Sự kéo dài của thời gian truyền ∆t do trước khi đến chấn tử thu thứ hai xa sóng bị suy giảm mạnh, biên độ sóng ở đó nhỏ hơn ngưỡng phát hiện của máy hình 6.24.. Bỏ sót chu kỳ: Có một số
Trang 1a Sự kéo dài của thời gian truyền (∆t) do trước khi đến chấn tử thu thứ hai (xa) sóng bị suy giảm mạnh, biên độ sóng ở đó nhỏ hơn ngưỡng phát hiện của máy (hình 6.24) Trong trường hợp đó giá trị ∆t bị
kéo dài
b Bỏ sót chu kỳ: Có một số trường
hợp do chọn ngưỡng đo quá thấp hoặc
năng lượng (biên độ) sóng tới chấn tử xa
quá yếu nên triger đánh dấu thời gian chỉ
làm việc với chu kỳ thứ hai hoặc thứ ba
(hình 6.25) Vì thế ∆t kéo dài thêm ít nhất
một chu kỳ Hiện tượng sóng bị hấp thụ
mạnh trước khi tới chấn tử thu xa có thể
do vỉa b∙o hoà khí, có khi cả dầu Trong
đá cacbonat và đá móng Hiện tượng này
còn có thể do gặp đới nứt nẻ mạnh làm
cho sóng bị giảm biên độ
c Kích thước giếng
Khi đường kính giếng quá lớn, thì
sóng đi từ chấn tử phát lên thành giếng và
từ thành giếng đến chấn tử thu thì dài hơn
đoạn đường từ chấn tử phát đến chấn tử thu thứ nhất Trong trường hợp đó tín hiệu đầu tiên đến chấn tử thhu gần là tín hiệu sóng đi thẳng qua dung dịch Muốn khắc phục hiện tượng này phải bố trí Zond đo định tâm trong giếng khoan
Trong giếng khoan nếu chứa
dung dịch có hoà tan không khí
hoặc gas thì sóng dễ bị hấp thụ, suy
giảm năng lượng đặc biệt là tín hiệu
ở chấn tử thu thứ nhất
Hiện tượng hoà tan khí trong
dung dịch khoan thường gặp ở ngay
các vỉa chứa khí
d Vùng ngấm dung dịch
Dung dịch trong vùng ngấm
có thể không ảnh hưởng đến số đo
ở vỉa nước Trong các vỉa chứa dầu
hoặc khí b∙o hoà nước cao thì tốc
độ truyền sóng âm trong các đới
rửa và đới nguyên là hoàn toàn
khác nhau
Trong trường hợp đới ngầm sâu, số đo siêu âm thường chỉ phản ánh đới rửa và
Hình 6.24 Sự kéo dài thời gian do sóng
âm bị suy giảm mạnh trước khi đến chấn
tử thu xa
Gần
Xa
Ngưỡng phát hiện
Ngưỡng phát hiện
Tín hiệu bị suy giảm
Tín hiệu bình thường
Thời gian kéo dài
phát hiện
Trang 2Trường hợp đới ngầm nông hoặc không có đới ngầm thì khí và dầu nhẹ sẽ có
ảnh hưởng rõ ràng lên số đo Nếu giá trị đo ∆t nhỏ hơn trong dung dịch thì số đo này thể hiện phần môi trường trong đới nguyên Tuy nhiên, khi sử dụng giá trị đo này để tính độ lỗ rỗng thì phải hết sức thận trọng Nếu giá trị ∆t đo được lớn hơn giá trị ∆tf
trong dung dịch khoan (hay gặp ở các lớp đất đá gần mặt đất, độ nồng lớn) thì rõ ràng giá trị đo siêu âm gần với ∆tm trong dung dịch và giá trị ∆t trong đới nguyên cũng không thể bị giảm đi Để xác định nó ta phải thực hiện các phép hiệu chỉnh nhưng không nên dùng nó trong xác định
độ lỗ rỗng
Khi không có đới ngầm và
đoạn giếng ở chế độ khai thác nhẹ
(có dầu khí từ vỉa chảy chậm vào
giếng) thì có thể xuất hiện các bong
bóng khí dầu trong dung dịch, gây ra
hiện tượng suy giảm sóng mạnh mẽ
và gía trị ∆t đo được dài ra Đôi khi
cũng có thể gặp tốc độ âm trong đá
rất thấp (∆t, cao) do vỉa nước có b∙o
hoà khí, dù rất ít nhưng chúng đ∙ tạo
6.5.9 Dấu tích luỹ thời gian truyền sóng
Để xác định vận tốc lớp trong địa vật lý ở giếng khoan, các máy đo tốc độ âm
