1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trên địa bàn tỉnh thái nguyên trong điều kiện hội nhập

24 339 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 321,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện nước ta đang từng bước hội nhập với nền kinh tế quốc tế thì việc tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản nói chung; tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Việt Nam là một trong số các quốc gia có lợi thế về phát triển nông sản trong đó có ngành hàng rau Nhưng trên thực tế sản phẩm rau chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của từng vùng, vẫn phải vận chuyển từ các vùng xa xôi của đất nước, hoặc phải nhập khẩu rau Trong điều kiện nước ta đang từng bước hội nhập với nền kinh tế quốc tế thì việc tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản nói chung; tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau nói riêng trên địa bàn các tỉnh, thành phố cũng như trên phạm vi cả nước đang được đặt ra cấp thiết bởi những bất cập của hệ thống tổ chức và quản

lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau chủ yếu tự phát, manh mún, chắp vá, tính liên kết chưa cao, chưa đáp ứng được các yêu cầu phát triển ngày càng cao của nền kinh tế - xã hội

Trong sản xuất nông nghiệp, cây rau có vai trò rất quan trọng Rau là một trong những loại thực phẩm có giá trị và là mặt hàng thiết yếu của con người Việc tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau theo lãnh thổ trên địa bàn tỉnh nhằm sắp xếp, bố trí

và phối hợp các chủ thể sản xuất một cách hợp lý, khai thác lợi thế các nguồn lực tự nhiên,

cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ và nguồn nhân lực sẽ đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao Thực tiễn trên đặt ra yêu cầu nghiên cứu tổng kết thực tiễn một cách đồng bộ về hệ thống

tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trên địa bàn tỉnh, đưa ra các định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy ngành hàng rau phát triển nhanh, bền vững và hiệu quả

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, đang trong quá trình đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa

và công nghiệp hóa, trên địa bàn Tỉnh nhiều khu đô thị, khu công nghiệp đã hình thành, có nhiều trường học và khu du lịch Tất cả các yếu tố đó làm cho nhu cầu tiêu dùng rau trong Tỉnh ngày càng cao Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, trong đó ngành rau cũng có những bước tăng trưởng không ngừng cả về diện tích sản xuất , chủng loại và sản lượng rau cung cấp cho thị trường Tuy nhiên công tác tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau còn nhiều bất cập cần được khắc phục và điều chỉnh: Chất lượng sản phẩm rau chưa được quan tâm; các quy trình kỹ thuật sản xuất rau an toàn vẫn chưa được áp dụng thường xuyên và phổ biến; sản xuất rau vẫn còn mang tính tự phát, manh mún, nhỏ lẻ; công nghiệp chế biến rau còn nhiều hạn chế và chưa tương xứng với tiềm năng của ngành; vấn đề tiêu thụ các sản phẩm rau trong Tỉnh và hướng tới xuất khẩu trong điều kiện hội nhập còn gặp phải khó khăn và thách thức; công tác quy hoạch, đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ ngành rau chưa được đầu tư đúng mức; công tác tổ chức và quản lý của nhà nước đối với ngành rau, việc xây dựng các cơ chế chính sách nhà nước đối với ngành rau còn nhiều bất cập và vướng mắc cần phải được xem, giải quyết Để tổ chức và quản lý tốt ngành hàng rau thì việc

nghiên cứu đề tài “Tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập” là cần thiết, có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn

trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, nâng cao giá trị sản xuất và nâng cao thu nhập của người dân

Trang 2

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

- Góp phần hệ thống hoá và làm rõ hơn những vấn đề lý luận trên lĩnh vực tổ chức và quản lý ngành hàng rau trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng công tác tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

- Đánh giá rõ sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

- Đề xuất các định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác tổ chức

và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nhằm đáp ứng nhu cầu rau xanh, rau chế biến cho người tiêu dùng về số lượng, chất lượng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đến năm 2020

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề về tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trong điều kiện hội nhập

- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu chủ yếu những vấn đề về tổ chức

và quản lý của Nhà nước đối với sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

- Phạm vi không gian: Luận án tập trung chủ yếu ở 4 đơn vị hành chính thuộc tỉnh Thái Nguyên được chọn làm điểm nghiên cứu là Thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ, huyện Đồng Hỷ, huyện Phổ Yên

- Phạm vi thời gian: số liệu và các tư liệu nghiên cứu chủ yếu được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 1999 đến nay Số liệu điều tra tập trung vào năm 2010 là chủ yếu Các giải pháp đề xuất đến 2020

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ngoài phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận án sử dụng phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị, tiếp cận có sự tham gia, phương pháp tiếp cận theo khung logic, hệ thống giải pháp – các yếu tố ảnh hưởng, tác động Điều tra khảo sát, thu thập, phân tích, so sánh số liệu, toán tài chính, các số liệu được xử lý thống kê theo chương trình Excel

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Đề tài nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở lý luận cho các nhà quản lý, cơ sở để hoạch định các chính sách phát triển ngành và vùng sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau Kết quả nghiên cứu góp phần đề xuất những định hướng và một số biện pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác

tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

6 KẾT CẤU LUẬN ÁN

Luận án gồm 183 trang với 12 bảng, 5 đồ thị, 1 hình, 9 sơ đồ, 71 phụ lục Ngoài phần

mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 3 chương, với các nội dung chủ yếu sau:

Trang 3

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ SẢN XUẤT,

CHẾ BIẾN, TIÊU THỤ RAU TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

1.1 Vai trò và đặc điểm của sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau

1.1.1 Vai trò của rau xanh và sản xuất rau xanh

Rau xanh có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống con người, nó cung cấp thực phẩm hàng ngày cho con người Rau xanh có rất nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể như các loại vitamin, khoáng chất, chất xơ Một số loại rau đóng vai trò như cây lương thực, một số loại rau là cây dược liệu góp phần chữa các bệnh, nâng cao sức đề kháng cơ thể và tăng cường tiêu hóa

Sản xuất rau xanh có ý nghĩa lớn về kinh tế, xã hội, tạo thêm việc làm cho người sản xuất, góp phần nâng cao mức thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân Sản xuất rau xanh còn là nguồn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến rau, tạo ra các sản phẩm rau chế biến phục vụ xuất khẩu tạo khả năng thu ngoại tệ quan trọng trong xuất khẩu nông sản

1.1.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất rau, chế biến, tiêu thụ rau

1.1.2.1 Đặc điểm kỹ thuật

Đối với khâu sản xuất: Rau là loại cây trồng ngắn ngày, phần lớn các loại rau có thể trồng được nhiều vụ trong 1 năm, một số loại rau còn có ưu điểm trồng một lần cho thu hoạch nhiều lứa, sản phẩm rau xanh thu hoạch khá tập trung Cây rau chịu ảnh h ưởng lớn của điều kiện ngoại cảnh, rất mẫn cảm với sự thay đổi của điều kiện khí hậu thời tiết như: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, vì vậy yêu cầu thời vụ rất nghiêm ngặt Cây rau có thể được trồng dưới nhiều dạng khác nhau như trồng thuần, trồng xen, trồng gối, trồng rau cần sử dụng nhiều nhân công

Đối với khâu chế biến: Sản phẩm rau chế biến là nhóm mặt hàng khá đa dạng và phong phú: sơ chế, muối, sản phẩm đóng hộp, sấy khô… Sản phẩm rau sau chế biến dễ bảo quản, vận chuyển, tiện sử dụng và hiệu quả kinh tế cao Sản phẩm rau chế biến thuộc nhóm mặt hàng thực phẩm nên thời gian bảo quản và sử dụng có giới hạn nhất định Từ đặc điểm này đòi hỏi quá trình chế biến, bảo quản cần tuân thủ những y êu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm rất cao,công nghệ chế biến rau rất phức tạp và đa dạng

Đối với khâu tiêu thụ: Sau khi thu hoạch, phần lớn rau được tiêu thụ dưới dạng tươi, sản phẩm rau sau khi thu hoạch có 85 - 99 % sản lượng trở thành hàng hóa trao đổi trên thị trường Rau tươi chứa hàm lượng nước lớn nên chúng rất cồng kềnh, dễ bị dập nát, dễ bị héo

úa, tỷ lệ hao về khối lượng cao, giảm về chất lượng nhanh, sản phẩm rau khó vận chuyển và bảo quản Địa bàn cung ứng rau rộng làm tăng chi phí trong khâu vận chuyển đi tiêu thụ, chủng loại rau phong phú đa dạng, mùa vụ ngắn, lúc chính vụ sản phẩm rau nhiều thì giá thường thấp hơn lúc trái vụ

Trang 4

1.1.2.2 Đặc điểm kinh tế và tổ chức sản xuất rau

Rau là ngành sản xuất hàng hóa, phát triển sản xuất rau sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn sang sản xuất hàng hóa Sản xuất rau nói chung là ngành

có thu nhập khá cao trong ngành nông nghiệp Ngành hàng rau có khả năng thu hút nhiều lao động và giải quyết việc làm Rau là nguyên liệu chế biến thực phẩm phong phú và quan trọng, rau là mặt hàng xuất khẩu đem lại ngoại tệ lớn cho đất nước

* Từ những đặc điểm về sản xuất rau ở trên, trong tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau cần lưu ý:

- Việc tổ chức và quản lý SX-CB-TT rau đòi hỏi phải được hình thành trên cơ sở một dây chuyền đồng bộ, khép kín từ kỹ thuật gieo trồng và trình độ thâm canh cao, đến quy trình xử lý hợp lý sau thu hoạch, tạo nguồn hàng rau phục cho chế biến hoặc mang đi tiêu thụ ngay, cần có hệ thống bảo quản và vận tải thích hợp

- Cần tổ chức hình thức sản xuất tập trung chuyên môn hóa, tăng cường sự hợp tác giữa các cơ sở sản xuất, chế biến rau, tăng cường mối liên kết giữa các khâu trong chuỗi sản xuất - chế biến - tiêu thụ rau, đáp ứng được yêu cầu khối lượng rau lớn, chất lượng, vệ sinh

an toàn thực phẩm, đảm bảo tính đều đặn và đồng đều trong cung ứng sản phẩm rau

- Tổ chức và quản lý SX-CB-TT rau hướng tới hiệu quả cao, bao gồm: HQKT cao cho người sản xuất, người chế biến, người tiêu thụ rau Hiệu quả xã hội: cung cấp đa dạng các loại rau xanh, RCB có chất lượng, đảm bảo VSATTP cho người tiêu dùng; tạo thêm nhiều việc làm có thu nhập cao trong xã hội Hiệu quả về môi trường: không gây ô nhiễm môi trường, góp phần phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững

- Tổ chức và quản lý các chuỗi SX-CB-TT rau thành ngành sản xuất tiên tiến, hiện đại: Có tỷ lệ ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ cao trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ rau, bao gồm: phát triển giống mới, áp dụng kỹ thuật canh tác cao, công nghệ bảo quản

và chế biến sau thu hoạch hiện đại, phát triển mạng lưới hệ thống cơ sở tiêu thụ, phuơng tiện vận chuyển rau thuận tiện và hiện đại, thực hiện cơ giới hóa trong SX-CB-TT rau

1.2 Những vấn đề về tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau

1.2.1 Khái niệm về tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau

Tổ chức quản lý các hoạt động SX-CB-TT rau ở tầm vĩ mô của chính quyền Nhà nước bao gồm việc tổ chức quy hoạch, sắp xếp một cách khoa học các yếu tố sản xuất và phối hợp điều hòa hoạt động của những nguồn lực đầu vào như: sắp xếp những nguồn lực đất đai canh tác, đầu

tư kết cấu hạ tầng, sắp xếp tổ chức nguồn lao động, hỗ trợ nguồn vốn, đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, tư liệu sản xuất phục vụ cho ngành hàng rau phát triển hay thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm trong ngành hàng rau để thực hiện các mục đích và mục tiêu đã xác định trong những điều kiện cụ thể

Trang 5

1.2.1 Nội dung tổ chức và quản lý của Nhà nước đối với ngành hàng rau trên địa bàn tỉnh

- Xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển ngành hàng rau: Xây dựng chiến lược

và quy hoạch phát triển ngành hàng rau là đặt ra các mục tiêu phát triển ngành hàng lâu dài, xây dựng kế hoạch phát triển ngành một cách khoa học, bố trí sắp xếp ngành hàng rau cho một tương lai dài hạn Đối với quy hoạch vùng trồng rau đó là sự sắp xếp bố trí về thời gian, không gian, diện tích, cơ cấu rau, sản lượng rau trồng… các điều kiện vật chất để hình thành vùng rau chuyên canh cho tương lai

- Xây dựng các chính sách phát triển ngành hàng rau: Xây dựng các văn bản chế độ

chính sách quản lý của Nhà nước ngành rau Để quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau Nhà nước xây dựng và ban hành các văn bản chính sách quản lý tại các thời điểm khác nhau nhằm khuyến khích phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau Xây dựng chính sách phát triển các hiệp hội ngành hàng rau

- Tổ chức xây dựng kết cấu hạ tầng ngành hàng rau: Tổ chức xây dựng kết cấu hạ

tầng ngành hàng rau bao gồm rất nhiều các hạng mục công trình đầu tư, đó có thể là sự đầu

tư vào hệ thống đường giao thông, hệ thống đường điện, hệ thống thủy lợi, hệ thống chợ và siêu thị, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống sân kho, kho mát

- Phát triển khoa học công nghệ và đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau: Để tổ chức và quản lý tốt ngành hàng rau thì công tác nghiên

cứu khoa học và đưa tiến bộ khoa học công nghệ ứng dụng vào trong ngành hàng rau chiếm một vị trí vai trò rất quan trọng Để nâng cao được chất lượng sản phẩm rau thì cần phải có các công trình nghiên cứu lai tạo ra được các giống rau tốt, nghiên cứu được quy trình kỹ thuật sản xuất rau tiên tiến hiện đại, công nghệ chế biến bảo quản rau hiện đại

- Tổ chức và quản lý hoạt động khuyến nông trong sản xuất rau: Để tổ chức và quản

lý tốt khâu sản xuất rau các chính quyền địa phương cần phải tăng cường quan tâm tới công tác khuyến nông bởi vì nông dân chuyên trồng rau hàng hóa thường xuyên có nhu cầu được tiếp xúc với các đơn vị khuyến nông và nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất rau của họ

- Tổ chức và quản lý công nghiệp chế biến rau: Nhà nước thực hiện quản lý ở tầm vĩ

mô đối với các khu công nghiệp trong đó có các nhà máy chế biến rau Tổ chức thực hiện tạo lập cơ chế thu hút các nguồn vốn đầu tư vào xây dựng các nhà máy chế biến rau tập trung theo quy hoạch

- Tổ chức các hoạt động giám sát, hoạt động đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm rau: Các cơ quan quản lý Nhà nước ngành

rau phải thường xuyên kiểm tra giám sát quy trình sản xuất rau, ban hành các chính sách khuyến khích đầu tư nâng cao quản lý chất lượng sản phẩm rau Quản lý kiểm soát, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng Nhà nước qui trình kỹ thuật sản xuất, kiểm tra chất lượng sản phẩm rau phải tiến hành ngay từ trang trại trồng rau đến tận bàn ăn của người tiêu dùng rau

Trang 6

- Tổ chức và quản lý thị trường tiêu thụ rau: Để tổ chức và quản lý hoạt động tiêu

thụ sản phẩm rau cần thực hiện tốt các nội dung như: phát triển thông tin thị trường về sản phẩm rau, xây dựng thương hiệu rau mạnh, tổ chức và quản lý tốt mạng lưới tiêu thụ rau, tổ chức thiết kế, mở rộng các kênh tiêu thụ rau, quản lý theo chuỗi giá trị rau

1.2.3 Một số chỉ tiêu hiệu quả tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau

- Xây dựng chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế: Hiện nay có rất nhiều hệ thống chỉ tiêu để

đánh giá hiệu quả tổ chức và quản lý ngành hàng rau như: Giá trị sản xuất/1 ngày công lao động (GO/LĐ); Giá trị sản xuất/1 đồng chi phí (GO/IC); Giá trị gia tăng/1 ngày công lao động (VA/LĐ); Giá trị gia tăng/1 đồng chi phí (VA/IC; Thu nhập hỗn hợp/1 ngày công lao động (MI/LĐ); Thu nhập hỗn hợp/1 đồng chi phí (MI/IC); Lợi nhuận/1 ngày công lao động (TPr/LĐ); Lợi nhuận/1 đồng chi phí (TPr/IC); Tỷ suất lợi nhuận = TPr/TC x 100%

- Các chỉ tiêu về hiệu quả xã hội được tạo bởi ngành hàng rau: Quá trình tổ chức và

quản lý của Nhà nước đối với sự phát triển của ngành hàng rau phải kéo theo sự gia tăng các chỉ tiêu như góp phần đẩy mạnh lên kinh tế quốc dân đi lên, đóng góp vào tốc độ tăng

trưởng của cả nền kinh tế; gia tăng phúc lợi xã hội dưới các mặt như: giải quyết vấn đề lao động, việc làm và thất nghiệp; giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo

- Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường do quản lý ngành hàng rau: Chỉ tiêu đánh giá

so sánh tương quan giữa nhịp độ phát triển của ngành hàng rau với tình hình ô nhiễm môi trường là một chỉ tiêu chính được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của công tác tổ chức và quản lý ngành hàng rau đối với vấn đề bảo vệ và cải thiện môi trường tại địa phương

1.2.3 Lý thuyết về chuỗi giá trị trong tổ chức và quản lý ngành hàng rau

1.2.3.1 Chuỗi giá trị và đặc điểm của chuỗi giá trị trong SX-CB-TT rau

Chuỗi giá trị là một hệ thống trao đổi có tổ chức từ sản xuất đến tiêu thụ nhằm mục đích tạo ra giá trị và tính cạnh tranh Chuỗi giá trị là sự liên kết để đem lại giá trị cho người sản xuất và người tiêu dùng Đặc điểm chính của chuỗi giá trị là tạo ra liên kết kinh doanh bằng việc tham gia vào chuỗi giá trị, ví dụ nông dân, nhà chế biến, bán lẻ và xuất khẩu, làm việc cùng nhau Để tăng giá trị, chuỗi giá trị cần phải đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng và có tính cạnh tranh Để có tính cạnh tranh, chuỗi giá trị cần phải luôn đổi mới Để tạo được sự liên kết hiệu quả, chuỗi cần phải chia lợi nhuận để khuyến khích người tham gia vào chuỗi

Hình 1.1: Chuỗi giá trị

Chế biến

cơ bản

Khách hàng

Chế biến có giá trị gia tăng Nguyên

liệu thô

Trang 7

1.2.3.2 Liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất - chế biến - tiêu thụ rau

Liên kết kinh tế trong chuỗi giá trị là sự phối hợp của hai hay nhiều bên, không kể quy mô hay loại hình sở hữu Mục tiêu của liên kết kinh tế trong chuỗi giá trị SX-CB-TT rau là các bên tìm cách bù đắp sự thiếu hụt của mình, từ sự phối hợp hoạt động với các đối tác nhằm đem lại lợi ích cho các bên

1.2.3.3 Phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị trong ngành hàng rau

- Phương pháp tiếp cận toàn cầu nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hàng rau: Khái

niệm các chuỗi giá trị được áp dụng để phân tích toàn cầu hoá, khung phân tích chuỗi giá trị

để tìm hiểu các cách thức mà các công ty và các quốc gia hội nhập toàn cầu và để đánh giá các yếu tố quyết định đến phân phối thu nhập toàn cầu Phân tích chuỗi giá trị có thể làm sáng tỏ việc các doanh nghiệp, vùng và quốc gia được kết nối với nền kinh tế toàn cầu như thế nào Cách phân tích lồng ghép này sẽ xác định ở mức độ rộng hơn các kết quả phân phối của các hệ thống sản xuất toàn cầu và năng suất mà các nhà sản xuất cá thể phải nâng cao hoạt động và do đó tự đặt mình vào con đường tăng trưởng bền vững

- Phương pháp tiếp cận quốc gia nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hàng rau: Phương

pháp tiếp cận quốc gia dùng khung phân tích chuỗi giá trị để tìm hiểu các cách thức mà các

cơ sở SX-CB-TT rau và các địa phương, các tỉnh, các vùng SX-CB-TT rau trong nước hội nhập như thế nào và để đánh giá các yếu tố quyết định đến hiệu quả, lợi ích, thu nhập của các cơ sở SX-CB-TT rau trong chuỗi giá trị ngành hàng rau của quốc gia

- Phương pháp tiếp cận vùng nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hàng rau: Phương pháp

tiếp cận vùng sử dụng khung phân tích chuỗi giá trị ngành hàng rau được áp dụng để tìm hiểu các cách thức mà các cơ sở SX-CB-TT rau trong vùng tìm cách tăng năng lực cạnh tranh và để có đủ điều kiện xâm nhập thị trường rau ra các tỉnh lân cận và trong cả nước, tiêu thụ rau ra ngoài địa bàn tỉnh trong điều kiện các Tỉnh ngày càng hội nhập với nền kinh

tế cả nước và quốc tế

1.3 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến và tiêu thụ rau

- Nhóm nhân tố về thị trường: Nhu cầu rau của người tiêu dùng là căn cứ quan trọng

nhất cho sự phát triển của ngành hàng rau cả về quy mô, cơ cấu sản phẩm, chủng loại sản phẩm rau cũng như về tốc độ tăng trưởng, là cơ sở để có các quyết định của nhà quản lý Cầu về sản phẩm rau ngày một phát triển, đó là một cơ hội lớn cho sự lựa chọn hướng đầu tư, quy mô đầu

tư, cũng như các biện pháp tổ chức quản lý phù hợp nhằm phát triển ngành rau

- Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên: Nhóm nhân tố tự nhiên là tiền đề cơ bản để tổ

chức phát triển sản xuất rau và phân bố sản xuất rau Mỗi loại rau trồng chỉ có thể sinh trưởng và phát triển trong những điều kiện tự nhiên nhất định Cây rau là loại cây ngắn ngày, sinh trưởng và phát triển của nó phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, bao gồm: đất, nước, khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, địa hình, môi trường, sinh thái…

Trang 8

- Nhóm nhân tố về công nghệ và kỹ thuật: Các nhân tố về công nghệ và kỹ thuật có

những ảnh hưởng nhất định đến các hoạt động sản xuất, chế biến rau Các nhân tố công nghệ kỹ thuật là yếu tố quyết định đến năng lực của các cơ sở SX-CB-TT rau Thông thường cơ sở SX-CB-TT rau có công nghệ kỹ thuật hiện đại tiên tiến thì năng lực tổ chức và quản lý của cơ sở đó tốt và ngược lại

- Nhóm nhân tố về tổ chức và quản lý ngành rau: Nhóm nhân tố về tổ chức và quản

lý trong các khâu SX-CB-TT rau có vai trò nhất định trong việc tạo ra sự gia tăng sản lượng hay sự gia tăng thu nhập của ngành hàng rau, tạo ra sự tăng trưởng tổng thể của ngành hàng rau Khả năng tổ chức, khả năng quản lý SX-CB-TT rau, năng lực quản lý ngành rau là một nhân tố có ảnh hưởng đáng kể tới sự tăng trưởng và phát triển của ngành rau

- Nhóm nhân tố quản lý nhà nước đối với ngành rau: Quản lý Nhà nước ngành rau là

quản lý vĩ mô không thế thiếu cho sự phát triển của ngành hàng rau ở một địa phương, một vùng hay trên phạm vi quốc gia Quản lý Nhà nước đối với ngành rau bao gồm các nội dung chủ yếu là: xây dựng mục tiêu chiến lược phát triển ngành, xây dựng quy hoạch, chủ trương, phương hướng, biện pháp phát triển ngành rau; xây dựng chính sách đầu tư; tập huấn nông dân; xây dựng hệ thống quản lý chất lượng rau; nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao; nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật; tổ chức mạng lưới tiêu thụ; đẩy mạnh tuyên truyền quảng

bá cho ngành rau; xây dựng các mô hình quản lý trong ngành rau

- Nhóm nhân tố khuyến nông và đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực: Công tác khuyến

nông và đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ ngành hàng rau là một trong những nhân tố có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của ng ành hàng rau, khuyến nông có quan

hệ chặt chẽ với điều kiện sản xuất của hộ trồng rau

1.4 Những điều kiện thuận lợi và khó khăn đối với sản xuất, chế biến và tiêu thụ rau trong điều kiện hội nhập và những yêu cầu đặt ra

1.4.1 Những cơ hội và sự thuận lợi đối với sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trong điều kiện hội nhập

Khi Việt Nam hội nhập với nền kinh tế quốc tế, Việt Nam có điều kiện hơn để thông thương và gắn kết với thị trường thế giới, trong đó có thị trường rau xanh và rau chế biến Điều này đặt ra cho ngành hàng rau phải đổi mới tư duy, tìm kiếm các biện pháp về tổ chức

và quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, sản phẩm rau sản xuất ra phải đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế

1.4.2 Những yếu tố thách thức và khó khăn đối với sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trong điều kiện hội nhập

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế người nông dân nước ta phải đương đầu với thách thức mới trong cạnh tranh với nông sản hàng hoá nước ngoài, không chỉ trên thị trường thế giới, mà ở ngay trên “sân nhà”, như rau nhập khẩu cạnh tranh với rau sản xuất trong nước do hàng của họ rẻ hơn, chất lượng cao hơn, mẫu mã đẹp hơn Tham gia WTO

Trang 9

Việt Nam cũng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ cắt giảm mức thuế quan của mình theo một

lộ trình được vạch sẵn, bãi bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản, cam kết mở cửa thị trường dịch

vụ, cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tham gia dịch vụ phân phối hàng hoá, trong đó có mặt hàng rau

1.4.3 Những yêu cầu dặt ra trong tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trong điều kiện hội nhập

Một trong những áp lực đặt ra khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế đối với ngành hàng rau là làm sao nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện đại hóa ngành sản xuất rau để tăng tính ổn định và bền vững Ngành rau phải chú trọng công tác quản lý của Nhà nước đối với ngành hàng rau, quan tâm đến vấn đề quy hoạch, đầu tư hạ tầng, chuyển đổi cơ cấu sản xuất rau, ứng dụng kỹ thuật công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm rau, đảm bảo vệ sinh

an toàn thực phẩm cho rau

1.5 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới và ở Việt Nam trong tổ chức và quản

lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau

1.5.1 Kinh nghiệm tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau của một số nước trên thế giới

Bài học kinh nghiệm về sự thành công của một số nước trên thế giới về tổ chức và quản lý trong SX-CB-TT rau được tổng kết lại như sau: Nhiều nước trên thế giới đã coi trọng công tác quy hoạch và thực hiện rất tốt quy hoạch sản xuất, chế biến và tiêu thụ rau Các nước rất chú trọng tới chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào SX-CB-TT rau, đặc biệt là khâu sản xuất rau Các nước đều cho rằng, sản xuất rau không thể phát triển nếu bảo quản và chế biến không được tiêu chuẩn hóa vì rau là sản phẩm dễ hỏng vì vậy chính phủ các nước đã có chính sách hỗ trợ để hiện đại hóa trang thiết bị bảo quản (Hàn Quốc), có chính sách tập trung phát triển công nghệ sau thu hoạch, tăng cường các trang thiết bị chế biến (Ấn Độ) Các nước đang phát triển đều cho rằng, sản xuất nhỏ phân tán và manh mún ở các hộ gia đình là nguyên nhân gây ra sự không đồng đều về sản phẩm và gây khó khăn cho việc thu gom tiêu thụ Các nước chú trọng đến tính liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, từ đó đã tổ chức và phát triển liên kết liên doanh giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ rau

1.5.2 Kinh nghiệm tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau ở Việt Nam

Bài học kinh nghiệm về sự thành công của một số địa phương trong cả nước về tổ

chức và quản lý SX-CB-TT rau được tổng kết như sau: Về sản xuất: cần tổ chức hình thành

được các vùng chuyên canh rau hàng hóa tương đối tập trung sản xuất với số lượng lớn Áp dụng mạnh mẽ các kỹ thuật thâm canh, luân canh rau, thực hiện kỹ thuật sản xuất rau an toàn, sản xuất theo tiêu chuẩn GAP một cách phù hợp, thực hiện trồng xen, trồng gối để tận

dụng đất đai, lao động, khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên của các vùng Về chế biến:

cần hình thành một số nhà máy chế biến rau có quy mô lớn gắn với các vùng sản xuất rau,

Trang 10

trong chế biến rau chú trọng công nghệ sinh học tiên tiến, công nghệ dây truyền hiện đại Về tiêu thụ rau: hình thành nhiều kênh phân phối rau, hệ thống phân phối đa dạng, có nhiều tác

nhân tham gia vào trong kênh phân phối rau, hình thành hệ thống cửa hàng bán rau tại các

chợ và siêu thị Về công tác tổ chức và quản lý của chính quyền địa phương: công tác tổ

chức sản xuất, quản lý sản xuất, quản lý vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, quản lý về môi trường, vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững đã được nhiều chính quyền địa phương quan tâm thực hiện tốt

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN, TIÊU THỤ RAU Ở TỈNH THÁI NGUYÊN

TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

2.1 Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội ảnh hưởng đến tổ chức và quản lý sản xuất rau ở tỉnh Thái Nguyên

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm về địa hình

Tỉnh Thái Nguyên là một trong những trung tâm kinh tế chính trị của vùng Trung du miền núi phía Bắc, với vị trí 21o20’-22o25’ vĩ độ Bắc và 105o25’-106o16’ kinh độ Đông; có tổng diện tích tự nhiên là 354.655,25 ha chiếm 1,08% diện tích cả nước Địa hình của Thái Nguyên được chia thành 3 vùng rõ rệt: Vùng núi; Vùng đồi cao, núi thấp; Vùng nhiều ruộng

ít đồi Vị trí địa lý của tỉnh khá thuận lợi về nhiều mặt cho phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa, trong đó có việc SX - CB - TT rau

2.1.1.2 Khí hậu thời tiết

Thời tiết, khí hậu của Thái Nguyên khá thích hợp với nhiều loại cây trồng, trong đó

có nhiều loại rau như: bắp cải, su hào, cà chua, mướp đắng, dưa chuột… Điều này cho phép tỉnh Thái Nguyên có thể bố trí sản xuất các loại rau theo các mùa vụ thích hợp nhằm đáp ứng nhu cầu rau quanh năm của tỉnh cũng như của người tiêu dùng các tỉnh lân cận

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên

2.1.2.1 Dân số và lao động

Dân số toàn tỉnh Thái Nguyên đến năm 2010 là 1.131.278 người, số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2010 là 679.623 người, trong đó số lao động làm việc ở ngành nông lâm nghiệp và thủy sản là khoảng 459.884 người chiếm 67,7% Tỷ lệ lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế đã qua đào tạo qua các năm đều tăng, để phát triển kinh

tế tỉnh Thái Nguyên cần có chiến lược phát triển về đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh trong đó

có nâng cao trình độ chuyên môn cho nguồn nhân lực để phục vụ SX-CB-TT rau

Trang 11

2.1.2.2 Kết cấu hạ tầng kỹ thuật

Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của tỉnh Thái Nguyên khá thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội, nhất là sản xuất nông nghiệp, trong đó có SX-CB-TT rau Đánh giá hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật của tỉnh Thái Nguyên nói chung và kết cấu hạ tầng ở khu vực nông thôn nói riêng đã được cải thiện và phát triển đáng kể trong những năm qua Tuy nhiên, một số

cơ sở kết cấu hạ tầng trên địa bàn đã bị hư hỏng hoặc xuống cấp, chính quyền địa phương cần

có các biện pháp khắc phục, cải tạo và đầu tư phát triển xây dựng kết cấu hạ tầng

2.1.2.3 Về tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế của Tỉnh

Về tăng trưởng kinh tế: Trong những năm vừa qua, kinh tế tỉnh Thái Nguyên có sự tăng trưởng khá Tổng giá trị sản xuất của tỉnh năm 2009 đạt 16.971,7 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 1994), đạt 44.259,4 tỷ đồng theo giá hiện hành Giá trị sản xuất bình quân đầu người năm 2010 (theo giá hiện hành) của tỉnh đạt khoảng 47,84 triệu đồng Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp xây dựng và tăng nhẹ thương mại dịch vụ, giảm nông lâm thủy sản Năm 2010, ngành nông lâm, thủy sản chiếm tỷ trọng 21,73%%; ngành công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng 41,54%; ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng 36,73% Khu vực sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã có sự thay đổi cơ bản theo hướng sản xuất hàng hóa; một số vùng sản xuất rau tập trung và chuyên môn hóa đã được hình thành và phát triển

2.1.3 Đánh giá các ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau

2.1.3.1 Thuận lợi

Thái Nguyên có vị trí địa lý khá thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, trong đó có sản xuất rau Thái Nguyên có hệ thống các trường đại học, đội ngũ cán bộ khoa học đông đảo v à chuyên môn cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi để đưa nhanh khoa học, công nghệ vào SX-CB-

TT rau Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, nhất là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng quy mô ngành rau, nâng cao hiệu quả SX-CB-TT rau

2.1.3.2 Khó khăn

Địa hình tỉnh Thái Nguyên còn nhiều nơi bị chia cắt mạnh, đất dốc dẫn đến sản xuất phân tán, suất đầu tư cao địa hình vùng miền núi gây khó khăn trong việc canh tác, vận chuyển rau đi tiêu thụ… Khí hậu có nhiều rủi ro trong sản xuất rau do thời tiết gây ra như nắng nóng, hạn hán, ngập lụt, lũ quét, sương muối, mưa đá

Trang 12

2.2 Thực trạng về tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau ở tỉnh Thái Nguyên

2.2.1 Chính sách, chủ trương của Nhà nước và của tỉnh Thái Nguyên về tổ chức

và quản lý ngành hàng rau

Tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện nhiều chính sách, chủ trương nhằm khuyến khích SX-CB-TT rau trên địa bàn Tỉnh phát triển nhanh và bền vững, trợ giúp cho ngành hàng rau hội nhập với các tỉnh trong vùng, với thị trường trong cả nước và tiến tới hội nhập với nền kinh tế quốc tế Công tác xây dựng chiến lược và quy hoạch tổng thể ngành hàng rau trong toàn tỉnh đã được Sở NN & PTNT của tỉnh triển khai xây dựng xong, tuy nhiên về quy hoạch chi tiết với các vùng, địa bàn huyện về ngành rau còn chưa được thực hiện, công tác quy hoạch ngành còn tiến hành chậm, chất lượng quy hoạch còn chưa cao

2.2.2 Khái quát tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau tỉnh Thái Nguyên

- Về diện tích sản xuất rau: Diện tích rau trồng tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1999 -

2011 đều có tốc độ tăng ở mức khá, nhưng không đồng đều qua các năm Năm 1999, diện tích rau đạt mức 4.761 ha, năm 2011 diện tích rau tăng lên đến 9.593 ha, đạt mức tăng diện tích bình quân giai đoạn 1999 - 2011 là 6,01%/năm hay 403 ha/năm Năm 2002 có tốc độ tăng diện tích cao nhất là 22,95%; năm 2007 tốc độ tăng là 11,23% và năm 2008 tốc độ tăng diện tích rau là 0,81%, năm 2009 diện tích rau giảm 4,01% so với năm 2008 Năm 2010 diện tích rau trồng là 8.920 ha và tăng với tỷ lệ khá cao 15,48% so với năm 2009; năm 2011 diện tích rau trồng toàn tỉnh là 9.593 ha tăng 7,54% so với năm 2010

2.2.3 Công tác quy hoạch sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau

Hiện nay các huyện trong tỉnh Thái Nguyên đang tiến hành làm công tác quy hoạch vùng sản xuất rau tập trung chuyên canh trên toàn tỉnh, tuy nhiên việc triển khai thực hiện theo quy hoạch còn rất chậm so với kế hoạch đặt ra Tỉnh đang tiến hành khảo sát, xác định phân loại vùng có sản xuất rau theo quy mô diện tích; diện tích đất có khả năng quy hoạch, phát triển sản xuất RAT theo hướng tập trung và phân tán Trên cơ sở kết quả điều tra và phân tích các mẫu đất, nước, môi trường của các vùng trên các địa bàn huyện và tỉnh sẽ tiến hành xây dựng bản đồ quy hoạch các vùng đủ điều kiện và chưa đủ điều kiện sản xuất RAT

để có biện pháp cải tạo phát triển sản xuất lâu dài trong tương lai

2.2.4 Tổ chức và quản lý sản xuất rau

Về hình thức tổ chức sản xuất: Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có các loại hình tổ

chức và quản lý sản xuất rau chủ yếu là: hộ, trang trại, hợp tác xã nông nghiệp, doanh nghiệp SX-CB-TT rau Nhìn chung số cơ sở SX-CB-TT rau trên địa bàn tỉnh qua các năm đều tăng, đa dạng về loại hình, quy mô tổ chức

Về sử dụng giống rau: người dân sử dụng giống rau từ 2 nguồn chủ yếu, đó là các Công ty chuyên kinh doanh hạt giống rau cung cấp, hoặc do người dân tự để giống Về chất lượng, giống do các công ty cung cấp là khá tốt, phong phú về chủng loại; có một số loại

Ngày đăng: 25/07/2014, 16:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Chuỗi giá trị - tóm tắt tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trên địa bàn tỉnh thái nguyên trong điều kiện hội nhập
Hình 1.1 Chuỗi giá trị (Trang 6)
Bảng 2.3: Kết quả và hiệu quả kinh tế của các tác nhân tiêu thụ rau - tóm tắt tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trên địa bàn tỉnh thái nguyên trong điều kiện hội nhập
Bảng 2.3 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các tác nhân tiêu thụ rau (Trang 15)
Bảng 3.2: Dự kiến quy mô sản xuất rau ở các vùng - tóm tắt tổ chức và quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau trên địa bàn tỉnh thái nguyên trong điều kiện hội nhập
Bảng 3.2 Dự kiến quy mô sản xuất rau ở các vùng (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w