0 Từ 3.41 ta nói rằng điện trở suất biểu kiến Ra đo được bằng hệ điện cực gradien tỷ lệ với điện trở suất thực của phần môi trường nằm giữa hai mặt cầu bán kính AM và AN với hệ số bằng t
Trang 1E = RMNJ (3.41) Trong đó:
J - Mật độ dòng điện tại O trong môi trường nghiên cứu
RMN - Giá trị thực của điện trở suất ở phần môi trường nằm giữa hai điện cực M và N
0
Từ (3.41) ta nói rằng điện trở suất biểu kiến Ra đo được bằng hệ điện cực gradien tỷ
lệ với điện trở suất thực của phần môi trường nằm giữa hai mặt cầu bán kính AM và AN với hệ số bằng tỷ số mật độ thực của dòng phát trong môi trường nghiên cứu và mật độ J0 nếu môi trường đó là đồng nhất đẳng hướng
, và điện trở suất biểu kiến Ra sẽ bằng điện trở suất thực
Rt của môi trường
b) Trường hợp đo bằng hệ điện cực thế
a
2 1
Trong đó L= AM - chiều dài của hệ điện cực thế
Tuy nhiên thế điện UM tại điểm M có thể tính được từ cường độ điện trường E tại đó theo phương Z:
dZ
dU gradU
Trang 2Thay J trong biểu thức cuối cùng bằng tích ∝J0, với J0 là mật độ dòng trong môi trường đồng nhất đẳng hướng vô hạn
2 0
4 Z
I J
π
Thay vào (3.45):
dZ Z
R I U
M
J
J L
I Z
dZ z
f
I U
0
) (
điện trở Ra đo được bằng hệ
điện cực thế AM phụ thuộc vào độ tương phản điện trở của vỉa nghiên cứu R2 với điện trở của các lớp vây quanh RS, vào khoảng cách l từ M tới vỉa,
và với chiều dày h của vỉa
Quy ước rằng hệ điện cực AM đặt vuông góc với các mặt phân lớp Trong trường hợp đó UM tại M được tính:
=
=
h Z S
h Z
Z L
S L
M RIdZ R JdZ R JdZ R JdZ
U
1 1
Trang 3h Z
Z 0 S
2 h
Z 0
h Z
Z 0 Z
L 0 S M
1
1 1
1 1
dZJ)RR(dZJdZ
JdZ
JR
ư +
=
1 1 2 2
1
2 3 1
1 2 1
) ( ) (
h R
R h
Z Z
L R
Nhưng vì (α2tb - α1tb) và (α3tb - α2tb) thường rất nhỏ so với α1tb; và các khoảng Z
và Z1 + h lại lớn hơn L, nên có thể bỏ qua các số hạng quá nhỏ để biểu thức trên đượng rút ngắn:
≈
1 1 2 2
1
) ( ) (
h R
R L
R I
2 1
) (
4
Z h Z
hL R
R R R
I
U L
S
S tb
3.2.3 Dáng điệu của đường cong đo điện trở trong giếng khoan
Điện trở suất biểu kiến đo được trong giếng khoan phụ thuộc phức tạp vào các yếu tố: loại và chiều dài của hệ điện cực đo, đường kính giếng, chiều sâu đới ngấm,
điền trở suất và chiều dày của các lớp đất đá trong lát cắt
Hình 3.5 thể hiện các đặc điểm và dáng điệu của các đường cong đo ghi Ra trong giếng khoan bằng các điện cực thế và gradien qua các phần lát cắt khác nhau
3.2.3.1 Trường hợp hệ điện cực thế
Dáng chung của đường Ra là đối xứng qua điểm giữa của vỉa Trường hợp vỉa dày (h >> AM), điện trở cao (Rt > Rsh) (hình 3.5a), các điểm uốn (p và p’) trên đường cong lần lượt nằm ở vị trí thấp hơn nóc và cao hơn vách vỉa một khoảng đúng bằng
2
AM
Vậy trong trường hợp này nếu vạch vỉa theo các điểm uốn thì chiều dày biểu kiến sẽ nhỏ hơn chiều dày thực của vỉa một giá trị bằng AM
Trang 4Trường hợp vỉa mỏng (h
<< AM) điện trở cao (hình
3.5b) thì đường cong có dạng
đối xứng nhưng giá trị điện trở
suất biểu kiến tại giữa vỉa lại
rất thấp, bằng giá trị điện trở
suất của các lớp vây quanh
Đường cong có 2 điểm cực đại
