Để góp phần vào việc giám sát, chẩn đoán, điều trị và dự phòng HCNC nghi ngờ do vi rút Banna gây ra, nghiên cứu “Một số đặc điểm dịch tễ học hội chứng não cấp nghi ngờ do vi rút Banna tạ
Trang 1DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MAC-ELISA IgM antibody capture – enzyme linked
immunosorbent assay (Kỹ thuật miễn dịch gắn enzyme phát hiện kháng thể IgM)
RT-PCR Reverse Transcription Polymerase Chain
Reaction (Phản ứng chuỗi khuếch đại gen phiên mã ngược)
VSDTTƯ Vệ sinh dịch tễ Trung ương
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng não cấp (HCNC) nghi ngờ do vi rút có rất nhiều nguyên nhân khác nhau Đây là bệnh không có thuốc điều trị đặc hiệu (trừ vi rút Herpes simplex), bệnh thường có tỷ lệ tử vong cao và di chứng thần kinh nặng nề Ngày nay đã xác định được khoảng 100 loại
vi rút khác nhau gây ra HCNC
Năm 1987, 1992 vi rút Banna được phân lập được từ huyết thanh bệnh nhân có HCNC và sốt không rõ nguyên nhân ở Trung Quốc Vi
rút Banna phân lập được trên muỗi Aedes dorsalis tại Trung Quốc
Theo một số nghiên cứu ở Indonesia, vi rút Banna được truyền bởi hai
loài muỗi là Anopheles và Culex
Tại Việt Nam, năm 2003, 2005 phân lập được vi rút cùng nhóm với vi rút Banna từ bệnh nhân ở tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Gia Lai
Ngoài ra vi rút Banna đã được ghi nhận phân lập từ muỗi Culex tại hai
tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) và tỉnh Quảng Bình trong năm 2002
Để góp phần vào việc giám sát, chẩn đoán, điều trị và dự phòng
HCNC nghi ngờ do vi rút Banna gây ra, nghiên cứu “Một số đặc điểm dịch tễ học hội chứng não cấp nghi ngờ do vi rút Banna tại một số địa phương ở Việt Nam” được thực hiện với ba mục tiêu cụ thể như
Trang 3Ý NGHĨA THỰC TIỄN VÀ ĐÓNG GÓP MỚI
CỦA LUẬN ÁN
- Tính mới: Đây là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam chỉ ra tỷ lệ số mắc,
đặc điểm lâm sàng bệnh nhân HCNC do vi rút Banna, tỷ lệ nhiễm vi rút Banna trong quần thể các loài muỗi tại một số địa phương và một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của vi rút Banna phân lập được ở Việt Nam
- Tính ứng dụng: Nghiên cứu cung cấp các số liệu hoàn toàn mới cho
khoa học ở Việt Nam và trên thế giới về đặc điểm HCNC do vi rút Banna Kết quả nghiên cứu có ứng dụng trong việc giám sát, chẩn đoán, phòng chống HCNC do vi rút Banna, có ý nghĩa trong việc giảng dạy cũng như nghiên cứu và sản xuất
CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN Luận án dài 113 trang (không kể tài liệu tham khảo và phụ lục), gồm 4 chương, 30 bảng, 13 hình, 1 ảnh Đặt vấn đề 2 trang; Chương 1: Tổng quan (28 trang); Chương 2: Đối tượng, vật liệu và phương pháp nghiên cứu (22 trang); Chương 3: Kết quả nghiên cứu (33 trang); Chương 4: Bàn luận (22 trang); Kết luận 3 trang; Kiến nghị 1 trang; Danh mục các công trình đã công bố 2 trang Tài liệu tham khảo: 102 tài liệu tham khảo; 2 phụ lục
Chương I TỔNG QUAN 1.1 Đặc điểm vi rút Banna
Vi rút Banna thuộc chi Seadornavirus, họ Reoviridae, là vi rút có
