Ở Việt Nam, những năm qua thuốc bảo vệ thực vật được các nhà kỷ thuật cũng như nông dân đặc biệc chú trọng, bởi vì nó bảo vệ thành công cây trồng khi các dịch hại tấn công .Vì vậy trong
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á với diện tích khoảng
330.369km2, với tổng dân số hơn 76 triệu trong đó khoảng 80% dân số làm nghề nông Trong thời kỳ phát triển kinh tế hiện nay, mức tăng trưởng ngày càng cao Song song với sự phát triển của nền công nghiệp, nông nghiệp Việt Nam cũng đã
có những tiến bộ vượt bậc, không những đủ cung cấp lương thực, thực phẩm cho hơn 76 triệu dân mà còn xuất khẩu trên 3 triệu tấn gạo hàng năm và Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới
Ở Việt Nam, những năm qua thuốc bảo vệ thực vật được các nhà kỷ thuật cũng như nông dân đặc biệc chú trọng, bởi vì nó bảo vệ thành công cây trồng khi các dịch hại tấn công Vì vậy trong những năm gần đây việc sử dụng thuốc bảo
vệ thực vật đã tăng lên đáng kể cả về số lượng và chủng loại Nếu những năm cuối của thập kỷ 80, số lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng là 10.000 tấn/năm, thì khi bước sang những năm của thập kỷ 90, số lượng thuốc bảo vệ thực vật đã tăng lên gấp đôi (21.600 tấn năm 1990), thậm chí tăng lên gấp ba (33.000 tấn năm 1995) năm 1998 ước tính 40.000 tấn và diện tích đất canh tác sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật cũng tăng lên khoảng 80-90% [11]
Theo số liệu điều tra của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường [5], [3], tại một số vùng trồng lúa, chè, rau, hoa quả… tỷ lệ nhiễm độc mãn tính do thuốc bảo vệ thực vật trong nông dân khoảng 15-18% Nhiễm độc cấp tính với các triệu chứng đau đầu, nôn mửa, rối loạn thị giác, dị ứng da xảy ra ở những người đi phun rắc thuốc bảo vệ thực vật thường xuyên chiếm khoảng 50% số người được điều tra Ở Việt Nam cho đến nay, việc nghiên cứu, điều tra tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ảnh hưởng đến sức khoẻ của người lao động còn chưa được quan tâm đầy đủ đây là vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay cần
Trang 2được điều tra nghiên cứu, để có được những thông tin nhằm đánh giá tác động của các yếu tố điều kiện lao động nông nghiệp Đặc biệt là tình hình quản lý sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ảnh hưởng đến sức khoẻ từ đó đưa ra các biện pháp chính sách về chăm sóc sức khoẻ người lao động khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật góp phần đảm bảo duy trì được lực lượng lao động đáp ứng nhiệm vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn hiện nay và lâu dài Vì vậy, mà
tôi chọn đề tài “Nghiên cứu tình hình sử dụng và bảo quản thuốc bảo vệ thực vật tại xã Kế An , huyện Kế Sách , tỉnh Sóc Trăng năm 2008 ”, nhằm mục tiêu:
1 Mô tả tình hình sử dụng và bảo quản thuốc bảo vệ thực vật tại xã Kế
Trang 3Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là những hợp chất độc có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp từ các chất hóa học được dùng để phòng trừ dịch hại trên cây trồng , hoa màu , lúa và các nông sản khác Thuốc có nhiều nhóm khác nhau , mõi nhóm có tác động riêng cho đối tượng gây hại của nhóm đó
Thuốc BVTV đang sử dụng hiện nay đa dạng về chủng loại và phong phú
về sản phẩm Việc sử dụng thuốc BVTV đúng mục đích và đúng kỷ thuật sẽ mang lại hiệu quả tốt trong quản lý dịch hại cây trồng , bảo quản nông sản Song , thuốc BVTV ngoài mặt tích cực nhưng cũng có mặt hạn chế của nó Vì vậy , khi sử dụng thuốc cần có kiến thức cần thiết để ngăn ngừa hoặc hạn chế tác hại của thuốc có thể gây nên đối với người , vật nuôi , cây trồng và môi trường sống , đồng thời phát huy những mặt tích cực của nó
2.1 LỊCH SỬ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
Từ xa xưa khi nghề trồng trọt bắt đầu phát triển, con người đã biết dùng các chất độc để phòng trừ dịch hại Tuy vậy, do điều kiện sinh thái và quy luật cân bằng tự nhiên, lúc đầu các loài dịch hại còn ít và chưa quen với chất độc, trình độ kĩ thuật còn thấp, con người chủ yếu dùng các chất có sẵn trong tự nhiên, nhất là các cây có chất độc, được chế biến và sử dụng một cách đơn giản Sau đó,
do sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển, dịch hài nhiều, nhất là từ đầu thế
kỉ XX đến nay
Lịch sử phát triển và sử dụng thuốc BVTV có thể chia làm 4 giai đoạn chính:
Giai đoạn 1: Trước những năm 1940, chủ yếu sử dụng các hợp chất vô cơ
Trong đó thuốc trừ sâu và chuột phổ biến là chất thạch tín (Asen), thuốc trừ nấm
Trang 4bệnh có đồng (Cu), lưu huỳnh (S), thuỷ ngân (Hg), thuốc trừ cỏ có các chất Sodium chlorat, calcium cyananid phần lớn những chất này có độ độc cao và tồn lưu tương đối lâu trong môi trường
Giai đoạn 2: Từ những năm 1940 đến 1960 là thời kỳ phát minh hàng loạt
các hợp chất hữu cơ, trước hết là thuốc trừ sâu nhóm clo hữu cơ (DDT, BHC) tiếp đến là các thuốc trừ sâu nhóm lân hữu cơ và carbamat Trong giai đoạn này đáng chú ý nhất là các phát minh thuốc trừ sâu DDT (1939), BHC (1941), carbamate (1947), Parathion và 2,4D (1944), thuốc trừ chuột chống đông máu
Giai đoạn 3: Từ những năm 1960 đến 1980, là thời kỳ phát minh các hợp
chất trừ sâu Pyrethroid tổng hợp (1970) và các thuốc trừ bệnh, trừ cỏ hữu cơ Đây cũng là mở đầu thời kỳ phát minh các thuốc trừ sâu, trừ bệnh có nguồn gốc sinh học hoặc tác động sinh học, các chất kích thích, điều tiết sinh trưởng cây trồng Khái niệm phòng trừ sâu bệnh tổng hợp cũng được nêu ra trong giai đoạn này
Giai đoạn 4: Từ những năm 1980 đến nay, là thời kỳ phát minh nhiều loại
thuốc trừ sâu, bệnh, cỏ dại và có nguồn gốc mới, trong đó chú ý đến nhiều chất sinh học Đây cũng là thời kỳ trọng điểm của quản lý dịch hại tổng hợp (Intergrated Pest Management, IPM) được phổ biến rộng rãi, các thuốc BVTV cũng được phát minh và sử dụng theo hướng này Ngoài hiệu quả phòng trừ dịch hại, tính an toàn của thuốc BVTV ngày càng được chú ý nhiều hơn [2], [3], [4]
2.2 PHÂN LOẠI THUỐC BVTV
Có nhiều cách phân loại hóa chất BVTV dựa theo:
Trang 5Sau đây là 2 phân loại thường dùng:
2.2.1 Phân loại theo đối tượng phòng trừ
- Thuốc trừ sâu
Là những thuốc phòng trừ các loại côn trùng gây hại cây trồng, nông sản gia súc, con người Các loại thuốc trừ sâu nói chung đều rất độc vớí người và môi trường, vì vậy khi sử dụng cần hết sức thận trọng, đảm bảo các nguyên tắc của IPM, theo đó tỷ lệ thuốc trừ sâu ngày càng giảm trong tổng số thuốc BVTV được sử dụng [9]
- Thuốc trừ bệnh
Là những thuốc phòng trừ các loại vi sinh vật gây bệnh cho cây (nấm, vi khuẩn, tuyến trùng) một số vi sinh vật quan trọng khác gây bệnh cho cây như vi rút, Mycoplasma tới nay chưa có thuốc diệt trừ Các thuốc trừ bệnh nói chung ít độc hơn so với thuốc trừ sâu và ngày càng được sử dụng nhiều
- Thuốc trừ cỏ
Là những thuốc phòng trừ các loại thực vật, rong, tảo mọc Lẫn với cây trồng, làm cản trở đến sinh trưởng của cây trồng Thuốc trừ cỏ cũng ít độc hơn cho con người và động vật so với thuốc trừ sâu nhưng lại rất dễ gây hại cho cây trồng Thuốc trừ cỏ cũng được sử dụng ngày càng nhiều
- Thuốc trừ chuột: Là những thuốc dùng phòng trừ chuột và các loại gặm
nhấm khác Các thuốc trừ chuột đều rất độc với người và gia súc
- Thuốc trừ nhện: Là những thuốc chuyên dùng phòng trừ các loại nhện
hại cây trồng Có nhiều loại thuốc trừ sâu cũng có tác dụng đối với nhện
- Thuốc trừ ốc sên: Có nhiều loại ốc đặc biệt như ốc bươu vàng… nhiều
hoá chất có hiệu lực cao nhưng rất có hại đến tôm, cua, cá, các động vật thuỷ tinh và làm ô nhiễm môi trường nước, vì vậy khi sử dụng chú ý dùng đúng liều lượng và nồng độ qui định
Trang 6- Thuốc điều tiết sinh trưởng cây trồng: còn gọi thuốc kích thích sinh
trưởng, là những chất có khả năng kích thích sự ra rễ tăng độ nảy mầm tăng sinh trưởng và phát triển của thực vật… một số thuốc trừ sâu có khả năng xông hơi dùng xử lý hàng hoá kho tàng để diệt mối, mọt chuột hoặc xử lý gỗ
2.2.2 Phân loại theo gốc hoá học
- Dựa theo cấu trúc hoá học chia thuốc BVTV thành nhiều nhóm, như thuốc trừ sâu có nhóm chính là nhóm thảo mộc, là những chất trừ sâu có trong thực vật như chất Nicotin, rotenone, pakizion [21], [22]
- Nhóm clo hữu cơ: Là những dẫn xuất Chlorobenzen (như DDT) Cychlohexan (BHC) nhóm này có độ độc cấp tính tương đối thấp nhưng tồn lưu lâu trong cơ thể người, động vật và môi trường gây độc mãn tính nên đã hạn chế
- Nhóm dicarboximit: có chất Captan, folpet
- Nhóm thuốc sinh học: Là những chất kháng sinh được chiết xuất trong quá trình lên men ở một số loại nấm
2.3 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG - BẢO QUẢN - NGỘ ĐỘC THUỐC BVTV 2.3.1 Trên thế giới
Trong những năm qua nhiều loại thuốc diệt côn trùng, diệt nấm , diệt
Trang 7khuẩn và diệt cỏ, kể cả những thuốc xông hơi đã trở thành quan trọng trong nông nghiệp, chủ yếu ở các nước phát triển Ở các nước này thuốc BVTV nhóm Clo hữu cơ còn đang được sử dụng, nhưng cũng dần dần được thay thế bằng nhóm lân hữu cơ, carbammat, pirethroid [35]
Thuốc BVTV trong các chương trình y tế được sử dụng để diệt các véctơ truyền 5 bệnh chính: Bệnh sốt rét, bệnh giun chỉ, bệnh giun onchocerca volvulus, bệnh sán máng và bệnh do trypanosoma Ngoài ra còn dùng thuốc BVTV để diệt các véctơ truyền bệnh khác như: Sốt xuất huyết, viêm não Nhật Bản B Chi phí hàng năm của thế giới sử dụng thuốc BVTV cho chương trình y tế 100 triệu USD, chiếm khoảng 10% tổng số thuốc BVTV được dùng [36], [19]
Riêng thuốc BVTV được sử dụng trên toàn thế giới 3 tỷ USD năm 1972
và 15.9 tỷ USD năm 1985, ước tính khoảng 3 triệu tấn thuốc BVTV và tỷ lệ sử dụng như sau: chất diệt cỏ 46%, chất diệt côn trùng 31%, chất diệt nấm 18% Trong đó 75% thuốc BVTV được dùng ở Châu Âu, Nhật, Hoa kỳ, Trung Quốc là nước dùng nhiều thuốc BVTV nhất [35]
Năm 1985 ở châu Á và Thái Bình Dương dùng 16% tổng số thuốc sử dụng trên thế giới , mõi năm dùng bình quân 5- 7% ,trong đó thuốc trừ sâu sử dụng nhiều nhất 75% [17 ]
Năm 2006 nước Pháp có kế hoạch giảm 50% lượng thuốc trừ sâu , gần 50 độc chất có hại cho môi trường sẽ được cấm sử dụng [20 ]
Về tình hình nhiễm độc thuốc BVTV ở các nước đang phát triển, tình trạng
mù chữ cao, thiếu các phương tiện thông tin đại chúng hoặc là có nhưng hiệu quả không cao, lợi ích và tác hại của thuốc BVTV không được hiểu biết đầy đủ - Tầm quan trọng của việc sử dụng an toàn thuốc BVTV bị coi nhẹ , ngoài ra còn có thói quen truyền thống trong việc sử dụng đối với các thuốc BVTV này Các chuyên gia của Tổ chức y tế thế giới WHO ước tính hàng năm có khoảng 14.000 người
Trang 8chết, rất không may là đa số các trường hợp này xảy ra ở các nước đang phát triển, một điều cần chú ý là có nhiều yếu tố đặc biệt và điều kiện ảnh hưởng đến độc tính thuốc BVTV – làm tăng nguy cơ khi sử dụng như vùng khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm ở nhiều nước đang phát triển làm cho công nhân và nông dân gặp khó khăn trong việc sử dụng trang bị phòng hộ cá nhân và do đó sự tiếp xúc tăng, thêm điều kiện khí hậu như vậy càng ảnh hưởng đến quá trình chuyển hoá làm tăng độc tính của thuốc BVTV - Ngoài ra do ra nhiều mồ hôi sự hấp thụ qua da càng trở nên dễ dàng hơn [10]
2.3.2 Việt Nam
Ở Việt Nam thuốc BVTV đã được sử dụng từ lâu Trong những năm
gần đây thuốc BVTV tăng lên đáng kể cả về số lượng lẫn chủng loại Trên thị trường hiện nay có khoảng 22.000 cửa hàng buôn bán thuốc BVTV , trung bình mõi tỉnh có khoảng 400- 500 cửa hàng được rải điều ở các xã , phường trên cả nước Tuy đây là mặt hàng hạn chế kinh danh và kinh danh có điều kiện Nhưng theo thống kê của cục BVTV hiện mới chỉ có 80% cá nhân buôn bán thuốc BVTV được cấp chứng chỉ hành nghề , 20% hoạt động buôn bán thuốc BVTV không có chứng chỉ , chủ yếu tập trung ở các cửa hàng nhỏ , lẻ vùng sâu vùng xa , nên việc quản lý và kiểm soát rất khó khăn
Hiện nay ở Việt Nam theo danh mục thuốc được phép sử dụng có 488 hoạt chất , trong đó thuốc trừ sâu 177 hoạt chất , thuốc trừ bệnh 145 hoạt chất , thuốc trừ cỏ 104 hoạt chất , thuốc trừ chuột 13 hoạt chất và các hợp chất khác [12] Ngoài ra còn có thể có những thuốc ngoài luồng kiểm soát
Hiện nay , ở nước ta thuốc BVTV được sử dụng rộng rãi ở hộ gia đình , người dân sử dụng thuốc BVTV rất tuỳ tiện và lạm dụng , tự định ra nồng độ , liều lượng , tự thu hoạch khi thấy cần thiết với mục đích thu lại nhiều lợi nhuận kinh tế trước mắt [1] Điều này ảnh hưởng tới sức khoẻ không những cho bản
Trang 9thân họ mà còn cho cả cộng đồng , sức khoẻ của những người có tiếp xúc với thuốc BVTV đã bị ảnh hưởng Sức khoẻ của ngưới tiêu dùng cũng đang báo động Nhiều vụ ngộ độc do ăn các loại thức ăn như : rau , quả …có dư lượng thuốc BVTV đã liên tục xảy ra và không ít trường hợp tử vong [23]
Trong các loại thuốc BVTV được sử dụng thì thuốc trừ sâu chiếm tỷ lệ khá cao ( 68,33 – 82,20% ) hợp chất trừ bệnh chiếm tỷ lệ từ 12,60 – 15,50% , chất diệt cỏ chiếm tỷ lệ 3,30 – 11,9% [24 ]
Theo số liệu của một số đề tài nghiên cứu khoa học , tình hình nhiễm độc thuốc BVTV như sau : ở tiền giang , từ năm 1986 – 1992 , có 3.167 người bị nhiễm độc , trong đó 332 trường hợp bị tử vong [30]
Theo Nguyễn Hồng Tú và Phùng Thị Thanh Tú tứ năm 1993 – 1996 số người ở 4 tỉnh : Cần Thơ , Tiền Giang , Khánh Hoà , Thừa Thiên Huế bị nhiễm thuốc BVTV là 9.758 người , trong đó số người tử vong là 572 người [30 ] Theo Bùi Văn Hoan ở Thái Nguyên năm 1993 – 2001 , toàn tỉnh có 33vụ ngộ độc thức ăn , trong đó 50% có liên quan đến sử dụng rau [18 ]
Theo Nguyễn Ngọc Diễn ở Thừa Thiên Huế , từ năm 1992 – 1995 có 528
bị nhiễm độc thuốc BVTV và 40 người chết [14]
Theo số liệu điều tra của Nguyễn Việt Dũng năm 2004 số trường hợp nhiễm độc thuốc BVTV ở Miền Trung là 285 tăng gấp 17 so với năm 2003 mặc
dù không có trường hợp tử vong [15 ]
Kết quả điều tra của Bộ Y Tế - Vụ Y Tế dự phòng năm 2000 cho thấy phụ
nử 8 tỉnh nông thôn trọng điểm đại diện cho ba miền Bắc – Trung – Nam khi phun thuốc ảnh hương đến sức khoẻ như sau: 68,8% có dấu hiệu ảnh hưởng sau khi phun thuốc với các triệu chứng ban đầu là nhức đầu , tức ngực , lợm giọng , buồn nôn [5]
Kết quả điều tra 230 hộ nông dân tại xã Vạn Phú huyện Vạn Ninh năm
Trang 102006 cho thấy 84% các hộ gia đình có sử dụng thuốc BVTV , các thuốc BVTV rất đa dạng gồm có 24 chủng loại mà tập chung chủ yếu là thuốc trừ sâu , trừ bệnh , trừ cỏ Trong đó có cả hóa chất cấm sử dụng như Wolfatox, mục đích sử dụng cho rau 5,2 %, lúa 31,7%, hoa màu là 13,9%, cây mía là 40% Số lần phun thuốc / 1 vụ > 10 lần 67,4%, 4 - 10 lần 11%, nơi cất giữ thuốc BVTV ngoài vườn 14,8%, cất trong kho 23,1%, chuồn gia súc là 60% , hầu hết các bao bì, chai lọ, sau khi sử dụng đã chôn 46,5%, vứt ngoài ruộng là 53,1% Tổng số ngộ độc trong năm 2005-2006 là 24 trường hợp , nguyên nhân do pha và phun thuốc là 20,8%, uống nhằm 8,3%,tự tử là 62,5% Trong 230 hộ điều tra có 80,4 % biết chương trình IPM nhưng việc áp dụng là rất thấp 24,3% [9]
Các triệu chứng hay gặp ở các đối tượng sử dụng thuốc BVTV ở vùng trồng chè, rau lúa, nho là chóng mặt (83,3%) đau đầu (82,52%) ra nhiều mồ hôi (62,26%) tê tay chân (68,60%) đau xương khớp (63,36%) kém ngũ (59,58%) giảm trí nhớ (48,77%) [10]
Cả nước ta có khoảng 11,5 triệu hộ nông nghiệp mỗi hộ ít nhất có một người sử dụng thuốc BVTV như vậy số người tiếp xúc nghề nghiệp với thuốc BVTV ước tính là 11.500.000 người
Nếu tỷ lệ nhiễm độc mãn tính nghề nghiệp do thuốc BVTV xác định được
là 18,26 % thì trong 11.500.000 đối tượng sử dụng thuốc BVTV ước tính ít nhất
là 2,1 triệu người đang nhiễm độc mãn tính nghề nghiệp thuốc BVTV hiện nay trong cả nước [10]
2.3.3 Tỉnh Sóc Trăng :
Sóc Trăng là một thành phố với diện tích 331.004 ha với dân số 1.275.939 người , gồm 3 dân tộc : kinh là 831.441 người , hoa là 75.077 người , khơ me là 369.075 người , 80% người dân sống bằng nghề nông, diện tích canh tác tập trung chủ yếu như: lúa , cây ăn trái , rau màu rất đa dạng, vì thế việc sử dụng
Trang 11thuốc BVTV là rất phổ biến nhằm khống chế dịch hại cho cây trồng để đảm bảo tăng sản lượng cho cây trồng [13] Theo báo của sở y tế tỉnh Sóc Trăng trong năm 2008 về tình hình nhiễm độc thuốc BVTV cấp tính, toàn tỉnh xảy ra là 832 trường hợp , trong đó nhiễm độc là 132 ca chết 02, tự tử là 700 ca chết 03 Đây cũng là vấn đề hết sức bức thiết cần cảnh báo đáng quan tâm hiện nay nhằm bảo
vệ sức khỏe con người [26]
2.4 QUẢN LÝ THUỐC BVTV
(Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp Integratetd Pest Management – IPM)
Đây là phương pháp phòng trừ dịch hại tiên tiến nhất hiện nay, dựa trên
cơ sở của qui luật cân bằng tự nhiên trong hệ sinh thái đồng ruộng “ IPM là một chiến lược nhằm làm cho các biện pháp phòng trừ dịch hại có hiệu quả lâu dài về kinh tế, kỹ thuật, sức khoẻ cộng đồng và bảo vệ môi sinh Chiến lược này không loại trừ hoá chất nông nghiệp mà cũng không dựa hẳn vào hữu cơ tự nhiên Đó là một tổng hợp của việc sử dụng các giống kháng bền vững, kết hợp với các biện pháp canh tác, sinh học và cả biện pháp hoá học khi cần thiết” (L.V.Thuyết, H.M Trung, 1995).Theo định nghĩa này thì rõ ràng là thuốc hoá học, do có những ưu điểm đặc biệt nên nó vẫn giữ một vị trí và tác dụng quan trọng không thể thiếu trong hệ thống các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp Nhưng thuốc hoá học cũng có những nhược điểm lớn, khi sử dụng cần chú ý khắc phục [36]
2.5 DƯ LƯỢNG CỦA THUỐC BVTV
Khi phun thuốc trừ sâu, bệnh, cỏ dại thuốc sẽ tạo thành lớp mỏng trên bề mặt vật được phun (lá cây, trái cây, thân cây, mặt đất, nước) và một lớp chất lắng gọi là dư lượng ban đầu của thuốc
Kết quả khảo sát 190 mẫu rau của viện vệ sinh y tế công cộng tại một số chợ nội thành và vùng ven TP.HCM tháng 5 – 2004 kết quả cho thấy có 168
Trang 12mẫu rau có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng gốc hữu cơ (DDT) và lân hữu cơ (Wolfatox)
Kết quả xét nghiệm mẫu đất , mẫu nước , dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tại các điểm trồng rau an toàn ở Hà Nội , Hà Nam , Hưng Yên , Bắc Ninh điều phát hiện có hàm lượng kim loại nặng như đồng và chì , coliform, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cao gấp nhiều lần cho phép
Dư lượng thuốc BVTV đôi khi còn phát hiện cả trong sữa của các bà mẹ đang cho con bú khi thường xuyên tiếp xúc với thuốc trừ sâu Kết quả xét nghiệm 47 bà mẹ đang cho con bú tại vùng trồng chè ở Phú Thọ cho thấy dư lượng thuốc BVTV nhóm lân hữu cơ từ 0,2 đến 0,5 mg /lit trong sữa mẹ Phân tích sữa của 10 bà mẹ đang nuôi con bú tại vùng trồng nho và hành, tỏi ở Phan Rang và của 10 bà mẹ khác ở Phú Hải, Nha Trang cho thấy sữa của các bà mẹ đều có dư lượng thuốc trừ sâu nhóm lân hữu cơ và Clo hữu cơ từ 0,3 - 0,53 mg/lít [19]
Năm 1999 Trung tâm kiểm định thuốc BVTV (Cục BVTV) tiến hành kiểm tra 3 đợt trên 12 loại rau và 11 loại quả tại Thành phố Hồ Chí Minh kết quả
dư lượng thuốc ở phần lớn các mẫu dưới mức cho phép Riêng trên rau 1/3 số mẫu có dư lượng Cypermethrin cao hơn quy định, đáng chú ý là vẫn còn tồn dư
ở một số thuốc đã cấm sử dụng trong một số mẫu rau và trái cây (như Methamidophos, Methyl Parathion) [28]
2.6 ĐỘC TÍNH VÀ ĐƯỜNG XÂM NHẬP CỦA THUỐC BVTV
- Việc sử dụng rộng rãi thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp đã ảnh
hưởng lớn đến sức khoẻ người dân Qua nhiều báo cáo cho thấy số vụ ngộ độc ngày càng gia tăng và số tử vong do sử dụng thuốc BVTV là đáng lo ngại Một
số nghiên cứu khác cho thấy nếu tỷ lệ nhiễm độc là 12,8% thì có khoản 2 triệu người đang nhiễm độc mạn hiện nay trong cả nước [29]
Trang 13- Theo nghiên cứu của Hà Đình Ngư , Nguyễn Bá Cẩn (2007) ở Thành Phố Thanh Hoá và vùng phụ cận dư lượng thuốc BVTV trên rau là 5,5% , trong
đó có sử dụng thuốc ngoài danh mục 24 loại thuốc [11]
- Chất độc là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật (người, động thực vật, vi sinh vật) với liều lượng nhỏ đã gây ra những rối loạn về cấu trúc hay chức năng làm chậm sự sinh trưởng phát triển, dẫn đến những tổn thất cho cơ thể hoặc tử vong Như vậy các thuốc BVTV dùng để tiêu diệt các loài dịch hại đều là những chất độc, kể ca đối với người và động vật khác
- Ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với môi trường và hệ sinh thái: Do thuốc bảo vệ thực vật mang tính độc đối với sinh vật và có khả năng vận chuyển, tồn dư nên có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống và hệ sinh thái Khi phun thuốc cho cây trồng có tới trên 50% số thuốc bị rơi xuống đất đó là chưa kể biện pháp bón thuốc trực tiếp vào đất, người ta cũng ước tính có tới 90% thuốc sử dụng không tham gia vào diệt sâu bệnh mà là gây độc cho đất, nước, không khí
và nông sản
- Ảnh hưởng đối với người và động vật máu nóng, người ta chia thuốc BVTV làm 2 nhóm chất độc nồng độc và chất độc tích luỹ Mức độ gây độc của nhóm chất độc còn phụ thuộc vào lượng thuốc xâm nhập vào cơ thể, các thuốc BVTV có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua nhiều đường như tiếp xúc qua
da ăn hoặc hít phải thuốc do trực tiếp hay qua nông sản, nước uống hay không khí bị nhiễm thuốc
- Độ độc cấp tính: Thuốc xâm nhập vào cơ thể gây nhiễm độc tức thời gọi
là nhiễm độc cấp tính có thể gây chết người tuỳ thuộc vào liều lượng, đường xâm nhập
- Độ độc mãn tính: Lượng thuốc có khả năng tích luỹ trong cơ thể người
và động vật máu nóng gây đột biến tế bào, tạo các khối u ác tính phát triển ảnh
Trang 14hưởng đến bào thai và gây dị dạng đối với các thế hệ sau
2.7 CƠ CHẾ GÂY ĐỘC CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
2.7.1 Thuốc trừ sâu
Sau khi xâm nhập vào cơ thể chúng tác động lên hệ thần kinh, là cơ chế gây độc của nhóm thuốc trừ sâu nhóm Clo hữu cơ, lân hữu cơ, Carbamate và Pyrethroid [27]
- Nhóm lân hữu cơ và Carbamate: ức chế hoạt động của men Cholin esteraze làm tê liệt quá trình dẫn truyền kích thích thần kinh Vớí lân hữu cơ là quá trình Phosphorin hoá, với Carbamate là quá trình carbamil hoá men ChE làm nhiệm vụ dẫn truyền qua các đầu mút thần kinh, acetin cholin không bị thuỷ phân
và tích luỹ lại lượng lớn làm cho dây thần kinh bị tổn thương và đứt đoạn, làm cho thần kinh bị rối loạn, tê liệt, côn trùng sẽ chết Đối với người và động vật khác thuốc lân hữu cơ và carbamate cũng tác động theo cơ chế này
- Nhóm Clo hữucơ, Pyrethroid và Oxyhydro Carbon, là những chất độc đối vớí tế bào thần kinh các chất này liên kết làm cản trở sự vận chuyển của ion qua màng tế bào, làm mất điện thế tạo nên sự dẫn truyền xung động thần kinh, thần kinh bị tê liệt, sâu chết
2.7.2 Thuốc trừ bệnh
Có 2 cơ chế tác động chính Tác động trực tiếp, ức chế các phản ứng sinh tổng hợp trong tế bào của vi sinh vật gây bệnh Tác động gián tiếp thuốc làm tăng sức đề kháng của cây ký chủ đối với ký sinh
2.7.3 Thuốc trừ cỏ
Hình thành các hoóc môn kích thích sinh trưởng giả, ức chế quá trình quang hợp, ức chế tổng hợp sắc tố, ức chế phân chia tế bào, ức chế tổng hợp vitamin, ức chế tổng hợp li pít, ức chế tổng hợp Aminoacid…[2]
2.7.4 Thuốc trừ chuột
Trang 15Có 3 cơ chế chính
- Gây chết nhanh chuột điển hình là chất Stricnin kẽm phosphur
- Gây chết chậm: Là những chất ức chế tổng hợp vitamin K
- Gây bệnh cho chuột Vi khuẩn Salmonella gây bệnh đường tiêu hoá
2.7.5 Chất điều tiết sinh trưởng cây trồng
Các chất này chủ yếu là kích thích sinh trưởng cây trồng theo các cơ chế chính là: Kích thích tăng trưởng thể tích tế bào, kích thích hình thành tế bào mới,
bổ xung và tăng cường hoạt động của các men trong quá trình tổng hợp
2.8 CHẨN ĐOÁN NGỘ ĐỘC CỦA THUỐC BVTV
Các triệu chứng bị ngộ độc biểu hiện chung: Mệt mỏi, khó chịu, yếu sức,
đối với da ngứa, nóng rát, mẩn đỏ ra mồ hôi nhiều về tiêu hoá nóng rát ở miệng, buồn nôn ói mửa, đau bụng, tiêu chảy [19]
Thần kinh: Đau đầu, chóng mặt, choáng váng, bắp thịt co giật, dáng đi lảo đảo, lên cơn co giật, bất tỉnh
- Tăng tiết dịch tiêu hoá, nước bọt, mồ hôi
- Đau bụng, nôn mửa, ỉa chảy
- Đồng tử co, màng tiếp hợp đỏ, chảy nước mắt, giảm thị lực, đôi khi nhìn
Trang 16nhân gây tử vong ngay trong những giờ đầu
+ Hội chứng Nicotin: Thường xuất hiện trong ngộ độc nặng:
- Bệnh nhân tỏ ra rất mệt, các chi vận động rất yếu, các thớ cơ bị rung giật, sau cùng liệt cơ dẫn đến liệt hô hấp
- Rối loạn nhịp tim rồi ngừng tuần hoàn (ngừng tim, rung thất, truy mạch)
+ Hội chứng thần kinh trung ương:
- Hôn mê, ức chế hô hấp và đôi khi co giật, ngộ độc nặng có thể ức chế các trung tâm vận mạch, gây suy tuần hoàn cấp và tử vong rất nhanh
*Nhiễm độc mãn tính
Chẩn đoán nhiễm dộc mãn tính: Ngoài triệu chứng lâm sàng còn có các
yếu tố bắt buộc quan trọng như sau:
- Yếu tố tiếp xúc: Khai thác kỹ nghề nghiệp, thời gian tiếp xúc, tình hình ô nhiễm môi trường lao động
- Định lượng hoạt tính men Cholinesteraza trong máu: Khi Cholinesteraza huyết tương giảm > 25% và Cholinesteraza hồng cầu giảm 10 – 20 % được coi là dấu hiệu báo động nhiễm độc Vì vậy việc chẩn đoán nhiễm độc mãn đòi hỏi phải định lượng men Cholinesteraza định kỳ và về mặt giáo dục y tế phải quán triệt mọi người sử dụng thuốc BVTV biết rõ các dấu hiệu nhiễm độc để tự phát hiện sớm và báo cáo kịp thời với cơ quan có trách nhiệm [2]
Trang 17Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Người dân trong độ tuổi lao động (Đại diện cho hộ gia đình được khảo
sát, tuổi từ 18 - 60)
- Các loại hóa chất bảo vệ thực vật đang lưu hành tại địa bàn nghiên cứu 2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu :
Chọn xã Kế An thuộc huyện Kế Sách tỉnh Sóc Trăng Xã Kế An là một
xã vùng nông thôn cách Trung tâm huyện Kế Sách khoảng 9 km , nhân dân trong
xã sống chủ yếu bằng nông nghiệp, toàn xã có 6 ấp : Số I , Cầu chùa , Lung đen ,
ấp 19/5, Xóm chòi và ấp Chót dung
Dân số gồm 1.909 hộ, có 8.855 khẩu , trong đó có 1.650 hộ nông nghiệp chiếm tỷ lệ 86,4 % so tổng số hộ
Tổng diện tích tự nhiên 2070 ha trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 1404
ha , cây ăn trái là 480 ha , đất trồng màu 49 ha,còn lại đất trồng lúa là 875ha
Trong xã có 01 hợp tác xã nông nghiệp, có 04 đại lý bán thuốc BVTV trong đó có một đại lý của HTX, còn 3 đại lý khác của tư nhân
Chương trình IPM được triển khai tập huấn từ năm 1993, mỗi năm mở 03 lớp cho các hộ nông dân, riêng năm 2007 mở 02 lớp
Hệ thống phát thanh: có loa đài phát thanh đầy đủ khắp các ấp
Trường học: Có 01 trường cấp II, 03 trường cấp I và 01 trường mẫu giáo
2.2.2.Thời gian nghiên cứu :
Thời gian nghiên cứu từ 01/12/2008 đến 30/06/2009
Trang 182.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra ngang, dùng bộ câu hỏi để phỏng vấn , kết hợp quan sát hộ được phỏng vấn
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên mô tả cắt ngang
2.3.2 Phương pháp chọn mẫu:
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
+ Cỡ mẫu: Tính theo công thức :
2
2 2 / ( 1 )
e
p p
Z
Trong đó:
- N: cỡ mẫu ngẫu nhiên
- Z α/2: 1,96 với mức tin cậy 95% 2
2 2 / ( 1 )
e
p p
Trang 19+ Đánh số thứ tự theo tên các chủ hộ: sử dụng bảng số ngẫu nhiên để chọn
đủ số hộ theo phương pháp ngẫu nhiên đơn
2.3.3 Kỹ thuật thu thập số liệu
- Phỏng vấn trực tiếp người lao động về tình hình sử dụng, bảo quản, xử lý tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật và ngộ độc hóa chất bảo vệ thực vật
- Phỏng vấn trực tiếp người lao động những vấn đề liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về hóa chất bảo vệ thực vật
2.3.4 Công cụ thu thập thông tin
Sử dụng bộ câu hỏi đã chuẩn bị trước về hai vấn đề:
- Tình hình sử dụng và bảo quản thuốc hóa chất bảo vệ thực vật
- Kiến thức, thái độ và thực hành của người lao động về thuốc bảo vệ thực vật
2.3.5 Nội dung thu thập thông tin
- Phỏng vấn trực tiếp người nông dân độ tuổi từ 18-60 tuổi tại các hộ nông dân xã Kế An đã chọn bằng bộ câu hỏi in sẵn về các vấn đề :
+ Trình độ học vấn, tuổi, giới , dân tộc, diện tích canh tác, loại cây canh tác, loại thuốc bảo vệ thực vật sử dụng
+ Kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về thuốc bảo vệ thực vật +Tình hình sử dụng và bảo quản thuốc bỏ vệ thực vật
+ Nởi bảo quản và xử lý tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật
+Thông tin về các trường hợp ngộ độc được quản lý ở trạm y tế xã Kế an
và bệnh viện đa khoa huyện Kế sách
2.3.6.Phân tích và xử lý số liệu
Kết quả điều tra được tính toán theo phương pháp thống kê thông thường
Trang 20Ước lượng thuốc BVTV đã được sử dụng và theo hàm lượng thuốc dùng cho một đơn vị diện tích canh tác
Phân tích đánh giá nhận xét các chỉ số thu được và bàn luận kết quả nghiên
cứu
2.4 Đạo đức trong nghiên cứu
Những hộ được điều tra đều được hỏi ý kiến và có sự đồng ý để tham gia vào nghiên cứu Nhưng hộ nào không đồng ý thì sẽ không đưa vào mẫu nghiên cứu và sẽ không có bất cứ đối xử khác biệt nào đối với các hộ này Thông tin về các hộ được phỏng vấn cũng như các trường hợp bị ngộ độc , đặc biệt các trường hợp cố ý tự tử từ thuốc bảo vệ thực vật tuyệt đối được giữ bí mật
Trang 21Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 22Biểu đồ 3.2 Phân bố theo nhóm tuổi
Nhận xét: Trong 386 người được điều tra thì nhóm tuổi từ (31- 45) có số lượng cao nhất (51,8%), kế đến là nhóm tuổi từ (46- 60) có tỷ lệ 37,0%, thấp nhất ở nhóm tuổi < 30 là 1,1%
Trang 23Nữ
Biểu đồ 3.3 Phân bổ theo tỷ lệ giới tính
Nhận xét: Trong 386 người được phỏng vấn thì tỷ lệ Nam chiếm 85,5% số còn lại là Nữ chiếm 14,5%
3.2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG, BẢO QUẢN VÀ NGỘ ĐỘC CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT
3.2.1 Diện tích canh tác của từng hộ nông dân
Bảng 3.4 Diện tích canh tác tại hộ gia đình
Trang 24Nhận xét: Số hộ có diện tích canh tác trên 3000m2 chiếm 88,3% Số còn lại có diện tích từ 1000m2 đến 3000m2 là 11,7%
3.2.2 Mục đích sử dụng thuốc BVTV cho các loại cây trồng
Bảng 3.5 Mục đích sử dụng cho các loại cây trồng
Bảng 3.6 Số lượng thuốc BVTV đã sử dụng ở 386 hộ được điều tra
Loại thuốc Tên thuốc Số lƣợng (lit) Số lƣợng (kg)