ảo nằm cao hơn nóc và thấp
hơn vách vỉa một đoạn bằng
2
AM
, nghĩa là các điểm cực đại
cách nhau bằng (h + AM) đối
xứng qua trung tâm của vỉa
Trường hợp vỉa dày có
điện trở rất cao Rt = ∞ (hình
3.5e) nếu điện cực N đặt trên
Phụ thuộc vào chiều dày h của
vỉa, nếu h lớn thì giá trị Ra có
cực tiểu gần với giá trị điện trở
suất thực Rt của vỉa hơn, nếu là
vỉa mỏng thì giá trị này luôn
AM
3.2.3.2 Trường hợp hệ điện cực gradien
Đối diện với các vỉa dày (h > AO), điện trở cao đường cong Ra luôn luôn có dạng không đối xứng (hinh 3.5a) Khi các điện cực M và N đi vào vỉa (vùng 1) chỉ có một phần dòng rất nhỏ đi được vào vỉa nên hiệu điện thế đo được rất thấp, trên đường cong đánh dấu bằng một cực tiểu ở ngay nóc vỉa Lúc điện cực phát A đi vào vỉa a thì
điện trở Ra đo được tăng nhanh và tiến tới gần giá trị Rt (vùng 2) Khi các điện cực M
và N tiến vào vỉa vây quanh bên dưới thì hiệu điện thế giữa cặp điện cực này đột ngột
Hình 3.5 Dáng điệu của các đường cong đo ghi R a
Trang 5tăng do sự tập trung dòng phát từ môi trường điện trở cao vào môi trường điện trở thấp Hiện tượng này được đánh dấu bằng một cực đại trên đúng vách vỉa Tiếp theo là hiệu
điện thế giảm đột ngột do sự phân tán dòng trong môi trường điện trở thấp nên giá trị
Ra đo được cũng giảm theo (vùng 3) Điện trở trong vùng 3 giảm dần đến giá trị Rsh ở bên dưới, cách ranh giới vỉa một khoảng bằng chiều dài AO của hệ điện cực
Dáng điện trường Ra vừa mô tả là dáng điệu của đường cong Ra đo được bằng hệ
điện cực gradien xuôi Trường hợp trên nếu phép đo thực hiện bằng hệ điện cực gradien ngược thì dáng điệu của đường cong đo được sẽ đảo ngược theo nguyên tắc ảnh gương qua đường đối xứng đi qua trung tâm vỉa
Trường hợp vỉa mỏng (h < AO) điện trở cao đường Ra cũng có dạng không đối xứng (hình 3.5b) nhưng có dạng một pich nhọn ở vách vỉa Các ranh giới vỉa được vạch
ở chân và đỉnh của pich nhọn Thấp hơn ranh giới vách vỉa đường Ra có một cực đại lặp lại (cực đại ảo) có biên độ thấp hơn Hai cực đại này cách nhau một khoảng bằng chiều dài AO của hệ điện cực
Gặp trường hợp vỉa dày điện trở rất cao (hình 3.5e) đường Ra có dạng pich nhọn không đối xứng, đỉnh của pich này nằm ngay trên vách vỉa Cũng như trường hợp vỉa dày (hình 3.5a) ranh giới nóc vỉa được xác định tại điểm cách chân của pich nhọn một khoảng bằng AO về phía trên
Các vỉa mỏng có điện trở thấp (hình 3.5c và 3.5d) thể hiện trên đường Ra phức tạp hơn các trường hợp vừa xét Dáng đường cong Ra không đối xứng, các ranh giới nóc và vách vỉa có thể xác định theo các điểm cực trị: cực đại ở nóc, cực tiểu ở vách vỉa Bên dưới vách các vỉa này cùng tồn tại những cực tiểu lặp lại (cực tiểu ảo) các một
đoạn bằng AO
3.2.4 Chiều sâu nghiên cứu của các hệ điện cực
a) Hệ điện cực thế
Trong môi trường đồng nhất đẳng hướng, từ các phương trình (3.2) và (3.6) ta
dễ dàng nhận thấy rằng tín hiệu UM sẽ giảm đi một nửa khi tăng chiều dài của hệ điện cực lên hai lần (AM’ = 2AM), và giảm tiếp đến 90% khi AM’ = 10AM Vậy đất đá ở ngoài mặt cầu có bán kính r = 10AM chỉ còn đóng góp 10% tín hiệu đo
Nếu tính chiều sâu nghiên cứu của hệ điện cực là giới hạn phần môi trường bao bởi mặt cầu để ở đó có được tín hiệu không ít hơn 50% thì chiều sâu nghiên cứu (r) của
hệ điện cực thế bằng hai lần kích thước của hệ điện cực: r 2= AM
Chú ý: Khả năng phân giải lát cắt theo chiều thằng đứng cũng sẽ tương tự như vậy
b) Hệ điện cực gradien
Từ phương trình (3.8) cũng có thể suy ra rằng vùng cho tín hiệu chính khi đo
điện trở bằng hệ điện cực gradien là phần môi trường giới hạn bởi hai mặt cầu đồng tâm có bán kính lần lượt bằng AM và AN
Trang 6Vậy có thể nói rằng chiều sâu nghiên cứu của hệ điện cực gradien bằng chiều dài AO (hoặc MO) của hệ điện cực
c) Trong môi trường thực tế ở giếng khoan
Trong môi trường thực tế ở giếng khoan luôn luôn gặp môi trường không đồng nhất phức tạp Vì vậy các mặt đẳng thế UM trong môi trường này không còn là các mặt cầu đồng tâm đơn giản như môi trường đồng nhất đẳng hướng
Phần thể tích của môi trường có góp phần vào tín hiệu đo phụ thuộc rất nhiều vào kích thước hình học và điện trở của các đới cận giếng, đường kính giếng và lớp vỏ sét Các hình 3.6 và 3.7 sẽ giúp ta hình dung về chiều sâu nghiên cứu và vùng đóng góp tín hiệu đo từ các đới khác nhau lần lượt của hệ điện cực thế và gradien
Từ những điều phân tích và các hình vẽ 3.6 và 3.7 có thể đưa ra các nhận xét như sau:
- Nếu mọi yếu tố là như nhau, thì khi chiều dài của hệ điện cực càng lớn thì chiều sâu nghiên cứu của nó càng sâu
- Đối với một hệ điện cực, chiều sâu nghiên cứu của nó sẽ giảm dần khi tỷ số
của thành hệ xung quanh giếng và dung tích khoan càng cao
- Có cùng chiều dài, hệ điện cực thế sẽ có chiều sâu nghiên cứu lớn hơn hệ
a) Sơ đồ trong giếng khoan
b) Sự đóng góp tín hiệu của các đới cận giếng
thay đổi theo khoảng cách
Hình 3.7 Bán kính nghiên cứu của hệ
điện cực gradien
a) Sơ đồ trong giếng khoan b) Sự đóng góp vào tín hiệu từ các đới cận giếng
Trang 7Ra = f(L, h, Di, d, Rm, Rxo, Ri, Rt, RS )
Để đánh giá Rt cần phải hiệu chỉnh số đo Ra để loại bỏ các ảnh hưởng của mọi tham số từ môi trường xung quanh: đường kính giếng, đới ngấm, chiều dày vỉa
Trang 8Nhằm tính toán cho phần lớn các trường hợp gặp trong thực tế, trước đây khi chưa có những chương trình xử lý trực tiếp, người ta thường dùng các bản chuẩn riêng biệt để tính Rt dựa vào quan hệ
h R
chuẩn kiểu như vậy Hai trường
hợp đầu được dùng khi vỉa dày
3.8c) dùng cho trường hợp vỉa
có chiều dày hữu hạn (trên hình
R
, trục hoành -
d AO
(hoặc
d
AM
) là để các bản chuẩn phù hợp cho mọi hệ điện cực và mọi giá trị điện trở
Rt ở đây tính đa nghiệm của bài toán ngược đ∙ được khống chế bằng một bản chuẩn
Hình 3.9 là một thí dụ bản chuẩn hiệu chỉnh ảnh hưởng của đường kính giếng lên kết qủa đo Ra bằng hệ điện cực thế AM = 0,4 m và gradien AO = 5,7m
3.2.6 Vi hệ điện cực (không hội tụ dòng) - Microlog ML
Vi hệ điện cực là hệ điện cực có
chiều dài rất nhỏ Vi hệ điện cực không
hội tụ dòng là hệ gồm 3 điện cực điểm bố
