Trong khoan rôtơ dụng cụ thường được sử dụng để khoan lệch là máng nghiêng có thể chia làm 2 loaị: - Dụng cụ làm lệch hướng ở giếng khoan chưa chống ống.. Tiến hành thả một tải trọng cần
Trang 1Nối O1với O1’ cắt trục ON Góc tạo thành giữa O1O1’với ON là góc 3 Góc phương vị chỉ hướng cần phải điều chỉnh lỗ khoan đi đúng hướng thiết kế
7.5 Khoan định hướng bằng phương pháp khoan rôtơ
7.5.1 Dụng cụ làm lệch hướng bằng phương pháp khoan rôtơ
Trong khoan rôtơ dụng cụ thường được sử dụng để khoan lệch là máng nghiêng có thể chia làm 2 loaị:
- Dụng cụ làm lệch hướng ở giếng khoan chưa chống ống
- Dụng cụ làm lệch hướng ở giếng khoan đã chống ống
7.5.1.1) Dụng cụ làm lệch hướng ở giếng khoan chưa chống ống:
a) Máng nghiêng lấy lên được loại hở
Máng nghiêng nmày chế tạo bằng thép, thông thươngg thép crom -niken và có dạng hình dưới đây:
Thân của máng hướng được vát
nghiêng và có hình lòng máng bên
trong Có góc vát v tạo thành với trục
khoảng v= 2 1
2 3
0
Đầu nối (cổ) 2 trong đó đưa vào
choòng (5) cần (6) và được định vị bằng
chốt (3)
Nguyên tắc làm việc: Sau khi thả
và định hướng bộ dụng cụ lệch hướng
Tiến hành thả một tải trọng cần thiết để
đầu nhọn phía dưới của máng hướng
cắm vào đất đá ở đáy lỗ khoan tránh
cho máng hướng bị xoay trong qúa trình
làm việc Tiếp tục tăng tải trọng để cắt chốt
định vị (3) và để giải phóng choòng (5)
Choòng (5) sẽ làm việc và trượt trên máng
để khoan lệch lỗ khoan
4
2
3
6
5
1
1 Thân 2 Cổ
3- Chốt định vị 4- Phần cắm
5 - choòng
Hình a
Trang 2b) Máng nghiêng lấy lên được loại kín:
Máng nghiêng được cấu tạo bằng thép
chất lượng tốt
Có dạng hình trụ và có lỗ bên trong tạo
thành một góc vát với trục của máng hướng một
góc khoảng 30 Choòng khoan và cần khoan
được đưa vào qua lỗ và được định vị nhờ chốt tự
cắt
7.5.1.2 Dụng cụ làm lệch hướng ở giếng
khoan đã chống ống:
Trong trường hợp này chúng ta sử dụng
máy hướng cố định tức là không rút lên được
Máng hướng cố định được sử dụng ở
những lỗ khoan đã chống ốngvà chúng ta cần
xuyên qua ống chống để làm lệch hướng lỗ
khoan hay ở những tầng đất đá rất cứng
Thân (1) của máng nghiêng có góc vát
khoảng 2,50 30 nửa phía dưới có đục lỗ(2) Phía
dưới cùng để nối với một đoạn cần khoan cũ (có
thể gắn choòng) để có khả năng tuần hoàn (giữa
cột cần khoan và máng nghiêng có nối liền một
đoạn ống (4)) Máng hướng được đưa vào nhờ
những chốt định vị tự cắt (5) Và chúng có thể tự
cắt với tải trọng 1 2 tấn Sau khi thả và định
hướng bộ dụng cụ, tiến hành trám xi măng để
bao phủ hết bộ dụng cụ (máy + cần cũ ) Sau khi
xi măng đông cứng (48 72 giờ), tiến hành khoan
phá lỗ ống chống nhờ choòng đặc biệt
6
5
4
1
2
3
v
3
2
4
7
6
5
1
Hình b
Hình c
Trang 37.5.2 Chế độ làm việc trong khoan định hướng (với máng nhỏ lên được)
Thông thường trước khi thả máng hướng thì tiến hành tạo đáy bằng cách khoan với đường kính nhỏ hơn đường kính lỗ khoan một khoảng nào đó Sau đó đưa định hướng bộ dụng cụ khoan lệch bao gồm: máng hướng (1), choòng khoan rắn (2) cần mềm(3) Có đường kính nhỏ hơn đường kính cần khoan sử dụng 12
"
4 - 2
1"
2 chiều dài từ 6 8m Đầu nối (5) và cần khoan (6), sau khi tiến hành xong các công tác trên thì thả tải trọng để cắt chốt định vị Tải trọng cần thiết để cắt chốt định vị là:
Q = c d
2
45 n
c ứng suất cắt của ngyên liệu làm chốt
d Đường kính của chốt
n Số chốt (đinh ốc )
Sau khi cắt chốt xong tiến hành khoan xiên với chế độ khoan như sau:
n =30 - 40 v/ph
G= 0,6 1,5T
Q = 10 16l/s
a) Bộ tạo lỗ mới b) Bộ mở sâu c) Bộ doa
1
2
4
3
6
5
4
2
3
1
1
2
3
Trang 4Sau khi choòng khoan đã qua được phần dưới của máng hướng thì có
thể thay đổi chế độ làm việc n = 70 v/ph, G = 3 3,5T Và lưu lượng sẽ tăng
dần đến Qđịnh mức
Sau khi khoan qua đáy máng hướng từ 2 - 8 m, kéo cần khoan lên, chú
ý khi choòng chạm đầu trên của máng thì tiến hành giật mạnh để nhổ máng
xiên lên mặt đất
Sau đó tiến hành mở sâu lỗ khoan, nhờ bộ dụng cụ mở sâu (hình b) Bao
gồm choòng cánh(1) hay (choòng chóp xoay) có đường kính bằng choòng
khoan trước đó với đoạn cần năng (2) có độ dài 1 1,5 m, và từ 2 3m cần
mềm (3) và trên đó là cần khoan (4) Chế độ khoan được áp dụng là:
n =70 - 70v/ph , G =3 4T , Q = Q bình thường
Sau giai đoạn mở sâu lỗ khoan, chúng ta kéo cần khoan lên và thay đổi
bộ dụng cụ mở sâu bằng bộ dụng cụ doa (hình c), để mở rộng miệng lỗ khoan
bằng đường kính bình thường của lỗ khoan Dụng cụ bao gồm bộ doa (1), cần
nặng (2) dài 2 4m và cần khoan (3)
7.5.3 Xác định góc lệch của máng hướng
m - góc tăng độ nghiêng, góc tạo thành
giữa trục giếng và trục
cần khoan
lm chiều dài phầnm đáy máng hướng
l1- chiều dài phần đáy máng hướng
v góc vát của máng hướng
Dg, D, DcDm - đường kính giếng, cần,
choòng và máng Góc m<v
Trong quá trình làm việc, choòng khoan
trượt trên máng nghiêng và góc m tăng
dần từ 0 max Trong thời điểm choòng
khoan đạt đến phần đáy của máng hướng
Khi choòng ra khỏi phần dưới của máng
hướng góc m giảm dần vì D < Dc và cần sẽ dựa vào thành máng Trong suốt
D N
M
S
Trang 5thời gian làm việc từ điểm này trở đi m = const Để xác định góc mchúng ta xét tam giác MNS
tgm= MS
MN MS =
Dm
2 +
D
2 cos m
tg m =
Dm
2 +
D
2 cosm
lm - l1 =
Dmcosm+ D
2 cosm(lm- l1) Vì mrất nhỏ nên cosm 1; tg m m ; l1 rất nhỏ so với lm
m = D 2lm+ D
m đổi ra độ
m = 573 Dm 2l + D
m
góc vát vsẽ là : tgv=D lm
m
tg vv
v0= 57,3 D lm
m Mặt vát góc xiên của máng hướng sẽ là:
v- m=57,3 (D lm
m
- D 2 lm+ D
m
) = 57,3 (2Dm 2 l- Dm - D
m )
7.5.4 Xác định vị trí đặt máng hướng ở đáy lỗ khoan nhằm thay đổi góc phương vị
Trong thực tế quá trình khoan, góc phương vị thực của giếng khoan nó
có khác với góc phương vị thiết kế Do đó để điều chỉnh lỗ khoan đúng theo góc phương vị thiết kế chúng ta cần điều chỉnh góc phương vị thật theo nhiều phương pháp, đó là:
- Phương pháp toán học của Sanghin
- Phương pháp đồ thị
Sau đây chỉ giới thiệu phương pháp điều chỉnh góc phương vị bằng biểu
đồ (đồ thị) Để xác định hướng đặt máng nghiêng ở dưới đáy lỗ khoan theo phương pháp biểu đồ, chúng ta cần phải biết góc thiên đỉnh ban đầu của giếng khoan 1, góc phương vị ban đầu của giếng 1và góc nghiêng của máng hướng m
v- m = 57,3 D 2 lm- D
m
Trang 6* Phương pháp tính toán bằng đồ thị sẽ được tiến hành như sau:
- Trên một tờ giấy milimét kẻ trục toạ độ theo các hướng N-S, E-V Kẻ
đường thẳng o o’ tương ứng hướng nghiêng ban đầu của lỗ khoan (góc 1) mà tại đáy chúng ta sẽ đặt máng hướng
- Trên đường thẳng này chúng ta chọn tỷ lệ thích hợp (ví dụ 1cm - 10) chiều dài của đoạn thẳng OA1tương ứng với góc thiên đỉnh 1của giếng khoan
- Lấy điểm A1làm trung tâm chúng ta vẽ một đường tròn (có cùng tỷ lệ với đừờng thẳng trước đó OA1) có bán kính R có độ dài bằng góc nghiêng của máy hướng Và tất cả các điểm trên đường tròn đều biểu diễn khả năng thay
đổi vị trí đặt máng hướng ở đáy lỗ khoan
Ví dụ: chúng ta cần thay đổi góc
phương vị từ 1 2 chúng ta sẽ kẻ
đường thẳng OA2gặp đường tròn tại A2
Góc thiên đỉnh của lỗ khoan sẽ là đoạn
OA2 = 2
Góc : góc xoay vị trí máng hướng so
với hướng ban đầu
2 phương vị của lỗ khoan cần điều chỉnh Hình a
Góc phương vị của máng ở đáy lỗ khoan sẽ là: m= 1+ (hình a)
Các trường hợp riêng:
* Tăng độ nghiêng cực đại của giếng mà không thay đổi góc phương vị
E
S
N
O
V
2
1
m
O ’
A2
N
E
S
O
V
O 1
A1
A2
1 = 2 = m
R= m
2
’
2
2
E N
S
O V
Trang 72 = OA2= OA1 + R
c= 1+ m
= 0
m= 1 (hình b)
* Giữ góc thiên đỉnh ban dàu của giếng mà thay đổi cực đại góc phương
vị Từ O vẽ cung tròncó bán kính bằng OA cắt vòng tròn tâm A1 tại 2 điểm là
A’
2 , A2 hướng A1 A2và A1 A’
2là 2 hướng đặt máng hướng góc phương vị mới
sẽ là 2 hoặc ’
2
` (hình c )
* Thay đổi cực đại góc phương vị
Từ O ta vẽ đường tiếp tuyến với đường tròn tâm A1và gặp đường tròn tại hai điểm A2 và A’2; A1A’2 và A1A2là 2 hướng có thể đặt máng hướng (hình d)
Hình d
A ’
2
’
2min
2max
E N
S
O
Trang 8Chương 8 Các hiện tượng phức tạp trong quá trình khoan và
biện pháp khắc phục
Trong quá trình khoan thường gặp các hiện tượng phức tạp gây khó khăn cho quá trình khoan, các hiện tượng đó thường là:
- Sập lở đất đá ở thành lỗ khoan
- Bó hẹp thành lỗ khoan
- Mất nước rửa
- Hiện tượng phun (Dầu, khí, nước)
- Kẹt bộ dụng cụ khoan
8.1 Sập lở đất đá ở thành lỗ khoan và các biện pháp phòng ngừa:
Đất đá bị sập lở thường xảy ra trong hai trường hợp sau đây:
a- Do tác dụng của nước rửa, đất đá ở thành lỗ khoan bị giảm độ bền, chúng bị mất ổn định và sập lở xuống lỗ khoan Đất đá bở rời, các tầng chứa muối, đất sét là dễ bị nước tác dụng nhất Loại sét Bentonit Na, chứa trong các tầng khi hấp phụ nước thì chúng sẽ tăng thể tích lên rất nhiều lần và gây lở
Đối vớicác tầng chứa muối thông thường các tầng này kém chắc , không ổn
định và có khả năng chứa khí, nếu khoan bằng dung dịch gốc nước ngọt thì sẽ gây sập lở Mức độ sập lở của đất đá cũng còn phụ thuộc vào góc nghiêng của các tầng có khả năng gây sụp lở Nếu góc nghiêng càng lớn thì khả năng sụp
lở càng lớn
b- Trong trường hợp thứ 2 (thì áp lực nén của đất đá lớn hơn nhiều so với áp lực nước rửa, sự chênh lệch đó có thể đưa đến hiện tượng sập lở)
Trong nhiều trường hợp thì cả hai nguyên nhân tác dụng đồng thời Hiện tượng sập lở trong lỗ khoan thể hiện qua những dấu hiệu sau:
- áp lực ở máy bơm tăng lên đột ngột
- Dung dịch đưa lên từ dưới lỗ khoan nhiều vụn đất đá
- Thả dụng cụ không đúng lỗ khoan nếu không bơm rửa
Trang 9Các biện pháp đề phòng và ngăn ngừa sập lở thành lỗ khoan
- Biện pháp có hiệu quả nhất là làm nặng dung dịch và tăng cường phẩm chất của nó bằng gia công hoá học Dung dịch có độ thải nước nhỏ nhất
và có tỷ trọng bảo đảm cho áp lực dung dịch cao hơn áp lực vỉa
- Đối với các tầng có chứa sét Bentorit Natri, hay các tầng chứa muối thì nên sử dụng các loại dung dịch bão hoà muối, dung dịch gốc vôi để khoan qua
Việc dùng dung dịch mặn có anion hoà tan nó sẽ có tác dụng làm cho sét Bendonit không bị trương nở Và dung dịch mặn bão hoà muốn nó sẽ không làm mất ổn định của các tầng chứa muối
Với những dung dịch góc can xi, qua tác dụng hoá học của nó với sét Bentonit gốc Na sẽ bién thành Bentônit gốc canxi loại sét này không gây trương nở dưới tác dụng của nước
Trong quá trình khoan phải định kỳ kiểm tra thân lỗ khoan bằng dụng
cụ đo đường kính Tiến hành đo đường kính nhiều lần cho phép xác định được các vùng gây sập lở Xác định được hiệu quả của các biện pháp ngăn ngừa đã
sử dụng
Hệ số sập lở K được xác định bằng tỷ số giữa thể tích lỗ khoan thực tế của vùng sập lở và thể tích lý thuyết lỗ khoan
K= VVt lt Trong đó : K - là hệ số hình thành sụp lơ
Vt- thể tích thực của lỗ khoan
Vlt - thể tích lý thuyết lỗ khoan
K = VVr
lt = Rt 2
Rlt2 Trong đó : Rt - là bán kính thực trung bình của lỗ khoan
Rlt - là bán kính trung bình lý thuyết của lỗ khoan
K = 1 - Giếng khoan không sụp lở
K > 1 - Giếng khoan sụp lở K<1 - Lỗ khoan bị bó hẹp
Trang 108.2 Hiện tượng bó hẹp thành lỗ khoan
Có rất nhiều trường hợp lỗ khoan bị bó hẹp thành nhất là đối với các tầng sét Bentônit trương nở dưới tác dụng của nước ngọt Trong các trường hợp này, giải quyết được vấn đề sập lở tức đồng thời cũng giải quyết được vấn
đề bó hẹp thành lỗ khoan Cũng có những loại đất đá làm giảm đường kính của lỗ khoan dưới tác dụng mà nước ngọt nhưng không gây sập lở như accghilit và lignit, trong trường hợp trên thì có thể xử lý bằng phương pháp dùng dung dịch có độ thoát nước bé Trong trường hợp khó hơn thì có thể sử dụng dung dịch gốc vôi - thạch cao
Hiện tượng bó hẹp thành lỗ khoan nhiều khi đưa đến việc không thể tiếp tục khoan được nữa Bó hẹp lỗ khoan do sự biến dạng dẻo bó hẹp lỗ khoan trong trường hợp này nên dùng dung dịch có tỷ trọng lớn a = 1,8 - 2,2 G/cm3
và có trường hợp lên tới 2,4
Đối với các tầng muối biện pháp xử lý tốt là dùng dung dịch bão hoà muối
8.3 Ngăn ngừa và chống mất nước rửa
Hiện tượng mất nước rửa sinh ra trong quá trình khoan thường gặp rất nhiều, nhất là khi khoan qua các tầng đá vôi
8.3.1 Các nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng mất nước rửa:
a - Nguyên nhân do các tầng đất đá khoan qua:
Các tầng có độ thấm và độ rỗng lớn, các tầng đã bị khai thác nhiều, áp lực vỉa giảm xuống, các khe rãnh được hình thành, qua đó nước rửa chảy đi hết Hiện tượng mất nước cũng sinh ra ở các tầng đất đá bị hủy hoại do chuyển
động kiến tạo, đất đá nứt nẻ , hang hốc, hang động cactơ
b - Nguyên nhân kỹ thuật:
- Trọng lượng riêng của dung dịch quá lớn, áp lực thủy tĩnh của dung dịch lớn hơn áp lực vỉa chênh lệch áp lực càng lớn thì mất nước càng mạnh
- Sự tạo thành các kẽ nứt trong đất đá trong quá trình khoan Do kéo thả
bộ dụng cụ khoan với vận tốc quá lớn gây nên hiện tượng piston tác dụng xuống thành lỗ khoan làm nứt nẻ chúng
Trang 11Trọng lượng riêng và độ nhớt của dung dịch qúa lớn dẫn đến áp suất tại bơm lớn Từ đó cũng dẫn đến hiện tượng nứt nẻ đất đá và mất dung dịch Cần phải lưu ý rằng, một tầng đã bị tạo thành kẽ nứt thì sau đó sẽ tạo thành kẽ nứt với áp suất bé hơn Các kẽ nứt xuất hiện dưới áp lực cao không những có thể gây ra mất nước mà có thể gây ra các hiện tượng phức tạp khác như : sập lở,
bó hẹp thành giếng khoan
8.3.2 Nghiên cứu vùng mất nước
Để chống mất nước có hiệu quả và tìm biện pháp ngăn ngừa mất nước cho lỗ khoan sau cần phải nghiên cứu tổng hợp ngay sau khi khoan vào vùng mất nước Công tác nghiên cứu tổng hợp bao gồm:
1 - Nghiên cứu thuỷ động để tìm hiểu cường độ mất nước
2- Xác định ranh giới, độ hút nước của tầng
3- Xác định đường kính thực của lỗ khoan ở vùng mất nước
- Nghiên cứu thuỷ động bằng phương pháp xác định đặc tính tầng chứa nước bằng cách theo dõi chuyển động của mực nước động Người ta làm mất trạng thái cân bằng trong lỗ khoan bằng cách đổ thêm nước hoặc hạ thấp mực nước trong đó Và vị trí của mực nước trong giếng khoan sẽ có khuynh hướng trở về trạng thái cân bằng cho đến khi áp lực của cột chất lỏng trong lỗ khoan cân bằng với áp lực vỉa
Quá trình phục hồi mực nước phụ thuộc vào đặc tính địa chất vật lý của vỉa Việc theo dõi tốc độ phục hồi mực nước giúp chúng ta xác đinh được độ thấm tương đối của vỉa
- Việc xác định ranh giới của vỉa mất nước rửa có thể tiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau như (đo nhiệt độ, đo điện trở, nghiên cứu tầng mất nước bằng chất đồng vị vv )
Xác định độ hút nước của các tầng bằng cách đo lượng dung dịch chảy vào vỉa
Việc phân tích sơ bộ phải tiến hành ngay tại giếng khoan Kết quả phân tích được sử dụng ngay dùng để tổ chức chống mất nước