được thiết kế thêm chức năng đánh các dấu tích luỹ thời gian truyền sóng theo phương song song với trục giếng khoan Các dấu vạch ngang thường được ghi ở bên trái của băng ghi ∆t Khoảng cách giữa hai dấu vạch ngắn liên tiếp là khoảng chiều sâu mà sóng truyền trong đơn vị thời gian bằng 1ms Trên băng cứ 10 khoảng dấu vạch ngắn thì đến một vạch dài Như vậy, khoảng cách giữa hai vạch dài liên tiếp là khoảng sâu
Trang 3Hiển nhiên là các dấu tích luỹ cũng chịu các sai số như ∆t Dựa vào các vạch tích luỹ thời gian, ta có thể xác định vận tốc lớp cho đoạn giếng khoan bất kỳ
6.5.10 Các ứng dụng
Phương pháp tốc độ sóng âm (∆t) được sử dụng chủ yếu là để xác định độ lỗ rỗng (ΦS) của thành hệ đá chứa So với các phương pháp hạt nhân, các số đo của phương pháp tốc độ âm ít chịu ảnh hưởng của giếng khoan nên có thể dùng nó để xác
định độ lỗ rỗng thứ sinh của các vỉa đá chứa, đặc biệt là trong trường hợp các tầng chứa
là đá cacbonat hay đá móng kết tinh
Phương pháp tốc độ sóng âm cũng được dùng để xác định thạch học khi kết hợp với phương pháp Neutron và Gamma tán xạ mật độ Phương pháp đồ thị trực giao M và
N có thể sử dụng nhằm mục đích nêu trên Số đo tốc độ siêu âm không nhạy với sự thay đổi đường kính giếng khoan nên phép đo này có thể dùng để nghiên cứu độ nén ép trong các tập cát sét hoặc tính toán tỷ số ∆tS/∆tP
giúp cho việc phân tích chính xác từ tài
liệu tuyến địa chấn thẳng đứng, xác
định tướng địa chấn, xác định bản chất
của chất lưu b∙o hoà trong vỉa
Chất lưu b∙o hoà trong vỉa có thể
được nhận biết rõ ràng hơn khi so sánh
các số liẹu đo âm với các phương pháp
khác (Neutron - Mật độ - Điện trở)
Cũng như các phương pháp
khác, phương pháp tốc độ siêu âm được
dùng để liên kết địa tầng và nghiên cứu
bể trầm tích vì có độ phân dải theo phương thẳng đứng khá tốt (khoảng 60cm) cho nên phương pháp tốc độ siêu âm cũng có thể xác định chiều dày các vỉa
Trong trường hợp xác định được vận tốc sóng dọc và sóng ngang theo đó người
ta có thể đánh giá được các tính chất cơ học của các lớp đá Ví dụ, kết hợp phương pháp tốc độ siêu âm với phương pháp khác (Neutron, Mật độ, ) có thể xác định các
) 17 6 (
1 1 2 2
1 1 2 2 2
ρρ
v v
v v R
Thời gian truyền (às/ft)
Dấu tích luỹ thời gian
Trang 4- Modun Yuong E
Trong đó k là modun khối
Modun kéo à:
Hệ số Poisson-ứng suất σ:
6.6 Phép đo suy giảm biên độ sóng âm
Biên độ của sóng siêu âm giảm dần khi nó lan truyền trong môi trường Sự thay
đổi biên độ sóng như vậy là do sự suy giảm năng lượng của sóng trên đường truyền (Hình 6.28)
Khoảng cách lúc sóng xuất hiện cho đến khi bị suy giảm hoàn toàn gọi là đợt sóng, nó gồm một số bước sóng1
1 Trong sóng địa chấn, đợt sóng chỉ kéo dài từ 1,5 đến 2 chu kỳ, còn trong phép đo siêu âm ở giếng khoan đợt
) ( psi
, t t
t t t
= v + k
v k
= E
P S
P S S S
3
2 2
2 2 2 2
ρ
10 34 1 3
4 3 3
4
2 2
2 2 2
2
psi
, t t
t t
= v v
= k
p s
p s
s
∆
∆ ρ ρ
) ( psi
, t
= v
à
) ( t
t
t t
= v
v v v
=
p s
p s s
p s p
21 6
2 2
1 1
2 2
1
2 2
2 2 2
∆
∆
∆
∆ σ
Hình 6.28 Sự suy giảm sóng âm theo đường truyền
Trang 5Sự tắt dần biên độ sóng siêu âm trên đường truyền trong môi trường đất đá phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Chiều dài bước sóng và loại sóng (sóng dọc, sóng ngang)