trí thẳng hàng trên một tấm cao su cách
điện có tẩm dàu (hình 3.10)
Các điện cực A0, M1 và M2 đặt cách
đều nhau 1” (2,54 cm) Tấm cao su chế tạo
bằng loại cao su xốp được tẩm dầu trên đó
gắn các điện cực A0 M1 M2 Nhờ một cánh
đòn bằng thép, khi làm việc, tấm cao su và
các điện cực được ép sát vào thành giếng
nhờ lực ép thuỷ lực tạo ra trong máy
Hình 3.10 Sơ đồ vi hệ điện cực ML) a) Nguyên tắc phát dòng đo; b) ảnh chụp tấm cao su có gắn 3 điện cực
(Microlog-Hình 3.9 Bản chuẩn hiệu chỉnh đường kính giếng
Trang 9a) Sơ đồ đo điện trở bằng vi hệ điện cực - ML
Sơ đồ đo điện trở bằng vi hệ điện cực được mắc nối như hình 3.11
Dòng phát được đưa vào môi trường nghiên cứu qua điện cực A Máy đo G trên
mặt đất ghi hiệu điện thế giữa hai điện cực M1 M2 Giá trị ∆U M1M2 tỷ lệ với điện trở
suất của môi trường theo tỷ số
I
K G
, trong đó KG là hệ số của vi hệ điện cực gradien
M20,025M10,025A, (1”ì1”); I - cường độ dòng phát qua điện cực A
Máy đo T
sẽ ghi điện thế tại
điện cực M2, (U M2), tỷ lệ với
điện trở suất theo
I- Cường độ dòng phát qua A
Các vi hệ
điện cực thế và gradien có chiều sâu nghiên cứu khác nhau Vi hệ
điện cực gradien
có chiều sâu nghiên cứu bằng chiều dài của nó,
AO = 0,037m Trong khi đó chiều sâu nghiên cứu của vi hệ điện cực thế xấp xỉ bằng
hai lần chiều dài AM2: r = 2AM2 = 0,1m
Như vậy, ta đồng thời đo ghi được hai giá trị điện trở suất, một của hệ điện cực
gradien (R1”x1”), cho giá trịđiện trở của vùng sát thành giếng tới chiều sâu khoảng
3,7cm; và một còn lại của hệ điện cực thế (R2”) có chiều sâu nghiên cứu lớn hơn gấp
đôi (r = 10cm)
b) Phân tích kết quả đo
Ta có nhận xét rằng, giá trị điện trở suất R1”x1” phản ảnh chiều sâu không quá
4cm vào thành giếng nên đại lượng này rất nhạy với sự thay đổi chiều dày và điện trở
suất của lớp vỏ sét bám trên thành giếng nơi đá có độ rỗng và độ thấm cao Trong khi
đó giá trị điện trở R2” phản ảnh vùng sâu hơn (≤ 10cm) nêm nhạy với sự thay đổi điện
trở suất của đới rửa ở các vỉa nói trên
RaN
TG
mA
B
- +
M2M1A
R2”
R1”x1”
Hình 3.11 Sơ đồ nguyên tắc đo điện trở suất
bằng vi hệ điện cực
Trang 10ở các vỉa đá có độ rỗng thấp khả năng thấm kém như các lớp đá sét hay đá cacbonat rắn chắc thì không có lớp vỏ sét và đới ngấm rất nhỏ Trong trường hợp đó cả hai
vi hệ điện cực thế và gradien đều cho giá trị điện trở suất của phần đất đá ngay sát thành giếng khoan, và các giá trị đo R1”x1” và R2” xấp xỉ bằng nhau Trên băng ghi các đường cong này đè lên nhau và có giá trị trung bình như nhau Ngược lại ở đoạn giếng đi qua các vỉa có thấm (cát kết, cát pha sét)
các đường cong này táchkhỏi
nhau, chứng tỏ trên thành giếng
có lớp vỏ sét có điện trở Rmc nhỏ
hơn điện trở suất Rxo của đới rửa
Do điện trở suất R1”x1” nhạy với
Rmc, còn R2” thì chủ yếu phản
ảnh điện trở của đới rửa, nên gặp
trường hợp này R2” > R1”x1” Đây
là một trong các chỉ thị biểu hiện
có vỏ sét và đới ngấm
Dựa vào đặc điểm của
hai vi hệ điện cực gradien và
thế người ta tích hợp số đo của
chúng để xác định giá trị điện
trở Rxo của đới rửa và chiều dày hmc của lớp vỏ sét theo bản chuẩn (hình 3.12)
c) Các ảnh hưởng của môi trường
Phép đo vi hệ điện cực được thực hiện khi thiết bị đ∙ được áp vào thành giếng nên ảnh hưởng của đường kính giếng lên kết quả đo được xem là không đáng kể Nhưng trong trường hợp thành giếng không nhẵn dung dịch có thể lọt vào giữa thấm cao su và thành giếng làm cho số đo bị ảnh hưởng, sai số làm cho số đo nhỏ đi, đặc biệt là số đo R1”x1”
Độ phân giải của các vi hệ cực rất cao cho nên các lớp vây quanh có thể ảnh hưởng đến số đo khi chiều dày của vỉa nghiên cứu nhỏ hơn vài inche
Các phép đo điện trở suất bằng vi hệ điện cực (kể cả các vi hệ cực có hội tụ dòng) được sử dụng rộng r∙i để xác định điện trở suất Rxo độ b∙o hoà Sxo, độ lỗ rỗng Φ, liên kết lát cắt giữa các giếng khoan
3.3 Các phương pháp đo bằng hệ điện cực có hội tụ dòng
Trong thực tế có thể gặp một số khó khăn:
- Chiều dày h của vỉa nghiên cứu không lớn, xấp xỉ hoặc nhỏ hơn chiều dài của các hệ điện cực (AM = 0,4m, AO = 5,7m ) lúc đó ảnh hưởng của các lớp vây quanh lên số đo Ra rất lớn, việc vạch ranh giới vỉa sẽ khó khăn
- Điện trở suất dung dịch quá nhỏ (dung dịch mặn) điện trở suất của các lớp đá trong lát cắt lại quá cao, đường dòng phát qua A không đi vào môi trường nghiên cứu,
mà chủ yếu đi trong giếng khoan
d = 8”
Hình 3.12 Bản chuẩn xác định R xo từ kết quả đo ML
Trang 11Muốn khắc phục các khó khăn nêu trên, trong kỹ thuật ngoài các điện cực phát chính A0, người ta còn dùng các điện cực màn chắn (hình 3.13) để “ép” cho dòng phát
đi vào môi trường nghiên cứu xung quanh giếng khoan trong những khoảng xác định
Đối với trường hợp giếng có dung dịch gốc dầu, hay giếng khô thì được khắc phục theo hướng khác: kích thích môi trường nghiên cứu bằng sóng điện từ để gây hiện tượng cảm ứng điện trong các lớp đất đá Trong mục này sẽ lần lượt xét các phương pháp đo
điện trở/độ dẫn điện của các lớp đất đá trong giếng khoan bằng các phương pháp có hội
tụ dòng
3.3.1 Phương pháp Laterolog, LL
Laterolog đo điện trở suất bằng một hệ điện cực có khả năng hội tụ dòng phát đi vào thành (sườn) của giếng khoan
Nguyên tắc chung của laterolog là phát dòng kích thích qua điện cực A0 Hai
điện cực màn A1 và A1’ có cùng cực tính với A0, được đặt đối xứng qua A0
Phần dòng phát qua A0 bị chặn bởi phần dòng từ các điện cực A1 và A1’ ép cho
nó đi thẳng vào môi trường nghiên cứu Kết quả là tín hiệu đo sẽ ít chịu ảnh hưởng của giếng khoan và các lớp vây quanh
a) Hệ cực đo sườn 7 điện cực điểm (Laterolog-7; LL 7 )
Hệ điện cực LL7 là tập hợp của 7 điện cực điểm (hình 3.13)
Dòng phát I0 qua điện cực trung tâm A0 được giữ cố định Một dòng phát từ cặp
điện cực màn (A1 và A1’), I1 được điều chỉnh tự động thay đổi sao cho hiệu điện thế giữa các cặp điện cực M1M2 và M1’M2’ đối xứng qua A0 bằng nhau và bằng không
0
' ' 21 2
Điện thế UM so với điện cực N đặt ở xa vô cùng được ghi lại bằng thiết bị đo trên trạm ở mặt đất Vì I0 = const nên
UM tỷ lệ với điện trở suất của phần đất
đá có dòng I0 đi qua
0
I
U K
Trang 12Trong đó KL là hệ số của hệ điện cực laterolog-7; nó có thể được xác định trên mô hình thực nghiệm hoặc tính toán theo trường của nguồn điểm (V.N Daxnov - 1967) Cho LL7 hệ số KL được tính toán như sau:
Trong môi trường quy ước là đồng nhất đẳng hướng có điện trở Rt ở chế độ làm việc điện thế tại các điện cực M1 và M2 của hệ điện cực laterolog-7 được tính:
=
1 1
1 1 1
1 1 0
0
' 4
I M A
I M A
I R
2 1
1 2
1
1 2 0
0
' 4
I M
A
I M A
I R
Theo điều kiện (3.55) U M1 =U M2, do đó:
2 1
1 2 1
1 2 0
0 1 1
1 1 1
1 1 0
0
M ' A
I M
A
I M A
I M ' A
I M A
I M A
Từ (3.59) ta có:
( 1 1 1 2 1 1 1 2)2
0 1 0
2 1 1 1 2 1 1 1 0
1
' '
' '
M A M A M A M A M A M A
M A M A M A M A I
=
1 1 1 1
1 1 1
0
0 1
1 1 1 1 0
0
'
' 1
4 '
1 4
A A C M
A
I R M A
C M
A
C M
1 1 1
0
1
'
' 1
4
I U
M A M A
A A C M
1
4
M A M A
C M
Hệ điện cực laterolog-7 thích hợp khi
đo trong lát cắt có điện trở cao Khả năng hội tụ dòng I0 của các hệ cực laterolog được
đánh giá bằng một tham số n có tên gọi là hệ số hội tụ Hệ số hội tụ n của một hệ cực laterolog bằng tỷ số chiều dài toàn phần A1A1’ chia cho chiều dài cơ sở OO’ của nó
Hình 3.14 Hiệu quả hội tụ dòng của
hệ cực phụ thuộc vào hệ số n
Trang 13'
1 1
OO
A A
n càng lớn thì khả năng hội tụ dòng I0 của hệ cực càng mạnh Hình 3.14 thể hiện khảnăng hội tụ dòng phụ thuộc vào kích thước A1A1’ và OO’ của hệ cực
b) Hệ cực đo sườn 3 điện cực (Laterolog-3, LL 3 )
Điện cực A0 có dạng trụ đặt ở giữa, các điện cực màn A1 và A1’ cũng có dạng trụ dài đặt đối xứng qua A0 Khác với trường hợp LL7, trong hệ cực LL3 các điện cực màn A1 và A1’ được nối với nhau và phát dòng I1 = const nhờ phối hợp trở kháng ở sơ
đồ bên trong Dòng I0 phát qua A0 thay đổi sao cho điều kiện (3.55) được thoả m∙n nghĩa thế điện của A0 và các điện cực màn bằng nhau Tập hợp các điện cực A1 – A0 – A1’ sẽ có cùng mặt đẳng thế nên dòng I0 chỉ có thể đi vuông góc với trục giếng khoan (hình 3.15) tạo thành một đĩa có chiều dày OO’
Phép đo thực hiện đo giá trị I0 Đại lượng này
tỷ lệ với độ dẫn C của thành hệ trong đĩa OO’: I0 =
Điểm đo của hệ cực LL3 cũng như mọi hệ cực
laterolog khác, đều tính cho điểm A0
Thiết bị đo laterolog-3 thường được sử dụng
có kết quả tốt khi đo trong các lát cắt địa chất có điện
trở thấp
c) Các dạng khác nhau của hệ cực laterolog
Trong thực tế có lúc cần giảm hoặc tăng chiều sâu thấm dòng khi đo điện trở bằng các hệ điện cực có hội tụ dòng (laterolog)
- Laterolog-8, LL8 là một kiểu laterolog nông, có kết cấu bố trí các điện cực giống như LL7 nhưng kích thước nhỏ hơn và có thêm điện cực dòng B đặt ở gần bảy điện cực chính
- Laterolog kép (Dual-laterolog) DLL là hệ cực gồm 9 điện cực (hình 3.16) làm việc theo hai chế độ luân phiên nhau
để có 2 số đo phản ánh các vùng nghiên cứu nông và sâu hơn
Theo sơ đồ, ở chế độ làm việc thứ nhất, các điện cực A2A1A1’ và A2’ cùng đóng vai trò các điện cực màn, nghĩa là có cùng cực tính với A0 thì dòng I0 có thể đi theo đường dòng song song trong đĩa dầy