1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH docx

32 536 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự ra đời và hoạt động của Cục Quản lý cạnh tranh
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý cạnh tranh và luật cạnh tranh
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 03 tháng 3 năm 2009, tạiHà Nội, VCAD phối hợp với Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản JICA và Ủy ban thương mại lành mạnh Nhật Bản Japan Fair Trade Commision đã tổ chức hội thảo với ch

Trang 2

Cục Quản lý cạnh tranh là cơ quan do Chính phủ thành lập trong hệ thống tổ chức của Bộ Công Thương

có nhiệm vụ thực thi Luật Cạnh tranh, Pháp lệnh về Bảo vệ người tiêu dùng, Pháp lệnh Chống bán phá giá, Pháp lệnh Chống trợ cấp và Pháp lệnh tự vệ

Với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 9 tháng 01 năm

2006, Cục Quản lý cạnh tranh hoạt động nhằm mục tiêu thúc đẩy và duy trì môi trường cạnh tranh hiệu quả cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và người tiêu dùng

Lãnh đạo Cục Quản lý cạnh tranh gồm một Cục trưởng do Thủ tướng bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng

Bộ Công Thương, và một số Phó Cục trưởng do Bộ trưởng Bộ Công Thương bổ nhiệm.

Thúc đẩy tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, hiệu quả

Bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp và người tiêu dùng trước những hành vi hạn chế cạnh tranh

Chống các hành vi phản cạnh tranh

Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

 Hỗ trợ cho ngành sản xuất trong nước phòng, chống các vụ kiện bán phá giá, trợ cấp và tự vệ của nước ngoài.

CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH - BỘ CÔNG THƯƠNG

BỘ CÔNG THƯƠNG CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH

Trung tâm Thông tincạnh tranh

Trung tâm Đào tạođiều tra viên

Trang 3

BẢN TIN

CẠNH TRANH & NGƯỜI TIÊU DÙNG

của Cục Quản lý cạnh tranh

LÊ PHÚ CƯỜNG, NGUYỄN THÀNH HẢI,

PHAN CÔNG THÀNH, NGUYỄN VĂN THÀNH,

BÙI VIỆT TRƯỜNG, NGUYỄN PHƯƠNG THẢO

Giảng viên, Phó giám đốc phụ trách nghiên cứu

Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

Cộng tác viên ở nước ngoài

LÊ THÀNH VINH, Nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật

ĐH Monash, Australia

DANIEL VANHOUTTE, Đại học Tự do, Bỉ

Tổ chức sản xuất và phát hành

TRUNG TÂM THÔNG TIN CẠNH TRANH (CCID)

25 Ngô Quyền - Hà Nội

ĐT: (04) 2220 5009 * Fax: (04) 2220 5303

Đại diện tại TP Hồ Chí Minh

Số 159 Kí Con, Quận 1, TP Hồ Chí Minh

Công ty phát hành báo chí Trung ương

Ban Biên tập Bản tin Cạnh tranh và Người tiêu dùng xin trân trọng cảm ơn và nghiêm túc tiếp thu ý kiến đóng góp của độc giả nhằm nâng cao chất

lượng của Bản tin Mọi ý kiến đóng góp, thư từ, tin, bài xin gửi về:

Thư Ban biên tập

Luật Cạnh tranh

VÀ NHẬN THỨC CỦA CỘNG ĐỒNG

“Bạn đã biết đến Luật Cạnh tranh chưa?” là 1 trong số nhữngcâu hỏi được đặt ra với các doanh nghiệp và hiệp hội trong mộtkhảo sát về mức độ nhận thức của cộng đồng đối với Luật Cạnhtranh

Kết quả cho thấy: Tỷ lệ biết là 53,4%; tỷ lệ chưa biết chiếm44,8% Con số này theo chúng tôi là phản ánh khá chính xác mức

độ nhận biết của cộng đồng đối với Luật Cạnh tranh trong bốicảnh hiện nay Con số 53,4% biết về sự tồn tại của Luật Cạnh tranh

“trên đời” về 1 khía cạnh nào đó cho thấy qua hơn 3 năm có hiệulực thi hành, Luật Cạnh tranh vẫn chưa đến được với doanh nghiệp

và hiệp hội Nguyên nhân có thể do: (1) doanh nghiệp và hiệp hộikhông quan tâm đến việc có tồn tại hay không tồn tại một đạo luật

về cạnh tranh; (2) doanh nghiệp và hiệp hội không có điều kiệntiếp cận với Luật Cạnh tranh Phân tích kết quả phỏng vấn chi tiếthơn cho thấy: trong số những doanh nghiệp biết về Luật Cạnhtranh thì chủ yếu là do cán bộ của họ được giới thiệu trong nhàtrường (chiếm đến 96,6%); kế đó là thông qua các phương tiệnthông tin đại chúng (7,9%); tiếp theo là hình thức tự tìm hiểu(3,6%); tiếp theo nữa là thông qua các câu lạc bộ hoặc diễn đàndoanh nghiệp (1,7%) và cuối cùng là thông qua hình thức tập huấnbởi cơ quan nhà nước (1,1%)

Thực tế trên bước đầu cho phép rút ra một nhận xét rằng sốdoanh nghiệp biết về Luật Cạnh tranh vốn đã rất ít; trong số tỷ lệ

ít ỏi đó họ chủ yếu biết qua con đường được học trong giảngđường đại học Ở đây phải nói đến vai trò của cơ quan quản lý nhànước trong việc tuyên truyền phổ biến pháp luật cần phải đượcđẩy mạnh trong thời gian tới Tuy nhiên, phải chăng doanh nghiệpchưa quan tâm khi chưa có “va chạm lợi ích” cụ thể của họ? Và “vănhoá” sử dụng công cụ Luật cạnh tranh như là 1 phương tiện bảo vệlợi ích của doanh nghiệp còn chưa được hình thành?

Điều này càng được thể hiện qua những trao đổi rất “sơ khai”của doanh nghiệp và hiệp hội trong cuộc hội thảo “VAI TRÒ CỦAHIỆP HỘI TRONG VIỆC THÚC ĐẨY MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH LÀNHMẠNH” do VCAD phối hợp với JICA tổ chức tại Hà Nội ngày03/3/2009 Đặc biệt, sự “lỗ mỗ” trong nhận thức của cộng đồng vềLuật Cạnh tranh còn được thể hiện trong những bình luận thiếuchính xác về những quy định và về những hành vi vi phạm LuậtCạnh tranh trong những bài viết được đăng trên các phương tiệntruyền thông sau đó

Những bất cập từ thực tế trên đặt ra yêu cầu gắn kết chặt chẽhơn nữa mối liên hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về cạnhtranh và cộng đồng trong thời gian tới dưới nhiều hình thức Nhờ

đó, kiến thức về pháp luật cạnh tranh của cộng đồng xã hội đượctừng bước nâng lên để doanh nghiệp và hiệp hội một mặt tránhnhững vi phạm Luật do thiếu hiểu biết, mặt khác sử dụng LuậtCạnh tranh như một công cụ bảo vệ lợi ích cho doanh nghiệpmình

Ban Biên tập

Trang 4

Trong số này BẢN TIN

CẠNH TRANH & NGƯỜI TIÊU DÙNG

Trang 5

Ngày 03 tháng 3 năm 2009, tại

Hà Nội, VCAD phối hợp với Cơ

quan hợp tác quốc tế Nhật

Bản (JICA) và Ủy ban thương mại

lành mạnh Nhật Bản (Japan Fair

Trade Commision) đã tổ chức hội

thảo với chủ đề “Vai trò của doanh

nghiệp và hiệp hội trong việc thúc

đẩy môi trường cạnh tranh lành

mạnh”

Tham dự Hội thảo có Ông Vũ Bá

Phú, đại diện Lãnh đạo VCAD, Ông

Yasuhiro Toyo Đại diện của tổ chức

JICA tại Việt Nam, Ông Katsumi

Taka-hashi đại điện Ủy ban thương mại

lành mạnh Nhật Bản và đông đảo đại

diện đến từ các hiệp hội ngành nghề,

doanh nghiệp và các cán bộ của

VCAD

Tại hội thảo, các đại biểu đã được

nghe đại diện của các Ban Điều tra

các vụ việc hạn chế cạnh tranh, Ban

Điều tra và xử lý các hành vi cạnh

tranh không lành mạnh, VCAD trình

bày giới thiệu tổng quan về Luật

Cạnh tranh của Việt Nam, các văn

bản hướng dẫn, các quy định liên

quan đến hiệp hội và những hành vicủa hiệp hội có thể dẫn đến vị phạmLuật Cạnh tranh cũng như vai trò củahiệp hội trong việc góp phần tạo môitrường cạnh tranh lành mạnh

Ông Katsumi Takahashi, chuyêngia của Cục điều tra, Ủy ban thươngmại lành mạnh Nhật Bản đã có bàiphát biểu chia sẻ kinh nghiệm củaNhật Bản trong việc tăng cường mốiquan hệ giữa cơ quan cạnh tranh vàcác hiệp hội, các doanh nghiệp vànhững khuyến nghị đối với Việt Nam

Các đại biểu đã tham dự vàophiên thảo luận sôi nổi về các chủ đềđược nêu ra tại hội thảo, đặc biệt lànhững vấn đề còn vướng mắc và trởngại trong quá trình thực thi LuậtCạnh tranh nhìn từ cả góc độ các cơquan quản lý nhà nước và các hiệphội, doanh nghiệp

Đại diện của Hiệp hội Doanhnghiệp điện tử, Hiệp hội gốm sứ,Hiệp hội Dược,…đã chia sẽ nhữngkhó khăn trong quá trình hoạt độngcủa hiệp hội mình trong bối cảnh

Việt Nam vừa mới gia nhập WTO, mộtmặt các hiệp hội đã không còn được

hỗ trợ từ Chính phủ, mặt khác, phảiđối mặt với thách thức từ các công tybán lẻ nước ngoài vào Việt Nam cũngnhư giá các nguyên liệu trên thịtrường thế giới biến động bấtthường

Qua những bài phát biểu, thamluận và thảo luận tại hội thảo; cáchiệp hội nói chung và doanh nghiệpnói riêng đã có được nhận thức rõràng hơn đối với các hoạt động củahiệp hội, tránh tình trạng vi phạmluật mà không biết mình đã vi phạm,đặc biệt là các hành vi thỏa thuận ấnđịnh giá, lạm dụng vị trí thống lĩnh,

vị trí độc quyền,… Trong thời giantới, các đại biểu tham dự hội thảo sẽ

là những hạt nhân phổ biến nhữngkiến thức, kinh nghiệm của mình từhội thảo tới cộng đồng doanhnghiệp thuộc hiệp hội mình, gópphấn tạo ra môi trường cạnh tranhhiệu quả hơn tại Việt Nam

CCID

Hội thảo

“VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP VÀ HIỆP HỘI TRONG VIỆC

THÚC ĐẨY MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH LÀNH MẠNH”

HOẠT ĐỘNG TRONG KỲ

Trang 6

Khóa học có sự tham dự của Ông

Trần Anh Sơn- Phó Cục trưởng VCAD;

Ông Katsumi Takahashi - điều tra

viên cao cấp của JFTC; Ông Morio

Ka-makura- Trưởng phòng kế hoạch củaBan nhân sự JFTC; Ông Daisuke Ya-mamoto- Phó Ban hợp tác JFTC; BàKumiko Tanaka- chuyên gia tư vấnthường trú tại VCAD; cùng các cán

Khóa đào tạo “Kỹ năng điều tra vụ việc

cạnh tranh- Kinh nghiệm của Nhật Bản”

Hoạt động tập trung kinh tế trên

thế giới ngày càng gia tăng cho

thấy việc mua lại, sáp nhập

(M&A) doanh nghiệp vẫn là cách thức

đầu tư hiệu quả nhất do tiết kiệm

được nguồn lực để thực hiện dự án

đầu tư mới và quan trọng hơn là để

thể rút ngắn thời gian thâm nhập

một thị trường mới Việt Nam không

phải là một ngoại lệ của xu hướng

này, số vụ M&A tăng nhanh về cả số

lượng và quy mô trong thời gian gần

đây Thực trạng này phản sự cởi mở

và sôi động của nền kinh tế trong quá

trình hội nhập, song nó cũng tiềm ẩn

những yếu tố hình thành các doanh

nghiệp có vị trí thống lĩnh và mang

đến nguy cơ giảm tính cạnh tranh

của thị trường Vì vậy, các hoạt động

tập trung kinh tế cần được giám sát

bởi cơ quan quản lý nhà nước và điều

chỉnh bởi khuôn khổ pháp lý về cạnh

tranh Nhận thức được yêu cầu cấp

bách này, từ năm 2008, VCAD với

chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Công

Thương thực hiện quản lý nhà nước

về cạnh tranh (trong đó có nhiệm vụ

kiểm soát quá trình tập trung kinh tế),

đã bắt tay vào thực hiện điều tra,

đánh giá và xây dựng báo cáo tập

trung kinh tế hàng năm nhằm cung

cấp cho cộng đồng và các bên liên

quan một bức tranh tổng thể và toàndiện về thực trạng tập trung kinh tếtại Việt Nam và công tác quản lý nhànước đối với hoạt động này Với sự hỗtrợ của Cơ quan cạnh tranh Thụy Sỹ(COMCO), năm 2008 là năm đầu tiênVCAD thực hiện và công bố “Báo cáotập trung kinh tế” Báo cáo gồm cácnội dung chủ yếu sau:

(1) Rà soát hệ thống pháp luật vềtập trung kinh tế;

(2) Cấu trúc các ngành kinh tếquốc dân; mức độ tập trung kinh tế;

(3) Nhận định xu hướng tập trungkinh tế trong thời gian tới đối với một

số ngành, lĩnh vực;

(4) Khuyến nghị đối với Chínhphủ, cơ quan quản lý nhà nước hữuquan và cộng đồng doanh nghiệp

Trên cơ sở những nội dung vàkhuyến nghị đã được đưa ra, Báo cáo

là một trong những nguồn cơ sở dữliệu đầu tiên về tập trung kinh tế củaViệt Nam, cung cấp thông tin cho cáccác tổ chức kinh tế, gồm các tập đoànkinh tế; doanh nghiệp nhà nước,doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài; các quỹđầu tư; công ty tư vấn; các tổ chứcquốc tế, gồm các tổ chức quốc tế tạiViệt Nam, cơ quan cạnh tranh cácnước cùng với khối nghiên cứu kinh

tế và luật pháp để các đơn vị này cóthêm thông tin về thực trạng và môitrường pháp lý điều chỉnh các hoạtđộng tập trung kinh tế, qua đó có thểđịnh hướng và điều chỉnh các hoạtđộng có liên quan tới tập trung kinh

tế cho phù hợp với pháp luật hiệnhành của Việt Nam nhưng vẫn đảmbảo tính hiệu quả của hoạt động tậptrung kinh tế đó nói riêng và hiệu quảtổng thể của nền kinh tế nói chung.Bên cạnh đó, Báo cáo cũng là cơ sở đểVCAD tiếp tục triển khai công táckiểm soát tập trung kinh tế một cáchhiệu quả Báo cáo cũng góp phầnphục vụ cho công tác hoạch địnhchính sách cạnh tranh và hoàn thiệnpháp luật cạnh tranh

Độc giả quan tâm tới nội dung chitiết của Báo cáo Tập trung kinh tế

2008 có thể liên hệ với CCID hoặc truycập vào website của VCAD để cóthêm thông tin chi tiết CCID

VCAD thực hiện và công bố

“Báo cáo tập trung kinh tế năm 2008”

- Kỹ năng tiến hành nghiên cứuthị trường: tập trung vào cách thứcthu thập thông tin cho quá trìnhđiều tra

- Tìm hiểu về hệ thống đào tạocủa JFTC: các loại hình tập huấn,phương pháp phát triển năng lực vàxây dựng kế hoạch tập huấn Cũng trong khóa học, các họcviên đã được tiếp cận với một số vụviệc điều tra cạnh tranh của NhậtBản, trên cơ sở đó liên hệ với cácquy định của Luật Cạnh tranh ViệtNam và các vụ việc điều tra màVCAD đã tiến hành, qua đó đưa racách thức xử lý phù hợp trong từngtrường hợp cụ thể

Khóa học trong thời gian 03ngày đã cung cấp cho các học viênnhững kiến thức và thông tin rấthữu ích cũng như các phương phápnghiệp vụ cần thiết trong quá trìnhđiều tra các vụ việc cạnh tranh.Những thông tin và kiến thức cóđược sẽ góp phần tích cực vào việcnâng cao hiệu quả công tác điều tra

do VCAD tiến hành trong thời giantới

CCID

Trang 7

Từ ngày 07/02 đến 13/02/2009,

một số cán bộ của VCAD đã có

chuyến khảo sát, học tập kinh

nghiệm về công tác đào tạo, xây

dựng đội ngũ điều tra viên và làm

việc với các cơ quan liên quan của

Italia

Theo chương trình, đoàn đã được

ông Piero Barucci, Phó Chủ tịch Ủy

ban cạnh tranh Italia tiếp xã giao Phía

Italia đã giới thiệu sơ bộ về lịch sử

hình thành và phát triển của cơ quan

cạnh tranh Italia Theo đó, đây là một

cơ quan độc lập được thành lập theo

Luật số 287 ngày 10/10/1990 Ban

lãnh đạo bao gồm Chủ tịch và 4 Phó

chủ tịch Chủ tịch và các Phó Chủ tịch

được do Thượng viện và Hạ viện bầu

Hiện nay cơ quan có 227 nhân viên,

trụ sở ở thành phố Rome, một số

trung tâm thuộc Ủy ban nằm tại các

thành phố lớn như Venezia, Milan…

Tiếp đó, đoàn đã làm việc với Ban

Tổ chức và điều phối nhân sự, đoàn

công tác của VCAD đã được tham vấn

với các Lãnh đạo và đại diện phụ

trách các nội dung công việc khác

nhau của Ban Thông qua các bài

thuyết trình và thảo luận, Ban Tổ chức

và điều phối nhân sự đã cung cấp

thông tin và lý giải cho đoàn công tác

về các vấn đề: (1) So sánh, phân tích

lịch sử tổ chức của Ủy ban cạnh tranh

Italia qua các giai đoạn phát triển từ

năm 1990 – 2008 Theo đó, khi mới

thành lập, cơ quan cạnh tranh Italia

chỉ là một Vụ (Vụ thương mại lành

mạnh) thuộc Bộ Công nghiệp vào

năm 1990 đến nay đã phát triển trở

thành một cơ quan độc lập trực thuộc

Quốc hội với 227 nhân viên; (2) Giải

thích phương pháp tổ chức các

phòng ban thuộc cơ quan cạnh tranh

Italia để nâng cao hiệu quả công tác

chuyên môn Theo đó, cơ quan cạnh

tranh Italia không chia các Ban theo

nhóm hành vi (thỏa thuận hạn chế

cạnh tranh, cạnh tranh không lành

mạnh, giám sát cạnh tranh) như mô

hình của VCAD Việt Nam mà chia

theo các ngành, lĩnh vực của nền kinh

tế, cụ thể là: Ban ngân hàng và tài

chính, ban năng lượng, ban truyền

thông và mạng lưới, ban công

nghiệp, ban viễn thông, ban giao

thông, ban xây dựng… Các ban

thuộc cơ quan cạnh tranh Italia đềuphụ trách thực thi cả ba nhóm hành

vi vi phạm bao gồm: thỏa thuận hạnchế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thốnglĩnh và giám sát sáp nhập, mua lại; (3)Phía Ban Tổ chức và điều phối nhân

sự còn cung cấp thông tin cho đoàncông tác về phương pháp huy động,phân bổ nguồn nhân lực, kế hoạchbồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũcán bộ, công chức của Cơ quan cạnhtranh Italia

Trong Chương trình, đoàn cũng

đã tìm hiểu về Trung tâm đào tạo điềutra viên của Ủy ban cạnh tranh Italia

Trung tâm này được thành lập từ năm

2000 với chức năng đào tạo mới vàbồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũđiều tra viên cạnh tranh trên cả nước

Trung tâm cũng mở các khóa đào tạo

về cạnh tranh cho các đối tượng khácquan tâm đến lĩnh vực này như khóađào tạo hàng năm cho thẩm phánphụ trách giải quyết khiếu nại phúcthẩm vụ việc cạnh tranh, khóa đàotạo cho các luật sư tham gia tố tụngcạnh tranh, khóa đào tạo cho cácgiảng viên môn luật cạnh tranh tạicác trường đại học lớn tại Italia Ngoài

ra, Trung tâm đào tạo điều tra viêncòn tham gia các chương trình traođổi chuyên gia với cơ quan cạnhtranh các nước trong khuôn khổMạng lưới các cơ quan cạnh tranh EU

Thông qua chương trình làm việc này,đoàn công tác của VCAD đã tìm hiểuđược nhiều nội dung liên quan đếncác lĩnh vực cần đào tạo, kỹ năng đàotạo, phương pháp tổ chức các lớp tậphuấn và thỏa thuận hạn chế cạnhtranh, nhóm hành vi lạm dụng vị tríthống lĩnh thị trường và đào tạo vềquy trình phân tích hồ sơ sáp nhập

Trong phiên trao đổi, học tập kinhnghiệp với Ban Pháp chế, các chuyêngia của Ban Pháp chế đã cùng traođổi với đoàn công tác về các nhómđiều khoản quy định trong Luật Cạnhtranh, cụ thể như sau: (1) Quy định vềxác định thị trường liên quan trongLuật Cạnh tranh: Có nên hoàn toàndựa vào tính toán về xác định thịtrường liên quan và thị phần trongphân tích hành vi vi phạm hay không;

(2) Quy định về chương trình khoandung: Vai trò của chương trình khoan

dung trong việc giải quyết các vụ việcthỏa thuận hạn chế cạnh tranh, đặcbiệt là các vụ việc thông đồng trongđấu thầu Giới thiệu và phân tíchchương trình khoan dung mẫu củaItalia; (3) Quy định về ngưỡng thôngbáo và thủ tục tập trung kinh tế; (4)Mức phạt đối với hành vi vi phạm vàviệc phân bổ tiền phạt thu được Cácnội dung mà Ban Pháp chế chia sẻ vớiđoàn công tác hoàn toàn phù hợpnhững nhóm vấn đề mà VCAD đangnghiên cứu phương án xử lý

Trong phiên làm việc với Ban phụtrách cạnh tranh trong lĩnh vực ngânhàng, tài chính, đoàn đại biểu củaVCAD đã được nghe giới thiệu tómtắt các tiếp cận 02 vụ việc lớn mà Ban

đã giải quyết thành công từ đó đưa racác khuyến nghị đối với Cơ quancạnh tranh của Việt Nam Thông qua

ví dụ về các vụ việc cạnh tranh này,đoàn công tác đã có những khái niệm

về các công việc cần thiết khi tiếnhành điều tra những vụ sáp nhậptrong lĩnh vực ngân hàng, lĩnh vực hếtsức nhạy cảm đối với nền kinh tếquốc dân của bất cứ nền kinh tế nào.Trong thời gian làm việc tại Italia,đoàn công tác đã đến làm việc vớiVăn phòng khu vực của Ủy ban cạnhtranh Mục tiêu của buổi làm việcnhằm giúp đoàn có thêm thông tin

và kiến thức về việc xây dựng và vậnhành các văn phòng khu vực đặt tạicác địa phương, cách thức tổ chứcvăn phòng khu vực và vai trò của vănphòng khu vực khi tiến hành điều tra

vụ việc cạnh tranh

Trước khi kết thúc chương trìnhcông tác, đoàn đã có buổi làm việc vớiBan Hợp tác quốc tế nhằm tổng kếtlại các nội dung đã làm việc và bàn vềphương hướng hợp tác trong tươnglai giữa VCAD và Ủy ban cạnh tranhItalia Theo đó, Cơ quan cạnh tranhItalia bày tỏ thiện chí sẵn sàng hợptác với VCAD trong việc đào tạo độingũ điều tra viên cạnh tranh Phía Cơquan cạnh tranh Italia đồng ý sẽ gửithư cho Chương trình hợp tác củaItalia để tìm kiếm và xây dựngphương án thực hiện hoạt động hợptác

Các chuyên gia của VCAD

tham gia khảo sát và học tập kinh nghiệm

thực thi luật cạnh tranh tại Ủy ban cạnh tranh Italia

(Xem tiếp trang 20)

Trang 8

HOẠT ĐỘNG TRONG KỲ

VCAD-COMCO họp thường niên lần thứ I

trong khung khổ Dự án “Nâng cao

năng lực cho các cơ quan cạnh tranh

Việt Nam” của Chính phủ Thụy Sĩ

Trong khuôn khổ Dự án “Nâng cao năng lực cho các cơ quan

cạnh tranh Việt Nam” do Chính phủ Thụy Sỹ tài trợ nhằm

giúp tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, hiệu quả

tại Việt Nam, Cuộc họp thường niên lần thứ I của Dự án, và các

hoạt động song hành bao gồm: buổi toạ đàm: “Các nhân tố

thành công trong thực thi luật cạnh tranh” và Khoá đào tạo:

“Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và thông đồng trong đấu thầu”

đã được tổ chức tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

Tham dự Cuộc họp thường niên ngày 23/02/2009 có các

bên tham gia Dự án là đại diện của Uỷ ban Cạnh tranh Thuỵ Sỹ,

đại diện của VCAD, đại diện của Tổ chức quốc tế CUTS và các cơ

quan nhà nước, cơ quan báo chí tỉnh Lâm Đồng

Tại Cuộc họp này, các bên tham gia Dự án đã có những báo

cáo vắn tắt các hoạt động đã thực thi, kết quả đã đạt được và

hiệu quả của các hoạt động này đối với môi trường cạnh tranh

Việt Nam trong năm 2008 Đồng thời, đánh giá những khó

khăn, vướng mắc và những biện pháp khắc phục trong thời

gian tới nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của Dự án này

Cũng nhân dịp này, với mục đích giúp nâng cao nhận thức

và năng lực cho các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước

khu vực miền Trung về luật và chính sách cạnh tranh, vào ngày

24/02/2009, Dự án đã phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Lâm

Đồng tổ chức Hội thảo: “Luật Cạnh tranh Việt Nam và kinh

nghiệm thực thi pháp luật cạnh tranh của Thụy Sỹ”

Hội thảo đã nhận được sự tham gia đông đảo đại diện của

các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và các cơ quan báo chí

tỉnh Lâm Đồng Các đại biểu tham dự thể hiện sự quan tâm sâu

sắc đến các thông tin do hội thảo cung cấp liên quan tới việc

tạo dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng

giữa các doanh nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế thị trường

hiện nay

Tiếp theo Hội thảo trên, ngày 24 - 25/02/2009, VCAD đã tổ

chức Khoá đào tạo: “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và thông

đồng trong đấu thầu” dành cho các cán bộ Sở Công Thương

cũng như các Thẩm phán - Tòa án nhân dân các Tỉnh miền

Trung

Chương trình của Khoá đào tạo được xây dựng dựng rất chi

tiết với mục tiêu nâng cao tối đa kỹ năng chuyên môn cho các

cán bộ trong công tác điều tra các vụ việc hạn chế cạnh tranh

và thông đồng trong đấu thầu Các học viên có cơ hội thực

hành, trao đổi thông qua một số bài tập giả định do chuyên gia

đưa ra trong mối liên hệ với thực tiễn trong công tác điều tra tại

Thụy Sỹ

Hội thảo và Khoá đào tạo đã nhận được nhiều đánh giá tích

cực từ phía các học viên và cán bộ tham dự Trong thời gian tới,

Dự án sẽ tiếp tục triển khai các hoạt động nâng cao nhận thức

cho cộng đồng doanh nghiệp và năng lực chuyên môn cho các

cán bộ Việt Nam với mục tiêu hướng tới xây dựng một môi

trường cạnh tranh lành mạnh và hiệu quả cho các doanh

nghiệp Việt Nam

HỒNG NHUNG

Từ ngày 20-22/02/2009, đoàn công tác

của VCAD đã tham gia Cuộc họpthường niên của Nhóm công tác vềluật và chính sách cạnh tranh APEC (CPLG)

do ban Thư ký APEC tổ chức tại Singapore Tại cuộc họp, đại diện cơ quan cạnhtranh Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,Đài Loan, Brunei, Indonesia, Thái Lan, ViệtNam, Hoa Kỳ đã báo cáo cập nhật tình hìnhthực thi và phát triển luật và chính sáchcạnh tranh của nước mình đồng thời ngheđại diện các Cơ quan cạnh tranh thànhviên APEC trình bày kết quả các hoạt độngcủa Nhóm CPLG trong năm 2008 và xâydựng kế hoạch hoạt động năm 2009.Chương trình hành động Osaka (OAA)năm 1995 đã khẳng định khuyến khích cácnước thành viên APEC thực thi chính sáchcạnh tranh và thực hiện nới lỏng chínhsách trong 15 lĩnh vực cụ thể Theo đó, kể

từ năm 1995, một loạt các hội thảo vềchính sách cạnh tranh đã được tổ chứcnhằm nâng cao hiểu biết về chính sáchcạnh tranh

“Các nguyên tắc của APEC nhằm nângcao cải cách thể chế và cạnh tranh” (gọi tắt

là nguyên tắc) được thông qua tại cuộchọp cấp Bộ trưởng APEC tổ chức tại NewZealand năm 1999 ghi nhận “Việc bảo vệmôi trường cạnh tranh”, “Thực thi luật cạnhtranh” và “Xây dựng năng lực” sẽ tạo cơ sởchiến lược và quan trọng nhằm đảm bảo

sự phát triển bền vững trong khu vựcAPEC

Trên cơ sở đó, năm 2000, Nhóm nớilỏng chính sách và chính sách cạnh tranh(CPDG) đã được thành lập trực thuộc Uỷban về thương mại và đầu tư APEC (CTI).Các thành viên của CPDG chủ yếu là các cơquan cạnh tranh hoặc liên quan đến cạnhtranh của mỗi nền kinh tế thành viên

Do có sự tái tổ chức lại APEC năm 2007,CPDG đã trở thành tiểu nhóm trực thuộc

Uỷ Ban kinh tế APEC

Được sự tán thành của SOM tại cuộchọp SOM3 năm 2008, CPDG đã đổi tênthành Nhóm công tác về luật và chính sáchcạnh tranh (CPLG) để thể hiện sự tập trungcủa nhóm vào lĩnh vực luật và chính sáchcạnh tranh

VCAD tham dự cuộc họp thường niên nhóm công tác về luật và chính sách cạnh tranh APEC

(Xem tiếp trang 27)

Trang 9

Ngày 28 tháng 02 năm 2009 tại

TP Hồ Chí Minh, VCAD đã tổ

chức hội thảo “Trao đổi kinh

nghiệm về tổ chức và hoạt động của

các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng

tại Việt Nam” nhằm tạo điều kiện để

các cơ quan, tổ chức có liên quan trao

đổi, học tập kinh nghiệm trong tổ

chức và hoạt động bảo vệ người tiêu

dùng cũng như thảo luận về những

khó khăn, vướng mắc trong quá trình

thực hiện các hoạt động này Tham

dự Hội thảo có đại diện từ Ủy ban

Nhân dân các tỉnh và các Sở Công

Thương từ Đà Nẵng trở vào và đại

diện các Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ

người tiêu dùng các địa phương

Tại hội thảo, sau khi nghe đại diện

VCAD giới thiệu về các quy định pháp

luật liên quan đến tổ chức, hoạt động

của hội và kinh nghiệm về tổ chức và

hoạt động của các tổ chức bảo vệ

người tiêu dùng tại Pháp, Malaysia và

Đài Loan; các đại biểu tham dự hội

thảo đã sôi nổi thảo luận về các vấn

để nổi cộm trong hoạt động của các

hội thực hiện chức năng bảo vệ người

tiêu dùng như kinh phí cho hoạt

động, tổ chức hoạt động của hội tại

các địa phương

Các đại biểu của các hội đã thẳng

thắn nhận xét hoạt động của các hội

tại các địa phương hiện nay còn gặpnhiều khó khăn do số lượng ít, hoạtđộng không đồng đều, các hoạtđộng chưa đáp ứng mong đợi củangười tiêu dùng, do đó không gâyđược sự chú ý đối với người tiêu dùng

và thu hút được sự quan tâm của các

cơ quan quản lý nhà nước Do kinhphí hạn chế, hay nói cách khác là cáchội chưa huy động được nguồn lựctài chính từ chính người tiêu dùngnhư các tổ chức bảo vệ người tiêudùng các nước khác, nên bản thâncác hội cũng không thu hút được cácnguồn lực để tổ chức các hoạt độngmột cách độc lập

Cũng tại hội thảo, các kinhnghiệm hay về tổ chức hoạt động củacác hội cũng được chia sẻ như kinhnghiệm lồng ghép hoạt động bảo vệngười tiêu dùng với hoạt động củaHội Liên hiệp Phụ nữ, kinh nghiệmthực hiện hỗ trợ hoạt động hội từ cơquan quản lý nhà nước tại địaphương như của Bình Dương và KiênGiang được các đại biểu đánh giá cao

Các đại biểu tham dự cũng mạnh dạnkiến nghị với VCAD nhanh chóng banhành các văn bản hướng dẫn thựchiện Nghị định 55, không chỉ làThông tư hướng dẫn tổ chức và hoạtđộng của hội mà còn cần sửa đổi các

quy định về tài chính liên quan để cáchội có thể nhận được hỗ trợ kinh phí

từ ngân sách nhà nước cho các hoạtđộng thực hiện nhiệm vụ của nhànước giao

Bên cạnh hoạt động của các hộibảo vệ người tiêu dùng, hội thảocũng có sự tham gia và chia sẻ kinhnghiệm tổ chức hoạt động của các

mô hình hoạt động khác hiện kháhiệu quả trong lĩnh vực bảo vệ ngườitiêu dùng như mô hình hoạt độngcủa Câu lạc bộ Chống hàng giả vàbảo vệ người tiêu dùng do báo SàiGòn Giải phóng tổ chức và hoạt độngcủa chuyên trang “Hỗ trợ thông tinbảo vệ người tiêu dùng” của báo điện

tử Vietnamnet tổ chức

Kết thúc hội nghị, ông ĐặngHoàng Hải – Phó Cục trưởng VCADđánh giá cao các ý kiến thẳng thắncủa các đại biểu và tiếp thu các ý kiếnxác đáng để xây dựng mô hình và tổchức hoạt động của hội bảo vệ ngườitiêu dùng trong các văn bản phápluật sắp ban hành tới đây trên cơ sởkhông xóa bỏ những tổ chức hiện có

và sẽ có những hỗ trợ cho các tổ chứchoạt động đúng tôn chỉ, mục đíchbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

P C

VCAD tổ chức hội thảo

“Trao đổi kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động của các

tổ chức bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam”

Trang 10

Theo thông tin của Thương vụ

Việt Nam tại Canada, ngày

27/02/2009 Cơ quan Biên mậu

Canada (CBSA) đã ra thông báo chính

thức tiến hành điều tra chống bán

phá giá mặt hàng giày và đế giày cao

su không thấm nước (waterproof

rubber footwear and bottoms) có

nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc và

Việt Nam vào thị trường Canada, bao

Bên khởi kiện là Hiệp hội các nhà

sản xuất giày Canada (Shoe

Manufac-turers' Association of Canada from

Baie d'Urfé, Québec)

Hiện nay, CBSA chưa công bố

danh sách các nhà xuất khẩu liên

quan trong cuộc điều tra này Tuy

nhiên, các doanh nghiệp xuất khẩu

giày Việt Nam và Hiệp hội cần lưu ý về

thời gian, các hạn định và trình tự, thủ

tục của vụ việc chống bán phá giá

thường được quy định rất chặt chẽ và

nghiêm ngặt theo lịch trình được

CBSA thông báo dưới đây, trong vụ

việc này, các doanh nghiệp chỉ có 37

ngày để trả lời Bản câu hỏi điều tra

của CBSA

VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN

TIẾN TRÌNH VỤ VIỆC Thời gian Sự kiện

27/02/2009 Khởi xướng điều tra chống bán phá giá27/02/2009 CBSA bắt đầu thu thập tài liệu sẵn có13/3/2009 Tuyên bố lý do của việc tiến hành điều tra20/3/2009 Nhà nhập khẩu nộp bản trả lời câu hỏi cho CBSA06/4/2009 Nhà xuất khẩu nộp bản trả lời câu hỏi cho CBSA28/5/2009 Kết luận sơ bộ và/hoặc Quyết định chấm dứt điều tra của

CBSA28/5/2009 CBSA gửi Kết luận sơ bộ cho nhà xuất khẩu và nhà nhập

khẩu12/6/2009 Ban hành Kết luận điều tra sơ bộ và/hoặc Quyết định chấm

dứt điều tra26/8/2009 Quyết định cuối cùng và/hoặc Quyết định chấm dứt điều

tra của CBSA26/8/2009 CBSA gửi Quyết định cuối cùng cho nhà xuất khẩu và nhà

nhập khẩu10/9/2009 Ban hành Quyết định điều tra cuối cùng và/hoặc Quyết

định chấm dứt điều tra)

Ban Xử lý chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ - VCAD

CBSA chính thức tiến hành điều tra chống bán phá giá mặt hàng giày và đế giày cao su không thấm nước của Việt Nam

Trang 11

Nhân dịp Hội nghị Cấp cao

ASEAN lần thứ 14 tại Cha-am,

Petchaburi Thái Lan, cùng với

việc các nước ASEAN và Úc,

Niu-Di-lân ký kết Hiệp định thành lập Khu

vực thương mại tự do ASEAN-Úc,

Niu-Di-lân, (AANZ FTA) ngày 27 tháng 02

năm 2009, được sự ủy quyền của

Chính phủ các nước, Bộ trưởng

Thương mại Úc, Simon Crean, và Bộ

trưởng Thương mại Niu-Di-lân, Tim

Groser, đã ký và trao văn kiện chính

thức công nhận Việt Nam là nền kinh

tế thị trường đầy đủ

Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt

Nam Vũ Huy Hoàng, thay mặt Chính

phủ Việt Nam đã tiếp nhận các văn

kiện trên Các văn kiện này nêu rõ,

Chính phủ Úc và Chính phủ

Niu-Di-lân chính thức công nhận Việt Nam là

nền kinh tế thị trường đầy đủ và cam

kết không áp dụng Đoạn 255 trong

Báo cáo của Ban Công tác về việc Việt

Nam gia nhập Tổ chức Thương mại

Thế giới (WTO)

Với quyết định này, Úc và lân cam kết áp dụng đầy đủ các quyđịnh liên quan của WTO về chốngbán phá giá và trợ cấp đối với hànghoá xuất khẩu của Việt Nam vào hainước này một cách bình đẳng như ápdụng với các thành viên khác củaWTO Cam kết này có ý nghĩa đặc biệttrong quá trình điều tra, xác định mức

Niu-Di-độ phá giá làm cơ sở ra quyết định vềmức thuế chống bán phá giá

Cam kết này của Úc và Niu-Di-lân

có ý nghĩa to lớn về kinh tế và chínhtrị, đánh dấu một bước tiến mới trongquan hệ hợp tác hữu nghị nhiều mặtgiữa Việt Nam và Úc, Niu-Di-lân, gópphần tăng cường hợp tác kinh tế,thương mại, thúc đẩy tăng trưởngkinh tế, giữ vững môi trường pháttriển ổn định và thịnh vượng trongkhu vực Châu Á-Thái Bình Dương

Trong bối cảnh các nền kinh tế đang

nỗ lực khắc phục khó khăn, vượt quathách thức của cuộc suy thoái toàncầu, cam kết này của Úc và Niu-Di-lâncùng với việc ký kết Hiệp định AANZ

FTA càng được đánh giá cao, gópphần vào nỗ lực của các nước tạo môitrường thuận lợi hỗ trợ phát triểnkinh tế

Đồng thời, việc Úc và Niu-Di-lân,hai nước thuộc nhóm các nước kinh

tế phát triển OECD công nhận ViệtNam là nền kinh tế thị trường đầy đủ

đã tiếp tục khẳng định những thànhtựu của chính sách nhất quán màChính phủ Việt Nam đang thực hiện,nhằm xây dựng một nền kinh tế thịtrường phát triển lành mạnh, phùhợp với các chuẩn mực và thông lệquốc tế

Đến nay đã có 18 nước chính thứccông nhận Việt Nam là nền kinh tế thịtrường đầy đủ Nhân dịp này, các Bộtrưởng Kinh tế ASEAN cũng đã ratuyên bố hoan nghênh quyết địnhcủa Úc và Niu-Di-lân và khuyến nghịcác đối tác khác của ASEAN sớm côngnhận Việt Nam là nền kinh tế thịtrường đầy đủ

(Nguồn: Bộ Công thương)

Úc và Niu-Di-lân công nhận

VIỆT NAM LÀ NỀN KINH TẾ

THỊ TRƯỜNG ĐẦY ĐỦ

Trang 12

VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN

Theo Pricewaterhouse Coopers,

hãng cung cấp dịch vụ tư vấn

mua bán sáp nhập doanh

nghiệp hàng đầu thế giới, trong năm

2007, hoạt động tập trung kinh tế đã

gia tăng mạnh mẽ cùng với sự phát

triển liên tục và cải tiến mạnh mẽ về

khuôn khổ pháp lý đã hấp dẫn các

nhà đầu tư vào Việt Nam, nhu cầu tái

cơ cấu của nội tại các doanh nghiệp,

sự gia tăng nhanh của thị trường

chứng khoán Tổng giá trị của 113 vụ

được công bố trong năm đã đạt giá

trị kỷ lục là 1.753 tỷ USD, so với con số

chỉ 38 vụ với giá trị 299 triệu USD

được đưa tin trong năm 2006 và tăng

gấp nhiều lần so với năm 2005 (18 vụ,

giá trị giao dịch 61 triệu USD) Trên

3/4 tổng giá trị giao dịch (khoảng1.350 tỷ USD) thuộc lĩnh vực dịch vụtài chính Tuy nhiên, đến nửa đầunăm 2008, cả số lượng và giá trị cácgiao dịch được công bố đều giảm

Điều này có thể được giải thích bởicác nguyên nhân như:

- Giai đoạn đầu năm thường làthời gian các giao dịch mua bán vàsáp nhập tương đối trầm lắng (tỷ lệgiá trị giao dịch của nửa đầu năm

2007 chỉ chiếm 36% giá trị trong năm

đó, năm 2006 thậm chí chỉ chiếm18%)

- Một số diễn biến không thuậnlợi của nền kinh tế làm cho nhiều giaodịch bị tạm dừng hoặc không công

Bảng dưới đây tóm lược một sốgiao dịch M&A được công bố đángchú ý trong những năm gần đây.Phần lớn các giao dịch lớn thường là

do các công ty nước ngoài mua lạimột phần hoặc toàn bộ một doanhnghiệp Việt Nam hoặc giữa các doanhnghiệp trong nước, tuy nhiên cũng cónhững trường hợp ngược lại khi công

ty Việt Nam mua lại công ty nướcngoài Các thương vụ thành côngđáng kể nhất có thể kể đến là trườnghợp Kinh Đô – một doanh nghiệp tưnhân lớn trong ngành sản xuất, chếbiến thực phẩm, bánh kẹo đã mua lại

bộ phận kinh doanh Kem Wall’s củatập đoàn đa quốc gia Unilever và tậndụng tốt hệ thống phân phối sẵn có

để phát triển Ngoài ra, công ty nàycòn mua lại một phần hàng loạt cácdoanh nghiệp khác hoạt động trongnhững ngành liên quan như Công tynước giải khát Sài Gòn và có kế hoạchtiến hành sáp nhập hai công ty Kinh

Đô và Kinh Đô Miền Bắc Một trườnghợp tương tự là thương vụ ICA Phar-maceuticals Việt Nam mua lại thươnghiệu Tobicom của hãng dược phẩmHàn Quốc Ahn Gook Pharm

Hoạt động tập trung kinh tế tạiViệt Nam cũng đã xuất hiện hình thứcmua lại giữa các công ty 100% vốnnước ngoài (chẳng hạn, vụ SavillsVietnam mua lại toàn bộ ChestertonPetty trong lĩnh vực dịch vụ bất độngsản)

Hoạt động

TẬP TRUNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

trong thời gian gần đây

Trang 13

Một số giao dịch M&A điển hình

STT Thời điểm Bên mua Bên bán Tỷ lệ sở hữu /Giá trị giao dịch

1 2003 Vinabico CTLD Kotobuki Việt Nam

2 2003 Kinh Đô Kem Wall’s (Unilever) Không được công bố

3 2003 ICA Pharmaceuticals Tobicom (Ahn Gook Pharm) Không được công bố

4 2005 Công ty CP Kinh Đô Công ty CP Nước giải khát Sài Gòn 35,60%

Vinamilk Saigon Milk Sáp nhập và mua lại phần vốn

góp trong liên doanh

6 2005 Công ty Sữa Bình Định

7 2006 CTCP Doanh nghiệp trẻ

Đồng Nai Cheerfield Rama Không được công bố

8 2006 CTCP Giấy Hải Phòng Dệt Hải Phòng Không được công bố

9 2006 Công ty liên doanh nhà máy

bia VN Bia Foster’s 105 triệu USD

10 2006 Vinaland Khách sạn Hilton Hà Nội 70%

11 2006 Prudential Công ty CP Giảng Võ 65%

12 2007 Vinaland Omni Saigon 52% (21 triệu USD)

13 2007 Daiichi Mutual Life (Nhật

14 2007 Đồng Tâm Đá trang trí Vĩnh Cửu 20%

15 2007 CPR (Nhật Bản) Sara 15%

16 2007 Anco Nhà máy sữa Nestlé 100%

17 2007 Qantas (Australia) Pacific Airlines 30% cổ phần (50 triệu USD)

18 2007 Đồng Tâm CTCP Thiên Thanh 70,85% cổ phần

19 2007 PVFC, ACB, Kinh Đô,

SINCO, Eximbank 17,8% cổ phần (248 triệu USD)

20 2007 Indochina Capital CTCP Địa ốc Hoàng Quân 20% cổ phần (20 triệu USD)

21 2007 Indochina Capital Vietnam

Limited CTCP Bảo hiểm Việt Nam 10%

25 2007 Lotte Confectionery Co Ltd Công ty CP Bánh kẹo Biên Hòa 30%

26 2007 Morgan Stanley

Interna-tional Holdings Công ty Tài chính Dầu khí 10%

27 2007 HSBC Techcombank 15% (33,7 triệu USD)

Prudential Vietnam ment Fund Management,Temasek Holdings…

30 2007 Prudential Vietnam Investment Fund Management CTCP Âu Lạc 15,60%

31 2007 Saint Gobain Vĩnh Tường 100,00%

32 2007 Sojitz (Nhật Bản) CT TM và DV Hương Thủy 25,01%

33 2007 IDJ Venture CTCP Tài Việt 20,00%

34 2007 CT Đường Quảng Ngãi Nhà máy đường Quảng Bình 100,00%

35 2007 Savills Việt Nam Chesterton Petty Việt Nam 100,00%

Nguồn: Tổng hợp của VCAD

Trang 14

VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN

Các ngành có mức độ tập

trung kinh tế cao nhất theo

CR3

Theo số liệu về doanh thu của các

doanh nghiệp hoạt động trên thị

trường Việt Nam, 20 nhóm ngành có

mức độ tập trung kinh tế cao nhất

đều có CR3 (tức tổng thị phần của 3

doanh nghiệp lớn nhất) trên 50%

Một số nhóm ngành đáng chú ý

trong số đó là: ngành xử lý ô nhiễm

và quản lý chất thải đặc biệt (100%),

khai thác dầu thô và khí tự nhiên

(99,97%), viễn thông (85,96%), vận tải

dầu thô và khí đốt tự nhiên), VNPT

(53% - viễn thông), Vietnam Airlines

(51% - vận tải hàng không), Agribank

(43% - dịch vụ tài chính – ngân hàng),

Hualon Corporation Vietnam (33%

dệt), Nhà xuất bản Giáo dục (27%

-xuất bản), Canon Vietnam (25% - sản

xuất hàng điện tử), Công ty thuốc lá

Sài Gòn (24% - sản xuất thuốc lá),

Honda Vietnam (24% - sản xuất xe

máy), Toyota Vietnam (21% - sản xuất

ô tô) Danh sách các ngành có mức độ

tập trung kinh tế cao có thể được các

Sở Kế hoạch Đầu tư tại các địaphương tham khảo khi tiếp nhận hồ

sơ thay đổi giấy phép đăng ký kinhdoanh do nguyên nhân mua lại, hợpnhất, sáp nhập và liên doanh để cóhướng dẫn phù hợp cho doanhnghiệp thực hiện đúng pháp luật vềcạnh tranh

Nhìn vào bảng các ngành có mức

độ tập trung kinh tế cao nhất theoCR3 (mức độ tập trung kinh tế của 03doanh nghiệp có doanh thu lớn nhấttrong lĩnh vực đó), có thể thấy chỉ sốnày phản ánh khá rõ thực trạng cácngành công nghiệp của nước ta vàcũng thể hiện được đặc điểm củamột nước có nền kinh tế chuyển đổi

Cụ thể là:

- Các ngành, lĩnh vực có mức độtập trung cao (trên 65%) đều là cáclĩnh vực công ích, là các lĩnh vực màkhu vực tư nhân ít đầu tư (xử lý ônhiễm và quản lý chất thải; hoạt độngthư viện, lưu trữ và bảo tàng; hoạtđộng chăm sóc, điều dưỡng tậptrung;…) và các ngành đang dầnchuyển từ độc quyền nhà nước sang

mở cửa cạnh tranh như dịch vụ tàichính, vận tải hàng không, khai thácdầu thô và khí đốt tự nhiên,…

- Đối với một nước đang chuyển

đổi, quy mô nền kinh tế còn nhỏ sovới các nước phát triển (cũng nên lưu

ý là việc đo lường các chỉ số tập trung

ở đây thường được áp dụng tại cácnước phát triển, với quy mô nền kinh

tế lớn nên việc áp dụng chỉ số này đốivới Việt Nam có thể không đo lường

và phản ánh được đầy đủ các vấn đềcạnh tranh tiềm ẩn sau các chỉ số đó),chỉ số tập trung thị trường cao tươngđối (CR3>65%) có thể là khó tránhkhỏi khi quy mô kinh tế tối thiểu trênthị trường liên quan là lớn xét theonhu cầu của thị trường Điều nàykhông có nghĩa là không có khả năngxảy ra các hành vi phản cạnh tranh docác doanh nghiệp này thực hiện trênthị trường

Tóm lại, trong bối cảnh của nước

ta hiện nay, việc xây dựng cơ sở dữliệu các ngành có mức độ tập trungkinh tế cao nhất theo CR3 hàng năm

là hết sức cần thiết và hữu ích cho cảkhối doanh nghiệp và các cơ quanquản lý, đặc biệt là cơ quan quản lýcạnh tranh Về phía các cơ quan quản

lý nhà nước, đây là một cơ sở dữ liệu

để cơ quan quản lý cạnh tranh lựachọn lĩnh vực thực hiện Báo cáo giámsát cạnh tranh trong lĩnh vực đó hàngnăm và phối hợp với các cơ quan cóliên quan thực hiện cũng như là cơ sở

để theo dõi và cập nhật số liệu cácgiao dịch tập trung kinh tế trong cáclĩnh vực cụ thể Về phía khối doanhnghiệp, đây cũng là một cơ sở thôngtin tốt để doanh nghiệp lựa chọn cáclĩnh vực đầu tư hoặc mở rộng hoạtđộng sản xuất, kinh doanh

