Hệ thiết bị đo hệ quan sát Cũng như các hệ đo ghi của các phương pháp địa vật lý trên mặt, mỗi phương pháp địa vật lý trong giếng khoan được thực hiện nhờ một hệ thống thiết bị đo ghi..
Trang 1Nếu giếng khai thác là hoàn toàn ở vào vùng chuyển tiếp, ở đó tầng chứa giảm hẳn độ b∙o hòa nước, tới khi krw = 0 thì nước không còn thấm vào giếng Nếu sự hoàn tất giếng đ∙ thấy ở vùng chuyển tiếp thì phần nước trong dòng khai thác xem như bị loại trừ Khi đó có thể tính như sau:
Lưu lượng dòng dầu
l
S P k Q
0
0 0
) (
W
) (∆
Q WC
+
=
d) Mối quan hệ giữa độ thấm và độ b∙o hoà
Đ∙ có nhiều công trình nghiên cứu tìm quan hệ giữa độ thấm tuyệt đối của đá lục nguyên theo tài liệu đo địa vật lý giếng khoan Các tính toán này gồm hai loại: một
là ứng dụng ở gần vùng chuyển tiếp, và một cho chính vùng chuyển tiếp Một vài công thức thực nghiệm dùng cho vùng chuyển tiếp:
Theo Timur (1968)
2 4 , 4 136 ,
Theo Wyllie và Rose (1950)
- Đối với dầu
2
3 250
Trang 23 79
- Đối với dầu
2
0 ) (
=
g W
biểu diễn sự phụ thuộc
của độ b∙o hoà nước dư
SWir vào độ lỗ rỗng hiệu
dụng với các giá trị độ
thấm cho trước, tính theo
Hình 1.16 Quan hệ phụ thuộc giữa độ lỗ rỗng (Φ), độ b∙o
hoà nước dư (S Wir ) và độ thấm K
Trang 3Chương 2 Nguyên lý chung trong địa vật lý giếng khoan
2.1 Các phương pháp khảo sát
2.1.1 Hệ thiết bị đo (hệ quan sát)
Cũng như các hệ đo ghi của các phương pháp địa vật lý trên mặt, mỗi phương pháp địa vật lý trong giếng khoan được thực hiện nhờ một hệ thống thiết bị đo ghi Hệ
đo ghi này có hai phần chính là máy giếng và trạm Hai phần này làm việc đồng bộ với nhau nhờ có cáp nối giữa chúng Máy giếng, hay còn gọi là Zond (tool) là phần máy thả vào giếng khoan ở chiều sâu đo Máy giếng có chức năng phát tín hiệu và thu tín hiệu rồi điều biến chúng để truyền lên trạm ở mặt đất qua cáp chuyên dụng của địa vật
lý Trạm là phần máy lắp đặt trên mặt đất có cấu hình gọn nhẹ gồm các khối chức năng
và máy tính chuyên dụng đảm trách nhiều chức năng khác nhau, từ cung cấp nguồn dòng cho máy giếng làm việc, tạo tín hiệu kích thích môi trường đo, thu nhận các tín hiệu từ máy giếng khuếch đại chúng, giải điều biến và cuối cùng là đo ghi các tín hiệu cần thiết Ngoài các chức năng đó trạm còn có chức năng xử lý phân tích nhanh các kết quả đo để kịp thời xây dựng lát cắt địa chất thành giếng khoan, phát hiện các tầng sản phẩm, dự báo các sự cố kỹ thuật và dị thường áp suất Cáp là loại cáp chuyên dụng, có vai trò của các kênh dẫn thông tin từ trạm đến máy giếng và ngược lại Cáp có thể gồm một hoặc nhiều kênh dẫn (nhiều ruột), cáp được quấn trên một tang tời dùng động cơ mỗi khi kéo thả (Hình 2.1)
Các khối kiểm tra
Trang 4Trạm và tời cáp thường được lắp đặt trên một xe tải có mui kín Đối với các giếng khoan sâu, để tiết kiệm thời gian, cùng một lúc người ta tiến hành đo nhiều phương pháp Khi đó phần máy giếng bao gồm nhiều Zond được nối ghép hợp lý để cùng tiến hành đo trong một lần kéo cáp
Để tiến hành một dịch vụ đo giếng khoan bằng các phương pháp địa vật lý, hệ thiết bị đo cần có tối thiểu các phần như sau:
- Cáp chuyên dụng địa vật lý giếng khoan
- Tời cáp, có vận hành bằng động cơ để thả và kéo cáp từ giếng
- Máy phát dòng điện xoay chiều 120 volt, có công suất đủ dùng cho công việc
- Các khối chức năng và khối (panen) kiểm tra trên mặt
- Các Zond (máy giếng) thả vào giếng khoan
- Máy đo ghi tín hiệu (ghi tương tự hoặc ghi số)
Cáp Các cáp dùng trong địa vật lý giếng khoan có hai loại: cáp một ruột và cáp
nhiều ruột Mỗi ruột cáp là dây dẫn kim loại được bọc cách điện tốt Điện trở cách điện giữa ruột và vỏ cáp khi ngâm trong nước tối thiểu là 2,5 MΩ Ruột cáp là những kênh dẫn để truyền tín hiệu điện từ mặt đất đến máy giếng và ngược lại Vỏ cáp là phần được bện từ hai lớp sợi thép để vừa chịu lực khi thả kéo máy giếng nặng hàng trăm kilogram, vừa bảo vệ các ruột cáp khỏi bị mài mòn vì ma sát với thành giếng
ở gần cuối nơi tiếp nối giữa cáp với máy giếng, người ta thường tạo một điểm xung yếu về độ bền của cáp đề phòng khi máy giếng bị kẹt thì cáp sẽ bị đứt tại đây và giữ cho các phần khác của hệ đo an toàn
Máy giếng Zond (tool) thuật ngữ này chỉ máy giếng để đo một phương pháp
nhất định Vì các phương pháp địa vật lý khác nhau sẽ sử dụng các Zond (máy giếng) khác nhau cho nên đôi khi thuật ngữ Zond (hay tool) cũng dùng để chỉ phương pháp cụ thể, lúc đó nó có ý nghĩa như là “log” Chẳng hạn trong tiếng Anh hay dùng sonic tool, electrical tool có nghĩa như sonic log, electrical log là để chỉ phương pháp đo siêu
âm hay phương pháp điện trở trong giếng khoan
Máy giếng có cấu trúc của một ống thép trụ tròn đường kính 3-5 inches, chiều dài thay đổi tuỳ từng phép đo, có khi tới 35 feet, trong đó lắp đặt các cảm biến, điện cực và các sơ đồ mạch điện tử tương ứng với mỗi phép đo nhất định Các máy giếng hiện nay phần lớn đều sử dụng kỹ thuật điều biến để kết hợp nhiều phép đo đồng thời, nghĩa là cùng một lúc truyền tín hiệu khác nhau theo cùng một kênh dẫn Nhờ kỹ thuật này, về nguyên tắc ta có thể nâng số phương pháp đo trong cùng một lần kéo cáp tới con số hàng chục, nhưng khó khăn lại xuất hiện ở khía cạnh khác, đó là lúc bấy giờ chiều dài của máy giếng quá lớn, không thích hợp cho việc thao tác tại giàn khoan
Khi máy giếng là tập hợp của nhiều Zond đo để đo đồng thời nhiều phương pháp thì mỗi phương pháp sẽ có chỉ thị chiều sâu điểm đo khác nhau Muốn đưa các
Trang 5kết quả đo ghi về đúng chiều sâu thực trong giếng khoan thì căn cứ vào khoảng trễ của mỗi Zond máy ghi sẽ tự động đưa giá trị đo về chiều sâu thực
Hình 2.2 và 2.3 sau đây mô tả máy giếng kết hợp nhiều phép đo và các đường cong đo ghi ở một đoạn giếng không bù trễ, chưa chuẩn hoá (bên trái) và có bù trễ, đ∙ chuẩn hoá (bên phải)
2.1.2 Phân loại các phép đo trong giếng khoan
Các phép đo địa vật lý trong giếng khoan được phân làm hai nhóm chính Nhóm thứ nhất nghiên cứi các hiện tượng tự nhiên hay tự sinh (các trường vật lý tự nhiên), nhóm thứ hai nghiên cứu các hiện tượng kích thích cảm ứng (các trường vật lý nhân tạo)
a) Trường tự nhiên gồm có
- Cường độ bức xạ gamma tự nhiên, phép đo được thực hiện hoặc đo tốc độ đếm tia gamma toàn phần (gamma tổng) hoặc đo tốc độ đếm đối với các tia gamma có năng
lượng chọn trước Trường hợp đo gamma tổng gọi là đo gamma ray, một phương pháp
thông dụng (GR); trường hợp đo theo phổ năng lượng tương ứng với phần lớn tia gamma phát xạ do phân ra từ nguyên tố Urani, Thori và Kali (potatium) gọi là phương
pháp phổ gamma tự nhiên (SGR hoặc NGS)
khoảng bù chuẩn hoá
Hình 2.3 Các đường cong đo ghi trước và sau chuẩn hoá
Trước chuẩn hoá Thạch học Sau chuẩn hoá
Trang 6- Thế tự phân cực: SP
- Nhiệt độ của các thành hệ, phương pháp đo nhiệt độ (T°)
- Đường kính giếng: Phương pháp đo đường kính (CALI) Đường kính giếng khoan phản ánh tính cơ học và tính chất hoá học của đá ở thành giếng khoan
- Độ lệch giếng khoan: Một phép đo góc nghiêng và góc phương vị của trục giếng để xác định hướng đi của giếng khoan trong không gian
b) Những tính chất vật lý được nghiên cứu bằng các phương pháp kích thích nhân tạo
- Các phép đo điện được tiến hành khi phát tín hiệu điện:
Phương pháp điện trở suất hay độ dẫn điện bao gồm các phương pháp dùng hệ
điện cực: Điện cực không hội tụ dòng cổ điển (ES), có hội tụ dòng (LL), vi hệ điện cực (ML), vi hệ điện cực có hội tụ dòng (MLL), hội tụ cầu (SFL), vi hệ cực hội tụ cầu (MSFL); Đo góc cắm phân giải cao (HDT, SDT, FMS); Các phương pháp dùng ống dây cảm ứng (IL)
Phương pháp hằng số điện môi có sử dụng vòng cảm ứng: lan truyền sóng điện
Phép đo tiết diện bắt giữ neutron vĩ mô: thời gian sống trung bình của neutron nhiệt (TDT, NLL)
Thành phần nguyên tố: neutron va chạm với hạt nhân theo các mức độ khác nhau: Đàn hồi và không đàn hồi Va chạm không đàn hồi bắn ra tia gamma Tuỳ theo phổ năng lượng của tia gamma người ta có thể đo để có số đo nhạy với các nguyên tố khác nhau: Carbone - oxygen (IGT, GST)
Hiện tượng bắt giữ neutron → phổ tia gamma chiếm giữ (GST, IGT)
Phương pháp kích hoạt phóng xạ phân giải cao: Khi chiếm giữ neutron, nguyên
tố trở thành đồng vị phóng xạ và có chu kỳ bán r∙ đặc trưng Căn cứ vào phổ năng lượng và phổ thời gian người ta có thể phân biệt sự có mặt của các nguyên tốt nhất định trong môi trường (HRS)
Phép đo cộng hưởng từ hạt nhân Hiện tượng cộng hưởng từ hạt nhân xảy ra với spin của nguyên tố Hydro Quan sát hiện tượng quay hồi chuyển spin của hydro có thể
đánh giá hàm lượng hydro tự do trong đá (NML)
Trang 7- Các phương pháp đo siêu âm: Tốc độ sóng nén (sóng dọc) đo theo thời gian lan truyền sóng này giữa hai chấn tử Phép đo này gọi là sonic log (SV, SL, BHC) Sóng ngang cũng có thể được đo như vậy
Phép đo thời gian lan tuyền sóng từ mặt đất đến geophone trong giếng khoan Phép đo như thế gọi là địa chấn giếng khoan (VST) hoặc địa chấn tuyến thẳng đứng (VSP)
Phép đo biên độ (phổ biên độ hay phổ năng lượng) của sóng dọc hoặc sóng ngang: Amptitude logging (A)
Phép đo biên độ tương đối của thành phần sóng tới khác nhau, hình dạng sóng
Đo biến đổi mật độ (VDL), truyền hình thành giếng khoan (BHTV)
2.2 Các vấn đề xung quanh việc đo vẽ ở giếng khoan
Các phép đo trong giếng khoan chủ yếu là đo trực tiếp các tham số của đá ở thành giếng Các thiết bị đo được thả trong giếng khoan và tiếp cận với đất đá ở xung quanh Giá trị của mỗi phép đo đều chịu ảnh hưởng trực tiếp của môi trường xung quanh giếng
2.2.1 Sự ngấm dung dịch
- Dung dịch khoan: ảnh hưởng của dung dịch khoan lên một phép đo phụ thuộc vào một số yếu tố: đường kính giếng, loại và tỷ trọng của dung dịch Đường kính giếng càng lớn phần thể tích dung dịch trong miền ảnh hưởng của phép đo càng nhiều, số đo càng phụ thuộc vào dung dịch Dung dịch khoan có các loại cơ sở gốc khác nhau, độ khoáng hoá khác nhau Thuộc cơ sở, có dung dịch gốc dầu hay gốc nước, về khoáng hoá
có dung dịch mặn và dung dịch nhạt, theo tỷ trọng có dung dịch nặng và dung dịch nhẹ
- Sự ngấm dung dịch: Để quá trình khoan được an toàn, thành giếng không bị sập người ta thường tạo cho áp suất thuỷ tĩnh của cột dung dịch có giá trị lớn hơn hoặc bằng áp suất của nước trong lỗ rỗng (áp suất vỉa) Vì vậy, dung dịch có xu hướng ngấm vào thành giếng ở các lớp đất đá có lỗ rỗng hiệu dụng cao Sự ngấm dung dịch vào thành giếng có tính đối xứng trục Theo phương bán kính filtrat (phần nước của dung dịch khoan) thay thế hoàn toàn hay từng phần chất lưu (nước vỉa, dầu) tự nhiên trong lỗ rỗng của đá Phần trong sát ngay thành giếng filtrat thay thế hoàn toàn nước tự do và
dầu linh động của vỉa Phần này gọi là đới rửa Phần tiếp theo trong lỗ rỗng trộn lẫn filtrat là nước vỉa hay dầu Phần này gọi là đới chuyển tiếp Phần sâu trong thành giếng
khoan filtrat không ngấm tới, cấu trúc và thành phần pha lỏng của đá vẫn giữ nguyên
Phần này gọi là đới nguyên
Quá trình thải filtrat để thấm vào thành giếng tạo ra các đới nói trên, các thành
phần cứng (sét và các phụ gia) của dung dịch bị chặn lại và tạo thành lớp vỏ sét Khi
