1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

G. W. G. Hegel - HIỆN TƯỢNG HỌC TINH THẦN [Phần 5]: SỰ ĐỘC LẬP-TỰ CHỦ_1 pot

7 149 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 115,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hegel - HIỆN TƯỢNG HỌC TINH THẦN [Phần 5]: SỰ ĐỘC LẬP-TỰ CHỦ VÀKHÔNG ĐỘC LẬP-TỰ CHỦ CỦA TỰ-Ý-THỨC; LÀM CHỦ VÀ LÀM NÔ 318 § 178 Tự-Ý thức hiện hữu tự-mình và cho-mình trong khi và bằng

Trang 1

G W G Hegel - HIỆN TƯỢNG HỌC TINH THẦN [Phần 5]: SỰ ĐỘC LẬP-TỰ CHỦ VÀKHÔNG ĐỘC LẬP-TỰ CHỦ CỦA TỰ-Ý-THỨC; LÀM CHỦ VÀ

LÀM NÔ (318)

§ 178

Tự-Ý thức hiện hữu tự-mình và cho-mình trong khi và bằng cách

(indem und dadurch)hiện hữu tự-mình và cho-mình cho một Tự-ý thức

khác; nghĩa là nó chỉ hiện hữu như một tồn tại ĐƯỢC THỪA NHẬN (EIN ANERKANNTES) Khái niệm về sự thống nhất này của nó ở trong sự NHÂN ĐÔI (VERDOPPLUNG) của Tự-ý thức, [tức] của sự vô-tận(319) tự

thực hiện mình bên trong Tự-ý thức là một sự đan xen đa diện và đa

nghĩa | Sự đan xen ấy làm cho các yếu tố của nó, một mặt, phải được phân biệt hẳn với nhau; và mặt khác, ngay trong sự phân biệt này, đồng thời phải được nắm lấy và được nhận thức như không hề bị phân biệt, hay nói cách khác, được nắm lấy và được nhận thức trong ý nghĩa đối lập của chúng Ý nghĩa nhị bội này của các yếu tố được phân biệt nằm trong bản chất của Tự-ý thức, tức cái bản chất theo đó Tự-ý thức là vô tận, hay, trực tiếp là cái đối lập của tính quy định trong đó nó được

Trang 2

thiết định Sự phơi bày chi tiết [hay: sự tháo rời, phân

tích/Auseinanderlegung] về Khái niệm của sự thống nhất [nhất thể] tinh

thần này trong sự nhân đôi của nó sẽ trình bày trước mắt ta tiến trình vận động của SỰ THỪA NHẬN (ANERKENNEN)

§ 179

[I Tự-ý thức được nhân đôi:]

Cho Tự-ý thức, có một Tự-ý thức khác; Tự-ý thức đã đi đến chỗ ra khỏi chính bản thân mình Điều này có ý nghĩa nhị bội: thứ nhất, nó đã tự

đánh mất mình vì nó tìm thấy bản thân nó như một bản chất khác (ein anderes Wesen); thứ hai, nó đã, qua đó, thủ tiêu các khác này, bởi nó

cũng không nhìn thấy cái khác như là cái bản chất mà nhìn thấy chính

bản thân nó ở trong cái khác(320)

§ 180

Nó phải thủ tiêu cái tồn-tại-khác này của nó | Làm như thế là thủ tiêu cái ý nghĩa nhị bội thứ nhất và vì thế, bản thân là ý nghĩa nhị bội thứ

hai: một là; nó phải nhắm tới việc thủ tiêu cái bản chất độc lập-tự chủ khác để qua đó trở thành xác tín về chính mình như là bản chất; hai là,

Trang 3

khi làm như thế, nó tiến hành thủ tiêu [và vượt bỏ] (aufheben) chính

bản thân nó, bởi cái khác này là chính bản thân nó

§ 181

Việc thủ tiêu có ý nghĩa nhị bội này đối với cái tồn tại-khác-có-ý-nghĩa-nhị-bội của nó cũng đồng thời là một sự quay trở lại có ý nghĩa nhị bội

vào trong chính nó; vì, thứ nhất, thông qua việc thủ tiêu, nó nhận lại

được chính nó, bởi nó lại trở thành ngang bằng với chính nó qua việc

thủ tiêu cái tồn-tại-khác của nó; nhưng, thứ hai, nó cũng mang trở lại cái Tự-ý thức khác cho chính mình, bởi nó đã xác tín chính mình trong

cái khác, [nhưng nay] thủ tiêu cái tồn tại này của chính nó ở trong cái

khác, và như thế, để cho cái khác lại được tự do(321)

§ 182

Bằng cách ấy, tiến trình vận động của Tự-ý thức trong quan hệ với Tự-ý

thức khác phải được hình dung như là việc làm (das Tun)(322) của

một [trong các Tự ý thức] | Nhưng, bản thân việc làm này của một

Tự-ý thức lại có Tự-ý nghĩa nhị bội, vừa là việc làm của nó, vừa là việc làm của cái [Tự-ý thức] khác; bởi lẽ cái khác cũng độc lập-tự chủ như nó, cũng

khép kín và không có gì bên trong cái khác mà không thông qua bản thân cái khác Cái [Tự-ý thức] thứ nhất không [còn] có đối tượng ban

Trang 4

đầu [chỉ trong hình thái thụ động] như đối tượng của sự ham muốn, mà

là một đối tượng tồn tại độc lập cho-mình; do đó, đối với đối tượng ấy,

cái [Tự-ý thức] thứ nhất không thể sử dụng cho các mục đích của riêng

mình, nếu đối tượng ấy không tự-mình làm những gì cái thứ nhất

[muốn] làm nơi đối tượng Vậy, tiến trình vận động hoàn toàn là tiến

trình nhị bội của cả hai Tự-ý thức Mỗi cái nhìn cái khác làm đúng hệt

điều mình làm; bản thân mỗi cái làm những gì nó đòi hỏi nơi cái khác,

và vì thế, cũng làm những gì mình làm chỉ trong chừng mực cái khác cũng làm đúng hệt những điều ấy | Việc làm đơn phương do một phía hẳn là vô ích, vì những gì phải diễn ra chỉ có thể hình thành nhờ vào việc làm của cả hai

§ 183

Vậy, việc làm có ý nghĩa nhị bội, không chỉ trong chừng mực nó là một việc làm vừa được làm đối với chính mình, vừa đối với cái khác, mà còn

trong chừng mực việc làm ấy là việc làm không tách rời của cái [Tự-ý thức] này cũng như của cái [Tự-ý thức](323) kia

§ 184

Trong sự vận động này, ta thấy quá trình được lặp lại giống như đã diễn

ra trước đây như là sự tương tác của các Lực, tuy nhiên, trong trường

hợp này, là được lặp lại ở bên trong lòng Ý thức Điều đã diễn ra trước

Trang 5

đây là cho ta [người quan sát tiến trình kinh nghiệm], còn ở đây diễn ra

cho bản thân các đối cực [Hạn từ] trung giới [ở đây] là Tự-ý thức phân

hoá thành những cái đối cực; và mỗi đối cực là sự trao đổi qua lại của tính quy định của riêng nó và sự quá độ [chuyển hóa] tuyệt đối [trọn vẹn] thành cái đối lập Với tư cách là ý thức, nó [mỗi đối cực] đương

nhiên đi ra khỏi chính nó, tuy nhiên, trong sự tồn

tại-bên-ngoài-chính-nó (Ausser-sichsein), tại-bên-ngoài-chính-nó đồng thời tự giữ lại bên trong chính mình: tại-bên-ngoài-chính-nó

tồn tại cho mình (für sich) và cái tồn-tại-bên-ngoài-của-nó tồn tại cho

nó (für es) Chính là cho nó nên nó trực tiếp là một ý thức khác và

không phải là ý thức khác; cũng là cho nó mà cái khác này chỉ tồn tại

cho-mình khi nó tự thủ tiêu như là cái tồn tại cho-mình, và chỉ tồn tại

cho-mình ở trong cái tồn tại cho-mình của cái khác Mỗi cái đối cực là

hạn từ trung giới cho cái khác, qua đó mỗi cái trung giới chính mình với chính mình, và thống nhất với chính mình; và mỗi cái là cho-mình cho

cái khác như một tồn tại cho-mình trực tiếp; cái tồn tại này đồng thời là

cho-mình chỉ nhờ thông qua sự trung giới này Chúng thừa nhận nhau như là đang thừa nhận lẫn nhau (Sie anerkennen sich, als gegenseitig sich anerkennend)(324)

§ 185

Bây giờta hãy xét xem Khái niệm thuần túy này về sự thừa nhận, về sự nhân đôi của Tự-ý thức trong sự thống nhất của nó xuất hiện ra cho

Trang 6

Tự-ý thức như thế nào trong tiến trình vận động của nó Trước hết, nó [tiến trình này của Khái niệm] sẽ trình bày phương diện không ngang

bằng (Ungleichheit) của cả hai Tự-ý thức, hay là, trình bày sự phân hóa của [hạn từ] trung giới [Tự-ý thức] thành những đối cực, và với tư cách

là các đối cực, chúng đối lập với nhau; một bên của đối cực chỉ là cái

được thừa nhận, còn bên kia chỉ là cái thừa nhận(325)

§ 186

[II Cuộc đấu tranh giữa các Tự-ý thức đối lập:]

Tự-ý thức thoạt đầu là cái tồn tại-cho-mình đơn giản, ngang bằng với chính mình thông qua việc loại trừ mọi cái khác ra khỏi nó | Đối với nó,

bản chất của nó và đối tượng tuyệt đối là “cái Tôi”; và trong tính trực

tiếp này, hay trong sự kiện đơn thuần của sự tồn tại cho-mình này của

nó, nó làCÁI CÁ BIỆT (EINZELNES)(326) Đối với nó, “cái khác” là đối

tượng không có tính bản chất, như là đối tượng được biểu thị bằng đặc

tính của cái phủ định Thế nhưng, “cái khác” cũng là một Tự-ý thức;

một cá nhân (Individuum) xuất hiện đối lập với một cá nhân Xuất hiện

ra một cách trực tiếp như thế, chúng quan hệ với nhau theo phương cách của những đối tượng thông thường | Chúng là những hình thái

độc lập, những cá thể bị chìm đắm trong sự tồn tại [hay trong tính trực

tiếp] của Sự sống, - vì đối tượng trong tính trực tiếp ở đây được quy

Trang 7

định như là Sự sống Do đó, đối với nhau, chúng là các hình thái của ý

thức đã chưa hoàn tất được sự vận động của sự trừu tượng tuyệt đối,

của việc triệt tiêu mọi sự tồn tại trực tiếp và của việc tồn tại đơn thuần

như là tồn tại phủ định thuần túy của ý thức ngang bằng với chính

mình; nói khác đi, chúng [những ý thức này] đã chưa tự thể hiện cho nhau trong hình thức của tồn tại cho-mình thuần túy, tức, như làTự-ý

thức(327) Mỗi cái quả là có sự xác tín về chính mình, nhưng không

phải là sự xác tín về cái khác, và vì thế, sự tự xác tín của riêng nó vẫn không có tính chân lý [không đúng sự thật] | Bởi nó ắt sẽ có được sự thật nếu sự tồn tại cho-mình của nó đã đối diện với nó như một đối tượng độc lập, hay, cũng đồng nghĩa như thế, nếu đối tượng đã tự thể hiện như là sự tự-xác tín thuần túy này Nhưng, dựa theo Khái niệm của

sự thừa nhận, điều này chỉ có thể có được khi mỗi cái là “cho” cái khác những gì cái khác là “cho” nó, chỉ khi mỗi cái – trong chính mình thông

qua việc làm của chính mình và lại thông qua việc làm của cái khác –

hoàn thành sự trừu tượng thuần túy này của sự tồn tại-cho mình(328)

Ngày đăng: 25/07/2014, 13:21

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm