Quản lí hành chính nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện nay
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ đại hội, từ Đại hội VI lịch sử - đại hội mở
ra thời kỳ đổi mới, đến nay đã luôn kiên trì và không ngừng phát triển đường lối đối ngoại đổi mới, trong đó có đối ngoại về kinh tế Quan điểm chủ đạo của chính sách kinh tế đối ngoại nước ta được Đảng ta khẳng định là: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển Hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và các tranh chấp bằng thương lượng”
Riêng về kinh tế, Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã xác định nhiệm
vụ: “mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại chủ động, tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế” Đại hội IX tiếp tục khẳng định: “Phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững” Nghị quyết 7 của Bộ Chính trị khóa IX một lần nữa khẳng định: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng XHCN bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”
Từ những quan điểm chỉ đạo của Đảng, ta nhận thấy việc hội nhập kinh tế quốc
tế là điều tất yếu khách quan Hơn nữa, việc hội nhập kinh tế quốc tế sẽ thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội của một quốc gia đi lên, và quan trọng là sẽ có nhiều cơ hội thu hút đầu tư từ nước ngoài đổ vào, đặc biệt là những nước còn chậm phát triển Việt Nam ngoài những thuận lợi đáng kể về mặt vị trí địa lý, tự nhiên, chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội thì việc là thành viên của ASEAN, APEC và WTO thì việc hội nhập kinh tế quốc tế và thu hút đầu tư là cần thiết Qua thực tiễn 15 năm đổi mới, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng ta đã xác định nền kinh tế nước ta gồm 5 thành
Trang 2phần: Kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Đà Nẵng là thành phố nằm ở trung độ của đất nước, nằm trên trục đường chính Bắc - Nam về đường bộ (Quốc lộ 1A), đường biển và đường hàng không Bên cạnh đó
là một tiềm năng du lịch đáng kể với danh lam thắng cảnh hùng vĩ, những bãi biển đẹp
mơ mộng quyến rũ, gần kề với những di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng như Cố đô Huế, phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn… Tháng 9 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ
đã ký quyết định thành lập vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm 5 tỉnh và thành phố: Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định nhằm phát huy tiềm năng, vị trí địa lý và các lợi thế so sánh của vùng, từng bước phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thành một trong những vùng phát triển năng động của
cả nước Trong đó, Đà Nẵng được xác định là thành phố đóng vai trò hạt nhân tăng trưởng, tạo động lực thúc đẩy phát triển cho cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên;
để làm được điều đó Đà Nẵng phải phát triển nhanh và mạnh và bền vững về mọi mặt Tất nhiên, điều này phụ thuộc rất lớn vào con người, cơ sở vật chất và trình độ khoa học công nghệ của thành phố, nhưng một yếu tố quan trọng không thể thiếu đó là nguồn vốn để phát triển Có thể nói trong thời gian qua Đà Nẵng đã thu hút được rất nhiều lượng vốn đầu tư, đặc biệt là từ nước ngoài Đầu tư nước ngoài sẽ giúp thành phố Đà Nẵng bổ sung vốn đầu tư, tiếp nhận công nghệ, kỹ thuật cao, tiên tiến, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, tạo nguồn thu cho ngân sách và thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chính nhờ nguồn vốn phong phú này và sự nổ lực của ban lãnh đạo cũng như toàn dân thành phố cùng với những tiềm năng phong phú mà Đà Nẵng đã có sự chuyển mình rất đáng kể trong thời gian qua Và từ đó việc thu hút đầu tư nước ngoài đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển KT - XH của thành phố Đà Nẵng Hơn nữa, hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm cho tình hình kinh tế có sự chuyển biến mạnh mẽ với sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, giữa các thành phần kinh tế; giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động Tuy nhiên, trong hoạt động thu hút và quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn còn những hạn chế, yếu kém; trong đó công tác QLNN cũng là một nguyên
Trang 3nhân quan trọng Là một đứa con được sinh ra và lớn lên tại Đà Nẵng, SVTT cũng mong muốn đóng góp chút sức mình vào công cuộc đổi mới của thành phố Chính vì
thế SVTT chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp là “Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”
nhằm tìm ra các nguyên nhân gây ra tình trạng hạn chế, yếu kém của công tác QLNN
và một số giải pháp để khắc phục tình trạng trên, từ đó sẽ tạo nên động lực lớn cho việc thu hút FDI và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố trong tương lai
2 Mục đích nhiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm:
- Trình bày cơ sở lý luận, khoa học và thực tiễn về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, khẳng định vai trò của loại hình doanh nghiệp này trong nền kinh tế; nêu lên sự cần thiết khách quan QLHCNN đối với loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay
- Nêu hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và đánh giá thực trạng hoạt động QLNN đối với các doanh nghiệp đó, các thành tựu đạt được, một số hạn chế, yếu kém cần khắc phục và chỉ ra các nguyên nhân của các hạn chế, yếu kém đó
- Đưa ra phương hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN đối với các doanh nhiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
b Khách thể nghiên cứu:
Các cơ quan quản lý Nhà nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
c Phạm vi nghiên cứu:
Trang 4- Về không gian: các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Về thời gian: Nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn 2000 - 2009
4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh cùng các phương pháp như: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, thống
kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, quan sát và với thực tiễn QLNN của Đà Nẵng về thu hút FDI và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để nghiên cứu đề tài
5 Đóng góp của đề tài:
Đề tài cung cấp cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài, quản lý nhà nước đối với việc thu hút đầu tư trực tiếp và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Bên cạnh đó, đề tài phân tích thực trạng QLNN đối với việc thu hút đầu tư và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Trên cơ sở đó đề tài đề xuất các giải pháp cụ thể như sau:
- Quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch, chuẩn bị sẵn quỹ đất để thu hút đầu tư hiệu quả, không làm nản lòng các nhà đầu tư
- Xây dựng và hoàn thiện các thể chế, chính sách theo hướng kích cầu đầu tư cởi mở, thông thoáng
- Cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian phê duyệt, thẩm định các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Tập trung đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao
- Chuẩn bị các điều kiện cơ sở vật chất tốt nhất để tiếp đón nhà đầu tư
- Tập trung nâng cao chất lượng công tác xúc tiến đầu tư
- Tổ chức bộ máy QLNN về đầu tư theo hướng đơn giản, hiệu quả
- Kết hợp kiểm tra định kỳ và đột xuất để chấn chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp, kịp thời phát hiện các sai phạm để có những phương hướng khắc phục
6 Bố cục
Trang 5Đề tài gồm 3 chương:
- Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Chương II: Đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Chương III: Phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà
nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trang 6PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.1 Lý luận QLNN và sự cần thiết của QLNN đối với các doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1 Lý luận QLNN nói chung
Có nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ “quản lý” Theo bản thân SV thì
“quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng những phương tiện khác nhau nhằm đạt được mục tiêu nhất định”
Nhà nước là thiết chế quyền lực công, đại diện cho toàn thể nhân dân quản lý mọi mặt của đời sống xã hội Nhà nước có những quyền lực đặc biệt, nắm trong tay những công cụ quản lý đặc biệt, đảm bảo thực hiện quyền lợi của giai cấp thống trị và quyền lợi của toàn xã hội Vì vậy, có thể định nghĩa quản lý nhà nước như sau:
“Quản lý Nhà nước là tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước bằng nhiều biện pháp tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện những chức năng của nhà nước trên cơ sở pháp luật”
1.1.2 Lý luận QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
a Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư nước ngoài (đầu tư quốc tế) là một hình thức của đầu tư, từ đó xuất khẩu
tư bản, đưa tư bản ra nước ngoài kinh doanh, một hình thức quan hệ kinh tế quốc tế, qua đó tư bản của nước này di chuyển qua nước khác nhằm mục đích trực tiếp kinh
Trang 7doanh thu lợi nhuận Ngoài ra còn có các hình thức viện trợ cho vay, viện trợ không hoàn lại không nhằm mục đích kinh doanh
Đầu tư quốc tế chủ yếu gồm các hình thức: đầu tư một chiều như viện trợ không hoàn lại; đầu tư tín dụng không có lãi hoặc lãi nhẹ; đầu tư có tính chất công như: đầu
tư của Chính phủ, các tổ chức quốc gia, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ; đầu tư có tính chất là đầu tư của các tổ chức tư và tư nhân; đầu tư hỗn hợp có cả tính chất công và tư; đầu tư nhiều bên…
Đầu tư trực tiếp nước ngoài, theo quan điểm vĩ mô là chủ đầu tư trực tiếp đưa vốn và kỹ thuật và nước nhận đầu tư, thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh trên cơ
sở thuê mướn, khai thác các yếu tố cơ bản ở nước sở tại như tài nguyên, sức lao động,
cơ sở vật chất…
Đầu tư trực tiếp nước ngoài, theo quan điểm vi mô là chủ đầu tư đóng góp một
số vốn lớn đủ để họ trực tiếp tham gia vào việc quản lý, điều hành đối tượng bỏ vốn
Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia), đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đưa ra cách hiểu như sau: đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác
Tiêu thức phân biệt đầu tư trực tiếp nước ngoài với các hoạt động đầu tư nội địa thường tập trung vào các đặc trưng sau:
- Về vốn góp: các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng một lượng vốn tối thiểu theo quy định của mỗi nước nhận đầu tư để họ có quyền trực tiếp tham gia điều phối quản
lý quá trình sản xuất kinh doanh
- Về quyền điều hành, quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phụ thuộc vào mức vốn góp Nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn thì quyền điều hành hoàn toàn thuộc về nhà đầu tư nước ngoài, có thể trực tiếp hoặc thuê người quản lý
Trang 8- Về phân chia lợi nhuận: Dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh, lãi lỗ đều được phân chia theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định sau khi đã trừ các khoản đóng góp
Do đó, có thể định nghĩa khái quát đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý… nhằm mục đích thu lợi nhuận”
b Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Chính phủ Việt Nam
đã cấp giấy phép cho nhiều loại hình đầu tư Tuy nhiên có các loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài thường gặp đó là: Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contact - BCC); Doanh nghiệp liên doanh (Join Venture Enterprise - JVE); Doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài (Enterprise with one hundred percent foreign owned capital); Hợp đồng liên doanh; Hợp đồng phân chia sản phẩm (Production Sharing Contract - PSC); Hình thức đầu tư thuê thiết bị
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contact - BCC):
Là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài trong đó hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký kết giữa hai bên hay nhiều bên để cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh tại nước nhận đầu tư trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia mà không thành lập một xí nghiệp liên doanh hoặc pháp nhân mới
- Doanh nghiệp liên doanh (Join Venture Enterprise - JVE):
Đây là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, qua đó pháp nhân mới được thành lập gọi là doanh nghiệp liên doanh - là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở liên kết của các doanh nghiệp trong và ngoài nước theo luật pháp của nước chủ nhà; các bên tham gia liên doanh sẽ chịu trách nhiệm lẫn nhau trong phạm vi phần vốn góp của mình vào liên doanh
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài (Enterprise with one hundred percent foreign owned capital):
Trang 9Là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, được hình thành bằng toàn bộ vốn nước ngoài và do nhà đầu tư nước ngoài tự quản lý, điều hành và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Loại hình này thường đầu tư vào khu chế xuất hoặc khu công nghiệp, thời hạn hoạt động kéo dài, khoảng 50 đến 70 năm
đủ để thu hồi vốn và có lợi nhuận thỏa đáng; sau đó chuyển giao công trình cho nước
chủ nhà mà không đòi bồi hoàn
+ Hình thức đầu tư BTO (Built - Transfer - Operate): Hợp đồng xây dựng -
chuyển giao - kinh doanh: là hình thức đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết
cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho nước sở tại, Chính phủ nước sở tại sẽ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó
trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
+ Hình thức đầu tư BT (Built - Transfer): Hợp đồng xây dựng - chuyển giao: là
hình thức đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước của nước sở tại, Chính phủ nước sở tại tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác
để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
- Hợp đồng phân chia sản phẩm (Production Sharing Contract - PSC):
Hợp đồng này quy định nhà đầu tư nước ngoài bỏ 100% vốn để tìm kiếm, thăm
dò và khai thác tài nguyên trên nước sở tại Nếu tìm và khai thác được sản phẩm thì thỏa thuận phân chia sản phẩm theo nguyên tắc:
Trang 10 Nước chủ nhà được hưởng tỷ lệ lớn hơn chủ đầu tư trong tổng số tiền bán sản phẩm đối với mỏ có trữ lượng lớn, thời gian khai thác dài; và hưởng tỷ lệ nhỏ hơn chủ đầu tư trong tổng số tiền bán sản phẩm đối với mỏ có sản lượng nhỏ, thời gian khai thác ngắn
Nếu không tìm thấy sản phẩm hoặc không đủ sản lượng công nghiệp để khai thác thì nhà đầu tư phải chịu 100% rủi ro
- Hình thức đầu tư thuê thiết bị: bao gồm thuê vận hành và thuê tài chính
+ Thuê vận hành: là hình thức đầu tư nước ngoài trong đó nhà đầu tư cho nước
sở tại thuê thiết bị hiên đại Tiền thuê thiết bị được tính theo sản lượng sản phẩm làm
ra trên thiết bị đó Phía nước ngoài hướng dẫn kỹ thuật và sáng tạo mẫu mã, cùng lo tiêu thụ sản phẩm tại thị trường trong nước Hình thức này hiện đang được áp dụng phổ biến tại các nước chậm và đang phát triển
+ Thuê tài chính: là một hoạt động tín dụng trung, dài hạn thông qua mua máy
móc - thiết bị và các động sản khác Bên cho thuê cam kết mua máy móc - thiết bị và động sản theo yêu cầu của bên thuê và nắm quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và không được hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục mua lại tài sản đó theo các điều kiện đã được thỏa thuận trong hợp đồng thuê
Ngoài ra còn có một số hình thức khác chưa thông dụng tại Việt Nam như:
- Hình thức đầu tư LDO (Lease - Develop - Operate): Cho thuê - Nâng cấp - Kinh doanh công trình:
Nhà nước sở tại cho thuê công trình; nhà thầu nâng cấp và khai thác, kinh doanh công trình trong thời hạn nhất định, sau đó chuyển giao cho nước chủ nhà
- Hình thức đầu tư BLT (Built - Lease - Transfer): Hợp đồng xây dựng - Cho thuê - Chuyển giao:
Chủ thầu xây dựng và cho thuê công trình trong một thời hạn nhất định, sau đó chuyển giao cho nước chủ nhà
c QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
“Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước bằng nhiều biện pháp
Trang 11tới các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài nhằm thực hiện những chức năng của nhà nước trên cơ sở pháp luật”
Công tác QLNN đã tạo ra một trật tự nhất định và sự ổn định cho các đối tượng
mà nó quản lý, trong đó có các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đưa các đối tượng đó vào một quy luật vận động chung dưới sự kiểm soát của pháp luật và các cơ quan có thẩm quyền để đảm bảo cho các hoạt động này diễn ra theo đúng quy định của pháp luật về đầu tư, hoạt động của doanh nghiệp và phù hợp với định hướng chung trong phát triển kinh tế - xã hội
1.1.3 Sự cần thiết khách quan của QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình đặc thù,
nó có những đặc điểm chung của kinh tế đối ngoại Chính vì thế, nói đến sự cần thiết khách quan của QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bên cạnh nêu ra sự cần thiết khách quan của QLNN đối với các doanh nghiệp thì còn cần phải nói đến sự cần thiết khách quan của QLNN đối với kinh tế đối ngoại
Nhà nước phải quan tâm đến các doanh nghiệp, vì những lý do cụ thể sau: Thứ nhất, tính chất giai cấp, tính chất dân tộc trong các doanh nghiệp có lao
động làm thuê và có tư bản nước ngoài Trong hệ thống các doanh nghiệp hiện nay có hai loại doanh nghiệp thuộc loại có vấn đề nói trên, đó là doanh nghiệp tư bản dân doanh và doanh nghiệp của tư bản nước ngoài Trong các doanh nghiệp này, quan hệ chủ - thợ, quan hệ chủ nước ngoài - thợ bản xứ là vấn đề chính trị Vấn đề bóc lột lao động làm thuê, vấn đề bình đẳng dân tộc là những vấn đề thường trực trong các doanh nghiệp thuộc loại nói trên Với tính chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của mình, Nhà nước không thể đứng ngoài cuộc, mà phải quan tâm điều chỉnh các quan hệ trên trong các doanh nghiệp có vấn đề đã nêu
Thứ hai, sự mâu thuẫn lợi ích quyết liệt giữa các doanh nhân trên thị trường
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nhân tham gia nhiều mối quan hệ lợi ích, các quan hệ này có khả năng dẫn tới xung đột mà chỉ Nhà nước mới có khả năng
xử lý thăng bằng các xung đột đó
Trang 12Bản chất của sản xuất kinh doanh là kiếm lời Do đó, mâu thuẫn giữa các doanh nhân với nhau và với các đối tác khác có quan hệ với các doanh nhân là lẽ đương nhiên, nó bao gồm các quan hệ sau:
- Quan hệ giữa các doanh nhân với nhau Thuộc các đối tác này có nhiều nội dung quan hệ cụ thể: quan hệ hàng - tiền với rất nhiều chi tiết liên quan đến hàng; quan hệ cổ phần, cổ phiếu trong việc chia lời lãi; quan hệ tranh chấp tài nguyên môi trường khi hoạt động liền kề bên nhau
- Quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp Thuộc quan hệ này cũng có nhiều nội dung cụ thể, nhưng tựu trung là quan hệ lao động - tiền công - điều kiện làm việc - thái độ đối xử với thợ - sự tuân thủ hợp đồng và thỏa ước lao động giữa đôi bên
- Quan hệ giữa doanh nhân với xã hội nói chung thông qua hành vi của họ trong việc sử dụng tài nguyên, môi trường, bảo đảm chất lượng sản phẩm, bảo vệ bí mật quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội…
Thứ ba, sự hữu hạn giữa các doanh nhân trong việc xử lý các vấn đề sản xuất
kinh doanh của họ
Để tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, các doanh nhân phải giải quyết hàng loạt vấn đề, trong đó có những vấn đề mà mỗi doanh nhân không đủ khả năng giải quyết
Nội dung cụ thể của các vấn đề mà mỗi doanh nhân không giải quyết nổi tùy thuộc vào trình độ của doanh nhân mỗi nước, mỗi ngành, trong mỗi hoàn cảnh quốc tế
và trong từng nước nhất định Nhà nước nào cũng phải bằng hoạt động của mình để phán đoán các nan giải của doanh nhân, tìm ra những nhu cầu của họ mà đáp ứng Tuy nhu cầu cụ thể có thể rất đa dạng, song suy cho cùng đó là các vấn đề thuộc về ý chí, tri thức, vốn liếng, phương hướng, diễn biến chính sự có liên quan đến kinh tế Chẳng hạn, doanh nhân nào cũng cần biết triển vọng của đồng đô la Mỹ và một số ngoại tệ mạnh khác trong tương lai nhưng không thể dự đoán được
Ngoài ra, như đã nói ở trên, việc phát triển nền kinh tế trong xã hội hiện tại không thể bỏ qua quan hệ kinh tế đối ngoại, vậy thì cần phải xem xét vì sao cần có sự QLNN đối với kinh tế đối ngoại
Trang 13Một là, vì kinh tế đối ngoại có một tầm quan trọng đặc biệt Kinh tế đối ngoại
có ý nghĩa toàn diện sâu sắc đối với sự phát triển tổng thể kinh tế, xã hội, chính trị, quốc phòng ngoại giao của đất nước
Về kinh tế, kinh tế đối ngoại giải quyết những vấn đề then chốt của nền kinh tế như vấn đề vốn đầu tư, vấn đề tiến bộ khoa học và công nghệ, vấn đề chuyển dịch cơ cấu và phân công lao động quốc tế theo lợi thế so sánh Đó là những vấn đề then chốt
để tăng năng suất lao động xã hội, cái quyết định sự thắng lợi của mọi chế độ kinh tế
Về chính trị, ngoại giao, quốc phòng, kinh tế đối ngoại liên quan đến việc mở rộng quan hệ bạn bè, loại trừ và cô lập kẻ thù, liên quan đến việc bảo vệ bí mật quốc gia, vấn đề bảo vệ kinh tế của đất nước trên trường quốc tế, cơ sở để giữ vững độc lập chính trị, an ninh quốc phòng
Hai là, nhà nước đặc biệt quan tâm đến quản lý kinh tế đối ngoại vì nhu cầu đặc
biệt của doanh nhân trong kinh tế đối ngoại
Doanh nhân trong hoạt động kinh tế đối ngoại cần đến nhà nước vì:
- Quan hệ xã hội trong kinh tế đối ngoại vượt khỏi tầm quốc gia, là thứ quan hệ
mà nhà nước mới có đủ tư cách pháp lý và đủ khả năng giúp các doanh nhân vận động tốt trên thị trường quốc tế
- Kinh tế đối ngoại là hoạt động kinh tế lớn về quy mô, phức tạp về khoa học và công nghệ, nên doanh nhân trên mặt trận này hơn mọi doanh nhân khác trong việc cần
có sự hỗ trợ về tri thức, về vốn từ phía Nhà nước
- Kinh tế đối ngoại là một địa bàn vừa rộng vừa đầy bắt trắc, bí hiểm và phức tạp, chỉ có thể dựa vào nhà nước doanh nhân mới có thể yên tâm hoạt động
1.2 Hiệu lực, hiệu quả, cơ sở pháp lý, hệ thống tổ chức QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1 Hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
a Hiệu lực, hiệu quả nói chung
- Hiệu lực là khả năng và tác dụng thực tế của một cơ quan, một tổ chức, một
nhà nước thực hiện có kết quả chức năng quản lý của mình Một cơ quan nhà nước quản lý có hiệu lực là biết sử dụng đúng đắn các quyền hạn, thẩm quyền, các phương
Trang 14pháp và công cụ pháp lý về các mặt (luật pháp, hành chính, tổ chức), các phương pháp
tư tưởng, tâm lý cũng như các phương tiện vật chất, đề ra những quyết định hợp pháp, hợp lý, đúng lúc và những biện pháp đúng đắn và tổ chức thực hiện có hiệu quả
Hiệu lực gồm có hiệu lực chấp hành, hiệu lực hồi tố và hiệu lực pháp luật
Khóa luận muốn nhấn mạnh đến hiệu lực pháp luật (hay còn gọi là hiệu lực của
các văn bản quy phạm pháp luật): là giá trị theo thứ tự cao thấp của một văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống các hình thức pháp luật của nhà nước
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất Bộ luật, Luật, Nghị quyết của Quốc hội có hiệu lực pháp lý sau Hiến pháp Pháp lệnh, Nghị định của Ủy ban thường vụ Quốc hội có hiệu lực pháp lý sau các văn bản quy phạm pháp luật kể trên Các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý sau các quy phạm pháp luật của Quốc hội và Ủy ban thường
vụ Quốc hội thường được gọi chung là văn bản dưới luật Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất
Hiệu lực pháp luật thể hiện ở ba dạng:
+ Hiệu lực không gian: là giới hạn phạm vi lãnh thổ mà văn bản quy phạm pháp
luật có hiệu lực
+ Hiệu lực về thời gian: là thời điểm một văn bản quy phạm pháp luật bắt đầu
hay chấm dứt hiệu lực
+ Hiệu lực về đối tượng áp dụng: là hiệu lực thi hành chỉ đối với những cá
nhân, cơ quan, tổ chức mà văn bản quy phạm pháp luật đó điều chỉnh
- Hiệu quả là kết quả thực hiện một chủ trương, chính sách được xác định qua
việc so sánh các kết quả đạt được với toàn bộ các nguồn lực đã sử dụng Hiệu quả thể hiện ở kết quả đạt được là tối đa, chi phí là tối thiểu
Hiệu quả là chỉ tiêu quan trọng được sử dụng phổ biến ở nhiều lĩnh vực, ở tầm
vĩ mô lẫn vi mô Trong hoạt động kinh tế, hiệu quả thể hiện ở lợi nhuận thu thập trên một đồng vốn đầu tư hay sản xuất Trong quản lý hành chính, không thể xét đơn thuần hiệu quả theo giá trị bằng tiền vì hoạt động hành chính nhiều khi mang tính chất trừu tượng rất khó tính toán cụ thể, vả lại hoạt động hành chính còn nhằm phục vụ nhu cầu
Trang 15xã hội nên phải xét hiệu quả không chỉ ở khía cạnh hiệu quả kinh tế mà cả hiệu quả xã hội
b Hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
QLNN là sự quản lý bằng pháp luật của Nhà nước để thực hiện quyền lực nhà nước QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN
Theo từ điển thuật ngữ Hành chính thì: “Hiệu quả là kết quả thực hiện một chủ trương, chính sách được xác định qua việc so sánh các kết quả đạt được với toàn bộ các nguồn lực đã sử dụng Hiệu quả thể hiện ở kết quả đạt được là tối đa, trong khi chi phí là tối thiểu”
“Hiệu quả QLHCNN là mối tương quan giữa kết quả thu được tối đa so với chi phí thực hiện kết quả đó ở mức tối thiểu” (Theo Giáo trình Tổ chức Hành chính Nhà
nước, Học viện Hành chính Quốc gia)
Trong khuôn khổ của hoạt động QLHCNN, cần đặt thuật ngữ “hiệu quả” trong mối quan hệ biện chứng với các thuật ngữ khác, đặc biệt là thuật ngữ “hiệu lực” Theo nghĩa chung nhất, hiệu lực QLHCNN nhằm chỉ kết quả đạt được, tức tạo ra sản phẩm nếu đó là một quyết định sản xuất, trong khi hiệu quả thường được xem xét gắn liền với cả chu trình, quá trình nhằm tạo ra sản phẩm đó Hiệu quả thường gắn với kết quả
và chi phí
Trong khá nhiều trường hợp, quyền lực không gắn liền với hiệu lực Trong trường hợp các quyết định QLHCNN, kể cả các quyết định mang tính cưỡng chế không được thi hành, thì các quyết định đó không có hiệu lực Hiệu lực của quyết định gắn liền với tính khả thi của cơ quan hành pháp Không ít các quyết định ban hành ra vừa thiếu tính pháp lý, vừa thiếu tính thực tiễn, do đó hiệu lực thấp hoặc không có hiệu lực
Như vậy, hiệu quả và hiệu lực là hai vấn đề có mối quan hệ tương hỗ mật thiết với nhau trong hoạt động QLNN Việc đánh giá hiệu lực và hiệu quả hoạt động
Trang 16QLHCNN liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, cần sự đánh giá tổng hợp khi nghiên cứu đến vấn đề này Đánh giá hiệu quả hoạt động QLHCNN cần xem xét đến yếu tố hiệu lực của chúng, mà trực tiếp là các quyết định QLHCNN do các cơ quan QLHCNN ban hành
Tóm lại, hiệu quả của hoạt động QLHCNN có thể được khái niệm như sau:
“Hiệu quả QLHCNN là sự so sánh, đối chiếu kết quả đạt được với toàn bộ các nguồn lực đã sử dụng nhằm đánh giá kết quả đạt được với chi phí thấp nhất ” Theo PGS.TS
Nguyễn Kim Sơn: “Hiệu quả được hiểu là làm được quyết định với chi phí thấp nhất”
Như đã nêu rõ ở phần lý luận về hiệu lực, hiệu quả ở trên, ta thấy rằng hiệu lực, hiệu quả của hoạt động QLNN là dựa vào pháp luật mà căn bản là trên cơ sở của các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản dưới luật
Các chủ thể, cơ quan có thẩm quyền quản lý sẽ dựa vào luật, các quy định được nêu rõ trong luật hay các văn bản quy phạm pháp luật khác về hoạt động kinh tế đối ngoại, thu hút đầu tư nước ngoài và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để quản lý các hoạt động liên quan đến các lĩnh vực vừa kể trên
Hiệu lực, hiệu quả của hoạt động QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp được xác định bởi các văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu lực về mặt thời gian, không gian và đối tượng là các hoạt động kinh tế đối ngoại, thu hút đầu tư
và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cùng các đối tượng khác liên quan và hiệu quả sẽ tính cả hiệu quả đối với sự tăng trưởng kinh tế và đóng góp cho sự phát triển xã hội
c Các tiêu chí đánh giá hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với các doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tại Việt Nam trong những năm gần đây, khía cạnh phát triển bền vững trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã được quan tâm nhiều hơn Trong những năm gần đây, mỗi năm các tờ báo ngoại ngữ của nhóm thời báo Kinh tế Sài Gòn đều tiến hành trao giải thưởng “Doanh nghiệp và phát triển bền vững” cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành miền Đông Nam Bộ
Trang 17Để đánh giá được một cách toàn diện hơn khía cạnh phát triển bền vững trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, trên thế giới đã sử dụng nhiều đến bộ tiêu chí “Phát triển bền vững Dow - Jones” (Dow - Jones Sustainability Indexes) Bộ tiêu chí Dow - Jones được công bố vào năm 1999 Đây là bộ tiêu chí đầu tiên trên thế giới được thiết lập nhằm đánh giá thành tích trên ba chiều kích của phát triển bền vững là kinh tế, môi trường và xã hội của các doanh nghiệp lớn Bộ tiêu chí được thể hiện như sau:
Các chiều kích
của phát triển
bền vững Các chỉ tiêu
Trọng số của các chỉ tiêu (%)
Kinh tế
- Qui tắc ứng xử/ tuân theo luật lệ/ hối lộ - đút lót
- Quản trị doanh nghiệp
- Quản trị rủi ro và khủng hoảng
- Các chỉ tiêu riêng của ngành nghề
5.5 6.0 6.0 Tùy theo ngành nghề
Môi trường
- Thành tích về môi trường
- Có bản báo cáo về môi trường
- Các chỉ tiêu riêng của ngành nghề
7.0 3.0 Tùy theo ngành nghề
Xã hội
- Hoạt động từ thiện
- Ứng dụng các qui tắc sử dụng lao động của quốc gia và quốc tế
- Việc phát triển vốn con người
- Có báo cáo về hoạt động xã hội
- Khả năng thu hút
- Chỉ tiêu riêng của ngành nghề
3.5 5.0
5.5 3.0 5.5 Tùy theo ngành nghề
Bảng 1: Bộ tiêu chí Dow - Jones
(Nguồn: Internet)
Trang 18Các trọng số nói trên được xác định bởi phương pháp chuyên gia hay phương pháp xã hội học, các chỉ tiêu được thể hiện bằng các câu hỏi cụ thể để đo lường và người đứng đầu doanh nghiệp sẽ phải cung cấp câu trả lời
Chẳng hạn đối với thành tích về môi trường, doanh nghiệp sẽ cho biết trong năm qua hoạt động sản xuất và kinh doanh của họ đã thải bao nhiêu lượng khí CO2, lượng nước sạch đã sử dụng, tổng lượng các loại năng lượng (điện, xăng dầu…) đã sử dụng, lượng rác thải… Doanh nghiệp cũng phải giải trình về chiến lược của mình trong tương lai xem có giảm thiểu các chỉ số trên dần dần hay không
Về khía cạnh xã hội, doanh nghiệp sẽ phải cho biết có sự phân biệt đối xử về giới tính trong vấn đề lương bổng hay không (lương trung bình của lao động nam và lao động nữ); tỷ lệ nữ đảm trách các trách nhiệm lãnh đạo; khả năng tự do lập hội của người lao động; vấn đề đảm bảo sức khỏe và an toàn cho người lao động; tổng kinh phí mà doanh nghiệp đã dùng cho các hoạt động từ thiện…
Dựa trên các tiêu chí của Bộ tiêu chí Dow - Jones thì ta có thể xác định được hiệu lực và hiệu quả kinh tế, xã hội mà một doanh nghiệp mang lại, trong đó để đánh giá các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là chủ yếu
1.2.2 Cơ sở pháp lý về QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Cơ sở pháp lý là những điều kiện thuộc về luật lệ do nhà nước quy định, từ đó
làm cơ sở để xuất phát một việc có qui mô đáng kể để quản lý những đối tượng cần
thiết
Các cơ sở pháp lý để căn cứ vào đó mà tiến hành công tác QLNN đối với các hoạt động thu hút đầu tư và các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là hệ thống luật, các văn bản dưới luật có quy định về các vấn đề nêu trên, như:
- Luật Đầu tư ngày 29 tháng 11 năm 2005;
- Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
- Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư;
- Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định về đăng ký kinh doanh;
Trang 19- Nghị định số 101/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định về việc đăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký đổi Giấy chứng nhận đầu tư của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư
- Quyết định số 1088/2006/QĐ-BKH ngày 19 tháng 10 năm 2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành các mẫu văn bản thực hiện thủ tục về đầu tư tại Việt Nam
- Quyết định số 23/2003/QĐ-UB ngày 03 tháng 03 năm 2003 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc ban hành bản quy định một số chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư trực tiếp (FDI) tại thành phố Đà Nẵng
1.2.3 Hệ thống các cơ quan QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trách nhiệm QLNN đối với việc thu hút đầu tư trực tiếp và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước đối với việc thu hút đầu tư, đặc biệt là công tác thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Cơ quan QLNN đối với thu hút đầu tư trực tiếp và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở TW chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện QLNN đối với việc thu hút đầu tư và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chủ trì phối hợp với các cơ quan nhà nước trong việc quản
lý nhà nước đối với việc thu hút đầu tư và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài
- Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo
sự phân công của Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan QLNN đối với việc thu hút đầu tư trực tiếp và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở TW trong việc quản lý nhà nước đối với thu hút đầu tư trực tiếp và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 20- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện QLNN đối với việc thu hút đầu tư trực tiếp và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại địa phương, cụ thể hóa chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát huy tiềm năng để thu hút đầu tư và quản lý hoạt động của các doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phù hợp với thực tế địa phương
Tổ chức bộ máy QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài:
- Ở Trung ương:
Cơ quan QLNN ở cấp TW là Bộ Kế hoạch và Đầu tư Các cơ quan chức năng làm nhiệm vụ quản lý nhà nước thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư bao gồm: Văn phòng Bộ; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân; Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ; Vụ Tài chính, tiền tệ; Tổng cục thống kê; Cục phát triển doanh nghiệp; Vụ Kinh tế đối ngoại; Vụ Kinh tế dịch vụ; Cục Đầu tư nước ngoài; Vụ Quản lý các khu kinh tế; Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư; Cục Quản lý đấu thầu; Vụ Kinh tế công nghiệp; Vụ Kinh tế nông nghiệp; Vụ Kết cấu hạ tầng và Đô thị; Vụ Lao động, Văn hóa, Xã hội; Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài nguyên và Môi trường; Vụ Quốc phòng - An ninh; Vụ Pháp chế; Vụ Hợp tác xã; Thanh tra Bộ; Vụ Quản lý quy hoạch, Vụ Thi đua - khen thưởng
Các chức năng cơ bản của Bộ Kế hoạch và Đầu tư là:
+ Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT - XH chung của cả nước
+ Tham mưu về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế chung và một số lĩnh vực cụ thể
+ Tham mưu về đầu tư trong nước, ngoài nước, khu công nghiệp, khu chế xuất + Quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA), đấu thầu, doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh trong phạm vi cả nước
+ Quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý
Bộ theo quy định của pháp luật
- Ở địa phương:
Trang 21Cơ quan QLNN ở địa phương là Sở Kế hoạch và Đầu tư
Sở Kế hoạch và đầu tư là cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố, giúp UBND thành phố thực hiện chức năng QLNN về kế hoạch và đầu tư bao gồm các lĩnh vực: tham mưu tổng hợp chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT - XH; về đầu
tư trong nước, ngoài nước ở địa phương; về khu công nghiệp, khu chế xuất; quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, đấu thầu, đăng ký kinh doanh trong phạm vi địa phương và các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Sở theo quy định của pháp luật Sở Kế hoạch và Đầu tư chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND thành phố; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Một số nhiệm vụ của Sở Kế hoạch và Đầu tư là:
+ Trình UBND thành phố ban hành các quyết định, chỉ thị về quản lý các lĩnh vực kế hoạch và đầu tư ở địa phương theo quy định của pháp luật và phân cấp của Chính phủ
+ Giúp UBND thành phố hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về kế hoạch và đầu tư ở địa phương, trong đó có chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT - XH của cả nước đã được phê duyệt và những vấn đề có liên quan đến việc xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển KT - XH của thành phố
+ Trình UBND thành phố quyết định việc phân cấp quản lý các lĩnh vực kế hoạch và đầu tư cho UBND cấp Quận, Huyện và các Sở, ban, ngành của thành phố; hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức thực hiện các quy định phân cấp đó
+ Quản lý các vấn đề liên quan đến các lĩnh vực như: quy hoạch, kế hoạch; đầu
tư trong nước và ngoài nước; quản lý ODA; quản lý đấu thầu; quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất; quản lý các doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh và kinh tế hợp tác xã…
+ Chủ trì phối hợp với các Sở, ban, ngành đề xuất các mô hình và cơ chế, chính sách đối với kinh tế hợp tác xã, kinh tế gia đình trên địa bàn; hướng dẫn, theo dõi, tổng hợp báo cáo UBND thành phố và Bộ Kế hoạch và Đầu tư về tình hình phát triển kinh
tế hợp tác xã, kinh tế gia đình của thành phố
Trang 22+ Giúp UBND thành phố chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ cho cơ quan chuyên môn của UBND các quận, huyện thực hiện nhiệm vụ QLNN về kế hoạch
và đầu tư trên địa bàn; theo dõi, kiểm tra việc tổ chức thực hiện
+ Tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật và thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư theo quy định của pháp luật Tổ chức quản lý và chỉ đạo hoạt động đối với các tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công thuộc Sở
+ Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng, tiêu cực;
xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư thuộc thẩm quyền của
Sở
+ Tổng hợp, thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất tình hình thực hiện nhiệm vụ
về các lĩnh vực được phân công cho UBND thành phố, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các
cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
+ Quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật và phân cấp của UBND thành phố; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước thuộc quyền quản lý của Sở và phát triển nguồn nhân lực ngành kế hoạch và đầu tư ở địa phương
+ Quản lý tài chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện ngân sách được phân
bổ theo quy định của pháp luật và phân cấp của UBND thành phố
+ Thực hiện những nhiệm vụ khác được chủ tịch UBND thành phố giao
1.3 Quan điểm, định hướng của Nhà nước Việt Nam về QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.3.1 Quan điểm về QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Quan điểm là cơ sở của người quan sát nhìn nhận sự vật để giải quyết một vấn
đề… (thường theo lợi ích hoặc theo thế giới quan của giai cấp cầm quyền)
Ngay từ khi bắt đầu thực hiện đổi mới đất nước, Đảng ta đã xác định những quan điểm định hướng về thu hút, sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ đó để phát triển thêm loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Những quan điểm đó đã được bổ sung, phát triển qua các kỳ đại hội Đảng và tiếp tục được
Trang 23khẳng định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, thể hiện những nội dung chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm phát huy
cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, thực hiện CNH - HĐH đất nước
Thứ hai, gắn chặt việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ và thực hiện chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Từ đó tạo sự năng động cho nền kinh tế nhiều thành phần trong nước
Thứ ba, phải đặt nhiệm vụ thu hút, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài là bộ phận khăng khít của chính sách phát triển kinh tế đối ngoại và chiến lược phát triển KT - XH, trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò là động lực, nguồn lực quan trọng thúc đẩy quá trình CNH - HĐH đất nước
Thứ tư, đẩy mạnh việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phải gắn
liền với việc nâng cao hiệu quả trong phân bố, sử dụng một cách toàn diện và hợp lý
để phát huy cao nhất vai trò, tác dụng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế nước ta Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phải tạo ra động lực phát triển KT - XH, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động
Thứ năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài phải góp phần thúc đẩy tiến bộ, xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường
1.3.2 Định hướng QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo tìm hiểu của SV thì định hướng tức là xác định phương hướng cho một
vấn đề hay một mục tiêu nào đó nhất định
Từ những quan điểm cơ bản về thu hút, sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Đảng và Nhà
Trang 24nước ta tiếp tục đưa ra những chủ trương, định hướng cụ thể về các vấn đề nêu trên, bao gồm những nội dung sau:
- Ưu tiên thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp đặc biệt sử dụng công nghệ cao, gồm công nghệ thông tin, điện tử, vi điện tử, công nghệ sinh học…; chú trọng công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát triển như Hoa Hỳ, EU, Nhật Bản; hết sức coi trọng thu hút FDI gắn với nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ Khuyến khích thu hút FDI vào ngành công nghiệp, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm sản xuất trong nước
- Ngành dịch vụ còn dư địa lớn để đầu tư phát triển góp phần quan trọng trong nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế Từng bước mở cửa các lĩnh vực dịch vụ theo các cam kết quốc tế, tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển như dịch vụ ngân hàng, tài chính; dịch vụ vận tải, bưu chính - viễn thông; y tế; văn hóa; giáo dục đào tạo và các lĩnh vực dịch vụ khác
- Với định hướng trên, tiến hành xem xét, giảm bớt các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh có điều kiện đối với đầu tư nước ngoài có tính tới các yếu tố hội nhập và toàn cầu hóa theo lộ trình “mở cửa”; tạo bước đột phá trong thu hút FDI bằng việc xem xét đẩy sớm lộ trình mở cửa đối với một số lĩnh vực dịch vụ, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào phát triển hạ tầng
- Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài từ tất cả các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, chú trọng hơn vào việc thu hút đầu tư nước ngoài từ các nhà đầu
tư, các công ty, tập đoàn đa quốc gia có tiềm năng lớn về tài chính và nắm công nghệ nguồn từ các trung tâm kinh tế lớn của thế giới như Nhật Bản, Hoa Kỳ và EU… để thực hiện những dự án lớn, công nghệ cao hướng vào xuất khẩu, tạo thêm việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, hoàn thiện các hình thức đầu tư, nâng cao khả năng cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài Giảm mạnh, tiến tới xóa bỏ sự phân biệt về chính sách và pháp luật giữa đầu tư trong nước
và đầu tư nước ngoài Cải tiến nhanh các thủ tục hành chính để đơn giản hóa việc cấp phép đầu tư, thực hiện từng bước cơ chế đăng ký đầu tư Tăng cường hỗ trợ và quản lý sau cấp phép, tạo điều kiện cho các dự án đã được cấp phép triển khai có hiệu quả
Trang 25Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp, khu chế xuất và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
1.4 Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới và các địa phương khác ở Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
a Trung Quốc
Đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc đã tăng với vận tốc kỷ lục trong năm
2002 về cả số dự án, số vốn cam kết và thực hiện… Nước này lần đầu tiên vươn tới vị trí dẫn đầu thế giới về tiếp nhận FDI, đẩy Hoa Kỳ xuống hàng thứ hai Tại thời điểm
đó, đã có gần 400 trong tổng số 500 công ty lớn nhất thế giới đã đầu tư vào Trung Quốc, cho thấy sức hấp dẫn mạnh mẽ của mảnh đất này đối với thương nhân toàn cầu Vậy “bí quyết” nào để thu hút FDI mạnh mẽ như vậy? Đó là nhờ có sự thống nhất cao trong quan điểm về FDI không chỉ trong giới lãnh đạo cao cấp, mà còn tới từng địa phương, từng doanh nghiệp thậm chí tới mỗi người dân Mọi giới ở Trung Quốc đều nhận thức rất rõ về vai trò và tầm quan trọng của FDI, từ TW đến địa phương, nơi nào cũng hiểu rằng thu hút FDI là yêu cầu cấp bách để phát triển kinh tế
Hơn nữa Trung Quốc rất nhất quán thực hiện chính sách coi kinh tế là trọng tâm Họ không phân biệt nguồn lực nhà nước, tư nhân hay nước ngoài, miễn là có ích cho sự phát triển của đất nước thì đều được khuyến khích phát huy
3 giai đoạn của FDI ở Trung Quốc:
- 1979 - 1991: Giai đoạn thử nghiệm với các khoản đầu tư quy mô nhỏ Nguồn vốn chủ yếu đến từ cộng đồng Hoa kiều ở nước ngoài Lĩnh vực đầu tư là các ngành cần nhiều lao động
- 1992 - 2000: FDI phát triển đến quy mô lớn, bài bản Bước ngoặt được tạo
ra từ chuyến công du miền Nam của ông Đặng Tiểu Bình Một loạt các chính sách khuyến khích đầu tư (nới lỏng hoạt động tín dụng, cắt giảm thuế, mở cửa một số lĩnh vực nhạy cảm ) Lượng vốn FDI vào Trung Quốc nhảy vọt từ 4,4 tỷ USD năm 1991 lên hơn 10 tỷ USD năm 1992 Năm 2000 con số này là hơn 59 tỷ
- Từ năm 2001: Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, các công ty nước ngoài ''bước hẳn'' vào Trung Quốc Một số lĩnh vực trước đây được mở cửa một cách hạn
Trang 26chế, nay sẽ được mở cửa toàn bộ Tổng vốn FDI năm 2001 đạt khoảng 47 tỷ USD, 8 tháng đầu năm 2002 đạt 34,5 tỷ USD
Về chính sách chung, Trung Quốc huy động vốn FDI thông qua các hình thức như: hợp đồng sản xuất, liên doanh, 100% vốn đầu tư nước ngoài vào các khu vực đặc biệt
Để thu hút được nhiều FDI, chính sách quan trọng mà Trung Quốc áp dụng đó
là chính sách thuế Trung Quốc có một hệ thống thuế áp dụng riêng cho các hình thức
và khu vực đầu tư: hợp tác, liên doanh, 100% vốn nước ngoài và cho 14 thành phố ven biển Các doanh nghiệp liên doanh đóng thuế lợi tức 30% và 10% thêm cho địa phương Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài áp dụng mức thuế lợi tức từ 20 đến 40%
và 10% cho địa phương Tại 14 thành phố ven biển, các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được giảm thuế lợi tức 15% so với các khu vực khác Các liên doanh đầu tư 10 năm trở lên được miễn thuế lợi tức 2 năm kể từ kinh doanh có lãi và được giảm 50% thuế lợi tức cho 3 năm tiếp theo Nếu liên doanh đầu tư vào các vùng khó khăn sẽ được giảm thuế lợi tức tiếp từ 15 đến 30% trong vòng 10 năm Nếu liên doanh có sản phẩm xuất khẩu trên 70% được giảm 50% số thuế hàng năm Nếu doanh nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến được giảm tiếp 50% trong 3 năm so với các doanh nghiệp cùng loại nhưng không có công nghệ cao Nếu đầu tư vào 14 thành phố ven biển trên
10 năm thì miễn thuế 2 năm, giảm thuế 3 năm tiếp theo
Về thuế nhập khẩu, Trung Quốc thực hiện miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng như: máy móc, thiết bị; bộ phận rời, vật liệu được đưa vào góp vốn liên doanh hoặc các máy móc, thiết bị, vật liệu do bên nước ngoài đưa vào để khai thác dầu khí, đưa vào xây dựng, phát triển năng lượng, đường sắt, đường bộ, đưa vào các khu chế xuất và 14 thành phố ven biển; các vật liệu, bộ phận rời nhập để sản xuất hàng xuất khẩu Ngoài ra, Trung Quốc còn miễn thuế xuất khẩu cho các mặt hàng xuất khẩu được sản xuất ở các khu chế xuất và 14 thành phố ven biển
Về thủ tục hành chính, Trung Quốc thực hiện chính sách phân cấp mạnh cho địa phương về thẩm định dự án và cấp giấy phép đầu tư Sau khi có giấy phép đầu tư, các thủ tục liên quan đến triển khai dự án được giả quyết nhanh chóng Thực hiện chính sách “một cửa” để tạo điều kiện thu hút FDI thuận lợi hơn Các vấn đề như giải
Trang 27phóng mặt bằng, cấp điện, nước, giao thông, môi trường được giải quyết dứt điểm với
cơ chế “3 thông, 1 bằng” Nhà nước bỏ tiền ra đền bù, giải tỏa để bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư và đảm bảo cung cấp điện, nước, thông tin liên lạc đến hàng rào công trình
Ngoài các chính sách trên, để thông thoáng hơn, Trung Quốc cho thời hạn hợp đồng kéo dài hơn, có thể lên đến 50 đến 70 năm
Chính nhờ các chính sách thông thoáng và quan điểm thống nhất của các cấp lãnh đạo mà Trung Quốc đã có được những kết quả tốt nhất trong công tác thu hút FDI
b Thái Lan
Chính sách của Chính phủ Thái Lan là khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài hợp tác với các cơ quan nhà nước khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường, ưu tiên thu hút vốn vào các dự án sử dụng nhiều lao động, xuất khẩu sản phẩm, sử dụng nguyên liệu thô của Thái Lan, sản xuất hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu mà trong nước chưa sản xuất được
Tỷ lệ vốn góp liên doanh không bắt buộc, tuỳ khả năng phía nước ngoài góp vốn bao nhiêu cũng được Tuy nhiên, các dự án cho phép bên Thái Lan góp vốn trên 50% thì được Nhà nước Thái Lan cấp chứng chỉ bảo lãnh
Về mức thuế lợi tức, mức 30% áp dụng cho các công ty và đối tác có đăng ký tại thị trường chứng khoán Thái Lan và mức 35% áp dụng cho các đối tác khác Tùy từng dự án mà có thể được miễn giảm thuế lợi tức từ 3 đến 8 năm kể từ khi có lợi tức chịu thuế Như vậy, Chính phủ Thái Lan khuyến khích các đối tác đầu tư vào Thái Lan đặc biệt là các đối tác có đăng ký tham gia vào thị trường chứng khoán Thái Lan
Về thuế nhập khẩu, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được miễn giảm 50% thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu vào Thái Lan áp dụng đối với các mặt hàng mà Thái Lan chưa sản xuất được Được miễn thuế nhập khẩu đối với các nguyên liệu và linh kiện đưa vào để sản xuất và lắp ráp hàng xuất khẩu Các doanh nghiệp được xét giảm 90% thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu nhập khẩu nếu
đó là những mặt hàng mà trong nước chưa sản xuất được
Trang 28Các doanh nghiệp sản xuất hàng nhập khẩu được miễn thuế nhập khẩu vật tư, phụ tùng, các chi tiết tạm nhập, tái xuất, được miễn hoặc giảm thuế lợi tức 5% Các doanh nghiệp trong khu chế xuất được miễn thuế nhập khẩu đối với các vật tư
Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan còn áp dụng việc miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị máy móc cho các dự án đặc biệt và hướng vào xuất khẩu trong tất cả các vùng
và các dự án đầu tư vào vùng III
Về quản lý ngoại hối, nhà đầu tư được chuyển ra nước ngoài các thu nhập, lợi nhuận, nhưng có thể bị hạn chế trong các trường hợp để cân đối tình hình thu – chi ngoại tệ Trong trường hợp hạn chế này thì cũng được chuyển ít nhất 15%/ năm của tổng số vốn đem vào Thái Lan
Việc sở hữu đất đai được quy định riêng cho từng loại công ty Mỗi công ty được sỡ hữu bao nhiêu đất đai do Luật quy định
Đối với công nhân lành nghề, kỹ thuật viên, nhà công nghệ và gia đình họ được phép vào Thái Lan để làm việc và sinh sống do Ủy ban Đầu tư chịu trách nhiệm xem xét, quyết định
Thái Lan rất quan tâm đến việc cải tiến các thủ tục cấp giấy phép, các thủ tục triển khai dự án theo hướng ngày càng dành sự khuyến khích cho các nhà đầu tư nước ngoài
c Malaysia
Trong chiến lược thu hút FDI, Malaysia rất coi trọng vai trò của các công ty xuyên quốc gia, muốn gắn lợi ích của các công ty này với lợi ích của quốc gia Hiện nay có hơn 1000 công ty xuyên quốc gia của hơn 50 nước đang hoạt động tại Malaysia
Chính phủ Malaysia thực hiện chế độ ưu đãi cho một số ngành có quy mô nhỏ, trợ cấp cho các đồn điền, ưu đãi cho doanh nghiệp thuộc loại hình công ty cổ phần hoặc áp dụng công nghệ, kỹ thuật cao
Trang 29Malaysia đã chủ trương miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc thiết bị cho các khu chế xuất và cho các dự án hướng vào xuất khẩu và các dự án sản xuất hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu mà trong nước chưa sản xuất được
Nhà nước đã áp dụng chính sách đào tạo lao động theo yêu cầu của chủ đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động; quy định các nhà chuyên môn, các chuyên gia quản lý, các nhà kỹ thuật đã đóng thuế thu nhập thì không phải trả thuế sử dụng nhân công nước ngoài
Các thủ tục gây phiền hà cho FDI đều được loại bỏ, thay thế vào đó là các thủ tục nhanh, gọn, thông thoáng và có hiệu quả Nhờ thế mà FDI vào Malaysia ngày càng tăng nhanh hơn
d Indonesia
Trước những năm 70 của thế kỷ XX, nền kinh tế của Indonesia rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng, đó là hậu quả của cơ chế quan liêu bao cấp của 15 năm thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung Năm 1967, Indonesia thực hiện chính sách
mở cửa nền kinh tế và công bố Luật Đầu tư nước ngoài Với những thế mạnh của mình
về tiềm năng tài nguyên đa dạng và phong phú, vị trí địa lý thuận lợi, thị trường nội địa rộng lớn, nhân công đông đảo chưa được tận dụng hoặc không có vốn và kỹ thuật
để phát huy thế mạnh, Indonesia đã thu hút được một khối lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và trên thực tế hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã mang lại những kết quả to lớn đối với nền kinh tế của Indonesia
Trong thời gian từ 1967 – 1990, tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Indonesia là 29,5 tỷ USD, tính trung bình hàng năm là trên 1,3 tỷ USD, số lượng các công trình kinh tế kỹ thuật được đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài tăng lên liên tục Quá trình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Indonesia có các đặc điểm cơ bản như:
- Đa dạng hóa quan hệ đầu tư, kết hợp quan hệ có trọng tâm với một số nước và khu vực chủ yếu Ví dụ vào thập kỷ 70, khối lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Mỹ và Nhật Bản vào Indonesia chiếm từ 70 - 80% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Indonesia, trong đó Mỹ là nước đứng đầu về số lượng vốn và dự án đầu tư
Từ thập kỷ 80, vị trí số một được thay thế bằng Nhật Bản Từ năm 1998 trở lại đây,
Trang 30khối lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của EEC vào Indonesia đã tăng lên đáng
án có hàm lượng kỹ thuật cao
Qua thực tế tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Indonesia chúng ta thấy các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành bộ phận hữu cơ trong quá trình thúc đẩy tốc độ tăng trưởng và củng cố cơ sở hạ tầng của Indonesia Nền kinh tế Indonesia trước khi thực hiện chính sách mở cửa và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có tốc độ tăng trưởng chậm, chỉ đạt trung bình 3%/ năm Thu nhập quốc dân bình quân là 100 USD/người vào năm 1964 Sau khi thực hiện chính sách mở cửa và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, nền kinh tế Indonesia được coi như “Người khổng lồ ở Đông Nam Á đang ngủ đã tỉnh dậy, trở thành một quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế nhanh”
1.4.2 Kinh nghiệm của các địa phương ở Việt Nam
a Thành phố Hồ Chí minh
Chỉ trong vòng 10 năm, từ năm 1987 đến năm 1997, đã có 834 dự án được cấp giấy phép đầu tư vào thành phố Hồ Chí Minh với tổng số đầu tư là 11.161 triệu USD chiếm 39,8% về số dự án và 36,1% tổng vốn đầu tư của cả nước
Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương sớm thu hút được đầu tư nước ngoài so với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước do có những ưu thế tương đối về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội và kinh tế
Nhịp độ thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào thành phố có xu hướng chung là năm sau cao hơn năm trước, nhưng tốc độ tăng không đều, chưa ổn định Những năm
Trang 31gần đây cùng với xu hướng chung của cả nước, đầu tư nước ngoài vào thành phố Hồ Chí Minh đang tăng ổn định nhưng không nhanh
Trong cơ cấu đầu tư, có những ngành phát triển nhanh là địa ốc, sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải và bưu điện Dự án hạ tầng xã hội có mức thu hút chưa cao, chỉ có 16 dự án/ tổng số 834 dự án
Hiện có các doanh nghiệp của gần 30 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào thành phố, trong đó các nước châu Á chiếm 63% tổng vốn FDI đầu tư vào thành phố Đối tác của bên Việt Nam tham gia hợp tác đầu tư với nước ngoài chủ yếu là các doanh nghiệp của nhà nước; trong đó, phần vốn góp của phía Việt Nam trong vốn pháp định của liên doanh chủ yếu là giá trị quyền sử dụng đất Chỉ có 82 dự án, chiếm 9,8% tổng số dự án
và 205 triệu USD vốn đầu tư, chiếm 1,8% tổng vốn đầu tư là từ các thành phần kinh tế khác
Về hình thức đầu tư, liên doanh chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số dự án được cấp giấy phép, chiếm 60% về dự án và 73% về tổng vốn đầu tư Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh có số dự án không đáng kể, bình quân khoảng 5 dự án/năm,
và chưa có vai trò gì đáng kể trong nền kinh tế Hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài, giai đoạn 1988 - 1991 có số lượng không đáng kể, sau đó tăng dần và xu huớng ngày càng phát triển
Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nơi dẫn đầu trong cả nước trong việc thu hút đầu tư nước ngoài theo hình thức BTO và triển khai các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung
Sở dĩ thành phố Hồ Chí Minh đạt được những thành tựu như thế là vì:
Thứ nhất, do có định hướng và quy hoạch thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài khá sớm và tương đối bài bản
Thứ hai, do có chính sách khá toàn diện và có sức thu hút đối với các nhà đầu tư
nước ngoài Tuy nhiên thiết kế các chính sách còn trải đều và chưa có thứ tự ưu tiên rõ ràng
Thứ ba, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có môi trường đầu tư khá thuận lợi, là
trung tâm kinh tế - văn hoá của cả nước, gần cảng biển, có hệ thống cơ sở hạ tầng phát
Trang 32triển, có nguồn nhân lực dồi dào với năng lực và tay nghề khá cao, có tác phong công nghiệp
Thứ tư, các đối tác bên Việt Nam của thành phố có điều kiện tương đối khá về
vốn và trình độ quản lý so với các tỉnh, thành khác trong cả nước
b Tỉnh Bình Dương
Bình Dương được chia tách từ tỉnh Sông Bé từ ngày 01 tháng 01 năm 1997, là một tỉnh đất hẹp, chỉ bằng 1/3 tỉnh Bình Phước, dân ít, kinh tế nông nghiệp và tiểu nông nghiệp là chủ yếu Tuy nhiên, những năm gần đây Bình Dương đã có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất khu vực phía Nam và của cả nước, với cơ cấu theo hướng công nghiệp 55%, dịch vụ 26% và nông nghiệp là 19%
Một trong những yếu tố giúp Bình Dương phát triển kinh tế nhanh chóng là nhờ thu hút được nhiều đầu tư nước ngoài để tạo ra nhiều việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Hiện nay Bình Dương đã sánh vai với thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Hiện nay, Bình Dương đã quy hoạch 17 khu công nghiệp tập trung với diện tích hơn 6.200 ha, có hơn 1000 doanh nghiệp trong nước và 1.842 dự án đầu tư nước ngoài hoạt động với số vốn đầu tư là hơn 4000 tỷ đồng và 11,4 tỷ USD Trong quý I/2009, tuy bị ảnh hưởng khó khăn bởi suy thoái kinh tế thế giới nhưng Bình Dương vẫn thu hút thêm 314,7 triệu USD vốn của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trong
đó có 21 dự án đầu tư mới với tổng vốn 206,4 triệu USD
Đạt được kết quả nêu trên là do tỉnh đã thuyết phục các nhà đầu tư bằng chính sách “Trải chiếu hoa đón các nhà đầu tư nhằm công nghiệp hoá, hiện đại hoá”; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển đầu tư; giải quyết kịp thời những vướng mắc phát sinh thuộc thẩm quyền của tỉnh và kiến nghị kịp thời lên TW giải quyết những ách tắc thuộc về cơ chế chung; hướng dẫn chi tiết các doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài về các thủ tục thành lập, đăng
kí kinh doanh một cách công khai, nhanh chóng và thuận lợi, tạo được sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước
Trong các hội nghị của tỉnh, và các Sở, ban, ngành những vấn đề có liên quan đến doanh nghiệp đều tham khảo, lấy ý kiến của các loại hình doanh nghiệp trong
Trang 33nước và đầu tư nước ngoài, vừa tạo điều kiện để phát triển sản xuất kinh doanh, vừa đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động, của doanh nghiệp, của nhà nước cũng như của địa phương
Để thu hút được vốn đầu tư nước ngoài nhiều hơn nữa, UBND tỉnh Bình Dương một mặt tạo các điều kiện để các doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài hoạt động có hiệu quả; kiến nghị nhà nước khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật về kinh tế nhằm tạo môi trường pháp lý đồng bộ, thông thoáng, ổn định cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; mặt khác giảm thiểu các thủ tục hành chính phiền hà cho doanh nghiệp; đẩy nhanh thời gian xem xét cấp giấy phép đầu tư dưới 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đối với các
dự án thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của tỉnh và dưới 20 ngày đối với các dự án cần xin ý kiến của các Bộ, Ngành TW, các nhà đầu tư chỉ phải nộp 1 bộ hồ sơ xin cấp phép đầu tư theo quy định của Chính phủ; quy định cho nhà đầu tư phải có trách nhiệm quan tâm chăm lo đời sống của công nhân lao động theo đúng quy định của pháp luật; tập trung đào tạo nghề, ý thức tổ chức kỷ luật cho người lao động, đồng thời giải quyết kịp thời các tranh chấp lao động xảy ra, xử lý nghiêm các trường hợp xúc phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm của người lao động Bình Dương còn áp dụng mới
về giá thuê đất nhằm tăng cường sức cạnh tranh trong khu vực; thành lập trung tâm chuyển đổi ngoại tệ; khuyến khích đầu tư công nghệ cao, ít ô nhiễm môi trường; cho phép đầu tư các máy móc, thiết bị đã qua sử dụng còn khoảng 80 - 90% so với chất lượng nguyên thuỷ, nhưng công nghệ thuộc thế hệ mới
Bình Dương còn cải tiến thủ tục cấp giấy phép xây dựng và lập hồ sơ thuê đất; quy định thời gian để Sở Xây dựng và Sở Địa chính thực hiện xong thủ tục này tối đa
là 15 ngày, kể từ khi nhận đủ hồ sơ (được niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của các cơ quan này) Phòng Ngoại vụ trực thuộc Văn phòng UBND tỉnh là đầu mối tiếp nhận và giải quyết thủ tục cấp visa cho người nước ngoài (không hạn chế số lượng) đến làm việc tại Bình Dương với thời gian làm thủ tục là 5 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ
sơ
Trang 34Ngoài ra tỉnh còn tập trung xây dựng nâng cao cơ sở hạ tầng như nâng cấp đường, mở rộng mạng lưới cung cấp điện, phát triển bưu chính viễn thông và hệ thống cấp nước sạch
Đa số các ý kiến cho rằng, nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến sự thành công trong lĩnh vực thu hút FDI của tỉnh chính là do Bình Dương đã biết cách thu hút và sử dụng tốt nhân tài, xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực công tác trong lĩnh vực quản lý nhà nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
ta nói chung cũng như Thành phố Hải Phòng nói riêng, công tác đầu tư nước ngoài ở Hải Phòng có nhiều tiến bộ
Từ năm 1989 - 1997, Thành phố Hải Phòng đã thu hút được 86 dự án đầu tư nước ngoài, với tổng số vốn đầu tư là 1.495 triệu USD, trong đó riêng 2 năm 1996 -
1997 có hơn 30 dự án đầu tư, với tổng số vốn đầu tư trên 420 triệu USD, tăng bình quân năm so với thời kỳ này là 23,7%
Đầu tư nước ngoài tại Hải Phòng là một trong những giải pháp quan trọng để giải quyết khó khăn về vốn đầu tư cho thành phố; đẩy nhanh quá trình ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; ứng dụng phương pháp quản lý mới; giải quyết việc làm cho người lao động; mở rộng công tác xuất, nhập khẩu
Cơ cấu thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đã ngày càng phù hợp hơn với mục tiêu và định hướng đặt ra là tăng tỷ trọng đầu tư vào công nghiệp và cơ sở hạ tầng, thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 35Về ngành nghề của các dự án đang hoạt động thì lĩnh vực công nghiệp chiếm 58,6% số dự án và 54% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực hạ tầng chiếm 4,3% số dự án và chiếm 24% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực dịch vụ du lịch chiếm 18,6% về dự án và chiếm 15% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực thương mại chiếm 10% về số dự án và 5% về tổng số vốn đầu tư; lĩnh vực vận tải chiếm 8,6% về số dự án và chiếm 2% tổng vốn đầu tư
Về hình thức đầu tư, dự án liên doanh chiếm 77,1% về số dự án và 94,81% tổng
số vốn đầu tư; dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài, chiếm 20% về số dự án và 3,89% tổng vốn đầu tư; hợp đồng hợp tác kinh doanh chiếm 2,9% về số dự án và chiếm 1,3% tổng vốn đầu tư
Trong 2 năm 1998 - 1999, cùng với cả nước đầu tư nước ngoài tại thành phố Hải Phòng có xu hướng chững lại và bắt đầu giảm sút, như vậy mục tiêu mỗi năm Hải Phòng thu hút khoảng 250 triệu USD trở lên sẽ khó thực hiện hơn
Bài học mà thành phố Hải Phòng rút ra được là phải giảm bớt các thủ tục phiền
hà, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư; xây dựng nhiều khu chế xuất mới, khu công nghiệp, khu công nghệ cao; tích cực tạo điều kiện thuận lợi về đất đai, cơ chế, chính sách… cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động
d Tỉnh Kon Tum
Kon Tum có tổng diện tích gần 10.000 km2, có đường biên giới giáp Lào và Campuchia, không xa khu vực trọng điểm kinh tế miền Trung, có vị trí đầu mối giao lưu kinh tế trong nước và quốc tế Về đường bộ, Kon Tum có quốc lộ 14 đi Đà Nẵng dài 270 km; quốc lộ 14, 19 đi Quy Nhơn dài 240 km; quốc lộ 24 đi Dung Quất dài 200 km; quốc lộ 40 từ Ngọc Hồi đến trung tâm tỉnh Atopư (Lào) dài 120 km; quốc lộ 14 chạy dọc ba tỉnh Kon Tum - Gia Lai - Đăk Lăk đến các tỉnh miền Đông Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh Kon Tum có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng; tiềm năng và lợi thế của tỉnh là rừng, đất rừng, cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày, chăn nuôi đại gia súc, khoáng sản, vật liệu xây dựng, tài nguyên nước
Theo quy hoạch năm 2000 - 2010, quỹ đất nông nghiệp sẽ đưa vào sử dụng là 130.000 đến 150.000 ha, trong đó cao su là 60.000 ha, cà phê 15.000 ha, mía 5000 ha Rừng Kon Tum đa số là rừng nguyên sinh, độ che phủ tự nhiên cao 61% Tài nguyên
Trang 36rừng phong phú với nhiều loại lâm đặc sản, động thực vật và dược liệu quý hiếm, trữ lượng gỗ khoảng 60 triệu m3, lồ ô, tre, nứa khoảng 1 tỷ cây Kon Tum có khả năng phát triển công nghiệp chế biến lâm sản, giấy và xenlulô, khai thác các loại khoáng sản quý hiếm như vàng, bôxit, mangan, đá quý, phát triển thuỷ điện
Hội đủ các tiềm năng, thế mạnh, tuy nhiên Kon Tum vẫn chưa thu hút được nhiều các dự án đầu tư nước ngoài Kết quả này còn khiêm tốn do nguyên nhân chủ yếu là công tác lãnh đạo và quản lý nhà nước trong lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài còn hạn chế, chưa được quan tâm đúng mức
***
Từ bài học kinh nghiệm của các quốc gia trong khu vực và một số tỉnh, thành phố trong nước đã rút ra, ta nhận thấy rằng có những điểm tương đồng với Đà Nẵng Hầu hết ở những nơi đó đều có tiềm năng rất lớn để thu hút đầu tư và phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tuy nhiên mỗi quốc gia, mỗi khu vực cũng như mỗi tỉnh, thành phố đều có những biện pháp riêng của mình để thu hút đầu tư Nhưng nhìn chung các quốc gia, các tỉnh, thành phố đều có một thành công chung là nhờ công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực trên
Đà nẵng có được những lợi thế như thế, nhưng để đạt được hiệu quả cao hơn nữa trong công tác thu hút đầu tư và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thì Đà Nẵng cần có chính kiến riêng của mình, dựa vào thực lực tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, cơ chế quản lý cũng như nguồn nhân lực… để từ đó có những biện pháp riêng mang tính đột phá riêng của Đà Nẵng Bên cạnh đó cũng luôn quan tâm đến công tác quản lý nhà nước về thu hút đầu tư, kinh tế đối ngoại và thành phần kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài, có như thế, thì công tác QLNN sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất để thu hút đầu tư và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 37Tiểu kết chương 1
Với nội dung khái quát chung về đầu tư trực tiếp, thu hút đầu tư trực tiếp và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và quản lý nhà nước đối với các nội dung nêu trên, chương I đã đưa ra được những vấn đề cơ bản về đầu tư trực tiếp, thu hút đầu tư và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm các khái niệm thuộc phạm trù đầu tư trực tiếp, các hình thức đầu tư trực tiếp… Bên cạnh đó, chương I đã đưa ra các khái niệm về quan điểm, định hướng cũng như cơ sở pháp lý đồng thời nêu các quan điểm, định hướng, cơ sở pháp
lý và tổ chức bộ máy nhà nước (ở TW và địa phương) quản lý các vấn đề liên quan đến thu hút đầu tư và các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ngoài ra, chương I còn khái quát được sự cần thiết của công tác QLNN đối với các lĩnh vực kể trên và nêu được kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới và một
số địa phương trong nước về lĩnh vực đầu tư, thu hút đầu tư và quản lý doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nắm được nội dung của chương này sẽ giúp nhận thức đúng đắn và đầy đủ về đầu tư trực tiếp, thu hút đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ đó ta có thể khẳng định rằng công tác QLNN đối với việc thu hút FDI và các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là tất yếu
Chương I là cơ sở cho việc phân tích tình hình thu hút đầu tư trực tiếp và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và thực trạng quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực trên Từ đó đánh giá một cách chính xác những thành tựu đạt được; những hạn chế, yếu kém trong công tác QLNN đối với thu hút đầu tư và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cùng những nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém đó
Trang 38Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Những nhân tố tác động đến quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Diện tích
Đà Nẵng có diện tích 1.256,53 km² trong đó các quận nội thành chiếm 213,05 km², các huyện ngoại thành chiếm 1.042,48 km² Đà Nẵng hiện nay có 6 quận nội thành là Hải Châu, Thanh Khê, Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Cẩm Lệ; hai huyện ngoại thành là Hoà Vang và huyện đảo Hoàng Sa
c Địa hình
Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng duyên hải, vừa có đồi núi Vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp
Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700 - 1.500 m, độ dốc lớn (>400 m), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường
Trang 39sinh thái của thành phố Trong đó có một số đồi núi phát triển du lịch nhanh như: Ngũ Hành Hơn, Bà Nà, các bãi (Bãi Bụt, Bãi Rạng…)…
Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, quân sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố
Trang 40Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9°C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8; trung bình 28 - 30°C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2; trung bình 18 - 23°C Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20°C
Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%; cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình 85,67 - 87,67%; thấp nhất vào các tháng 6, 7, trung bình 76,67 - 77,33%
Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm; lượng mưa cao nhất vào các tháng 10,11, trung bình 550 - 1.000 mm/ tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4, trung bình 23 - 40 mm/ tháng
Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trung bình từ 234 - 277 giờ/ tháng; ít nhất là vào tháng 11, 12, trung bình từ 69 - 165 giờ/ tháng
e Sông ngòi
Sông ngòi của Đà Nẵng không nhiều, thường ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc và tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng có các sông như sông Hàn, sông Cu Đê, sông Cố Cò
Trong đó có con sông Hàn chảy dài và cắt ngang trung tâm thành phố tạo nên đôi bờ sông Hàn duyên dáng chạy dọc cùng đường Bạch Đằng Đông và Tây, bên cạnh
đó là cầu quay Sông Hàn - niềm tự hào của ngưòi dân Đà Nẵng - đã tạo nên nét đẹp ấn tượng hơn cho thành phố Đà Nẵng lúc về đêm
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a Dân số
Đà Nẵng là một thành phố trung tâm của khu vực miền trung, tuy nhiên do hạn chế về diện tích nên dân số không cao so với các tỉnh, thành phố trong cả nước, và tập trung nhiều ở các vùng nội thành là chủ yếu (được thể hiện ở bảng 2)
Đà Nẵng có nguồn nhân lực dồi dào (nguồn lao động chiếm 58% dân số thành phố) Nguồn lao động này chủ yếu là trẻ, khoẻ Số lao động có chuyên môn kỹ thuật
và đã qua đào tạo chiếm gần một phần tư lực lượng lao động Chi phí lao động ở Đà Nẵng thấp hơn so với một số thành phố khác trong nước
Đà Nẵng là một trong những tỉnh, thành trong cả nước có chỉ số phát triển giáo dục cao với hệ thống giáo dục khá hoàn chỉnh, tạo nền tảng thuận lợi và vững chắc