- Kiến trúc của đá (lỗ rỗng, kích thước hạt, độ bào mòn, độ chọn lọc của hạt vụn) liên quan đến độ rỗng, độ thấm, bề mặt riêng của đá
- Loại chất lưu b∙o hoà trong lỗ rỗng và độ nhớt của chúng
Quá trình mất năng lượng có thể do các kiểu ma sát:
- Cơ chế truyền sóng đàn hồi trong môi trường liên tục là sóng làm cho các hạt nhỏ hay tinh thể của đá vận động xung quanh vị trí ban đầu Các vận động đó truyền từ
điểm chất này sang điểm chất bên cạnh Sự vận động này gây ma sát giửa các hạt rắn với hạt rắn và phát ra nhiệt Đây chính là nguyên nhân năng lượng sóng bị tiêu hao
- Trên mặt tiếp xúc giữa chất lưu và hạt rắn cũng sinh ra sự ma sát tương tự Trong trường hợp này lực ma sát phát năng lượng từ chất lưu đến chất rắn ở xung quanh làm cho năng lượng tiêu hao dưới dạng nhiệt
- Trên bề mặt tiếp xúc giữa hai chất lưu không dễ trộn lẫn (dầu/nước; dầu/khí; khí/nước) cũng có sự ma sát khi có sự lan truyền của sóng âm, lực ma sát tác động từ chất lưu kém linh động hơn tới chất lưu bên cạnh gây ma sát dẫn đến tiêu hao năng lượng
Sự phân bố năng lượng của sóng đàn hồi có thể theo nhiều cách:
- Truyền theo ranh giới môi trường Trên thành giếng là ranh giới giữa hai môi trường lỏng và rắn Từ môi trường dung dịch khoan có một sóng dọc đầu tiên đi vào môi trường rắn là đất ở thành giếng tạo ra một sóng nén đi trong môi trường đó Sóng thứ sinh này bị khúc xạ theo một góc bằng góc tới hạn của góc tới
- Năng lượng của sóng đầu tiên chủ yếu chuyển thành năng lượng của sóng thứ sinh đi vào môi trường rắn
Trang 6Cả hai trường hợp đó đều có thể xảy ra
trong giếng khoan trần và ở đoạn ximăng gắn
kết yếu của giếng khoan chống ống
- Truyền qua mặt ranh giới khi sóng đàn
hồi đi qua ranh giới giữa các phần môi trường
thứ nhất và thứ hai có độ kháng âm khác nhau,
phụ thuộc vào góc tới, phần phản xạ toàn phần
của sóng hoặc thành phần của sóng khúc xạ sẽ
đi vào môi trường thứ hai, phần còn lại phản xạ
vào môi trường thứ nhất (Hình 6.29) ở môi
trường thứ hai (môi trường rắn), sóng khúc xạ
Trong giếng khoan ta sẽ gặp hai trường hợp:
+ Giếng trần không chống ống: Năng lượng sóng âm tiêu hao trong dung dịch
và tiêu hao trong đất đá
a Trong một dung dịch đồng chất, sự suy giảm theo luật hàm mũ với từng tần số:
Với m là hệ số suy giảm trong dung dịch, tỷ lệ với tần số nguồn, x là khoảng cách từ điểm nguồn tới vị trí quan sát Trong nước ngọt, ở điều kiện chuẩn về áp suất
và nhiệt độ đối với nguồn có tần số 20KHz thì hệ số suy giảm ở vào khoảng 3.10-5
db/ft Đại lượng này sẽ cao hơn nước mặn và trong dầu và giảm khi áp suất và nhiệt độ tăng Trong dung dịch sét thông thường, hệ số suy giảm m = 0,03db/ft, ở tần số f = 20KHz khi dung dịch khoan bị nhiễm khí thì sự tán xạ năng lượng sóng thay đổi rất lớn khó tính toán được
b Trong các thành hệ đá thì sự tiêu hao năng lượng có thể do các ma sát, tán xạ
và biến đổi năng lượng khi qua các mặt ranh giới của môi trường
Trong đá nguyên khối không bị nứt nẻ, sự suy giảm của sóng ngang và sóng dọc trên đường lan truyền theo hàm mũ có dạng:
Trong đó a = a’ + a” + a”’ là hệ số suy giảm toàn phần, bằng tổng của các hệ số suy giảm do ma sát trên mặt tiếp xúc lần lượt rắn/rắn, lỏng/lỏng, l - là khoảng đường sóng đi trong đá
P
P
SLỏng Rắn
Hình 6.29 Sự phân bố năng lượng sóng âm trên mặt ranh giới lỏng/rắn
Trang 7Đá rắn chắc, không có lỗ rỗng các hệ số a’’ và a’’’ bằng “không” Khi đá chỉ b∙o hoà nước, a’’’= 0 Trong đá có lỗ rỗng hệ số a’’ phụ thuộc vào giá trị độ rỗng và độ thấm, nó thay đổi cùng chiều với sự thay đổi của hai tham số colectơ này của đá chứa
Các hệ số a’ và a’’ của đá có lỗ rỗng giảm khi gia tăng áp suất Theo Gardner và nnk (1964), khi đá khô sự tiêu hao năng lượng chủ yếu là a’ (ma sát rắn/rắn), còn khi b∙o hoà nước chủ yếu là a’’(lỏng/rắn) và vì vậy trong đá b∙o hào nươc sự thay đổi hệ
số suy giảm δ của sóng đàn hồi theo áp suất mạnh hơn trong đá khô (Hình 6.30)
Tóm lại hệ số suy giảm a của sóng đàn hồi trong đá là một hàm số phụ nhiều tham số của môi trườngvì thế có thể viết:
Hình 6.30 ảnh hưởng của áp suất lên hệ số suy giảm a (theo Gardner et al 1964)
áp suất (psi)
Đá bão hoà nước
Đá khô
Trang 8Trường hợp thứ hai gặp trong các tập vỉa cát sét cấu tạo từ các đá có tốc độ truyền sóng khác nhau Trong trường hợp đó khi góc cắm của các vỉa thay đổi so với trục giếng cũng dẫn đến sự thay đổi hệ số suy giảm sóng âm trong phép đo ở giếng khoan
Sự suy giảm còn xảy ra trên thành giếng, mặt trụ tiếp xúc giửa dung dịch khoan với đất đá cứng Ta có thể thấy ngay hiện tượng suy giảm còn phụ thuộc chiều dài Zond đo (Spacing), đường kính giếng, tần số sóng và tốc độ cuả các sóng P và sóng S
+ Giếng khoan chống ống: Sự suy giảm năng lượng sóng là ảnh hưởng của ống chống, chất lượng xi măng và dung dịch khoan Nếu ống chống hoàn toàn tự do, bên trong và bên ngoài ống đều là dung dịch do đó nó có thể rung tự do Trong trường hợp này hệ số truyền năng lượng tới đá sẽ rất thấp và tín hiệu đến máy thu sẽ cao
Tuy nhiên cũng có trường hợp chỉ tự do một bên còn phía đối diện thì có ximăng bám tốt, hay khoảng cách giửa ống chống và đất đá quá sát (dưới 1inch) thì không loại trừ khả năng truyền năng lượng từ ống chống vào đất đá vẫn dễ dàng Trong các trường hợp đó ta quan sát thấy sự suy giảm biên độ sóng ở các chấn tử thu không
đáng kể, và hệ số suy giảm khi đó phụ thuộc vào tần số sóng, khoảng cách giửa các chấn tử thu (spacing)
Khi ống được xi măng bám tốt nối liên tục với đất đá cứng thì biên độ rung cuả ống chống có thể rất nhỏ so với lúc nó tự do và do vậy hệ số truyền năng lượng đến đất
đá sẽ cao Khi đó năng lượng truyền cho thành hệ phụ thuộc vào chiều dầy của ximăng
và của ống chống Nếu năng lượng truyền vào đá nhiều thì năng lượng truyền vào chấn
tử thu sẽ yếu đi Hai thành phần năng lượng đó cứ thay đổi tăng giảm ngược nhau, phần này nhiều thì phần kia ít và ngược lại
6.6.2 Phép đo chất lượng trám xi măng (CBL)
Để đo độ gắn kết xi măng phép đo phổ biến là đo biên độ đợt đầu của sóng dọc tại chấn tử thu (Hình 6.31) Phép đo như vậy theo thương hiệu của Schlumberger có ký hiệu là CBL
Hình 6.31 Tín hiệu lý thuyết của sóng âm
Sóng P Sóng đi Sóng Stoneley
trong dung dịch khoan
Sóng S và sóng Rayleigh
Thời gian
Trang 9Sóng đàn hồi với tần số 20-25
KHz Biên độ đợt sóng đầu phụ thuộc
vào loại Zond đo (đặc biệt là chiều dài
Zond), chất lượng trám xi măng, phần
trăm chu vi ống chống được trám xi
măng (Hình 6.32)
Ta dẽ dàng thấy rằng biên độ sóng
sẽ cực tiểu, nghĩa là sự suy giảm nhiều
nhất khi Zond đo ở đoạn giếng có ống
này thường chỉ kéo dài trong nửa chu
kỳ (Hình6.34) Cửa sổ thứ hai được
ấn định bởi người đứng máy, mở độc
lập với thời điểm đo thời gian ∆t
Hai cửa sổ một trôi tự do và
một cố định sẽ cho kết quả đô biên
độ khác nhau Theo Schlumberger
cửa sổ trôi tự do có độ phân giải cao
trong đoạn ống chống có xi măng
hơn cửa sổ cố định do người đứng
máy cái đặt Cố nhiên độ phân giải
còn phụ thuộc vào khoảng đo
(Spacing) của Zond CBL Zond đo có
khoảng đo càng bé thì có khả năng
phân giải càng lớn
Hình 6.33 Tín hiệu ở đầu ra của chấn tử
thu khi ống chống bị gắn ximăng và tự do
Thời gian
Không bám Bám tốt
Thời điểm
phát sóng
Hình 6.32 Phần năng lượng bị suy giảm phụ thuộc phần trăm chu vi ống chống bị gắn ximăng
Cửa sổ cố định do người đừng máy cài đặt
Trang 10Từ kết quả đô biên độ A (mv) có thể tính được độ suy giảm a (db/ft) dựa vào quy luật hàm mũ:
A = A e-al (6.25)
Trong đó: L = Spacing, khoảng cách từ R1 đến R2 những nơi có biên độ sóng lần lượt là A0 và A
6.6.3 Phép đo biến thiên mật độ (VDL)
Nguyên lý của phép đo biến thiên mật độ (Variable Density Log ) được thể hiện trên hình vẽ 6.35 Thời gian sóng đến chấn tử R lần lượt là sóng đi trong ống thép, đi trong thành hệ và đến chậm nhất là sóng đi trong cộ dung dịch Phép đo được thực hiện nhờ một camera đặc biệt ghi lấy những phần biên độ dương của sóng tơí trong vòng 1000às ở khoảng thời gian ban đầu đo máy thu R chủ yếu thu nhận được tín hiệu của sóng dọc đi trong ống thép và thành hệ đá Thành phần tín hiệu sóng ngang đi trong đá
và sóng đi trong dung dịch sẽ đến chậm hơn sau 1ms ban đầu Vậy muốn ghi các sóng ngang thì khoảng thời gian ghi phải kéo dài khoảng 2ms
A
l l
Đến từ dung dịch
Sóng
Thời gian (às)
Trang 11Camera sẽ thực hiện ghi số giá trị biên độ và thời gian (Hình 6.36a) để vẽ lên bức tranh sóng theo chiều sâu và thời gian, hoặc theo cách modun hoá cường độ theo cấp mầu (biên độ càng lớn mầu càng tối) và thời gian (Hình 6.36b)
song song hoặc ít
thay đổi, trong khi
Hình 6.36 Phép ghi số các sóng tới trong phương pháp VDL
a Kiểu biên độ - thời gian
b Kiểu biến đổi cường độ - thời gian
(a)
(b)
Trang 12Chương 7 Các phương pháp đo khí dung dịch
và các tham số cơ học
7.1 Mở đầu
Khi công nghệ khoan đ∙ có nhiều thay đổi nhất là khoan những giếng khoan sâu, khoan định hướng khoan ngang, khoan bằng các dung dịch cơ sở khác nhau, các phương pháp địa vật lý nghiên cứu giếng khoan cũng có những thay đổi tương ứng nhằm khai thác được nhiều thông tin phục vụ cho các nghiên cứu địa chất địa hoá và cho kỹ thuật điều khiển tự động trong công nghệ khoan giếng
Hiện tại có rất nhiều phép đo quan trọng được tiến hành đồng thời với quá trình khoan giếng Bản thân dung dịch mùn khoan và cả bộ cần khoan cũng mang rất nhiều thông tin Các phép đo như vậy sẽ cho kết quả trực tiếp phát hiện hydrocacbon bởi thành phần này được mang trong dung dịch và mùn khoan Chiều sâu thế nằm của các lớp đá khác nhau trong lát cắt dễ dàng được xác định bởi các phép đo khác nhau Các phép đo đồng thời với quá trình khoan còn cho phép dự báo các hiện tượng địa chất và
