Chương 9 Lấy mẫu thành giếng và khoan nổ Để giúp cho việc khẳng định những tính toán phân tích kết luận của các phương pháp địa vật lý trong giếng khoan về thành phần thạch học hay chất
Trang 1Chương 9 Lấy mẫu thành giếng và khoan nổ
Để giúp cho việc khẳng định những tính toán phân tích kết luận của các phương pháp địa vật lý trong giếng khoan về thành phần thạch học hay chất lưu b∙o hoà trong các lớp đá người ta cần phải lấy mẫu ở thành giếng bằng các thiết bị có dùng cáp sau khi công việc khoan kết thúc
Các mẫu lấy ở thành giếng được gán chiều sâu
chính xác theo cáp, và những kết quả phân tích những
mẫu này được so sánh với kết quả phân tích tài liệu đo
địa vật lý giếng khoan Sự so sánh như vậy đôi khi còn
giúp cho việc chuẩn định cỡ các zond đo địa vật lý ở
giếng khoan được dễ dàng và chính xác hơn
9.1 Lấy mẫu đá
Việc lấy mẫu đá (hay mẫu rắn) ở thành giếng có
thể thực hiện theo hai cách bằng hai loại thiết bị khác
nhau
9.1.1 Lấy mẫu thành giếng bằng súng
(Corgun)
Từ những năm cuối thập kỷ 30 (1937)
Schlumberger đ∙ chế tạo một thiết bị máy giếng để lấy
mẫu đất đá ở thành giếng gọi là thiết bị lấy m∙u sườn
Thiết bị hoạt động theo nguyên tắc dùng thuốc nổ
mạnh bắn các đầu đạn rỗng vào thành giếng Các đầu
đạn sẽ đi vuông góc với thành giếng và “chụp” lấy một
khối lượng nhất định đất đá bị lấp nhét vào ruột rỗng
của chúng Nhờ có các cáp nối đầu đạn với súng nên
khi kéo thiết bị lên mặt đất thì các đầu đạn chứa mẫu
sườn cũng lên theo
Các súng lấy mẫu được lắp nhiều đầu đạn rỗng
(có thể tới 50 đầu đạn) nối với nhau thành hàng dọc,
khiến chiều dài khoảng lấy mẫu lên tới 3-4m (hình 9.1)
Thiết bị có loại đường kính khác nhau: Loại lớn
101.6 mm, loại nhỏ 76.2 mm
Đầu đạn được nối với súng bởi hai dây cáp bằng
thép (hình 9.2) Đầu đạn rỗng hình trụ có các lỗ rỗng
để thoát nước khi nó nhận mẫu Khi lắp vào cối súng,
Hình 9.1 Súng lấy mẫu thành giếng có các đường kính lớn nhỏ khác nhau (theo Schlumberger)
Trang 2phía trong là thuốc nổ và ngòi nổ
Khi đưa súng tới chiều sâu lấy mẫu(1),
theo điều khiển từ mặt đất, các ngòi nổ được
kích nổ đồng loạt Nhờ áp lực tạo ra khi nổ,
các đầu đạn bắn ra khỏi cối súng với tốc độ
lớn Cắm vào đất đá, các đầu đạn rỗng một
mặt chụp lấy mẫu đất đá, mặt khác tác động
xung lực làm biến dạng phần đất đá xung
quanh, gây ra các nứt nẻ ở thành giếng
khoan Khối lượng mẫu rắn đựng trong mỗi
đầu đạn phụ thuộc vào độ cứng của đất đá,
đường kính của đầu đạn, công suất của liều
nổ, chiều sâu đâm xuyên của đầu đạn Các
đầu đạn rỗng thường dùng có đường kính từ
17 - 21.6 mm, chiều sâu đâm xuyên từ 20 -
63.5 mm tuỳ từng loại súng
Sau khi được kích nổ, các đầu đạn
được kéo lên cùng với súng Trên mặt đất
mẫu được lấy ra từ mỗi đầu đạn được đánh
số theo thứ tự từ trên xuống để định chiều
sâu được chính xác Hình 9.3 là ảnh chụp
đầu đạn và mẫu sườn
9.1.2 Lấy mẫu đá bằng thiết bị
khoan thành giếng
Thiết bị được cấu tạo gồm máy giếng
và hộp điều khiển trên mặt đất làm việc nhờ máy tính Tất cả hoạt động khoan lấy mẫu
và đưa mẫu vào ống đựng được kiểm soát bởi sự hỗ trợ của một màn hình nhằm chính xác hoá các lệnh điều khiển qua bàn phím của máy tính
Việc lấy mẫu từ thành giếng được thực hiện nhờ một bộ khoan cụ xoay có
đường kính 120.7 mm (hình 9.4)
Khi đưa thiết bị vào giếng, mũi khoan nằm bên trong của vỏ thiết bị Khi thiết bị đ∙ ở chiều sâu lấy mẫu, mũi khoan
sẽ quay về vị trí làm việc “khoan”, áp sát vào thành giếng nhờ một cần gạt ở phía đối diện có lực ép lớn
1 Thường xác định chiều sâu bắn để lấy mẫu người ta dựa vào đường cong GR hoặc SP để xác định cho chính
Hình 9.2 Sơ đồ đầu đạn trong súng
lấu mẫu a) Đầu đạn nạp trong cối súng b) Đầu đạn xuyên vào thành giếng
Vỏ đạn (cối)
Đầu đạn
Cáp nối
Thành hệ
Thuốc nổ
Ngòi nổ
Vỏ máy (súng)
Hình 9.3 Đầu đạn và mẫu sườn
(theo Schlumberger)
Mẫu đá
Đầu đàn
Cáp nối
Trang 3Trong khi khoan mẫu ống định
hướng của mũi khoan được cố định chặt,
còn mũi khoan thì xoay để khoan vào
thành giếng Đường đi của mũi khoan
trong đất đá luôn luôn được kiểm soát
qua một đồ thị trên màn hình
Sau khi đi sâu vào đất đá đến
chiều sâu định trước (tối đa 4.5cm) mũi
khoan ngừng quay và chuyển động thụt
vào vỏ máy, còn chính vỏ định hướng lại
quay trở về vị trí tự do Vào thời điểm
đó, vỏ định hướng mũi khoan được tác
động một lực làm nó lắc mạnh, mẫu bị
g∙y và được đưa vào ống đựng mẫu của
thiết bị
Thiết bị khoan thành giếng của
Schlumberger là loại thiết bị chuyên
dụng, có kích thước hàng mét (10.8m) và
trọng lượng khá nặng nề (tối đa 342kg)
Mẫu lõi khoan bằng các thiết bị loại này
có đường kính 25.4mm và chiều dài tối
đa 44.5mm
Thiết bị này chỉ lấy mẫu ở các lớp
đá cứng, không tiến hành lấy mẫu bằng
thiết bị khoan thành giếng đối với các lớp
than hay các đá có độ gắn kết yếu
9.2 Lấy mẫu chất lưu và đo áp
suất vỉa
Mỗi h∙ng thực hiện lấy mẫu chất lưu và đo áp suất vỉa bằng các thiết bị có tên thương hiệu của riêng mình, nhưng có nguyên tắc hoạt động gần giống nhau, vì vậy ở
đây chỉ cần xem xét các thiết bị của Schlumberger
9.2.1 Thử vỉa (FT)
Từ đầu thập kỷ 50 (1952) Schlumberger đ∙ đưa vào sản xuất một thiết bị đo thử vỉa đầu tiên hoạt động theo sơ đồ nguyên tắc mô tả ở hình 9.5
Thiết bị có cấu trúc gồm các cánh có đệm cao su dài 70cm, rộng khoảng 15cm
có tác dụng áp chặt thiết bị vào thành giếng Trong thiết bị có nạp một khối thuốc nổ nhỏ đủ để đột thủng thành giếng khoan khi cần
ở chiều sâu lấy mẫu trong giếng các cánh dương ra nhờ áp suất thuỷ lực, một bên cánh giữ chặt thiết bị, bên đối diện là đệm cao su có cửa sổ lấy mẫu Sau khi định vị và
áp chặt cửa lấy mẫu vào thành giếng, từ mặt đất điều khiển để van đón dòng mở, vào thời
Hình 9.4 Hình ảnh máy giếng của thiết
bị khoan thành giếng (RCOR) (theo Western Atlas)
Mũi khoan
Càng gạt
ống định hướng
Trang 4điểm đó chất lưu trong vỉa chảy vào bình đựng mẫu qua lỗ cửa sổ Khi áp suất trong bình mẫu cân bằng với áp suất ở lỗ rỗng của đá (áp suất vỉa) thì van này lại đóng chặt
Trường hợp áp suất vỉa nhỏ, đất đá thấm kém, dòng mẫu rất yếu thì cần phải kích nổ khối thuốc để mở dòng (hình 9.5b) Thuốc nổ tạo nứt nẻ và lỗ thủng để chất lưu dễ dàng tập trung chảy vào bình đựng mẫu Cũng như trường hợp trên, van đón dòng lại đóng kín
Khi bình chứa đ∙ đầy mẫu chất lưu, van đ∙ đóng, thì thiết bị được kéo lên mặt
đất Thể tích của bình có thể khác nhau: 4,10 hoặc 20 lít
Trong quá trình thử vỉa đồng thời đo đường cong biến thiên áp suất để theo dõi phát nổ của khối thuốc, và đo các giá trị áp suất: a) áp suất lực ép cánh thiết bị (áp suất bên trong do thiết bị tạo ra); b) áp suất cách ly; c) áp suất gia tăng và áp suất tĩnh; d)
áp suất cột dung dịch khoan Các thông tin này đi kèm với phép thử vỉa sẽ kiểm tra lẫn nhau trong quá trình làm việc
Hình 9.5 Nguyên tắc hoạt động của thiết bị đo thử vỉa FT
(theo Schlumberger)
Độ thấm vỉa bình thường Độ thấm vỉa kém
Thuốc nổ
Cửa mở
Van đóng(mở)
Van
Trang 59.2.2 Thử vỉa phân tầng (FIT)
Việc đo thử vỉa như sơ đồ hình 9.5 có nhiều
hạn chế ở chỗ có thể bị kẹt vào thành giếng Cân
bằng áp suất để tháo gỡ các cánh có khi không có
kết quả, làm cho thiết bị mắc lại ở thành giếng
Muốn tránh rủi ro đó có thể dùng những máy giếng
có các cần nhỏ hơn Loại thiết bị như vậy có hình
dáng như trên hình 9.6
Hoạt động của thiết bị đo thử vỉa phân tầng
được mô tả ở hình 9.7
Cũng như thiết bị lấy mẫu thử vỉa FT, thiết bị
FIT cũng chỉ lấy một mẫu tại vị trí đặt thiết bị Nó
thu được mẫu có thể tích 4 lít hoặc 10 lít Mẫu này
được rút ra từ vỉa rất chậm do phải xuyên qua một
“đệm nước” có thể do bị nghẹt tắc trong khi chảy
vào bình đựng Sau khi chọn vị trí chính xác để lấy
mẫu thử vỉa nhờ một điện cực ở phần được cách
điện với đường dẫn dùng để đo SP, các thay đổi áp
suất trong quá trình lấy mẫu được ghi lại (hình 9.8)
Đường biểu diễn trên hình 9.8 là kết quả đo ghi bằng thiết bị FIT có, ống thu dòng và cánh nạp thuốc nổ có lỗ định hướng ống thu dòng cắm sâu vào thành giếng nếu đất đá mềm, và thuốc
nổ sẽ tạo một lỗ định hướng vào thành giếng nếu đá cứng Trên hình 9.8 có các ký hiệu áp suất tương ứng trên đường đồ thị thay
đổi áp suất theo thời gian:
A - Chuẩn định cỡ cửa sổ
đo áp suất
B - Giá trị đo áp suất thuỷ tĩnh của cột dung dịch
C - Thời điểm mở Zond
đo
Hình 9.6 Thiết bị thử vỉaphân tầng (theo Schlumberger)
Hình 9.7 Đặt thiết bị đo thử vỉa theophân tầng (FIT)
có ống dẫn dòng và nạp thuốc nổ
Cáp
áp suất thuỷ tĩnh
Pistôn thuỷ tĩnh
Lỗ thu mẫu
ống đệm Thuốc nổ
áp kế đo P(t)
Van
Van khoá
Bình đựng mẫu Mẫu chất lưu
Bình chứa nước
Bình chứa
nước
Vỏ sét
Thành hệ
Cần ép
Trang 6D - Bắt đầu lấy mẫu chất lưu
E - Thời điểm kích nổ
F - Kết thúc lấy mẫu (đầy bình)
G - Kết thúc tăng áp suất
H - Đóng bình đựng mẫu
I - Đóng máy
Nhờ có thể nổ để mở lỗ ở cánh bên
dưới mà thiết bị lấy mẫu thử vỉa từng đoạn
(FIT) có thể tiến hành cả ở các giếng có
ống chống
9.2.3 Thử vỉa lặp lại (RFT)
Thiết bị thử vỉa lặp lại (RFT) có thể
tiến hành lấy mẫu thử vỉa không hạn chế
số lần tại một vị trí ở thành giếng khoan
Giống như các thiết bị FT và FIT, RFT
cũng có các cánh cùng lớp đệm bít kín để
lấy mẫu, và có cánh bên phía đối diện để
ép chặt thiết bị vào thành giếng khoan
Việc đóng mở thiết bị cũng được điều khiển từ mặt đất, các hoạt động thường được
kiểm soát bởi các van có thể
đóng mở lặp đi lặp lại không hạn chế số lần
Các phép thử bao gồm thử “sơ bộ” lấy 20 cm3 mẫu chất lưu mỗi lần Trong lúc lấy mẫu cũng là lúc đo sự thay đổi