vật liệu di truyền là ARN sợi kép gồm có 12 phân đoạn Chủng vi rút Banna đầu tiên được phân lập được từ dịch não tủy của bệnh nhân có HCNC và từ máu bệnh nhân sốt không rõ nguyên nhân viêm não ở tỉnh Yunnan, Trung Quốc sau đó cũng phân lập được ở các vùng khác nhau từ bệnh nhân, từ muỗi ở Trung Quốc, Indonesia và Việt Nam
Trang 41.2 Đặc điểm lâm sàng Hội chứng não cấp do vi rút Banna
Vi rút Banna gây bệnh truyền nhiễm cấp tính có tổn thương hệ thần kinh trung ương hoặc sốt không rõ nguyên nhân đã được ghi nhận
Những ca bệnh điển hình được mô tả như sau: Thời kỳ khởi phát: Kéo
dài 1-2 ngày tuy nhiên cũng khó xác định khi bệnh nhân không nhớ triệu chứng sốt cao đột ngột, ớn lạnh, đau đầu, đau cơ, khớp, chán ăn
Thời kỳ toàn phát: sau 3-6 ngày bệnh nhân sốt cao có mê sảng, rối loạn
thần kinh thực vật, cứng cổ, thờ ơ với ngoại cảnh có thể hôn mê, khó thở, sợ ánh sáng, chán ăn, buồn nôn Các triệu chứng tổn thương thần
kinh ngoại vi như liệt, múa vờn, múa giật… Thời kỳ tiến triển bán cấp:
từ ngày thứ 7-9 của bệnh, các triệu chứng giảm đi như đỡ sốt, mạch nhiệt ổn định, hội chứng thần kinh trung ương và ngoại vi giảm Tuy nhiên, thời kỳ này chú ý các biến chứng như viêm phổi, loét, táo bón…
do nằm lâu ngày Thời kỳ hồi phục: Bệnh nhân chỉ còn sốt nhẹ, tỉnh táo
dần, có cảm giác thèm ăn, chỉ còn lại các di chứng tùy thuộc vào mức
độ nặng nhẹ của bệnh như liệt, xuất huyết, viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, trí nhớ kém
1.3 Các đặc điểm dịch tễ học Hội chứng não cấp do vi rút Banna Một số nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới cho thấy vi rút Banna tồn tại ở muỗi, có bằng chứng rõ ràng về sự lưu hành của vi rút Banna trong vật nuôi (lợn) bằng kết quả phân lập vi rút Ngoài ra, vi rút Banna có thể tồn tại ở một số loài chim di cư và sự di cư của những loài chim này tạo điều kiện cho sự phát tán vi rút sang các khu vực khác Véc tơ truyền vi rút Banna là muỗi đã được khẳng định ở một số nước
châu Á bằng kết quả phân lập được vi rút từ một số muỗi Culex tritaeniorhynchus, Culex vishnui, Culex fuscocephalus, Anopheles vagus, Aedes albopictus và Aedes dorsalis
Đối tượng cảm nhiễm của vi rút Banna là người, nghiên cứu của Liu và cộng sự (2010) về vi rút Banna ở Trung Quốc từ năm 1987 đến
2007 cho thấy vi rút Banna xuất hiện ở những khu vực có dịch viêm
não Nhật Bản (VNNB) và ở những nơi mà muỗi Culex tritaeniorhynchus đóng vai trò là véc tơ truyền bệnh chính Khi vi rút
nhiễm qua da do muỗi đốt, khi vào vi rút được nhân lên trong các hệ bạch huyết, các virion được chuyển một cách thụ động qua nội mô của
Trang 5mạch máu hoặc qua đám rối màng mạch, sau đó vào hệ thần kinh trung ương và tồn tại ở dịch não tủy Hiệu giá vi rút đạt đỉnh cao trong những ngày đầu xuất hiện triệu chứng và giảm nhanh khi kháng thể trung hòa xuất hiện Sau khi nhiễm vi rút, cơ thể sẽ có đáp ứng miễn dịch, kháng thể trung hòa tăng từ ngày thứ 12 sau lây nhiễm, kháng thể IgM có tác dụng trung hòa vi rút cao hơn kháng thể trung hòa Kháng thể IgG xuất hiện từ tuần thứ 3 và thấp hơn kháng thể IgM nhưng tồn tại suốt đời 1.4 Điều trị và dự phòng Hội chứng não cấp do vi rút Banna Điều trị: Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho các trường hợp bị HCNC do vi rút Banna, chủ yếu là điều trị triệu chứng hoặc điều trị các biến chứng của bệnh
Dự phòng: Vi rút Banna là một loại vi rút do muỗi truyền là một loại vi rút mới được phát hiện trong vài thập kỷ vừa qua chủ yếu ở khu vực châu Á, những nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật do loại vi rút này chưa được đề cập đến, cho đến nay chưa có vắc xin để phòng bệnh, biện pháp phòng chống hiệu quả nhất hiện nay là phòng chống véc tơ muỗi truyền bệnh
Chương II
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa bàn và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu trên các mẫu muỗi và bệnh phẩm đã được thu thập từ tháng 1/2002 - tháng 12/2008 và tiến cứu từ tháng 1/2009 đến tháng 12/2012
Địa điểm nghiên cứu tại các tỉnh: Khu vực miền Bắc (Hà Tây cũ, Bắc Giang, Thanh Hóa); khu vực miền Trung (Quảng Bình); khu vực Tây Nguyên (Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắc Nông); khu vực miền Nam (Long An, Cần Thơ)
2.2 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 6- Thay đổi tình trạng tinh thần hoặc
- Có dấu hiệu thần kinh như dấu hiệu màng não, rối loạn vận động
Bệnh nhân được chẩn đoán HCNC nghi ngờ do vi rút Banna: Là những trường hợp HCNC nghi ngờ do vi rút có xét nghiệm phát hiện IgM kháng vi rút Banna từ dịch não tủy bằng kỹ thuật ELISA dương tính
Loài muỗi: Đối tượng nghiên cứu là các cá thể muỗi thu thập được tại các điểm nghiên cứu ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam và Tây Nguyên trong các năm 2001 – 2011
2.3 Nội dung nghiên cứu
Điều tra trường hợp mắc HCNC: Thu thập mẫu bệnh phẩm là dịch não tủy các bệnh nhân mắc HCNC nghi do vi rút được điều trị tại các Khoa Lây của bệnh viện tuyến tỉnh Xét nghiệm xác định kháng thể IgM kháng với kháng nguyên vi rút Banna Điều tra đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng của các trường hợp ca bệnh HCNC xác định (+) với kháng nguyên vi rút Banna, VNNB, phân lập dương tính ECHO30 dựa trên cơ sở hồi cứu bệnh án
Điều tra véc tơ muỗi Culex truyền bệnh: Thu thập muỗi ở các tỉnh
có số lượng bệnh nhân HCNC nghi ngờ do vi rút cao tại khu vực Miền Bắc, Miền Trung, Miền Nam và Tây Nguyên, một đợt cho mỗi năm vào thời gian từ tháng 3 đến tháng 12 Muỗi được định loại và xác định thành phần loài, phân lập xác định vi rút Banna
Các chủng vi rút Banna phân lập được từ bệnh nhân HCNC, từ lợn
và từ muỗi được xác định genotype dựa trên trình tự nucleotide vùng gen số 12
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu:
Thiết kế nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang, hồi cứu và tiến cứu kết hợp với nghiên cứu phân tích trong phòng thí nghiệm
2.4.2 Điều tra xác định các đặc điểm dịch tễ học bệnh nhân Hội chứng não cấp
Phương pháp điều tra và lấy mẫu xét nghiệm bệnh nhân
Trang 7Cỡ mẫu: Lấy mẫu dịch não tủy toàn bộ các bệnh nhân có HCNC nghi do vi rút theo tiêu chuẩn chẩn đoán trên khi nhập bệnh viện Chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện, các mẫu bệnh phẩm được lấy theo đúng thường quy và điều tra theo mẫu phiếu điều tra được thiết kế sẵn
Phương pháp điều tra muỗi véc tơ:
Cỡ mẫu: Cỡ mẫu được tính theo thường quy của Viện VSDTTƯ;
30 hộ gia đình/đêm x 2 đêm x 1 điểm (xã/tỉnh) x 1 lần/năm = 60 lượt hộ gia đình/điểm Điều tra muỗi được thực hiện vào ban đêm theo thường quy của Viện VSDTTƯ (Bắt muỗi bằng bẫy CDC, bắt muỗi cái đậu nghỉ ở trong nhà và chuồng gia súc, mùa đông từ 18 giờ đến 22 giờ, mùa hè từ 19 giờ đến 23 giờ
Vật liệu và kỹ thuật xét nghiệm trong phòng thí nghiệm
Mẫu bệnh phẩm gồm mẫu dịch não tủy bệnh nhân, mẫu muỗi thu thập trên thực địa được tiến hành nghiên cứu phân tích trong phòng thí nghiệm Với mẫu dịch não tủy sử dụng kỹ thuật ELISA gián tiếp phát hiện kháng thể đặc hiệu kháng vi rút Banna Với các mẫu muỗi sử dụng
kỹ thuật phân lập định loại để phát hiện các loài muỗi mang vi rút Banna
Các chủng vi rút Banna phân lập được định loại bằng kỹ thuật PCR, thu sản phẩm PCR cho các kỹ thuật tinh sạch sản phẩm và giải trình tự bằng máy Sequencing
RT-Các số liệu của kết quả nghiên cứu được xử lý bằng các phần mềm tin sinh học như: Phần mềm GraphPad, phần mềm sinh học DNA Star (Lasegene), MEGA 4.0 …
2.4.3 Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm thống kê y học: Epi-info 6.04 và
Stata 10 để nhập và xử lý số liệu
Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Một số đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng Hội chứng não cấp do vi rút Banna
3.1.1 Mô tả tỷ lệ số mắc của bệnh nhân Hội chứng não cấp do vi rút Banna
Trang 8Bảng 3.1 Kết quả xác định IgM kháng vi rút Banna
trong dịch não tủy bệnh nhân Hội chứng não cấp, 2002 – 2012
xét nghiệm
Số mẫu (+)
Tỷ lệ % (+)
vi rút Banna từ 717 mẫu dịch não tủy, kết quả xác định có 184 mẫu (+),
tỷ lệ (+) trung bình các mẫu dịch não tủy phát hiện có IgM kháng vi rút Banna là 25,66% (184/717), nếu xác định trên tổng số mẫu dịch não tủy của bệnh nhân HCNC là 14,32% (184/1285)
Trong số 9 tỉnh/thành phố có mẫu bệnh phẩm xét nghiệm, tỷ lệ xác định (+) dao động trong khoảng 13,83% - 35,83% Tỉnh/thành phố có mẫu xét nghiệm (+) cao nhất ở tỉnh Hà Tây cũ là 35,83 %, tiếp đến là
Hà Nội có tỷ lệ xác định (+) với kháng nguyên vi rút Banna là 34,00%;
Tỷ lệ xác định (+) thấp nhất với kháng nguyên vi rút Banna là 13,63 %
ở tỉnh Bắc Giang
Theo kết quả giám sát huyết thanh học, HCNC do vi rút được ghi nhận xảy ra quanh năm, nhưng số mắc được ghi nhận chủ yếu trong các tháng 5, 6,7 và 8, đỉnh cao của dịch được ghi nhận trong tháng 6 với số mắc được ghi nhận là 239/717 (chiếm 33,33 % tổng số mắc)
Trang 9Bảng 3.2 Tỷ lệ số mắc Hội chứng não cấp do vi rút Banna theo nhóm
vi rút Banna ở nhóm trẻ dưới 1 tuổi là thấp nhất chiếm 5,98 %, còn tỷ lệ
số mắc HCNC do vi rút Banna ở nhóm tuổi ≥ 15 là cao nhất chiếm 28,26 %
Trong số 184 trường hợp HCNC xác định do vi rút Banna tỷ lệ số mắc HCNC do vi rút Banna ở nam cao hơn nữ đối với mọi lứa tuổi 3.1.2 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân Hội chứng não cấp do vi rút Banna
3.1.2.1 Một số dấu hiệu, triệu chứng lâm sàng khi nhập viện
Bảng 3.3 Một số triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân khi nhập viện
Dấu hiệu, triệu
chứng
Vi rút BANNA n=103 (%)
Vi rút ECHO30 n=43 (%)
Vi rút VNNB n=5 (%)
Kiểm định
tỷ lệ BANNA và ECHO30
Kiểm định
tỷ lệ Banna và VNNB
Đau đầu 48,54 88,37 30,51 <0,0001 0,0252 Nôn 32,04 86,05 28,81 <0,0001 0,6685
Trang 10Dấu hiệu, triệu
chứng
Vi rút BANNA n=103 (%)
Vi rút ECHO30 n=43 (%)
Vi rút VNNB n=5 (%)
Kiểm định
tỷ lệ BANNA và ECHO30
Kiểm định
tỷ lệ Banna và VNNB
Kernig
67,96 34,88 38,98 0,0002 0,0003 Rối loạn tâm
thần
81,55 11,63 88,14 <0,0001 0,2715 Giảm vận
Khi so sánh triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân HCNC do vi rút Banna với vi rút ECHO30 và vi rút VNNB cho thấy có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng thóp phồng (23,3%), cứng gáy (77,45%) và dấu hiệu Kernig (67,96%) xuất hiện nhiều hơn so với bệnh nhân có HCNC do vi rút ECHO30 và vi rút VNNB Đặc biệt triệu chứng thóp phồng chủ yếu chỉ được ghi nhận ở bệnh nhân HCNC do Banna vi rút và ít xuất hiện ở bệnh nhân bị HCNC
Trang 11do vi rút ECHO30 và đặc biệt không được ghi nhận ở bệnh nhân HCNC do vi rút VNNB
3.1.2.2 Một số dấu hiệu, triệu chứng lâm sàng trong khi điều trị Bảng 3.4 Các dấu hiệu, triệu chứng lâm sàng sau 7 ngày điều trị của bệnh nhân nhiễm vi rút Banna so sánh với nhiễm ECHO30 và viêm não
Nhật Bản
Triệu
Chứng
Vi rút BANNA n=103 (%)
Vi rút ECHO30 n=43 (%)
Vi rút VNNB n=59 (%)
Kiểm định tỷ
lệ do vi rút Banna và ECHO30
Kiểm định
tỷ lệ do vi rút Banna
Kernig
13,59 4,65 8,47 0,1149 0.3297 Rối loạn tâm
Các triệu chứng như co giật, đau cơ, đau khớp, thóp phồng, mất cảm giác chỉ còn ở một số ít bệnh nhân (1-2 bệnh nhân) thuộc nhóm
Trang 12nhiễm vi rút Banna Trong đó, co giật, đau cơ, thóp phồng và mất cảm giác chỉ xuất hiện ở bệnh nhân nhiễm vi rút Banna Đau khớp chỉ xuất hiện ở bệnh nhân nhiễm vi rút ECHO30
Đối với đấu hiệu Kernig, nhóm nhiễm vi rút Banna vẫn còn ghi nhận một tỷ lệ cao là 13,59% Ngược lại nhóm nhiễm vi rút VNNB là 8,47% và nhóm nhiễm vi rút ECHO30 chỉ còn 4,65% Đối với bệnh nhân rối loạn tâm thần, không còn được ghi nhận ở nhóm nhiễm vi rút ECHO30, nhưng ở nhóm nhiễm vi rút Banna có một tỷ lệ rất cao 55,34
% trong khi đó ở nhóm nhiễm vi rút VNNB chỉ 11,86%
Còn đối với triệu chứng giảm vận động, ở nhóm nhiễm vi rút Banna là 2,91%, nhóm nhiễm vi rút VNNB là 6,78% và triệu chứng buồn nôn không xuất hiện sau 7 ngày điều trị ở tất cả các bệnh nhân trong nghiên cứu này
3.1.2.3 Kết quả sau điều trị Hội chứng não cấp do vi rút Banna
Bảng 3.5 Số ngày điều trị trung bình Hội chứng não cấp do vi rút tại
bệnh viện Tác nhân
gây HCNC
Thời gian trung bình (ngày)
Thời gian tối thiểu Thời gian tối đa
Bảng 3.6 Kết quả điều tri sau nhiễm vi rút Banna
Tác nhân gây HCNC Số HCNC Số tử vong sau điều trị Tỷ lệ (%)