KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1900 - 1930 đặt ra cho người sáng tác nhiệm vụ phải thay đổi quan niệm sáng tác, phương pháp sáng tác nhằm tạo cho họ những món ăn tinh thần thú vị
Trang 1KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1900 - 1930
đặt ra cho người sáng tác nhiệm vụ phải thay đổi quan niệm sáng tác, phương pháp sáng tác nhằm tạo cho họ những món ăn tinh thần thú vị hơn, phù hợp với thời đại mới Hai loại công chúng này mang trạng thái tâm lý khác nhau, sống trong hai điều kiện khác nhau, lại tồn tại song song trong xã hội thực dân nửa phong kiến đầu thế kỷ XX Lớp công chúng mới ngày càng phát triển Hơn nữa, khi lớp thanh niên lớn lên, nhiều người đi học chữ Pháp, được đào tạo theo nền giáo dục mới sẽ quên dần thứ chữ truyền thống của cha ông, văn chương truyền thống cũng trở thành xa lạ đối với họ Trong khi đó, lớp nhà Nho và những người theo họ vẫn chỉ thừa nhận thứ văn chương là thơ, phú, lục Nhưng liệu họ có thể bám mãi với ngôi nhà cổ kính, ngày càng vắng khách lui tới của nền văn chương chữ Hán này không ? Bởi vì, càng ngày người ta càng tỏ ra thích thú say mê nhiều hơn với những tác phẩm văn học
phương Tây, thơ Lamartin, kịch Molie, Cornây vẫn hấp dẫn, lôi cuốn độc giả hơn thơ Nguyễn Trãi hay văn của Trương Hán Siêu Ðiều muốn nhấn mạnh ở đây là sự tồn tại song song của hai loại công chúng khác nhau, trong cái thế một bên đã ít nhưng chưa mất hẳn; một bên dù mới xuất hiện nhưng rất mạnh và có điều kiện để phát triển nhanh Ðây là
Trang 2một hiện tượng chỉ xảy ra trong văn học giai đoạn giao thời của lịch sử
văn học Việt Nam
Trả Lời Với Trích Dẫn
11-04-2009 07:22 PM #3
Dĩ Vãng 10
Thành viên
Join Date
May 2009
Bài gởi
1,555
Thanks
0
Thanked 638 Times in 407 Posts
III.- Ðầu thế kỉ XX văn học Việt Nam đi vào con đường hiện đại hóa
1 Khái niệm về văn học hiện đại :
Trang 3Văn chương hiện đại là nền văn chương mới về nội dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật mà theo chúng tôi đã có mầm mống từ đầu thế
kỉ XIX song hình thành và phát triển chủ yếu trong phạm vi thế kỉ XX (chuyên đề "Sự chuyển biến của văn học Việt Nam sang thời kỳ hiện đại") (Trần Thanh Ðạm, trang 25)
2 Vấn đề hiện đại hoá của văn học :
2.1 Thế nào là hiện đại hóa của văn học ?
- Giáo sư Trần Thanh Ðạm có viết : "Vì tính chất hiện đại của nó không được hình thành trong một ngày, một tháng, một năm cho nên mới đặt vấn đề : Hiện đại hóa và tiến trình hiện đại hóa" (Tài liệu đã dẫn)
- Giáo sư Trần Ðình Hượu đã giải thích cụ thể hơn : "Quá trình hiện đại hóa văn học là quá trình xóa bỏ quan niệm xã hội luân thường với con người đạo đức và chức năng hình thành quan niệm xã hội, quan niệm con người, quan niệm cuộc sống chi phối việc thay đổi đề tài văn học Người sáng tác phải chú ý đến người, đến việc và phải quan tâm đến cốt truyện, đến nhân vật, phải quan tâm đến nhận thức, đến xây dựng Ðó là quá trình biến dạng, tha hóa ba mẫu nhân vật : Nho gia, người ẩn sĩ và người tài tử tồn tại mấy trăm năm trong văn học bác học Ðó là cụ thể
Trang 4hóa, đa dạng hóa các nhân vật của xã hội cũ : Vua, quan Tuần, quan Huyện, quan Nghè, Thầy Ðồ, ông Lý, người nông dân Ðó là quá trình xuất hiện ngày càng nhiều những nhân vật thành thị : Thầy Thông, Thầy
Ký, ông Thầu Khoán, cậu học trò, người dân lao động, người công nhân,
cô tiểu thư và cô gái mới Cuộc sống trong văn học cũng dần dần phức tạp, đa dạng, nhiều màu sắc như cuộc sống thực và để thể hiện nó, thể loại, phương pháp sáng tác, tiêu chuẩn thẩm mĩ cũng kịp thời thay đổi theo" (Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời, trang 25)
2.2-Vì sao có yêu cầu hiện đại của văn học Việt Nam ở đầu thế kỉ XX
?
+ Khách quan : hoàn cảnh xã hội, sự thay đổi trong tư tưởng, văn hóa đã tạo cơ sở cho việc hiện đại hóa của nền văn học Việt Nam ở đầu thế kỉ
XX
- Xã hội : Sự thay đổi về hình thái xã hội là một yếu tố quan trọng đã ảnh hưởng đến sự thay đổi của nền văn học Việt Nam Ðó là sự thay đổi
từ xã hội phong kiến sang xã hội thực dân nửa phong kiến Ðặc trưng của xã hội thực dân nửa phong kiến là có sự hiện diện của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa mang hình thức thuộc địa, đã gây biến đổi lớn trong cơ cấu xã hội, làm ảnh hưởng đến tâm lý sống, điệu sống, cách sống, nhịp sống của toàn xã hội, trước hết là ở thành thị Nhà văn sống
Trang 5trong xã hội có những biến đổi lớn lao như thế cũng bị chi phối cách sống, cách nghĩ, cách cảm
- Xã hội thực dân nửa phong kiến, thành thị, đã phát triển nhanh tạo nên lối sống thành thị hiện đại, sôi động, khẩn trương Từ điều kiện của văn minh thành thị sự giao lưu mọi mặt trong nước và ngoài nước cũng được thay đổi, không còn bị giới hạn trong phạm vi khu vực mà vươn tới
phạm vi tòan cầu
- Tư tưởng, văn hóa :
Từ đầu thế kỉ XX, trong phạm vi cả nước, đời sống văn hóa tư tưởng của người Việt Nam đã bắt đầu thay đổi Có sự chuyển biến từ ý thức hệ
phong kiến sang ý thức hệ tư sản Ý thức hệ phong kiến vẫn còn tồn tại nhưng mất địa vị độc tôn, độc quyền Ý thức hệ tư sản mới được hình thành và bắt đầu mâu thuẫn với ý thức hệ phong kiến, đang từng bước chiếm dần vị trí trong xã hội
Ðầu thế kỉ XX nền văn hóa phương Tây đã được du nhập vào Việt Nam
ồ ạt, trong phạm vi cả nước Cuộc giao lưu văn hóa lần này có nhiều mới
mẻ so với trước kia, mà nổi bật là vượt ra khỏi phạm vi khu vực để vươn đến toàn cầu
Trang 6+ Chủ quan : sự vận động và phát triển của văn học là một nhu cầu tất yếu
3 Vấn đề hiện đại hóa của văn học Việt Nam ở 30 năm đầu thế kỉ
XX :
- Vấn đề hiện đại hóa của văn học Việt Nam ở đầu thế kỉ XX đã diễn ra theo hai bước :
+ Bước 1 -Từ năm 1900 đến 1920: Ở giai đoạn này văn học đã đổi mới
về nội dung Các vấn đề thuộc về ý thức hệ, lý tưởng chính trị xã hội, tình cảm cụ thể là những vấn đề mà chúng ta có thể nhận thấy dễ dàng
Ví dụ : về ý thức hệ, văn học ra đời trong giai đoạn này phần lớn chiûu
sự chi phối bởi ý thức hệ tư sản, trong khi các sáng tác ở thời trung đại chịu sự chi phối của ý thức hệ phong kiến; về lý tưởng chính trị xã hội, chủ nghĩa yêu nước đã gắn với lý tưởng cách mạng dân chủ tư sản, khác với văn học trung đại chủ nghĩa yêu nước không thể tách rời lý tưởng tôn quân
Về mặt nghệ thuật, văn học giai đoạn 1900 - 1920, trong phạm vi cả nước, chưa có những đổi mới đáng kể Các tác giả chỉ dừng lại ở mức độ cách tân nghệ thuật sáng tác của nhà nho trước kia Tiêu biểu nhất là thơ văn yêu nước và cách mạng Còn nhiều tác phẩm thể hiện những vấn đề
Trang 7mới của cách mạng bằng hình thức nghệ thuật cũ Các tác giả còn ít
dùng chữ Quốc ngữ để sáng tác ,chưa bỏ được lối văn biền ngẫu, thơ vẫn
là một thể loại được ưa chuộng, ngôn ngữ vẫn còn mang tính chất cầu
kỳ, bóng bẩy
Trường hợp những bài thơ bị pha trộn một vài câu hoặc một đoạn thơ chữ Hán cầu kỳ, khó hiểu khá phổ biến trong giai đoạn này Ví dụ : "Bài hát khuyên nhà nho" - (Khuyết danh) là một minh chứng cụ thể:
"Chữ duy tân gác để ngoài tai
Những tấp tễnh đua tài nô lệ
Ðãn ngôn vũ trụ giai ngô sự
Khẳng hứa sơn hà thuộc bỉ cường
Khuyên ai mà có chí cải lương
Nên phải biết tự cường mới được"
+ Bước 2 - Từ năm 1920 - 1930: Văn học ở giai đoạn này không chỉ đổi mới về nội dung mà cả nghệ thuật cũng đã khác trước rất nhiều Văn học
đã mang tính hiện đại rõ rệt nhưng yếu tố trung đại vẫn còn tồn tại xen
kẽ, khá phổ biến từ nội dung đến hình thức Ví dụ : "Tố Tâm" - Hoàng Ngọc Phách, các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, thơ Tản Ðà đều có mang đặc điểm nói trên
Trang 8Ðề cập đến công cuộc hiện đại hóa văn học ở giai đoạn này, chúng ta thấy vai trò của văn học hợp pháp được thể hiện rất rõ Ở bộ phận văn học này, tất nhiên không thể tránh được hạn chế do hoàn cảnh hoạt động văn học trong vòng luật pháp của chính quyền thực dân
- Kết quả của quá trình hiện đại hóa văn học ở giai đoạn 1900 - 1930 : Mặc dù đây chỉ là chặng đường đầu của tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nhưng nó cũng gặt hái được những kết quả đáng kể, tạo cơ sở vững chắc cho chặng đường tiếp theo Trước hết, nó đã đóng góp tích cực vào công cuộc hiện đại hóa văn học bằng sự thay đổi hệ ý thức trong văn học theo hướng tiên tiến Nó cũng có vai trò trong việc đổi mới thi pháp văn học Mặt khác, công cuộc hiện đại hóa văn chương ở giai đoạn này đã đưa nền văn học nước ta đi vào quỹ đạo của nền văn học thế giới
VI.- Các dòng văn học:
1 Văn học yêu nước và cách mạng
1.1- Lực lượng sáng tác : Lực lượng sáng tác chủ yếu của dòng văn học
yêu nước và cách mạng giai đoạn 1900 - 1930 là các nhà Nho Nhưng đây là những nhà nho có tư tưởng tiến bộ Họ là những người trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào các phong trào cách mạng lúc bấy giờ Họ cũng từng là những "chí đồ đệ" của Khổng Tử nhưng lập trường tư
Trang 9tưởng của họ khác với lớp nhà nho trước kia Họ đã được tiếp nhận các luồng tư tưởng tiến bộ từ nước ngoài truyền vào, thông qua sách báo, mà tiêu biểu là tân thư và tân văn Họ quan niệm văn chương cũng là một loại vũ khí đánh giặc cứu nước, cho nên họ đã sáng tác văn chương để phục vụ cho hoạt động chính trị Ðó là những người như Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Quyền,
Quần chúng lao động cũng là những người sáng tác tích cực của bộ phận văn học yêu nước và cách mạng ở giai đoạn này
Ngoài ra còn có một lực lượng không nhỏ những tác giả mà chúng ta chưa được biết tên tuổi Tác phẩm của họ có nội dung thể hiện tinh thần yêu nước thiết tha, ý chí đấu tranh chống giặc đến cùng, Vì muốn tránh
sự theo dõi của mật thám, họ thường dấu tên họ và bí mật phổ biến tác phẩm của mình
1.2- Những bước thăng trầm của văn học yêu nước và cách mạng giai đoạn 1900 - 1930 :
- Từ năm 1905 đến 1908, thơ văn yêu nước và cách mạng theo xu hướng dân chủ tư sản phát triển cao Có văn thơ của phong trào Ðông Du, có văn thơ của Ðông Kinh nghĩa thục, văn thơ chống thuế ở Trung Kỳ Người sáng tác bao gồm cả sĩ phu và quần chúng lao động
Trang 10Văn thơ Ðơng Du chủ yếu từ nước ngồi gửi về nên cĩ điều kiện nĩi mạnh, nĩi trực tiếp những vấn đề muốn nĩi, nhìn chung thể hiện tinh thần lao động chống Pháp Hai cây bút trụ cột của văn thơ Ðơng Du là Phan Bội Châu và Nguyễn Thượng Hiền
Văn thơ của phong trào Duy Tân, tiêu biểu là Ðơng kinh nghĩa thục thiên vào nội dung cải cách xã hội, thể hiện tinh thần yêu nước, nêu lên các quan niệm mới mẻ về đất nước, xã hội, nhân sinh Ðĩng gĩp nhiều cho văn thơ của phong trào Duy Tân phải kể đến Phan Chu Trinh,
Nguyễn Phan Lãng, Lê Ðại, Huỳnh Thúc Kháng, Ngơ Ðức Kế Bên cạnh đĩ cịn cĩ một số tác giả khơng cho biết tên, như tác giả của các bài
"Văn minh tân đọc sách", "Cáo hủ lậu văn", Bài ca Aï tế á"
Văn thơ của phong trào chống thuế ở Trung Kỳ phần lớn khơng rõ tên tác giả và dần dần nĩ đã hịa nhập vào kho tàng văn học dân gian Số văn thơ này như: Ca dao chống áp bức bĩc lột, Bài vè sưu thuế lạm thu,
Vè thuế nặng, Bài hát xin xâu.v.v Ðặc điểm nổi bật của bộ phận thơ văn chống thuế ở Trung Kỳ là phản ánh một cách sâu sắc nỗi khổ của nhân dân
Nhìn chung, trong khoảng thời gian này số người tham gia sáng tác thơ văn yêu nước rất đơng, lượng tác phẩm ra đời cũng rất nhiều Hơn nữa,
Trang 11vấn đề lưu truyền phổ biến cũng khá rầm rộ Người ta làm đủ mọi cách
để các tác phẩm đến được với độc giả Người ta dịch ra quốc âm, chép tay rồi chuyền cho nhau hoặc còn đưa vào chương trình giảng dạy ở trường Ðông Kinh nghĩa thục.v.v Với nội dung yêu nước tiến bộ, hừng hực tinh thần cách mạng, ý chí quyết tâm đánh giặc, thơ văn yêu nước ra đời trong giai đoạn này đã tạo ra những ảnh hưởng lớn, có lợi cho phong trào cách mạng
- Từ năm 1908 đến năm 1912, văn thơ yêu nước và cách mạng rơi vào tình trạng bế tắc Cuối năm 1908, cách mạng bị khủng bố, chính lúc đó thơ văn yêu nước cũng bắt đầu lâm vào tình thế khó khăn Số lượng tác phẩm ra đời rất ít, chất lượng cũng giảm sút rõ rệt
Các nhà nho tham gia phong trào Ðông Du, trong cơn thất vọng nhất thời, không còn cảm hứng để sáng tác Phan Bội Châu phải chạy trốn sang Thái Lan, nghiên mực tàu của ông dường như khô cạn
Các sĩ phu thuộc nhóm Ðông kinh nghĩa thục thì phần lớn bị bắt, bị đày
ra Côn Ðảo Lúc đầu thơ văn yêu nước theo các chí sĩ vào nhà tù cũng được phát triển khá cao, nhưng dần dần về sau cũng giảm sút cả về số lượng lẫn chất lượng