áp suất Sau mỗi lần kết thúc thử như vậy thì lấy các mẫu chất lưu có thể tích 3.78 và 10.4 lít dùng để phân tích thành phần chất lưu Hình 9.9 thể hiện ảnh chụp một đoạn của thiết bị đo thử vỉa lặp lại (RFT) ở thế đóng (a) và mở (b) các cánh gạt và cánh lấy mẫu thử
Hình 9.10 mô tả sơ đồ nguyên tắc của thiết bị RFT Thiết bị có hai buồng thử có thể tích mỗi buồng 10 cm3, chất lưu trong vỉa được hút vào buồng
Hình 9.8 Một thí dụ đường biểu diễn thay đổi áp suất theo thời gian bằng FIT
Kiểm tra
Hoạt động của cần Thời điểm nổ
áp suất
Hình 9.9 Thiết bị đo thử vỉa lặp lại (RFT)
a) Cánh khép; b) Cánh mở
ố ng
Càng lấy mẫu
Càng chống va quệt Pitton của
cánh ép
Trang 7thứ nhất với lưu lượng q1 = 37
cm3/phút; buồng thứ hai có q2 = 75
cm3/phút Đúng vào thời điểm đầy
buồng thứ nhất thì một triger làm
việc tự động mở van để hút chất lưu
chảy vào buồng thứ hai với lưu
lượng gấp 2.027 lần(1)
Sự hồi phục áp suất đầu tiên
sẽ diễn ra rõ ràng sau mỗi lần thử
Nếu một hoặc cả hai buồng sau đó
vẫn được tiếp tục làm dầy thì sự
tăng áp thứ hai có thể diễn ra
Hình 9.11 mô tả đồ thị biểu
diễn thay đổi áp suất theo thời gian
Đồ thị này được ghi tương tự (hoặc
khi số sau khi hiển thị) trong quá
trình thử sơ bộ
Khi mở buồng thứ nhất dòng
q1 trong thời gian t, có giá trị 37
cm3/phút và đường đồ thị thể hiện
chênh sụt áo ∆P1, liền sau đó trong
khoảng thời gian (t2 – t1), dòng
chảy với lưu lượng q2 = 75
cm3/phút thì tương ứng ∆P2
Sau khi buồng thứ hai chất đầy chất lưu thì áp suất tổng hệ đo hồi phụ nhanh để bằng áp suất vỉa Pf
Mỗi phép thử
“sơ bộ” chỉ kéo dài trong khoảng thời gian
từ 30 đến 35 giây Kết thúc mỗi phép thử như vậy, van đối áp (xem sơ đồ hình 9.10) lại
được mở, trong lòng thiết bị RFT lại có áp suất thuỷ tĩnh Pm của cột dung dịch (Pm ≥
Pf) Trước khi tiến hành vòng đo thử “sơ bộ” mới, van đối áp lại
được đóng lại
1 Các máy của Schlumberger phổ biến làm việc với q 1 = 60 cm 3 /phút; q 2 = 150 cm 3 /phút thì tỷ số này là 2.5 lần
Hình 9.10 Sơ đồ nguyên tắc của thiết bị RFT
Thành hệ
ống dẫn
Buồng thử N 0 1
Buồng thử N 0 2 Van đối áp
Van khoá bình đựng mẫu Bình đựng mẫu N 0 1
Bình đựng mẫu N 0 2
ống dẫn
Hình 9.11 Thay đổi áp suất trong quá trình thử vỉa
(theo Schlumberger)
Lưu lượng
Ngừng thử
áp suất vỉa
áp suất
áp suất
thuỷ tĩnh
Trang 8Phép thử được lặp lại nhiều lần
tại một vị trí được chọn ở các vỉa đá
có độ thấm và độ rỗng cao Trước khi
đưa thiết bị lên mặt đất các van kín
vào các thùng đựng mẫu được đóng
lại để bảo quản mẫu chất lỏng hoặc
chất khí
Hình 9.12 là một thí dụ đo thử
vỉa bằng thiết bị RFT
Các kết quả đo thử vỉa qua cáp
được sử dụng:
1 Dự báo hoặc xác nhận khả
năng khai thác của đá chứa dựa vào
mẫu chất lưu và phân tích số đo áp
suất
2 Tính toán một số đặc tính
của chất lưu như:
- Mật độ (tỷ trọng của dầu thô)
- Tỷ số khí/dầu (GOR) bằng
cách sử dụng các bản chuẩn thực
nghiệm (hình 9.13) như là sự phụ
thuộc hàm số của thể tích thu được
trong thử vỉa
- Tỷ phần nước, bằng tỷ số thể
tích nước vỉa chia cho tổng thể tích
của dầu và nước trong vỉa
3 Đánh giá áp suất lỗ rỗng (áp
suất vỉa) bằng cách dựng các đồ thị
chuyên dụng kiểu hàm số Horner
∆
+
∆
=
t
t
t
f
4 Xác định các tham số vỉa
chứa: (a) chỉ số khai thác; (b) độ thấm
5 Xác định mặt ranh giới dầu/nước, khí/nước trên cơ sở đo áp suất vỉa theo chiều sâu Trong phần địa tầng chứa nước, dầu hay khí có gradien áp suất riêng Vị trí các mặt ranh giới có thể nhận ra ở các đường xu thế áp suất bị g∙y khúc (gradien áp suất thay đổi đột ngột) như hình 9.14
Hình 9.12 Đo ghi thay đổi áp suất theo thời gian bằng thiết bị đo thử vỉa RFT
Trang 96 Liên kết giữa các giếng khoan Việc liên kết được thực hiện trên nguyên lý hai giếng khoan cùng xuyên qua một vỉa chứa thì áp suất vỉa đo được ở hai giếng của vỉa này phải bằng nhau nếu không bị các đứt g∙y kiến tạo cắt qua
Hình 9.13 Bản chuẩn thực nghiệm phân tích dùng để tính GOR
(theo Schlumberger)
Đới khí
Đới nước
Đới dầu
Hình 9.14 Xác định ranh giới khí/dầu và dầu/nước theo số
đo áp suất vỉa
khí
Dầu
Nước
G/o
O/w
Trang 10Tài liệu tham khảo chính
- Daev D.S (1965) Diagraphie diélectricque par induction Geol J Razved N011.p.110-119 Trad IFP russe N0546.fev.1967
- Desbrandes R (1968) Théorie et interprétation des diagraphies Ed Technip Paris
- Desbrandes R (1985) Encyclopedia of Well-logging Ed Technip Paris
- Negut A (1977) Geofizica de sonda Institytal de petrol gaze Ai geologie din Bucarest (Rumania)
- Nguyen Van Phon (1977) Contributii la interpretarea diagrfiei de rezistrivitate in geofizica de sonda (Teza de doctorat) Universitatea din Bucaresti
- Nguyễn Văn Phơn (1982) Phương pháp tổng quát khi giải bài toán tìm phân bố trường của dòng không đổi trong môi trường héterogen Tuyển tập CTKH, Đại học Mỏ - Địa chất (1980-1981) trang 104-107 Hà Nội
- Nguyễn Văn Phơn (1998) Sự hình thành đới ngấm quanh giếng khoan
và hiện tượng điện trở suất thấp trong vỉa sản phẩm Tạp chí dầu khí số 3/1998, trang 6-10
- Nguyễn Văn Phơn (2000) 50 năm bài toán mô hình độ dẫn của đá cát sét
và cái nhìn sâu hơn Tạp chí Dầu khí số 4+5/2000 trang 42-46
- Sabba S Stefanescu (1950) Modeles theoriques de milieux héterogènes pour les mrthodes de prospection electricque à courante stationaires Com Geol Studii Technice si Economice Scrie D N02 Bue
- Schlumberger (1970) Fundamentals of Aipmeter Interpretation New York N.Y 10017
- Serra O (1979) Diagraphies différées Pau
- Serra O (1984) Fundamentals of Well-log Interpretation T.1, the acquisition of logging data Amsterdam – Oxford – New York – Tokyo Pau
- Van Phon N et Babskow A (1977) Une application de la théorie des milieux hétérogenes Alpha dans (interprétaion des diagraphies électriques des sondages) Revue Roumaine de geologie geoph et geograph Tome 21 N 1 pp 83-104
- Westaway R (1991) Production logging course Wireline measurements
in cased hole Vol.1
- Альпин Л.М (1938) К теории электрического каротажа буровых скважина ОНТИ Москва
- Дахнов В.Н (1967) Электрические и магнитные методы исследования скважин – ôНедраằ Москва
- Дахнов В.Н (1972) Интерпретация результатов геофизических исследований разрезов скважин Изд ôНедраằ Москва
- Дахнов В.Н (1975) Геофизические методы определения келлекторских свойств и нефтегазонасыщения горных пород ôНедраằ Москва
- Добрынин В.М и друг (1986) Промысловая геофизика ôНедраằ Москва