Trang 15

Trong thời điểm nền kinh tế thế

giới đang suy thoài, những hãng

hàng không hàng đầu thế giới,

gồm Qantas (Australia), Iberia (Tây

Ban Nha) và American Airlines (Mỹ)

“Chúng tôi rất muốn đạt được kết quả

ở tất cả những vụ sáp nhập và hợp

tác này”, ông George Stinnes, Kế toán

trưởng của BA nói: “Ở đây không có

chuyện là nếu một thỏa thuận đạt

được thì sẽ không có các thỏa thuận

khác”

Ngày 02/12/2008, BA và Qantas

đã tuyên bố họ đang đàm phán việc

sáp nhập ngang hàng với tổng giá trị

dự kiến là 5,9 tỷ USD Chính quyền

Australia đã bày tỏ sự chấp nhận ý

tưởng này miễn là nó không phải

là việc BA hoàn toàn nuốt chửng

Qantas Qantas và BA là hai hãng

hàng không lớn nhất ở Australia vàAnh

Nếu sáp nhập thành công,hãng hàng không liên kết sẽ cóquy mô 71 triệu lượt khách/năm,

474 máy bay và 230 điểm đến tạichâu Âu và châu Úc Cùng lúc này, BAcũng đang đàm phán sáp nhập vớihãng Iberia của Tây Ban Nha Dự kiếnhãng liên kết giữa BA-Iberia-Qantas

sẽ cân đối tài chính chung, ban lãnhđạo tổng hợp

Vào giữa tháng 8, BA đã bắt đầuđàm phán với American Airlines vềhợp tác trong giá vé và lịch trình bay

Hai hãng này đang trình dự án hợptác lên các nhà chức trách Nếu hợptác, hai hãng này sẽ có tổng cộng 493điểm đến tại 121 quốc gia

Mặc dù BA chưa tiết lộ lịch trình

cụ thể cho việc thảo luận nhữngthương vụ trên, hãng này hy vọngviệc sáp nhập và hợp tác thành công

sẽ biến BA trở thành hãng hàngkhông lớn nhất thế giới về quy môkhách hàng, số lượng máy bay vàđiểm đến

Cùng thời gian, Lufthansa, hãnghàng không nổi tiếng của Đức, đang

cạnh tranh với liên minh Air France(Pháp) và KLM (Hà Lan) để đạt đượcthỏa thuận hợp tác với Alitalia(Italia)

Vào cuối tháng 10, Delta Air Lines(Mỹ) đã mua lại Northwest Airlines vớigiá 2,9 tỷ USD Với vụ sáp nhập này,Delta Air Lines trở thành hãng hàngkhông lớn nhất thế giới hiện nay với75.000 nhân viên và lịch bay tới 375thành phố Hãng này có khả năngtăng doanh thu khoảng 2 tỷ USD/năm

do cắt giảm chi phí và mở rộng quymô

Theo các chuyên gia tư vấn trongngành hàng không, cuộc đua để trởthành hãng hàng không toàn cầu đầutiên trên thế giới có sức hấp dẫn ghêgớm với các hãng hàng không hiệnnay vì khả năng tăng doanh thu làkhông thể tưởng tượng nổi Nhữnghãng hàng không sáp nhập trở thànhkhổng lồ sẽ có nhiều máy bay và điểmđến hơn

Nhờ vậy, khả năng linh hoạt trongdịch vụ tăng lên và chi phí quản lý giảmxuống Tình hình suy thoái kinh tế hiệnnay cũng là một áp lực khác đẩy cáchãng hàng không đến với nhau

CCID tổng hợp

Trào lưu sáp nhập

CÁC HÃNG HÀNG KHÔNG TRÊN THẾ GIỚI

TRANG QUỐC TẾ

Trang 16

Số lượng những vụ mua bán sáp

nhập bị ngưng lại có tổng giá trị

là 911 tỷ USD Năm 2007, giá trị

của 870 vụ mua bán sáp nhập bị hủy

là 1.160 tỷ USD

Tổng giá trị các thương vụ trong

lĩnh vực M&A trên toàn cầu ước đạt

hàng đầu tư không thu được nhiều

tiền phí như trước Tổng số lượngnhững vụ mua bán và sáp nhập tính

từ đầu năm 2008 cho đến nay là 3.280thấp hơn 28% so với năm 2007 bởitình hình tài chính khó khăn, việcđánh giá giá trị của các công ty biếnđộng mạnh và rủi ro tăng cao

Số lượng những vụ mua bán sápnhập bị ngưng lại có tổng giá trị là

911 tỷ USD Năm 2007, giá trị của 870

vụ mua bán sáp nhập bị hủy là 1.160

tỷ USD JP Morgan Chase đứng đầutrong việc tư vấn cho hoạt động muabán và sáp nhập doanh nghiệp Tổng

số thương vụ hãng đã tiến hành là

348 và có tổng giá trị 814,5 tỷ USD.Goldman Sachs đứng thứ 2 với 291

vụ, tổng giá trị 752,2 tỷ USD Citigroupđứng thứ 3 với 286 vụ với tổng giá trị666,7 tỷ USD

Việc hoạt động mua bán sápnhập doanh nghiệp giảm khiếnnguồn thu của các ngân hàng đầu tưgiảm 20 tỷ USD, thấp hơn so với 28,1

tỷ USD năm 2007

Tập đoàn tài chính hàng đầu củaNhật là Nomura cũng đưa ra nhận xét

về triển vọng mua bán và sáp nhậpdoanh nghiệp năm 2009 Theo đó,hoạt động này sẽ giảm sút nhất trongnhiều năm, nguyên nhân chính là dolợi nhuận suy giảm, tín dụng khanhiếm, lòng tin giảm và biến động thịtrường mạnh Tuy nhiên, trong năm

2009, những vụ mua bán sáp nhậptrong lĩnh vực tài chính sẽ tăng bởinhiều ngân hàng và công ty bảo hiểmtăng vốn cũng như tái cơ cấu tài sản

Số lượng những vụ mua bán và sápnhập doanh nghiệp trong năm 2008

có tổng giá trị 636,6 tỷ USD, trong đó

có vụ Bank of America mua lại MerrillLynch với 44 tỷ USD, Lloyds TSB’s thâutóm HBOS với giá 29,3 tỷ USD

2007 (triệu USD)

% thay đổi

Số lượng giao dịch mua bán 2008

Số lượng giao dịch mua bán 2007

% thay đổi

Thế giới 2,935,960 4,169,287 - 29,6% 39,597 43,817 - 9,6%

Mỹ 986,283 1,570,848 - 37,2% 9,165 11,296 - 18,9%

Trung Quốc 104,253 75,390 38,3% 2,983 2,587 15,3%

Đông Nam Á 75,176 75,675 -0,7% 2,065 2,001 3,2%

Ngày đăng: 25/07/2014, 15:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng dưới đây tóm lược một số giao dịch M&A được công bố đáng chú ý trong những năm gần đây. - SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH docx
Bảng d ưới đây tóm lược một số giao dịch M&A được công bố đáng chú ý trong những năm gần đây (Trang 12)
Hình dưới đây là một số ngành có tỷ lệ tập trung CR3 lớn tại Việt Nam theo dữ liệu thống kê kinh tế năm 2006  (6) . - SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH docx
Hình d ưới đây là một số ngành có tỷ lệ tập trung CR3 lớn tại Việt Nam theo dữ liệu thống kê kinh tế năm 2006 (6) (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w