kỹ thuật, đảm bảo an toàn cho quá trình khoan Rõ ràng, quá trình này sẽ dễ dàng hơn nhiều nhờ có các số liệu đo đạc cẩn thận mang tính khoa học Nhờ vậy, giá thành khoan giếng sẽ có thể đảm bảo ở mức hợp lý hơn
Lúc đầu các phép đo như vậy là đo khí trong dung dịch khoan, vì vậy mới có thuật ngữ “Carota khí” Những người đ∙ đưa ra ý tưởng đầu tiên cho các phép đo khí trong dung dịch khoan phải kể đến các nhà bác học Nga V A Xokolov và M.B Apramovic Các ông đ∙ trình bày những ý tưởng này vào năm 1933 khi phát hiện có sự tồn tại của hydrocacbon trong dung dịch khoan ở chiều sâu lớn Năm 1935 T.A.Magilov đ∙ bắt đầu tiến hành phân tích khí từ mẫu dung dịch bằng phương pháp chưng cất ít năm sau đó ông đ∙ chế tạo ra thiết bị đo khí liên tục từ dung dịch tuần hoàn Vào các năm cuối thập kỷ 30 của thế kỷ trước, V N Daxnov đ∙ đưa ra các thiết
bị đo thời gian dung dịch tuần hoàn và đo vận tốc khoan
Ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, ở viện dầu Matxcơva đ∙ bắt
đầu đưa ra mô hình trạm đo và phân tích khí Đến năm 1949 trạm đo và phân tích khí
đầu tiên mang nh∙n hiệu TKC- 3 do Viện dầu khí Matxcơva và nhà máy thiết bị dầu khí chế tạo đ∙ ra đời
Cần nhấn mạnh thêm là các cơ sở vật lý và hoá học của những phương pháp đo khí dung dịch trên trạm TKC- 3 vẫn đang được sử dụng ở các trạm đo hiện nay trong sản xuất Cũng đồng thời với các nhà bác học Nga, ở các nước tư bản Mỹ, Anh, Pháp
đ∙ lần lượt đưa ra các thiết bị đo và những kết quả áp dụng phương pháp đo khí qua dung dịch đối lưu
Trang 13(P P ) ( . )
kS
2 2
Sang giữa những năm 60 ở Liên xô (Nga) cũng như ở các nước phương Tây đ∙ cho ra đời nhiều trạm tự động đo khí qua dung dịch trong dòng đối lưu Tuy nhiên, phải đến những năm 80- 90 vừa qua các trạm máy tự động và hiện đại mới được ra đời nhờ có những thành tựu nhảy vọt của công nghệ điện tử và tin học Trong đó h∙ng Geoservice (Pháp) là nơi đ∙ cho ra nhiều trạm đo dịch vụ địa chất với những phần cứng
và phần mềm thông minh
ở những trạm đo mới ta có thể tiến hành các phép đo đồng thời với quá trình khoan để xác định trên 200 tham số khác nhau phục vụ cho các nghiên cứu địa chất,
địa hoá, địa vật lý và kỹ thuật điều khiển khoan
Sự thay đổi và phát triển hiện nay của công nghệ điện tử và tin học dẫn đến một
sự chuyển đổi có tính cách mạng của công cụ đ∙ kéo theo sự chuyển đổi rất cơ bản về phương thức, quy trình công nghệ cả nhận thức về phương pháp
Trong số hơn 200 tham số có thể xác định được nhờ các trạm đo hiện đại có thể phân chúng ra các nhóm chính sau đây:
- Xác định tính chất của vỉa chứa
- Đo các tham số liên quan đến dung dịch, phát hiện và phân tích khí
- Cung cấp các dữ liệu liên quan đến quá trình khoan, theo dõi, xử lý sự
cố, đưa ra các chế độ khoan tối ưu và an toàn
7.2 Các phép đo dung dịch
7.2.1 Sự thấm của khí và chất lỏng trong môi trường lỗ rỗng
Sự thấm lọc của chất khí và chất lỏng trong đất đá có độ rỗng trong khoảng
10-20 % xảy ra theo định luật Darcy
Trong quá trình đẳng nhiệt sự thấm lọc một chiều của chất khí có thể được biểu diễn bằng công thức: