1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo chí với việc tuyên truyền về vấn đề nông nghiệp nông thôn

32 2,3K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Chí Với Việc Tuyên Truyền Về Vấn Đề Nông Nghiệp, Nông Thôn
Trường học Hệ Cao Đẳng Báo Chí
Thể loại Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp
Thành phố Hà Giang
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 179 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo chí với việc tuyên truyền về vấn đề nông nghiệp nông thôn

Trang 1

MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài

Kể từ đại hội Đảng lần thứ VI(1986) Đại hội của đổi mới và dân chủ đến nay nền nông nghiệp Việt Nam đã có những bước chuyển biến lớn Vớihơn 80% dân số sống ở nông thôn, nước ta luôn coi trọng những vấn đề vềnông dân, nông nghiệp và nông thôn Các thành tựu đạt được thời gian quatrong lĩnh vực này là minh chứng cụ thể cho chính sách đúng đắn của đảng vànhà nước Sự kiện Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tham gia ngày lễ Tịch

-Điền tại cánh đồng Đọi Tam xã Đọi Sơn (huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) đã

cho thấy Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng sự nghiệp phát triển nôngnghiệp, nông thôn trên chặng đường phát triển chung của cả nước Chủ tịchnước khẳng định: Trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa không thểxem nhẹ mặt trận nông nghiệp, nông thôn Báo chí với nhiệm vụ “nói lêntiếng nói của Đảng, Nhà nước”, cũng phát huy tốt vai trò tuyên truyền, cổ vũcho công cuộc phát triển và đổi mới nông nghiệp, nông thôn

Tuy nhiên, theo điều tra mới đây của viện khoa học lao động (ILLSA)phối hợp với viện chiến lược và chính sách nông nghiệp nông thôn (IPSARD)Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM): trong số các hộ khôngthuộc diện hộ nghèo và cán bộ xã trên cả nước, chỉ có khoảng 7% số hộ đọcbáo hàng ngày, 9% đọc báo một hoặc hai lần/tuần, và có tới hơn 67% chưabao giờ đọc báo Cũng theo điều tra này, hệ thống thông tin hành chính, (đạidiện là uỷ ban nhân dân các xã, trưởng thôn) là nguồn thông tin chính về cácvấn đề đường lối chủ trương chính sách, sản xuất nông nghiệp, tín dụng vàbảo hiểm đối với đa số người dân Các chỉ số trên áp dụng với báo chí phátthanh- truyền hình cao hơn (gần 80% được tiếp nhận thông tin qua kênh này).Chủ yếu người dân tiếp nhận và trao đổi thông tin qua hệ thống phát thanh cơ

sở vì những ưu điểm như thông tin nhanh, có tính bề nổi và theo dõi trongnhiều hoàn cảnh

Trang 2

Điều đó cho thấy, thông tin đến với nông dân vẫn phần nào bị hạn chế.

Đó là thiệt thòi không nhỏ cho người dân, vì không chỉ tự ti khi giao tiếp, họcòn gặp rủi ro trong trao đổi mua bán, tham gia thị trường hay khó khăn và lỡnhững cơ hội tiếp cận với các loại hình dịch vụ, đào tạo, sức khoẻ, tín dụng…thực tế cho thấy rằng, người nông dân không chỉ quan tâm đến báo chí khitrên báo có những việc liên quan đến lợi ích của mình, hay trong xã hội cónhững vụ việc nổi cộm bức xúc, hoặc khi có những sự kiện trọng đại của đấtnước.Mà họ luôn quan tâm đến báo chí để đáp ứng được nhu cầu thông tinhàng ngày

Có thể nói rằng, việc tuyên truyền về nông nghiệp nông thôn để đạtđược kết quả cao phải trải qua rất nhiều khó khăn, đòi hỏi người làm công táctuyên truyền phải có trí tuệ, năng lực, giàu kinh nghiệm thực tiễn và gần gũivới môi trường tự nhiên.Tuyên truyền nông nghiệp, nông thôn không chỉdừng lại ở nói và nhắc lại những kết quả đã đạt được mà còn phải góp phầnnâng cao trình độ dân trí của bà con nhân dân nhằm phát huy tối đa những thếmạnh của loại hình báo chí

Vốn là người sinh ra và lớn lên tại một vùng quê mang tính thuần nông,nên em hiểu được phần nào cuộc sống của người nông dân, những khó khănvất vả trong sản xuất và canh tác nông nghiệp Đồng thời cũng nhận thức rõvai trò quan trọng của báo chí trong công tác tuyên truyền, giúp cho ngườinông dân có những nhận thức và hiểu biết đúng đắn về nông nghiệp, nôngthôn nên em đã quyết định chọn đề tài “ Báo chí với việc tuyên truyền về vấn

đề nông nghiệp, nông thôn” tại Đài Phát Thanh – Truyền Hình tỉnh Hà Giang

để làm đề tài báo cáo tốt nghiệp

2.Lịch sử nghiên cứu đề tài

Đề tài “Báo chí với việc tuyên truyền về vấn đề nông nghiệp, nôngthôn” không phải là đề tài mới ở nước ta và trên thế giới Đã có rất nhiềunghiên cứu về đề tài này, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã

Trang 3

hội của đất nước Nhưng là một sinh viên hệ Cao đẳng báo chí đề tài này rấtmới đối với em, còn có nhiều vấn đề trong công tác tuyên truyền về nôngnghiệp, nông thôn mà em chưa nhận thức được đầy đủ.

3.Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đề tài

Mục đích của tiểu luận là làm rõ thực trạng thông tin tuyên truyền vềnông nghiệp, nông thôn tại Đài phát thanh – truyền hình tỉnh Hà Giang qua

đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền

về nông nghiệp, nông thôn Thông qua quá trình làm tiểu luận, em mongmuốn tăng thêm hiểu biết của mình về nông nghiệp, nông thôn và nông dân

Với thực tế tại nơi thực tập, em cũng mong học hỏi được các phươngpháp tiếp xúc và tìm hiểu bà con tại địa phương, nhu cầu thông tin của họ, từ

đó có những biện pháp thông tin phù hợp và hiệu quả nhất

Phạm vi nghiên cứu của tiểu luận là lĩnh vực thông tin về nông nghiệp,nông thôn tại Đài phát thanh – truyền hình tỉnh Hà Giang trong thời gian 2tháng (từ 22/2 đến 17/4/2010)

Trong thời gian thực tập và nghiên cứu tiểu luận, em đã được các cán

bộ, phóng viên của Đài tận tình hướng dẫn Đề tài về nông nghiệp, nông thôn

là một lĩnh vực tuy gần gũi nhưng khó thực hiện, vì vậy các anh chị đã tạođiều kiện cho em tiếp xúc với nông dân ngay khi có thể, cung cấp những tàiliệu bổ ích về thực tế phát triển nông nghiệp và nông thôn của Tỉnh…

4.Phương pháp nghiên cứu

Tiểu luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu:Điều tra xãhội học, phỏng vấn, thống kê, phân loại, so sánh, phân tích, tổng hợp, đốichiếu…để làm rõ tình hình thông tin về nông nghiệp, nông thôn nói chung vàtrên địa bàn tỉnh Hà Giang (qua thực tiễn thông tin, phản ánh của Đài phátthanh – truyền hình tỉnh) nói riêng

5.Kết cấu tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục; tiểu luận có các nội dung sau:

Trang 4

Chương 1: Báo chí với việc tuyên truyền về nông nghiệp, nông thôn Chương 2: Thực trạng công tác tuyên truyền về nông nghiệp, nông

thôn tại Đài phát thanh – truyền hình tỉnh Hà Giang

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về

nông nghiệp, nông thôn

Trang 5

CHƯƠNG 1:

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO

CHÍ ĐƯA TIN VỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN.

1.khái niệm về nông nghiệp, nông thôn trong thời kì đổi mới

1.1.Nông nghiệp

Trong thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng như quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đềukhẳng định tầm vóc chiến lược của vấn đề nông nghiệp Chính vì vậy Đảng taluôn đặt nông nghiệp ở vị trí chiến lược quan trọng, coi đó là cơ sở và là lựclượng để phát triển kinh tế xã hội vững mạnh, ổn định chính trị

Ngày 21/06/2001 công ước quốc tế “An toàn và sức khoẻ trong nôngnghiệp 2001” đã đưa ra khái niệm về nông nghiệp như sau: “Nông nghiệp lànhững hoạt động nông, lâm nghiệp tiến hành tại các cơ sở nông nghiệp baogồm trồng hoa màu, trồng rừng, chăn nuôi động vật và côn trùng, sơ chế nôngsản do cơ sở hoặc nhân danh cơ sở thực hiện”

Hay theo cuốn giáo trình Hệ thống nông nghiệp (Nhà xuất bản Nông

nghiệp Hà Nội – 1999) lại đưa ra khái niệm : “Nông nghiệp là một loại hoạt

động của con người được tiến hành chủ yếu để sản xuất ra lương thực, sợi, chất đốt cũng như nhiều loại nguyên liệu khác bằng sự cân nhắc kĩ lưỡng và

sử dụng có điều khiển cây trồng và vật nuôi Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cổ nhất có lịch sử cách đây ít nhất 10.000 năm, khi mà các bộ lạc nguyên thuỷ ở đầu thời kì đồ đá mới.”

Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của mỗinước, đặc biệt là trong các thế kỉ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển vànông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế Nền nông nghiệp hiện đạitrong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam đã vượt ra khỏi nền sản xuất nông nghiệptruyền thống

Trang 6

Trong thời kì đổi mới nền nông nghiệp Việt Nam đã vượt lên mọi khókhăn, trì trệ của phương thức sản xuất cũ để đưa nông nghiệp Việt Nam lênmột tầm cao mới, một vị thế mới Theo những đánh giá mới nhất của Tổngcục thống kê, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2009 theo giá

so sánh 1994 ước đạt 219.887 tỷ đồng, tăng 3% so với năm 2008; trong đónông nghiệp đạt 160.081 tỷ đồng, tăng 2,2%, lâm nghiệp đạt 7.008 tỷ đồng,tăng 3.8%, thuỷ sản đạt 52.799 tỷ đồng, tăng 5,4%

Nhờ có những bước tiến thần kì trong nông nghiệp mà trong năm 2009đời sống người dân nông thôn tiếp tục được cải thiện Các địa phương hồ hởi

và tích cực chuẩn bị cho chương trình: Phát triển nông thôn mới Hạ tầngnông nghiệp, nông thôn cũng từng bước được nâng cấp, đáp ứng yêu cầu sảnxuất và đời sống, góp phần giảm nhẹ tác động của thiên tai

Năm 2010, Ngành nông nghiệp Việt Nam cũng đang từng bước đẩymạnh, tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao hơn so với năm 2009, Đồng thờiphấn đấu nâng cao sản lượng, chất lượng cũng như hiệu quả sản phẩm nôngnghiệp, phải làm sao tăng trưởng nhanh và bền vững để đảm bảo vấn đề ansinh xã hội Để làm được điều này, ngành nông nghiệp Việt Nam, cần tăngcường khoa học công nghệ tiên tiến vào trồng trọt, chăn nuôi để nông dân cócánh đồng công nghệ cao, chăn nuôi công nghệ cao,…Bên cạnh đó, vấn đềxây dựng nông thôn mới cũng cần được chú trọng Làm sao đến năm 2030,Việt Nam hoàn thành đủ 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới Đặc biệt, năm

2010 sẽ là năm đầu tiên cả nước triển khai thực hiện 1 triệu lao động nôngthôn có việc làm, đây là vấn đề cấp bách cần phải làm ngay

Trong thời mở cửa, nền nông nghiệp Việt Nam ngày càng có nhiều cơhội phát triển vươn ra hội nhập cùng thế giới Ngày càng có nhiều dự án hợptác về nông nghiệp với nước ngoài được kí kết, ngoài ra còn có nhiều dự án

hỗ trợ khẩn cấp từ nguồn vốn ODA nhằm giúp người nông dân Việt Namkhắc phục thiên tai, dịch bệnh

Trang 7

thống nông nghiệp-Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội-1999)

Trong thời kì đổi mới hiện nay nông thôn Việt Nam ngày càng đượcquan tâm và chú trọng Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn được tăngcường nhất là hệ thống thuỷ lợi, giao thông,mạng lưới điện quốc gia góp phầnthúc đẩy phát triển sản xuất, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn ngàynay

2.Các văn bản của nhà nước về tầm quan trọng của nông nghiệp, nông thôn.

Trong thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng như quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đềukhẳng định tầm vóc chiến lược của vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn

ở vị trí chiến lược quan trọng, coi đó là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh

tế – xã hội bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng, giữ gìn

và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái

Mốc son khởi đầu thời kì đổi mới toàn diện đất nước được xác định làĐại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) Nhưng những bước đi đầu tiên trongcải tiến cơ chế quản lý đã cho thấy sự xuất hiện sớm hơn của tư duy mới, cáchlàm mới trong lĩnh vực kinh tế, trong đó có Chỉ thị 100 (tháng 10/1981) củaBan Bí Thư T.Ư Đảng về khoán sản phẩm trong nông nghiệp, về thay đổicách chỉ đạo, tổ chức sản xuất, quản lý hợp tác xã nông nghiệp, đã đem laị

Trang 8

niềm phấn khởi và khí thế mới ở nông thôn, giải phóng sức sản xuất cho hàngtriệu nông dân.

Trên cơ sở thắng lợi của cơ chế khoán 100 (khoán đến nhóm và ngườilao động), ngày 5/4/1988, Bộ Chính Trị ra Nghị quyết 10 về đổi mới cơ chếquản lý kinh tế trong nông nghiệp, trong đó xác định rõ vai trò của kinh tế hộ,coi hộ gia đình xã viên hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị kinh tế tự chủ, đượcgiao quyền sử dụng ruộng đất…

Tác dụng của cơ chế khoán 10 cộng với những thành tựu về thuỷ lợi,cải tạo giống, thâm canh tăng năng xuất ở đồng bằng Bắc Bộ và mở rộng diệntích đất canh tác ở đồng bằng sông Cửu Long đã đưa nền nông nghiệp nghiệpViệt Nam sang trang sử mới Từ chỗ thiếu ăn triền miên, đến năm 1988 vẫncòn phải nhập khẩu hơn 450.000 tấn gạo, nhưng từ năm 1989, Việt Nam vừabảo đảm nhu cầu lương thực trong nước, có dự trữ, vừa xuất khẩu gạo mỗinăm từ 1 đến 1,5 triệu tấn và tiến dần lên tới 4 đến 4,5 triệu tấn như hiệnnay…

Các văn kiện đại hội lần thứ VII, VIII,IX của Đảng và nhiều chỉ thị,nghị quyết Hội nghị Trung ương trong các nhiệm kì đó đều thể hiện rõ chủtrưong chiến lược nhất quán đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn từngbước xác định ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển toàn diện kinh tếnông thôn và xây dựng nông thôn mới, tiến đến khẳng định thực hiện côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới,đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực kìquan trọng cả trước mắt và lâu dài

Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiện vụ của cả

hệ thống chính trị và toàn xã hội Trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước,

tự chủ, tự lực tự cường vươn len của nông dân Xây dựng xã hội nông thôn

ổn định, hoà thuận, dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú, đậm đà bản sắc

Trang 9

dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới,nâng cao dời sống nông dân.

Nghị quyết số 26- NQ/T.Ư “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” đượcthảo luận và thông qua tại Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng khoá X vàTổng Bí thư Nông Đức Mạnh kí ban hành ngày 5/8 đã xác định như vậy

(Các văn bản về tầm quan trọng của vấn đề nông nghiệp, nông thônmời tham khảo trong bảng thông kê tại Phần mục lục)

Lịch sử xây dựng chủ nghĩa xã hội trong lĩnh vực nông nghiệp và trênđịa bàn nông thôn rộng lớncủa nước ta đã xác nhận những cột mốc lớn, đánhdấu bước phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp và nông thôn Việt Nam, đó là:chính sách 100 năm 1981, khoán 10 năm 1988

Từ đường lối chính sách phát triển hiệu quả, có thể khẳng định thêmrằng nông thôn, nông nghiệp và nông dân Việt Nam đã có những đóng góp tolớn và rất đáng tự hào cho sự nghiệp phát triển chung của toàn dân tộc

Để đưa nền nông nghiệp Việt Nam trở thành nền nông nghiệp hiện đại,

để dân ta giàu nước ta mạnh, Đảng ta tại Hội nghị Trung ương 5 khoá IX đãđưa ra một quyết sách: đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoánông nghiệp và kinh tế nông thôn Việt Nam với nội dung chủ yếu là đẩynhanh ba cuộc chuyển đổi sâu rộng:

- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi

- Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh trongcông nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn

- Chuyển đổi cơ cấu lao động theo hướng tăng nhanh lao động côngnghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn (ly nông không ly hương)

Tiến hành ba cuộc chuyển đổi sâu rộng này là tiến hành đồng thời bacuộc cách mạng: Cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật,cách mạng tư tưởng văn hoá.Ba cuộc chuyển đổi này là giải pháp chiến lược

Trang 10

là con đường dưa nông nghiệp Việt Nam lên sản xuất lớn hiện đại, đưa nôngthôn Việt Nam lên giàu mạnh, văn minh.

3.Chức năng và nhiệm vụ của báo chí tuyên truyền về nông nghiệp, nông thôn

Báo chí thông tin về nông nghiệp, nông thôn đảm bảo thực hiện nhữngchức năng và nhiệm vụ sau:

3.1 Tuyên truyền tập thể đường lối chủ trương chính sách của Đảng.

Báo chí phải truyền bá sâu rộng đường lối chính sách, đẩy nhanh công nghiệphoá hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn, làm cho toàn Đảng, toàndân nhất trí cao; tự giác, chủ động thực hiện 3 cuộc chuyển đổi sâu rộng vàmạnh mẽ nói trên

3.2 Tổ chức tập thể thực hiện đường lối chính sách của Đảng.Báo chí

phải hướng dẫn cụ thể cách chuyển đổi cơ cấu cây trồng – vật nuôi, cơ cấu kinh

tế, cơ cấu lao động cho từng hộ, từng xã, từng huyện, từng tỉnh Bám sát vàthông tin kịp thời các hoạt động trong nông nghiệp và nông thôn

3.3 Báo chí phải bám sát thực tiễn, phải có mặt ở mũi nhọn của quá

trình chuyển đổi mang tính cách mạng này để phát hiện được cho được cácnhân tố mới, các điển hình; tổng kết cho được các kinh nghiệm hay để phổbiến nhằm nhân rộng các điển hình, từ đó tạo thành phong trào cách mạng,thành phong trào thi đua yêu nước sâu rộng trong nông dân, từ đó thực hiệnthắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tếnông thôn Việt Nam

3.4 Với chức năng thông tin nhằm nâng cao dân trí, báo chí có trách

nhiệm lớn trong việc cung cấp thông tin cho các cấp, các ngành, cho nông dânnhững thông tin thiết thực và kiến thức về thổ nhưỡng, khí hậu, quá trình sinhhọc của từng giống cây, giống con mới,…những thông tin, những kiến thức

về đưa công nghiệp – nhất là công nghiệp chế biến và dịch vụ – về nông thôn,những thông tin nhằm bồi dưỡng đào tạo nông dân có tri thức, có kinh

Trang 11

nghiệm, có bản lĩnh để tiến hành ba bước chuyển đổi cách mạng sâu sắc trênmặt nông nghiệp và kinh tế nông thôn đặc biệt phải thông tin có trách nhiệm

về giá cả, về các thị trường trong nước, khu vực và thế giới đối với từng sảnphẩm nông nghiệp Điều rất quan trọng là báo chí phải thông tin những kiếnthức và hướng dẫn các hình thức hợp tác, liên kết của nông dân trong từngxóm ấp, làng, xã; hợp tác liên kết giữa các vùng, hợp tác liên kết giữa nôngdân với hợp tác xã, với các doanh nghiệp…

3.5 Với tư cách là diễn đàn của nhân dân, báo chí phải kịp thời phản

ánh nguyện vọng, ý chí, sáng kiến, của nông dân trong sự nghiệp chuyển đổi

ba cơ cấu lớn trong nông nghiệp và nông thôn, nhất là những vấn đề bức xúc,cần tháo gỡ để có thể đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoánông nghiệp nông thôn Ví dụ ở một số địa phương của Hưng Yên, VĩnhPhúc…khi đưa công nghiệp về nông thôn nhưng không gắn với chuyển đổi cơcấu lao động, nên nông dân sau khi nhận một khoản tiền đền bù đó thì thấtnghiệp Báo chí nhất là các báo chí địa phương cần làm tốt chức năng quantrọng này

4.Các yêu cầu đối với báo chí khi tuyên truyền về nông nghiệp, nông thôn

Báo chí tuyên truyền về nông nghiệp, nông thôn muốn thực hiện đúng

và đầy đủ chức năng của mình, cần xác định rõ các yêu cầu mà thể loại đặt ra.Những yêu cầu đối với báo chí khi tuyên truyền về nông nghiệp, nông thôn:

4.1 Nắm vững các quan điểm, đường lối chính sách, của Đảng và Nhà

nước chỉ đạo trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.Người làm báo về nôngnghiệp, nông thôn bắt buộc phải nắm vững các quan điểm, đường lối, chínhsách của Đảng và Nhà nước chỉ đạo cũng như có sự am hiểu nhất định về lĩnhvực này

4.2 Đưa tin kịp thời, phong phú, đa dạng, thông tin có chiều rộng và

sâu, thông tin mới, nhanh sâu sát các vấn đề của nông nghiệp, nông thôn.Người nông dân ở các vùng nông thôn luôn là những đối tượng cần được ưu

Trang 12

tiên cập nhật thông tin hơn cả, do đó phải thông tin một cách nhanh chóng,chính xác đến họ Thông tin đưa đến lớp đối tượng này cũng cần đảm bảophong phú, đa dạng cả về hình thức, nội dung và cách thức phản ánh vấn đề.

4.3 Đa dạng hoá các hình thức thông tin, sử dụng các thể loại phối hợp,

ngôn ngữ phù hợp với trình độ, tâm lý của người dân

Việc lựa chọn cách thức thông tin cũng quan trọng như lựa chọn nộidung Đối với nông nghiệp, nông thôn, người nông dân, việc này càng quantrọng Nếu không có cách thức phản ánh và ngôn ngữ sử dụng phù hợp, họ cóthể không nghe lại chương trình một lần nào nữa Vì vậy, người phóng viêncần phải hết sức chú ý, cân nhắc khi lựa chọn góc độ, ngôn ngữ thông tin

Trên đây là những yêu cầu chung cho báo chí trong lĩnh vực nôngnghiệp, nông thôn Tuỳ tình hình địa phương và yêu cầu của người tiếp nhận

mà người viết có cách xử lý sao cho phù hợp

CHƯƠNG 2:

Trang 13

THỰC TRẠNG THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN VỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TẠI ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH TỈNH HÀ GIANG.

1.Vài nét về mảnh đất - con người Hà Giang

1.1

Vị trí địa lý

Hà Giang (diện tích:7.884,37 km2) là một tỉnh miền núi biên giới cựcbắc của Tổ quốc, có một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, phía đông giáptỉnh Cao Bằng, phiá tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía nam giáp tỉnhTuyên Quang Riêng về phía bắc, Hà Giang giáp Châu tự trị dân tộc Choang

và Miêu Văn Sơn thuộc tỉnh Vân Nam và địa cấp thị Bách Sắc thuộc tỉnhQuảng Tây của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

Địa hình của tỉnh Hà Giang khá phức tạp, có thể chia làm 3 vùng:

+ Vùng cao núi đá phía bắc nằm sát chí tuyến bắc, có độ dốc khá lớn,thung lũng và sông suối bị chia cắt nhiều khí hậu mang nhiều sắc thái ôn đới,chia làm 2 mùa (mưa và khô)

+ Vùng cao núi đất phía tây thuộc khối núi thượng nguồn sông chảy,sườn núi dốc, đèo cao, thung lũng và lòng suối hẹp

+ Vùng núi thấp trong tỉnh gồm vùng đồi núi, thung lũng sông Lô và thị

xã Hà Giang

1.2 Dân số

Do địa hình chiếm đa phần là miền núi nên dân số trong tỉnh phân bốkhông đều và không đông (ngày 1/4/2009, dân số của tỉnh là 724.353 người,mật độ dân số là 92 người/ km2) 22 dân tộc anh em cùng sinh sống đoàn kết

và gắn bó keo sơn,đồng bào kinh chiếm đa số còn lại là đồng bào các sắc dânngười: Mông, Dao, Tày, Nùng, Giáy, La chí,…phần lớn các dân tộc đều cónhững bản sắc văn hoá truyền thống đặc thù Cũng chính vì có những đặc thùriêng đó nên Hà Giang là nơi có nhiều sản phẩm văn hoá đặc sắc từ truyềnthống lâu đời của hơn 20 dân tộc, một địa danh du lịch đáng nhớ bởi cảnhquan thiên nhiên và con người nơi đây

1.3 Lịch sử phát triển

Trang 14

Bao đời nay, Hà Giang luôn là “phên dậu” phía bắc của Tổ quốc trongtiến trình của lịch sử, vùng đất Hà Giang đã qua nhiều lần thay đổi về cươngvực và tên gọi Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tỉnh có 4 châu vàmột thị xã (Bắc Quang, Vị Xuyên, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, Thị xã HàGiang) Ngày nay, Hà Giang có 10 đơn vị hành chính cấp huyện và 01 thịxã:thị xã Hà Giang là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của tỉnh

Ngày 26.6.2009, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Cao Lại Quang đã ký Quyếtđịnh số 699/QĐ - BXD công nhận thị xã Hà Giang – tỉnh Hà Giang là đô thịloại III, đánh dấu một mốc mới trên chặng đường xây dựng và phát triển củathị xã Hà Giang – Thành phố tương lai Hoà chung với khí thế thi đua, quyếttâm đạt và vượt các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đã

đề ra trước thời gian đề ra một năm, thị xã Hà Giang đã phát huy nội lực, xâydựng đô thị ngày càng sáng, xanh, sạch, đẹp, và trở thành đô thị loại III Đâycũng là minh chứng sinh động nhất của nhân dân các dân tộc thị xã Hà Giangnói riêng và tỉnh Hà Giang nói chung trong việc hiện thực hoá chủ trương,đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn đời sống của bàcon nhân dân trên địa bàn tỉnh

Với diện tích đất nông nghiệp là 134.184 ha, diện tích đất lâm nghiệp

là 334.101 ha, diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 612 ha.vì vậy

Hà Giang lấy sản xuất nông nghiệp là ngành chủ đạo trong sản xuất Từ mộttỉnh có xuất phát điểm thấp, nhưng Hà Giang luôn chú trọng đẩy mạnh pháttriển kinh tế một cách chắc chắn và có những bước đi bền vững nhờ đó mà HàGiang đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ: Tốc độ tăng trưởng kinh

tế GDP đạt 10,3%, thu nhập bình quân đầu người đạt 1,95 triệu đồng, nông –lâm nghiệp đạt 48,5%, công nghiệp – xây dựng đạt 21,5%, thương mại – dịch

vụ đạt 30,0% Bên cạnh đó Hà Giang còn có những chính sách thông thoángnhằm thu hút các nhà đầu tư , gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với pháttriển xã hội, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân, xoá đói giảm nghèo

Trang 15

bền vững, ngăn chặn đẩy lùi các tệ nạn xã hội tăng cường củng cố khối quốcphòng an ninh; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệvững chắc chủ quyền biên giới quốc gia, xây dựng biên giới hoà bình, hữunghị hợp tác cùng phát triển.

2 Vài nét về đài Phát thanh- truyền hình Hà Giang

Đài Phát thanh – truyền hình tỉnh Hà Giang được thành lập từ ngày05/09/1991, là cơ quan thông tin đại chúng của tỉnh, có chức năng là tờ báonói, báo hình giúp UBND tỉnh tuyên truyên và phổ biến chính sách của Đảng

và Nhà nước Đài chịu sự quản lý trực tiếp của UBND tỉnh và sự chỉ đạochuyên môn nghiệp vụ của đài tiếng nói Việt Nam và đài truyền hình ViệtNam Với hơn 100 cán bộ công nhân viên chức, tổ chức bộ máy của Đài đượcphân như sau:

Phó giám đốc : Chu Danh Tấn

Hà Giang là kênh thông tin quan trọng, có khả năng xã hội hoá thông tin cao

Trang 16

đạt hiệu quả thiết thực trong việc tuyên truyền các đường lối chính sách củaĐảng, Nhà nước và pháp luật tới công chúng.

Sau 19 năm thành lập Đài PT – TH Hà Giang đã có những bước pháttriển vượt bậc cả về nội dung và hình thức Đài đang quản lý hệ thống phátthanh – truyền hình với cột anten cao 117 mét máy phát hình MARRIS vớicông suất 5 kw phát trên kênh UHF, máy phát thanh 2 kw phát trên kênh FMtần số 93,7MHZ, máy số có 2 máy mỗi máy với công suất là 630 w của VTC.Cùng với 10 đài huyện và 01 đài thị xã có hệ thống kênh truyền thanh cơ sởthường xuyên hoạt động, đảm bảo phủ sóng kín trong toàn tỉnh

Về thời lượng phát sóng cũng tăng lên với nội dung phong phú hơn, cụthể thời lượng phát sóng chương trình truyền hình địa phương là 60 phút/ngày, thời lượng tiếp sóng chương trình, phát thanh địa phương là 60 phút/ngày, thời luợng tiếp sóng chương trình truyền hình quốc gia là 60 phút/ ngày

Số lượng tin bài được sử dụng cũng phong phú hơn rất nhiều bao gồm nhữngthông tin về chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế,….phản ánh mọi mặt của đờisống xã hội Đài còn mở thêm nhiều chương trình mới làm phong phú nộidung như: “nhịp cầu tri thức”, “quà tặng âm nhạc”, “Hà Giang qua báo chítrong nước”…

3 Nhu cầu thông tin về nông nghiệp, nông thôn của công chúng ở tỉnh Hà Giang

Tỉnh Hà Giang gồm 10 đơn vị hành chính cấp huyện và 01 thị xã Đaphần các huyện đều là vùng miền núi khó khăn mà bà con nhân dân lại sốngbằng nông nghiệp là chủ yếu Chính vì thế nông nghiệp, nông thôn và nôngdân trên địa bàn tỉnh trở thành một bộ phận quan trọng trong chiến lược pháttriển của tỉnh Người nông dân theo đó cũng trở thành bộ phận tiếp nhậnthông tin - đối tượng phục vụ chủ yếu của Đài PT – TH tỉnh

Bà con nhân dân trong tỉnh nói chung chủ yếu sản xuất nông nghiệp vàtiểu thủ công nghiệp, phát triển các loại hình kinh doanh, buôn bán nhỏ…nhưng kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh hơn cả Các sản phẩm nông

Ngày đăng: 16/03/2013, 09:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w