chiều dày của lớp vỏ sét đủ lớn (hàng chục millimet) thì nó trở thành màng chống thấm, lúc đó quá trình thấm dung dịch vào thành giếng sẽ dừng hẳn Vậy quá trình thấm dung dịch có tính đối xứng trục làm cho môi trường có phân bố bất đồng nhất theo phương bán kính (hình 2.4) Theo phương bán kính, trong cùng là dung dịch chứa trong giếng khoan, trên thành giếng là lớp vỏ sét, sau lớp vỏ sét là đới rửa rồi đới
Trang 8chuyển tiếp, ngoài cùng là đới nguyên Trong mỗi đới có thành phần chất lưu riêng, do
đó chúng có các đặc tính vật lý (ví dụ điện trở suất) riêng Trên hình 2.4, trong mỗi đới giá trị điện trở suất viết trong ô vuông là điện trở suất của đới, trong vòng tròn là điện trở suất của pha lỏng trong đới Ký hiệu viết trong tam giác đều là chỉ độ b∙o hoà nước của đới Do tính chất thay đổi của các thành phần filtrat và nước vỉa trong
đới chuyển tiếp nên các tham số
điện trở và độ b∙o hoà của đới này cũng thay đổi theo phương bán kính
Trong một số trường hợp gặp ở vỉa dầu, khi filtrat thấm vào vỉa gây áp lực thấm Dưới
áp lực thấm, dầu có độ thấm tương đối cao hơn nên bị đẩy nhanh vào trong sâu hơn, ngược lại, nước có độ thấm tương đối nhỏ hơn nên tụ lại tạo thành đới vành khuyên có điện trở Ranthấp (Nguyễn Văn Phơn, 1998)
- ống chống và trám xi măng Trong các trường hợp giếng đ∙ chống ống và trám xi măng thì các phương pháp điện trở không còn tác dụng, điện trở bằng không Thông thường
ở đoạn giếng này thì chỉ có các phương pháp hạt nhân và một vài phép đo siêu âm còn được sử dụng để nghiên cứu giếng khoan
2.2.2 Hiệu ứng hình học của Zond
Đường kính của Zond đo (máy giếng) bao giờ cũng nhỏ hơn đường kính danh
định của giếng Khi đường kính giếng không quá lớn so với đường kính Zond và luôn luôn ở vị trí định tâm thì ảnh hưởng của giếng khoan lên kết qủa đo sẽ là không đổi hoặc sẽ nhỏ, có thể bỏ qua
Trong thực tế đường kính giếng khoan có thể thay đổi do những tác động cơ học hay hoá học gây ra với thành hệ xung quanh giếng, và khi đó Zond đo có thể rơi vào
N-ớc vỉa Dầu
Khoảng cách
Vỏ sét
Trục giếng
Đ-ờng kính đới ngấm
Vỉa vây quanh
Vỉa vây quanh
Hình 2.4 Sơ đồ biểu diễn phân bố chất lưu và điện trở
suất ở xung quanh giếng khoan
Trang 9một trong 3 vị trí tương đối so với trục giếng: Định tâm (trục của Zond và trục giếng khoan trùng nhau), không định tâm, hay áp sườn vào thành giếng (δ = 0), và nằm ở vị trí cách thành giếng một khoảng nhỏ (δ = const.) Đối với một số phương pháp (như BHC, CNL, FDC) việc xác định chính xác vị trí của Zond trong giếng khoan là rất quan trọng
Hệ số lệch tâm ε của Zond trong giếng khoan được xác định:
δ là khoảng cách gần nhất từ Zond đến thành giếng
d là đường kính giếng tại vị trí đo d0 là đường kính của Zond đo Giá trị của ε bằng 1,0 khi Zond hoàn toàn ở vị trí định tâm, và bằng 0,0 khi nó tì lên một bên thành giếng
Chiều sâu nghiên cứu Mỗi phương pháp vật lý đo trong giếng khoan, dựa vào nội dung vật lý riêng, chẳng hạn các phương pháp điện trở hay độ dẫn thì dựa vào việc
đo tham số điện trở suất và độ dẫn điện, các phương pháp phóng xạ thì đo cường độ bức xạ của môi trường Từ đặc điểm của phương pháp thiết bị máy giếng của chúng cũng khác nhau, sự khác nhau đó trước hết là kích thước, vì kích thước thiết bị có phần quyết định chiều sâu nghiên cứu của phương pháp Dựa vào chiều sâu nghiên cứu chia các Zond thành hai nhóm: nhỏ và lớn Các Zond nhỏ thường có các phần tử phát và phần tử thu gắn trên các tấm bản để tì sát vào thành giếng Chiều sâu nghiên cứu của chúng thường rất nhỏ Ví dụ Zond đo bù mật độ có miền ảnh hưởng hình bán cầu với r
≤ 10 cm, còn các Zond ML thì chỉ vài centimet, MLL lại có dạng hình ống xuyên vào thành hệ cỡ gần 10 cm (hình 2.5)
Các Zond lớn thì có khoảng đo chiếm thể tích từ 0.5 - 5 m3, có dạng cầu hoặc dạng trụ và phần lớn là dạng dĩa (hình 2.5) Để đo điện trở ta có các hệ điện cực nông
và sâu Gọi là Zond nông có chiều sâu nghiên cứu nằm ở khoảng giữa các phép đo sâu
và micro (ví dụ LLS, LL8, SFL) Nói chung, gần như quy luật là chiều sâu nghiên cứu tăng theo khoảng cách giữa các cực phát và cực thu (sensor spacing) Khi đạt chiều sâu nghiên cứu tăng thì độ phân giải theo chiều thẳng đứng lại giảm Ví dụ, các Zond nhỏ thì có độ phân giải cao, phân chia ranh giới các lớp mỏng rất tốt, trong khi đó các Zond
đo cảm ứng sâu (ILd) hay laterolog (LLd) lại có chiều sâu nghiên cứu lớn trong phần lớn các điều kiện đo khác nhau (hình 2.6) nhưng độ phân giải theo chiều thẳng đứng thì kém hơn
Trang 10Hình 2.5 Sơ đồ nguyên lý và vùng nghiên cứu của một số các Zond đo (Theo
Trang 11Hình 2.6 Yếu tố hình học theo phương bán kính của các Zond đo điện trở
2.2.3 Tốc độ kéo cáp
Mỗi phương pháp địa vật lý giếng khoan có yêu cầu tốc độ kéo cáp khác nhau Các hiện tượng phóng xạ tự nhiên và nhân tạo đều có bản chất ngẫu nhiên, cần phải tính đến số phân r∙ trong khoảng thời gian nhất định, chẳng hạn trong vòng 1 giây, 3, 6 giây hoặc dài hơn Những khoảng đều đặn thời gian được chọn để đếm các lần phân r∙ gọi là “hằng số thời gian” của phép đo Tại một điểm đo trong giếng, chẳng hạn ta tập hợp các số đếm tia phóng xạ trong vòng một khoảng thời gian 1 giây Số đếm trong nhiều giây liên tiếp nhau sẽ không bằng nhau, nhưng chúng thăng giáng xung quanh một giá trị trung bình nào đó Đặc tính đó gọilà tính “thăng giáng” của các số đo phóng xạ Hằng số thời gian ح càng lớn thì tính “thăng giáng” càng giảm vì số đếm đ∙
được trung bình hoá trong khoảng thời gian dài hơn Điều này giống như ta lấy trung bình trượt của một hàm ngẫu nhiên, nếu cửa sổ trung bình trượt càng rộng thì đường cong trung bình càng bị “là phẳng”, các biến thiên có bề rộng hẹp hơn cửa sổ đều bị loại bỏ hoặc suy giảm biên độ Điều đó đặt ra một sự cân nhắc khi chọn hằng số thời gian ح và tốc độ kéo cáp vì chúng có liên quan đến độ phân giải của phương pháp đo Thông thường người ta chọn tốc độ kéo cáp khi thực hiện các phép đo phóng xạ hạt nhân trong giếng khoan sao cho trong khoảng thời gian bằng ح, detectơ dịch chuyển
được một khoảng từ 0,6 - 0,9 m theo trục giếng khoan
Như vậy nếu tăng tốc độ kéo cáp thì phải rút ngắn hằng số thời gian ح, sao cho tích ح.v = const (v là tốc độ kéo cáp) Với các máy hiện dùng trong sản xuất tích v.ح lấy bằng 1000, trong đó v tính bằng m/h, ح tính bằng giây
Đối với các phương pháp điện trở (hoặc độ dẫn) và siêu âm việc chọn tốc độ kéo cáp lại được chọn để đáp ứng theo một yêu cầu khác, đó là quán tính của điện kế Mọi
Trang 12hệ đo đều có quán tính ì của nó Chẳng hạn khi điểm đo dịch từ lớp đất đá có đặc tính vật lý thấp đến lớp có đặc tính vật lý cao thì điện kế ghi tín hiệu không tức khắc cho chỉ số số đo tương ứng mà phải chờ một khoảng thời gian nhất định
Nếu tốc độ kéo cáp quá nhanh thì vùng chuyển tiếp từ giá trị số đo thấp đến giá trị số đo cao sẽ kéo dài trải rộng và biên độ
của đường biểu diễn sẽ bị giảm, các lớp
mỏng dễ bị chìm trong phông, độ phân giải
của phép đo do vậy giảm
Để bảo đảm độ phân giải của các
phương pháp điện và siêu âm, tốc độ kéo
cáp thường từ 600 m/h đến 2000 m/h, trong
đó các phép đo càng có độ phân giải cao thì
tốc độ càng cần phải thấp
Trong đo ghi tương tự trên băng từ,
đường dọc ở mép bên trái của cột thứ nhất
được ghi không liên tục, các khoảng trắng
trên đường này cách nhau 10 giây Căn cứ
vào các khoảng trắng trên đường ghi và cột
chiều sâu ta có thể kiểm tra được tốc độ kéo
cáp nhanh hay chậm (hình 2.7)
2.3 Nguyên lý đo ghi
Việc đo ghi trong địa vật lý giếng khoan chủ yếu là thể hiện sự biến đổi của một tham số vật lý nào đó theo chiều sâu của giếng khoan Mỗi lần kéo thả cáp để đo trong giếng khoan người ta có thể phối hợp một số phép đo để cùng tiến hành Các phép đo trong cùng một lần kéo thả cáp phải độc lập không làm ảnh hưởng lẫn nhau Không nên kết hợp các phương pháp cần đo với tốc độ kéo cáp chậm với các phương pháp có thể đo với tốc độ kéo cáp nhanh
Khi kéo cáp để tiến hành đo từ đáy giếng, cáp sẽ đi qua một ròng rọc có chu vi cho trước Nhờ hệ cơ học chiều dài của đoạn cáp đi qua ròng rọc được chuyển vào làm cho băng ghi (băng giấy ảnh hoặc băng từ) dịch chuyển một đoạn tương đương theo tỷ
lệ đ∙ chọn Các tỷ lệ chiều sâu có thể chọn: 1/1000, 1/500, 1/200, 1/100, 1/40 và 1/20 Nghĩa là tương ứng 1000m, 500m, 200m, 100m, 40m và 20m chiều sâu thực ở giếng khoan được thể hiện trên 1m chiều dài của băng ghi
Trong địa vật lý giếng khoan thực hiện các kiểu ghi chính: tương tự và ghi số
Đo ghi tương tự có thể trên giấy đặc biệt bằng bút ghi hoặc trên giấy ảnh bằng một camera có nhiều điện kế gương Ghi số trên băng từ là cách ghi hiện tại có nhiều ưu
điểm hơn Nhờ ghi số có thể nén các số liệu để truyền từ giếng khoan về trung tâm tính toán hoặc căn cứ ở đất liền cách xa hàng trăm, ngàn cây số; ở đó có các chương trình
xử lý mạnh sẽ cho các kết luận kịp thời ngay sau khi kết thúc đo Từ số liệu ghi số có thể hiển thị ra các đường ghi tương tự theo tỷ lệ bất kỳ Các số liệu đo ghi số dễ biến
đổi và gọn nhẹ, bền vững trong việc lưu giữ bảo quản
Khoảng trắng đánh dấu thời gian
Hình 2.7 Dấu hiệu kiểm tra tốc độ kéo cáp
Trang 132.4 Biểu diễn kết quả đo ghi
Các biến thiên của số đo được ghi lại trên phim hoặc băng từ hay đĩa mềm dưới dạng hàm số theo chiều sâu Các phim được in hiện luôn, còn băng có thể được lưu lại
và biểu diễn thay đổi theo mục đích và
mức độ chi tiết theo yêu cầu công việc
Lưới biểu diễn tiêu chuẩn của viện
dầu khí Mỹ (API) quy định cho các công
ty địa vật lý khi biểu diễn kết quả đo ghi
địa vật lý giếng khoan như hình 2.8
Cột 1 luôn luôn là ở tỷ lệ tuyến
tính, gồm 10 khoảng rộng (mỗi khoảng
nhỏ bằng 1/10 khoảng rộng) Các cột 2
và 3 có thể đều ở tỷ lệ tuyến tính (hình
2.8a) có thể đều ở tỷ lệ logarit (hình
2.8b) hoặc cột 2 có tỷ lệ logarit, cột 3
theo tỷ lệ tuyến tính (hình 2.8c), ví dụ
cột 2 dành cho kết quả đo điện trở, cột 3
cho kết quả đo siêu âm
Một số phép đo điện trở suất
trước đây biểu diễn trên lưới “hybrid”
(nghịch đảo), một nửa bên trái biểu diễn điện trở suất (0 - 50 Ωm), nửa bên phải biểu diễn độ dẫn (20 mmho - 0 mmho, tương đương với 50 - ∞ Ωm)
Tỷ lệ theo chiều sâu được chọn theo mục đích sử dụng: 1/1000 và 1/500 dùng
để liên kết thạch học; 1/200 và 1/100 là thang dùng để đánh giá vỉa chứa sản phẩm; các
tỷ lệ lớn hơn là dùng cho trường hợp nghiên cứu chi tiết các đối tượng như vỉa sản phẩm, vỉa than có nhiều lớp kẹp
Đầu băng (hình 2.9) là phần quan trọng có những thông tin cần thiết cho người phân tích minh giải tài liệu và người sử dụng những kết quả về sau Mỗi công ty dịch vụ
có một logo biểu trưng riêng cho công ty ở đầu băng đo ghi địa vật lý giếng khoan Tuy nhiên bất cứ công ty nào cũng cần ghi ở đầu băng về tổ hợp phương pháp đo, tên giếng khoan, tên công ty, vùng mỏ, vùng l∙nh thổ, toạ độ giếng khoan, đường kính khoan, các
số liệu chỉ đặc trưng dung dịch khoan, loại máy móc đo
2.5 Đo kiểm tra và chuẩn máy
Bất cứ hệ máy thiết bị đo ghi nào làm việc liên tục nhiều giờ đều có thể xảy ra hiện tượng không ổn định, nghĩa là sự tương ứng giữa tín hiệu đầu vào và đầu ra của hệ giữa lúc bắt đầu đo và lúc gần kết thúc không còn như nhau Ví dụ suất đếm của các detector trong các phương phóng xạ hạt nhân có thể thay đổi khi nhiệt độ và áp suất thay đổi, hay hiện tượng “trôi” điểm không có thể gặp ở các điện kế, sự “l∙o hoá” một
số linh kiện vi mạch của các sơ đồ điện tử của hệ đo
Tuyến tính
Logarit Tuyến tính