịch là loại bỏ hoặc vô trùng các nguồn mầm bệnh cảm nhiễm và vô trùng các vật ngoại giới Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp mầm bệnh vẫn tiếp tục tồn tại ở môi trường ngoài (vi

Trang 6

khuẩn nhiệt thán trong đất) hoặc trong động vật chân đốt là nguy cơ của sự

xuất hiện lại ổ dịch Ổ dịch còn có thể là mới hoặc đang tắt, hoặc ổ dịch cố định và ổ dịch thiên nhiên

Ổ dịch mới là nơi mới xuất hiện dịch động vật do mang mầm bệnh mới từ ngoài vào, khi đó số lượng trường hợp bệnh mới tăng dần Ổ dịch đang tắt đặc trưng bởi sự giảm dần hoặc giảm nhanh đột ngột số trường

hợp bệnh mới do thực hiện các biện pháp chống dịch hoặc do quá trình tự nhiên cảm nhiễm hết đại bộ phận đàn Giảm số lượng nguồn bệnh hoạt

động làm giảm nguy cơ lan truyền bệnh Ổ dịch cố định là nơi phát bệnh

và có thể phát bệnh lặp lại sau một khoảng thời gian nào đó vì bảo tồn được các điều kiện tự nhiên ổn định bảo đảm khả năng tiềm tàng xuất hiện bệnh Nguyên nhân của sự ổn định của ổ dịch có thể là sự tồn tại các động vật nhỏ mang trùng trong đàn động vật hoặc sự mang trùng ở gậm nhấm sống gần người, hoặc sự tồn tại lâu dài của mầm bệnh ở trong đất (trường hợp cuối đúng ra chỉ là lãnh thổ ô nhiễm chứ không phải ổ dịch)

Ổ dịch thiên nhiên là lãnh thổ mà mầm bệnh này hay bệnh khác

luân chuyển giữa các động vật hoang dã sống thường xuyên ở đó Khả năng của một bệnh truyền nhiễm hình thành những ổ dịch thiên nhiên

trong những địa hình xác định gọi là tính sinh ổ dịch thiên nhiên của bệnh

truyền nhiễm đó Công lao phát hiện tính sinh ổ dịch thiên nhiên của nhiều bệnh truyền nhiễm lan truyền nhờ vector và bệnh ký sinh trùng thuộc về Paplôpxki (Pavlovsky, 1884 - 1965) Năm 1938, từ những khảo sát thực tiễn về những bệnh xuất hiện ở người và gia súc tại những vùng đất mới khai thác trên lãnh thổ Liên bang Xô viết (cũ), ông đã đề xuất học thuyết

về ổ dịch và ổ dịch thiên nhiên của một số bệnh truyền nhiễm như viêm não của người, tula, dịch hạch,

Mầm bệnh của các bệnh sinh ổ dịch thiên nhiên có vector lan truyền tồn tại trong những vùng dịch chủ yếu ở thú rừng, nhất là loại gậm

nhấm Bệnh thường xuyên lưu hành (dịch) trong những con vật này, lan từ con bệnh sang con khỏe chủ yếu nhờ những sinh vật hút máu Bệnh được truyền theo dây chuyền thú rừng - động vật chân đốt môi giới (vector truyền lây) - thú rừng Các thú rừng trên có thể phát bệnh và chết, nhất là khi bị đói ăn, sức đề kháng giảm sút do thời tiết không thích hợp, nhưng chúng thường mắc bệnh ở thể bệnh mang trùng hoặc thể khỏe mang trùng, còn động vật chân đốt thì không phát bệnh, chúng đóng vai trò nhân tố trung gian truyền bệnh hoặc nguồn bệnh Trong các bệnh có ổ dịch thiên nhiên nhóm này, bao giờ cũng tìm thấy động vật chân đốt môi giới có chứa

Trang 7

mầm bệnh, có loại mầm bệnh tồn tại hàng chục năm trong cơ thể chúng

Mầm bệnh, thú rừng và động vật chân đốt trung gian đều thuộc vào một sinh cảnh nhất định Mối quan hệ tác động giữa ba yếu tố trên trong quá trình tiến hóa khăng khít, không phụ thuộc vào con người, nhưng phụ thuộc vào những điều kiện thiên nhiên (khí hậu, địa lý, cây cỏ, ) của sinh cảnh đó Sinh cảnh đó chính là ổ dịch thiên nhiên

Trong một số bệnh, mầm bệnh do dã thú bài xuất ra ngoại cảnh, có thể tồn tại ở đất, nước, cây cỏ một thời gian để lại xâm nhập vào cơ thể súc

vật khỏe Đó là những bệnh sinh ổ dịch thiên nhiên không có vector lan truyền, như bệnh dại, bệnh leptô, bệnh tula, Các bệnh này được truyền

theo dây chuyền (vòng cảm nhiễm) thú rừng - thú rừng hoặc thú rừng - ngoại cảnh - thú rừng Khi người hoặc gia súc đi vào những vùng đó, mầm bệnh sẽ từ thú rừng, động vật chân đốt (mang mầm bệnh một cách cơ giới) hoặc từ ngoại cảnh xâm nhập vào cơ thể để gây bệnh Bệnh phát ra ở người và gia súc thường nặng

Những bệnh có ổ dịch thiên nhiên có những đặc điểm dịch học sau

xã hội, mặc dù là ổ dịch thiên nhiên

Để bệnh có thể xảy ra ở người và gia súc phải có nhiều sinh vật môi giới chứa mầm bệnh đủ gây ra bệnh và chúng đang đói, người và gia súc tiếp xúc với các sinh vật đó phải không có miễn dịch đối với bệnh đó

Hiện nay, rất nhiều bệnh truyền nhiễm của gia súc đã được xác nhận là có tính sinh ổ dịch thiên nhiên như dịch tả trâu bò (đã không thấy xuất hiện ở nước ta), dịch tả lợn, lở mồm long móng, dại, nhiệt thán, xoắn khuẩn (leptô), sẩy thai truyền nhiễm, lao, tụ huyết trùng, phó thương hàn, bệnh tula, là các bệnh truyền nhiễm của người và gia súc Đặc điểm chung của những bệnh này là có những ổ dịch trong thiên nhiên, ở những vùng nhất định, thường là nơi vùng núi hoang vu chưa hề có dấu chân người và gia súc, nhưng cũng có thể là đồng bằng Ở Việt Nam ta đã bắt đầu chú ý đến một số bệnh có ổ dịch thiên nhiên gây cho người và gia súc khi những hoạt động kinh tế như khai khẩn đất đai, phát triển vùng đất mới, mở rộng chăn nuôi, Để chủ động tránh bệnh truyền nhiễm mới, cần

Trang 8

phải tiến hành điều tra các ổ dịch thiên nhiên, và có kế hoạch biện pháp

ngăn chặn thú rừng và tiêu diệt động vật chân đốt trung gian, cách ly chúng khỏi đàn gia súc Chừng nào còn có sự đe dọa của ổ dịch thiên nhiên thì dịch bệnh vẫn xảy ra, con người khó có thể thanh toán được bệnh cảm nhiễm

Bệnh lây chung người và động vật là những bệnh quan trọng,

thường có tên là zoonosis, và thường có tính sinh ổ dịch thiên nhiên Những bệnh này là những bệnh có thể lây từ súc vật sang người hoặc ngược lại Người, khi đã mắc bệnh từ súc vật truyền sang thì cũng có thể truyền giữa người với nhau

Người mắc bệnh chủ yếu là do tiếp xúc với động vật bệnh và các sản phẩm của động vật (sữa, thịt, nhau thai, lông, da, ) hoặc ăn uống các sản phẩm động vật Các bệnh đó nếu mắc nhẹ thì ảnh hưởng đến sức khỏe

và sức sản xuất, nặng thì có thể nguy hiểm đến tính mạng con người Có rất nhiều bệnh lây chung người và động vật, như bệnh dại, đóng dấu lợn, nhiệt thán, tỵ thư, lao, Muốn phòng chống các bệnh trên cần đặc biệt chú

ý phòng chống bệnh cho gia súc, gia cầm Ngược lại người chăn nuôi cũng phải là người không mang trùng và thải trùng tạo nguy cơ phát bệnh cho động vật nuôi Điều này rất có ý nghĩa trong công tác phòng chống dịch

Khác với các bệnh lây chung người và động vật cũng như bệnh của nhiều loài vật, bệnh đặc hữu của loài động vật là những bệnh không xuất hiện ở loài động vật không phải ký chủ tự nhiên của nó mặc dù động vật này có thể cảm nhiễm (thường là cảm nhiễm thui) Khi chống một bệnh chỉ

có một loài gia súc mắc thì cần phải tập trung mọi biện pháp vào loài gia súc đó Điều đó làm giảm nhẹ tốn kém khi thực hiện các biện pháp phòng chống dịch, cho phép sử dụng chuồng trại, thức ăn, đối với những loài không cảm nhiễm Tuy vậy, một số bệnh đặc hữu loài cũng có tính sinh ổ dịch thiên nhiên (như bệnh dịch tả lợn trong tập đoàn lợn rừng, ) và cần phải lưu ý điều này trong công cuộc phòng chống bệnh dịch

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2

Trang 9

7 Khái niệm ổ bệnh (ổ cảm nhiễm), phân biệt với ổ dịch?

8 Ảnh hưởng của ngoại cảnh đến sự lan truyền vi sinh vật ngoài cơ thể

9 Đường truyền lây và hình thức truyền lây?

10 Đường truyền lây và hình thức truyền lây?

11 Quan niệm và ví dụ về truyền lây dọc và truyền lây ngang?

12 Ảnh hưởng của cơ cấu tuổi của tập đoàn động vật đến cảm nhiễm?

13 Miễn dịch tập đoàn?

14 Vòng cảm nhiễm?

15 Cơ chế và phương thức truyền mầm bệnh?

16 Các giai đoạn của quá trình dịch bệnh cảm nhiễm?

17 Các nhân tố thiên nhiên ảnh hưởng đến các quá tgrình phát sinh dịch?

18 Các hình thức phát sinh dịch?

19 Các tính chất của biến động tần suất phát sinh dịch?

20 Khái niệm ổ dịch và ổ dịch thiên nhiên?

Trang 10

CHƯƠNG 3

CHẨN ĐOÁN BỆNH TRUYỀN NHIỄM

I Khái quát về chẩn đoán bệnh truyền nhiễm

Chẩn đoán bệnh truyền nhiễm là việc xác định nguyên nhân (và tên gọi) của hiện tượng bệnh lý đang có thông qua các thủ tục mô tả những hiện tượng bệnh lý đang gặp ở cá thể (bệnh) và ở quần thể (dịch) hoặc/và

mô tả mầm bệnh đã được phân lập để so sánh những thuộc tính thu được

đó với những thuộc tính của các bệnh/dịch hoặc mầm bệnh đã được mô tả,

phân loại và định danh (đặt tên) và quy thuộc hiện tượng bệnh lý đang có

vào một nhóm hiện tượng bệnh lý đã được phân loại và đặt tên Mô tả có thể dựa vào triệu chứng lâm sàng (chẩn đoán lâm sàng), bệnh tích (chẩn đoán giải phẫu bệnh lý), đặc điểm dịch học (chẩn đoán dịch tễ học) và các đặc điểm vi sinh vật học, huyết học, huyết thanh học, sinh học phân tử (chẩn đoán xét nghiệm) Như vậy, ta gọi được tên bệnh đang có là nhờ vào

việc xác định tính tương đồng của các biểu hiện bệnh và/hoặc căn bệnh với

các biểu hiện bệnh và/hoặc căn bệnh của những bệnh đã đặt tên từ trước Thủ tục chẩn đoán (giống như thủ tục nhận dạng) vì vậy được gọi là thủ

tục đồng định (identification) Trên thực tế, quá trình quy thuộc được thực hiện qua hàng loạt bước loại suy, ví dụ "vi khuẩn phân lập được nhuộm màu Gram âm vậy không thể là Bacillus hay một vi khuẩn Gram dương nào khác" Do đó, chẩn đoán còn là quá trình giám biệt (differentiation),

còn các tính trạng quan trọng giúp chẩn đoán được gọi là những đặc điểm

giám biệt Tuy nhiên, nhiều khi thủ tục chẩn đoán chỉ là việc xác nhận sự

hiện diện của một mầm bệnh (chẩn đoán bệnh nguyên học xác nhận kết quả chẩn đoán khác)

Đồng định, như vậy, không chỉ là "xác định", mà là xác định có định hướng trên cơ sở những kiến thức đã biết trước của nhà chuyên môn

về các loại bệnh và/hoặc mầm bệnh Hơn nữa đồng định có thể thất bại Sau mọi nỗ lực đồng định, nếu đồng định vẫn thất bại, nhà chuyên môn có thể đưa ra giả thuyết về loại bệnh mới, chưa được biết

Trong điều tra dịch tễ học người ta nghiên cứu tốc độ truyền lây, tỷ

lệ mắc bệnh mới, tỷ lệ lưu hành bệnh, tỷ lệ tử vong, tuổi và giống phát bệnh chủ yếu, vùng phát sinh, yếu tố thời tiết, sinh sản dị thường hoặc đẻ trứng dị thường, giảm sản lượng sữa hoặc tỷ lệ đẻ trứng, thay đổi thức ăn, nhập động vật mới, sự truyền lây bệnh sang loại động vật khác, lịch sử tiêm phòng vacxin, Đặc biệt, điều tra dịch học là hết sức quan trọng

Trang 11

trong quá trình nhận biết bệnh truyền nhiễm phát sinh ở động vật được

chăn nuôi tập trung dưới cùng điều kiện môi trường

Tuy ở nhiều bệnh cảm nhiễm những đặc điểm dịch học, biểu hiện bệnh lý và triệu chứng lâm sàng có thể đặc trưng, và điều này giúp ích cho việc suy định mầm bệnh liên quan nhưng cần chú ý rằng cũng có thể chúng tạo định kiến ở người xét nghiệm và làm lệch lạc kết quả do lựa chọn sai phương pháp xét nghiệm, ví dụ, dùng phương pháp vi khuẩn học để xét nghiệm động vật bệnh do ngộ độc hóa chất (nông dược, )

Chẩn đoán bệnh nguyên học là những thủ tục vi sinh vật học, huyết thanh học và sinh học phân tử, nhằm xác định sự hiện diện của một loại mầm bệnh nào đó trong cơ thể bị bệnh Đương nhiên, quy thuộc yếu tố mầm bệnh nghi ngờ (với nhóm mầm bệnh đã biết) ở cấp độ càng chi tiết càng tốt: loài gì, nhóm huyết thanh học nào, nhóm di truyền học phân tử nào, là những câu hỏi thường đặt ra và tìm cách trả lời

Để thực hiện nhanh chóng và chính xác các xét nghiệm chẩn đoán bệnh nguyên học cần khảo cứu triệu chứng lâm sàng, bệnh tích mổ khám

và đặc điểm dịch tễ để suy định những bệnh nguyên liên quan có thể gây nên bệnh dịch Dựa vào triệu chứng lâm sàng và bệnh tích, vị trí bệnh biến chủ yếu, mà các bệnh truyền nhiễm động vật chia thành bệnh cơ quan hô hấp, bệnh hệ thần kinh trung ương, bệnh cơ quan tiêu hóa, bệnh sinh khối

u (ung thư), bệnh da, bệnh cơ quan sinh dục tiết niệu và các chứng bệnh trở ngại sinh sản (vô sinh, đẻ non, ) Chủng loại các mầm bệnh cũng có thể là vi khuẩn, virut, nấm, nguyên trùng hoặc ký sinh trùng khác Hơn nữa các loại mầm bệnh không chỉ gây bệnh đơn thuần mà còn có thể bệnh hỗn hợp hoặc kế phát làm bệnh chứng lâm sàng càng thêm phức tạp Do đó, việc chọn lấy loại bệnh phẩm thích hợp với loại bệnh tật này hay khác và việc thu mẫu ảnh hưởng lớn đến kết quả chẩn đoán Trong trường hợp nghi ngờ bệnh do cảm nhiễm vi khuẩn, chẳng hạn, cần chú ý mở rộng giả thuyết

về loại mầm bệnh mà lấy mẫu thích hợp để chẩn đoán cả bệnh cảm nhiễm virut và nấm,

II Chẩn đoán bệnh nguyên học

1 Lấy mẫu và bảo quản mẫu bệnh phẩm

Kết quả phân lập bệnh nguyên phụ thuộc việc lấy bệnh phẩm vào thời điểm thích hợp và từ vị trí thích hợp cũng như những xử lý thích hợp cho đến khi xét nghiệm Cách lấy mẫu khác nhau phụ thuộc loại bệnh, mẫu bệnh phẩm, nhưng về nguyên tắc thì lấy sớm khi mới phát hiện bệnh

Ngày đăng: 25/07/2014, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm