Thành tựu chọn giống đột biến lúa ở một số quốc gia tiêu biểu ở Trung Quốc và Đài Loan, hai giống lúa lùn đầu tiên được tạo ra ở Đài Loan năm 1957, một giống thông qua sử dụng trực tiếp
Trang 1lùn hay siêu lùn (extra dwarf)
Trong đó, các thể đột biến bán lùn thường gắn chặt với khả năng chống đổ và kiểu cây cũng như thích nghi với chế độ phân đạm cao, nên chúng có tiềm năng năng suất cao Vì vậy, việc gây tạo các thể đột biến bán lùn luôn là mục tiêu quan trọng trong chương trình chọn giống đột biến lúa Nhiều nghiên cứu cho thấy hầu hết các giống hay dòng bán lùn đều có chứa cùng một gen bán lùn bắt nguồn chủ yếu từ giống bán lùn địa phương Đài Loan có tên Dee - geo - woo - gen (DGWG)
Điều đáng nói ở đây là, việc chấp nhận sử dụng rộng rãi cùng một gen bán lùn như vậy có thể đưa lại hậu quả xói mòn di truyền, làm giảm tính
đa dạng di truyền vốn có ở cây lúa Từ quan điểm này, nhu cầu về khai thác sử dụng các nguồn đa dạng về tính bán lùn được nhấn mạnh (IAEA, 1982; Maluszynski và cs, 1986) Công cuộc tìm kiếm các gen bán lùn mới
không alen với gen sd-1 được tiếp diễn theo hai hướng: (1) thu thập bảo
tồn và đánh giá quỹ gen; và (2) phát hiện các gen bán lùn mới bằng phương pháp đột biến
6 Một số thành tựu của phương pháp chọn giống đột biến trên thế giới và
ở Việt Nam
Thành tựu chọn giống đột biến lúa trên thế giới
Gần đây, theo số liệu của FAO/IAEA, tính đến 12/1997, trên toàn thế giới đã có 1847 giống đột biến, trong đó có 1357 giống cây trồng và 490 giống cây cảnh Trong số 1357 giống cây trồng các loại thì riêng lúa có
333 giống, trong đó 67,6% được phát triển trực tiếp từ các thể đột biến và 32,4% qua lai tạo Trong tốp 7 nước đứng đầu về số giống lúa đột biến, Việt Nam xếp thứ bảy (Maluszynski và cs, 1998)
Thành tựu chọn giống đột biến lúa ở một số quốc gia tiêu biểu
ở Trung Quốc và Đài Loan, hai giống lúa lùn đầu tiên được tạo ra ở Đài Loan năm 1957, một giống thông qua sử dụng trực tiếp thể đột biến
là Shuang Chiang 30 - 21 và giống LH1 qua chọn giống lai giữa thể đột biến này với Taichung Native 1 (Hu, 1986) Trường hợp thành công nhất trong số các giống đột biến với tính chín sớm nhờ cải tiến là Yuangfen Zao, được phóng thích năm 1971 Từ năm 1985 đến nay, nó được xếp vào một trong số ba giống lớn nhất ở Trung Quốc, được trồng trên 1 triệu hecta dọc theo Dương Tử Giang (Ukai, 1997) Một giống chín sớm nổi tiếng khác là Zhefu 802 được trồng trên 1.400.000 ha năm 1989 Trung Quốc luôn là nước đứng đầu về số lượng các giống lúa và cây trồng đột biến
Ở Nhật Bản, các dòng đột biến Sakai 64 và Fukei 53 được tạo ra đầu
Trang 2tiên trong các năm 1958 và 1959, sau đó là Sakai 65 và Fukei 54 Từ năm
1966, Futsuhara và cs cho phóng thích giống lúa đột biến đầu tiên ở Nhật
là giống bán lùn Reimei bắt nguồn từ Fujiminori do chiếu xạ gamma Giống nổi tiếng này được trồng ở miền Bắc, trên diện tích 1.410.000ha năm 1969 Hơn nữa, nó cũng được sử dụng làm bố mẹ rất thành công trong các chương trình chọn giống lai Theo Sato (1982, 1983), trong số 9 giống được tạo ra bằng cách này, đáng kể nhất là giống Akihikari (=Reimei x Toyonisiki) được trồng tới 136.375 ha năm 1970, xếp hàng thứ tư về diện tích trồng trọt ở Nhật
Ấn Độ là quốc gia đứng hàng thứ nhì trong top 6 nước dẫn đầu về số lượng giống cây trồng đột biến, và hàng thứ ba về số lượng giống lúa đột biến Mặc dù chưa có giống lúa đột biến nào đạt mức kỷ lục như Reimei, Zhefu 802 nhưng sự thành công trong chọn giống lúa đột biến và lai tạo giống năng suất cao ở nước này đạt được trong những năm 1970 đến nay rất to lớn
Gần đây, nhờ sự giúp đỡ tích cực của chương trình chọn giống đột biến từ IAEA, sự nghiên cứu cải tiến giống lúa ở nhiều quốc gia châu Á và
Mỹ La tinh đã đạt được những tiến bộ đáng kể
Ơ nước ta, những nỗ lực nghiên cứu theo hướng này, theo các tác giả
Lê Duy Thành và Trịnh Bá Hữu (1986), được bắt đầu từ 1966 ở Bộ môn
Di truyền, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội) và sau đó mở rộng sang các đơn vị khác như: Trung tâm Di truyền Nông nghiệp (nay là Viện Di truyền Nông nghiệp), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, Viện Cây Lương thực và Thực phẩm, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội và Viện Khoa học -
Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam
Một số công trình khoa học có giá trị trong lĩnh vực này đã góp phần xác định tính quy luật của PSĐB ở giai đoạn tiền phôi, cơ chế phân tử của quá trình đột biến, hiệu quả của các tác nhân gây đột biến lên tần sốvà các phổ đột biến ở lúa cũng như nghên cứu và sử dụng PSĐB thực nghiệm trong chọn giống lúa Kết quả là, cho đến nay đã có hàng chục giống cây trồng mới được tạo ra bằng phương pháp đột biến Chẳng hạn, ở ngô có DT6 và DT8; ở đậu tương có M103, V48, DT84, DT90, DT95 ; ở cây lạc
có V79, 4329, DT322, DT329
Đối với cây lúa, bằng phương pháp gây đột biến, nhiều giống mới đã được tạo trong một thập kỷ qua Chẳng hạn, bằng cách xử lý DMS các thể tái tổ hợp thu được từ các tổ hợp lai (Xuân số 2 x 2765) và (NN8 x Xuân
số 2), GS.VS.Vũ Tuyên Hoàng và cs đã tạo ra các giống Xuân số 5 và Xuân số 6 Các giống này được phóng thích năm 1991 (Trần Đình Long,
Trang 3cs, 2000) Sau đó, DT10 được dùng làm mẹ để lai với CR203 và kết quả là chọn tạo được giống DT13 (Bùi Huy Thuỷ và Trần Duy Quý, 1999) Bằng phương pháp chiếu xạ tia γ 20 krad, các giống DT33 và CM1 đã được tạo
ra và phóng thích năm 1994 và 1999 Giống A20 được phóng thích năm
1993 là kết quả của xử lý NMU 0,015% và chọn giống lai giữa các thể đột biến thu được (H20 x H30) Giống này có đặc tính thấp cây, kháng rầy, chịu khô hạn và đất phèn Nhờ sử dụng A20 làm mẹ trong chọn giống lai, Bùi Huy Thuỷ và Trần Duy Quý đã chọn được các giống có triển vọng DT16 và DT17 Kết hợp chiếu xạ tia γ và lai hữu tính, sau nhiều thế hệ chọn lọc, Nguyễn Văn Bích và Trần Duy Quý đã tạo được các giống nếp mới DT21 và DT22 cho năng suất cao, chất lượng tốt
Bằng chứng sinh động và hiệu quả của việc chiếu xạ tia γ 15 krad vào hạt nảy mầm ở thời điểm 69 giờ là sự biến mất tính cảm quang ở các giống lúa Tám thơm Hải Hậu, Tài nguyên đục và Tép Hành Nhờ vậy, các thể đột biến tạo ra có thể trồng hai vụ trong năm Cụ thể "Tám thơm đột biến" (giống quốc gia năm 2000) hoàn toàn mất cảm quang, có TGST ngắn hơn nhưng vẫn giữ được mùi thơm, chịu rét và cho năng suất tương đương giống gốc Hơn nữa, giống này có khả năng thích ứng rộng (Nguyễn Minh Công và cs, 1999; Đỗ Hữu Ât và cs, 2000), "Tép hành đột biến" (giống quốc gia năm 1999) có nhiều ưu điểm như mất cảm quang, TGST
và chiều cao cây đều rút ngắn gần 50% của giống gốc nhưng năng suất cao gấp đôi "Tài nguyên đột biến" (giống quốc gia năm 1997) có nhiều ưu điểm nổi bật so với Tài nguyên đục cũng được tạo ra bằng cách trên
Tóm lại, tình hình nghiên cứu và chọn giống đột biến lúa ở nước ta trong 10 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn Việt Nam được IAEA/FAO xếp vào một trong bảy quốc gia đứng đầu thế giới về số lượng giống lúa đột biến và đứng thứ tư trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương (sau Trung Quốc, Nhật Bản và ấn Độ), với 40 giống bao gồm: lúa-
27, ngô-2, lạc-2 đậu tương-5, cà chua-2 và táo-2 (Trần Duy Quý, 1997) Trong sự tiến bộ vượt bậc ấy, Viện DTNN đóng góp thật đáng kể, với 17 giống lúa và hơn 8 giống cây trồng khác được tạo ra bằng phương pháp đột biến Với kết quả đó, từ 1995 đến nay, nước ta trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội Chọn giống Đột biến ở Khu vực Châu Á mà Viện
Trang 4DTNN là cơ quan đầu mối Điều này khẳng định hướng đi đúng đắn và có hiệu quả trong lĩnh vực khoa học này
Tài liệu Tham khảo
Tiếng Việt
Nguyễn Văn Hiển (chủ biên, 2000): Chọn giống cây trồng NXB Giáo
Dục, Hà Nội
Trần Đình Long (chủ biên, 1997): Chọn giống cây trồng (Giáo trình cao
học nông nghiệp) NXB Nông Nghiệp, Hà Nội
Trần Duy Quý (1997): Các phương pháp mới trong chọn tạo giống cây trồng NXB Nông Nghiệp
Lê Duy Thành (2000): Cơ sở di truyền chọn giống thực vật NXB KH &
KT, Hà Nội
Tiếng Anh
Chopra, V.L (Ed., 1989): Plant Breeding: Theory and Practice Oxford &
IBH Publishing Co PVT, Ltd
Falconer D.S and Mackay T.F.C (1996): Introduction to Quantitative
Genetics 4th edn Longman Group, Harlow
Hayward MD, N.O Bosemark, I Ramagosa, Coordinating ed M.C
Cerezo (1994): Plant Breeding: Principles and Prospects 2nd ed Chapman & Hall, Inc., London
Matsuo Y., Futsuhara F., Kikuchi F., Yamaguchi H (Eds., 1997): Science
of The Rice Plant, Volume Three: Genetics FAPRC, Tokyo, Japan
Murray, D.R (1991): Advanced Methods in Plant Breeding and Biotechnology C-A-B International Publisher, London
Trang 5Chương 8
Lai Tế bào Soma
I Vấn đề lai ghép ở thực vật
Lai ghép hay là lai dinh dưỡng từ lâu đã được thực hiện ở thực vật và
có ý nghĩa trong thực tiễn trồng trọt các cây ăn trái, cây cảnh …Lai dinh dưỡng bằng ghép là lai soma, nhưng thực chất thì cây lai dinh dưỡng là một loại cơ thể khảm vừa mang các tế bào và mô của gốc ghép và cành ghép Giữa các tế bào của mô gốc ghép và cành ghép có thể có sự trao đổi thông tin điều chỉnh sự trao đổi chất tạo cho cành ghép có một số tính chất của gốc ghép, nhưng không xảy ra sự hợp nhân Vì vậy các tính trạng trung gian chỉ có ở thế hệ cành ghép, khi đem gieo các hạt của cành ghép thì thế hệ sau không còn có tính trạng trung gian vì hạt được hình thành từ
hệ gene của cành ghép
Khác với tế bào động vật, tế bào thực vật có thành tế bào là lớp bao ngoài cùng Thành tế bào gồm cellulose, hemicellulose và pectin Nếu thành tế bào bị tách bỏ, tế bào thực vật chỉ còn lớp màng sinh chất bọc ngoài gọi là tế bào trần hay protoplast Khi các protoplast tiếp xúc nhau thì chúng có thể hợp nhất lại làm một
Vì tế bào thực vật có thành tế bào, nên trước đây trong môt thời gian dài,người ta cho rằng kỹ thuật dung hợp protoplast chỉ giới hạn ở các tế bào động vật Mãi cho đến năm 1960, sau những nghiên cứu thành công của Cocking với việc dung một hỗn hợp các enzyme để tách bỏ thành tế bào thực vật, thì kỹ thuật dung hợp protoplast mới được áp dụng ở thực vật Tuy nhiên, nó chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ và có xu hướng được ứng dụng trong chọn giống chỉ sau khi các kết quả nghiên cứu về việc tái sinh hoàn chỉnh cây thuốc lá từ protoplast của Takebe (1971) và việc tái
sinh cây thuốc lá lai do dung hợp protoplast giữa 2 loài N tabacum và N langsdorffi của Carlson (1972)
II Đại cương về lai tế bào soma và công nghệ tế bào thực vật
Tế bào thực vật khác biệt với tế bào động vật về nhiều đặc tính trong
đó có đặc tính là tế bào thực vật có thành cellulose bao quanh (cell wall) sau đó đến màng nguyên sinh (membrane) Thành cellulose giữ cho tế bào thực vật có hình dáng nhất định, còn các hợp chất pectin nằm trong thành
có nhiệm vụ liên kết gắn các tế bào với nhau thành mô Màng nguyên sinh cho phép protoplast có thể hấp thu vào tế bào các đại phân tử (acid nucleic, protein) thậm chí cả các cơ quan tử như lục lạp, ty thể Nếu để các
Trang 6protoplast cạnh nhau, chúng có thể hòa làm một, đó là hiện tượng dung hợp tế bào Nếu các protoplast có nguồn gốc từ các tế bào soma thuộc các giống, loài hoặc chi dung hợp lại thì có thể dẫn đến hiện tượng lai tế bào soma
Sự ra đời của kỹ thuật protoplast cho phép tạo ra những tái tổ hợp di truyền giữa các đơn vị phân loại xa (loài hay chi) mà mà bằng phương pháp lai hữu tính khó hoặc không thể đạt được Trong quá trình dung hợp, bên cạnh sự kết hợp của các genome nhân, còn có thể xảy ra sự hợp nhất
tế bào chất giữa các protoplast Nhờ vậy, một số tính trạng do các gene trong tế bào chất kiểm soát như tính bất thu, có thể chuyển từ cây này sang cây khác nhờ kỹ thuật này
III Phương pháp tạo tế bào trần
Có một số phương pháp phân lập protoplast sau đây:
từ các tế bào không bào hóa cao của các mô dự trữ như chồi hành (bulbs)
và vảy hành (scales) của các loài thân hành, rễ củ cải, vỏ quả giữa của dưa chuột và rễ củ cải đường
2 Phương pháp sử dụng enzyme
Phương pháp này có hiệu quả cao hơn rất nhiều so với phương pháp
cơ học Phương pháp enzyme cho phép tách được hàng gram protoplast
Do vách tế bào có thành phần gồm pectin, cellulose, hemicellulose, nên sử dụng enzyme pectinase, cellulase, hemicellulase để phân hủy lớp vỏ tạo tế bào trần Tùy theo loại mô và cây được sử dụng, người ta thay đổi nồng độ enzyme thích hợp Protoplast thực chất là tế bào trần không có thành nên
có thể tách được từ nhiều nguồn khác nhau như các bộ phận của cây (lá,
rễ, hạt phấn …), callus, tế bào đơn,…
Để protoplast không bị vỡ sau khi thành cellulose bị phân hủy, phải
bổ sung những chất tăng áp lực vào dung dịch enzyme để duy trì thẩm thấu giữa nội bào và môi trường bên ngoài
Trang 7Hình 8.1 Protoplast thuốc lá
IV Liên kết và dung hợp tế bào trần
1 Dung hợp protoplast và lai vô tính tế bào thực vật
1.1 Xử lý bằng NaNO3
Năm 1970, Power và cs Đã dung NaNO3 (0,25 M) kích thích dung hợp hai protoplast Carlson và cs (1972) cũng dung phương pháp này để
sản xuất cây lai đầu tiên (Nicotiana glance × N langsdorffii) Tuy nhiên
phương pháp này cho hiệu suất thấp vì NaNO3 không thích hợp với tế bào
bị không bào hoá mạnh như protoplast từ nhu mô lá
1.2 Xử lý bằng PEG
Tác nhân kích thích dung hợp là PEG (polyethylene glycol) Nồng độ
và trọng lượng phân tử của PEG quyết định sự thành công của thí nghiệm dung hợp PEG có trọng lượng phân tử thấp (<100) không thể tạo ra một
sự dính chặt chắc chắn, trong khi PEG trọng lượng phân tử 6000 cho hiệu quả dung hợp cao hơn Xử lý PEG cùng với pH/Ca2+ có hiệu quả tăng tần
số dung hợp và khả năng sống sót của protoplast PEG có hai tác dụng: hoặc cung cấp cầu nối để Ca2+ có thể liên kết các bề mặt màng với nhau hoặc dẫn đến sự rối loạn điện tích bề mặt màng trong suốt quá trình rửa giải
1.3 Dung hợp bằng điện
Phương pháp này đơn giản hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn dung hợp bằng hóa chất Điều quan trọng hơn cả là dung hợp bằng điện không gây độc đối với tế bào như thường tìm thấy ở các protoplast hoặc các thể dị nhân được xử lý bằng PEG
Senda và cs (1979) là những người đầu tiên nghiên cứu theo hướng dung hợp bằng điện ở Rauwolfia Sau đó Zimmermann và Scheurich
Trang 8(1981) cũng đã chứng minh rằng các protoplast có thể dung hợp bằng điện trường và đưa ra một protocol có thể sử dụng rộng rãi Quá trình dung hợp bao gồm hai bước: Đầu tiên các protoplast được đưa vào một ngăn dung hợp nhỏ có 2 dây kim loại song song với nhau đóng vai trò là các điện cực Tiếp theo, sử dụng điện áp thấp và trường AC dao động nhanh, kích thích các protoplast sắp xếp thành chuỗi tế bào giữa các điện cực Phương pháp này cho phép tế bào tiếp xúc hoàn toàn với nhau trong một vài phút Sau khi các tế bào xếp hàng hoàn chỉnh, quá trình dung hợp được thực hiện theo từng đợt ngắn của xung DC điện áp cao Xung DC điện áp cao tạo ra sự phá vỡ thuận nghịch của màng nguyên sinh chất ở vị trí tiếp xúc của các tế bào, tạo ra sự dung hợp và tái tổ chức lại màng một cách hợp lý Quá trình bắt đầu từ lúc đưa các protoplast vào bên trong ngăn và chuyển chúng lên môi trường nuôi cấy, có thể được hoàn chỉnh trong 5 phút hoặc
Trang 9Hình 8.3 Dung hợp tế bào
V Nuôi cấy tế bào lai và tái sinh cây
1 Nuôi cấy protoplast
1.1 Thành phần dinh dưỡng
Môi trường nuôi cấy protoplast tương tự với môi trường nuôi cấy dịch huyền phù và callus Tuy nhiên, nồng độ của Fe, Zn và ammonium dùng trong môi trường nuôi cấy mô ở thực vật có thể là quá cao đối với nuôi cấy protoplast Hầu hết muối của môi trường B5 (Gamborg và cs, 1968)
và MS (Murashige và Skoog, 1962) cải biến một ít là thích hợp Tăng nồng độ Ca trong môi trường nuôi cấy protoplast từ 2-4 lần so với bình thường là có lợi cho việc duy trì tính toàn vẹn của màng tế bào (Torres 1989) Nồng độ sucrose thích hợp thường từ 3-5%, ở một số loài như thuốc lá, sucrose được sử dụng ở nồng độ thấp hơn chỉ khoảng 1,5% Các vitamin dùng trong nuôi cấy protoplast cũng giống như trong môi trường nuôi cấy mô tiêu chuẩn Auxin và cytokinin sử dụng ở các tổ hợp nồng độ khác nhau để cảm ứng tạo vách tế bào và kích thích phân chia các protoplast phân lập Protoplast ngũ cốc đòi hỏi cung cấp 2,4-D riêng rẽ hoặc tốt hơn là phải phối hợp với cytokinin Tuy nhiên 2,4-D cũng như các auxin khác (NAAA, IAA) được sử dụng riêng rẽ thường làm mất tiềm năng phát sinh hình thái ở các callus có nguồn gốc protoplast Các cytokinin thường được sử dụng là BAP, kinetin, 2-iP hoặc zeatin Mặc dù
tổ hợp hai loại hormone trên thay đổi tùy từng loài, nhưng nói chung trong nuôi cấy protoplast thì tỷ lệ auxin/cytokinin cao thích hợp cho phân chia tế bào, trong khi các protoplast có nguồn gốc từ những tế bào phân hóa cao
Trang 10lại cần tỷ lệ kinetin/auxin cao để tái sinh cây
1.2 Áp lực thẩm thấu của môi trường
Trong quá trình phân lập và nuôi cấy, các protoplast cần được duy trì cân bằng áp lực thẩm thấu giữa môi trường và nội bào cho tới khi tái sinh được vách tế bào vững chắc Trong cả hai trường hợp chênh lệch áp lực thẩm thấu giữa môi trường và nội bào theo hướng môi trường nhược trương hoặc ưu trương sẽ dẫn đến tình trạng protoplast bị vỡ hoặc teo lại Các chất điều chỉnh áp lực thẩm thấu (thông thường là để tăng áp lực thẩm thấu) trong môi trường nuôi cấy protoplast và trong hỗn hợp enzyme là sorbitol, mannitol, glucose, hoặc sucrose Các protoplast sẽ sinh trưởng ổn định hơn trong trong dịch được tăng nhẹ áp lực thẩm thấu Đối với các protoplast thịt lá của ở ngũ cốc và đậu thì mannitol hoặc sorbitol là các nhân tố ổn định áp lực thẩm thấu thích hợp hơn cả, trong khi sucrose lại thích hợp hơn glucose hoặc mannitol trong nuôi cấy protoplast của khoai tây, đậu hoa (sweet pea), tước mạch (brome grass) và sắn Trong nuôi cấy dịch huyền phù thuốc lá, galactose và fructose đã được sử dụng để điều chỉnh áp lực thẩm thấu
Các chất phân ly ion (KCl 335 mmol/L và MgSO4.7H2O 40 mmol/L) cải thiện tốt khả năng sống sót của protoplast Thông thường các dung dịch enzyme được bổ sung các muối nhất định (CaCl2 5-100 mmol/L) song song với các nhân tố ổn định thẩm thấu không phân ly ion Cocking
và Peberdy (1974) đã phát triển dung dịch rửa protoplast (cell-protoplast washing, CPW) chứa muối và các nhân tố ổn định thẩm thấu thích hợp Dung dịch CPW có thể được dùng trong suốt quá trình ủ enzyme và rửa protoplast Thời gian ủ enzyme tùy thuộc vào nồng độ của nó trong dung dịch và loại nguyên liệu được sử dụng
1.3 Mật độ dàn trải protoplast
Mật độ protoplast tối ưu là từ 1×104 đến 1×105/mL Tuy nhiên, các thí nghiệm lai soma (somatic hybridization) và phát sinh đột biến (mutagenesis) cần tạo dòng tế bào riêng rẽ, do đó phải dàn trải protoplast ở mật độ thấp hơn (100-500 protoplast/mL) Nuôi cấy ở mật độ thấp giúp dễ dàng phân lập và xác định các khuẩn lạc lai khi có mặt của hệ thống chọn lọc Kao và Michayluk (1975) đã xây dựng môi trường nuôi cấy protoplast (KM 8p) (Bảng 6.2) trong đó các protoplast được nuôi cấy riêng rẽ (ví dụ:
Vicia hajastana) có khả năng phân chia cho tới khi tạo thành callus Môi
trường này còn kích thích phân chia nhanh hơn ở các protoplast thịt lá của
cỏ linh lăng (alfalfa), đậu (pea), khoai tây, và sản phẩm dung hợp khai tây + cà chua (potato + tomato) được nuôi cấy dàn trải ở mật độ thấp Các protoplast nuôi cấy trên môi trường này được đặt trong tối vì môi trường