1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Sự tham gia của nam giới vào chương trình dự phòng lây truyền mẹ con ở Việt Nam

160 555 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự tham gia của nam giới vào chương trình dự phòng lây truyền mẹ con ở Việt Nam
Tác giả Bà Ritu Shroff, Bà Bùi Thị Thu Hà, Ông Vũ Văn Hoàn, Bà Đậu Thị Hà Hải, Bà Lê Lan Hương, Ông Phạm Khánh Tùng, Nguyễn Duy Khê, Đinh T. Phương Hòa, Lưu Thị Hồng, Chu Quốc Ân, Trần Bích Trà, Hoàng Anh Tuấn, M. Tolvanen-Ojutkangas, Luisa Brumana, Mai Thu Hien, Nguyen Ngoc Trieu
Người hướng dẫn Tiến Sỹ Đinh Thị Phương Hoà
Trường học Bộ Y tế
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 795,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo: Sự tham gia của nam giới vào chương trình dự phòng lây truyền mẹ con ở Việt Nam

Trang 1

Sự tham gia của nam giới vào chương trình dự phòng lây truyền mẹ con ở

Việt Nam

NHỮNG THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI

ĐỐI VỚI CHƯƠNG TRÌNH

Báo cáo này dựa trên nghiên cứu định tính

được thực hiện ở Việt Nam

Tháng 3 năm 2008

Người viết báo cáo:

Bà Ritu Shroff, Với sự tham gia của:

Bà Bùi Thị Thu Hà, Ông Vũ Văn Hoàn,

Bà Đậu Thị Hà Hải,

Bà Lê Lan Hương, Ông Phạm Khánh Tùng, Nhóm kỹ thuật:

Nguyễn Duy Khê, Đinh T Phương Hòa, Lưu Thị Hồng, Chu Quốc Ân , Trần Bích Trà, Hoàng Anh Tuấn,

M Tolvanen-Ojutkangas,

Luisa Brumana , Mai Thu Hien, Nguyen Ngoc Trieu,

Vụ trưởng, Vụ Sức khỏe Bà mẹ và Trẻ em, BYTPhó Vụ trưởng, Vụ Sức khỏe Bà mẹ và Trẻ em, BYT Phó Vụ trưởng, Vụ Sức khỏe Bà mẹ và Trẻ em, BYT Phó Cục trưởng, Cục Phòng, chống AIDS, BYT Phòng truyền thông, Cục Phòng, chống AIDS, BYT

Vụ Sức khỏe Bà mẹ và Trẻ em, BYT Trưởng phòng Y tế & Dinh dưỡng, UNICEFChuyên gia, Dự án Phòng, Chống HIV/AIDS, UNICEF

Dự án DPLTMC, UNICEF

Dự án Phòng, Chống HIV/AIDS, UNICEF

Trang 3

Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn của Vụ Sức khoẻ Bà mẹ Trẻ em-

Bộ Y tế trong suốt quá trình nhóm thực hiện cuộc nghiên cứu Chân thành cảm ơn Tiến sỹ Đinh Thị Phương Hoà đã chỉ đạo và giám sát ngay từ khi cuộc nghiên cứu mới bắt đầu và đã cùng các đồng nghiệp trong Vụ dành thời gian và công sức quý báu để đảm bảo cho cuộc nghiên cứu hoàn thành xuất sắc Nhóm nghiên cứu cũng xin chân thành cảm ơn bác sỹ Hoàng Anh Tuấn - Vụ Sức khoẻ Bà

mẹ Trẻ em đã hỗ trợ và giám sát công tác hậu cần như liên hệ với các địa phương, dịch tài liệu và tổ chức các cuộc họp

UNICEF Việt Nam đã hỗ trợ kinh phí cho cuộc nghiên cứu này thông qua dự án Phòng lây truyền

mẹ con quốc gia do tổ chức tài trợ Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn Bác sỹ Luisa Brumana, chuyên gia HIV/AIDS đã chỉ đạo cuộc nghiên cứu này, Bác sỹ Mai Thu Hiền, cán bộ chương trình UNICEF đã giám sát, hỗ trợ và tham gia quản lý cuộc nghiên cứu, đồng cảm ơn ông Nguyễn Ngọc Triệu đã hỗ trợ về mặt hành chính cho cuộc nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu cũng xin gửi lời cảm ơn tới các trung tâm Chăm sóc Sức khoẻ Sinh Sản tỉnh An Giang, TP Quảng Ninh và TPHCM đã dành thời gian và hỗ trợ cuộc nghiên cứu, tổ chức các buổi phỏng vấn, cung cấp các thông tin cần thiết cho cuộc nghiên cứu Ngoài ra, các tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các nhân viên y tế các cấp xã, huyện, tỉnh đã tham gia trả lời phỏng vấn Nhóm nghiên cứu chân thành biết ơn tất cả những người đã dành thời gian trả lời các câu hỏi một cách cởi mở và chân thành

Sau cùng, tất cả những lỗi và thiếu sót đều thuộc trách nhiệm của riêng cố vấn hướng dẫn

Trang 5

AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch

ARV Thuốc kháng virut

GF Quỹ toàn cầu về phòng chống HIV/AIDS, lao và sốt rét

HIV Virut gây hội chứng suy giảm miễn dịch ở người

PEPFAR Quĩ cứu trợ khẩn cấp về AIDS của Tổng thống

PLTMC Phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con

QHTD Quan hệ tình dục

TCMT Tiêm chích ma tuý

TTYTDP Trung tâm y tế dự phòng

TTCSSKSS Trung tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản

TTGDTT Thông tin giáo dục truyền thông

TTPC Trung tâm phòng chống

TTTĐHV Truyền thông thay đổi hành vi

TVXNTN Tư vấn xét nghiệm tự nguyện

SKSS&GT Sức khoẻ sinh sản và giới tính

UNAIDS Chương trình phòng chống HIV/AIDS của Liên hiệp quốc

UNICEF Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc

WHO Tổ chức Y tế thế giới

YTDP Y tế dự phòng

Trang 7

Lời tựa

Viết tắt

TÓM TắT

I THÔNG TIN CHUNG

A Tình hình HIV/AIDS trên thế giới và tại Việt Nam

B.Hướng dẫn quốc tế về PLTMC

C.Kế hoạch quốc gia và hướng dẫn của Bộ Y tế

D.Vấn đề giới và các ảnh hưởng đến PLTMC tại Việt Nam

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

III THIẾT KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

A Địa bàn thu thập số liệu

B Phương pháp thu thập

C Số liệu được thu thập

D Phân tích số liệu

E Hạn chế của nghiên cứu

IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

A Kiến thức, thái độ, sức khỏe thông qua tìm hiểu về các hành vi và thói quen của phụ nữ có thai, bạn tình của họ và các cặp vợ chồng và gia đình

1 Kiến thức và nhận thức về HIV , PLTMC và chăm sóc phụ nữ có thai

2 Thái độ đối với các dịch vụ PLTMC

3 Hành vi và thói quen đi khám sức khoẻ của các phụ nữ có thai và bạn tình của họ

B Các yếu tố quyết định về hành vi và văn hóa ảnh hưởng đến sự tham gia của nam giới vào PLTMC và SKSS&GT

1 Sự giao tiếp giữa hai vợ chồng

2 Việc ra quyết định trong gia đình

3 Những mong muốn xung quanh vấn đề sinh con

4 Những mong muốn của nam giới xung quanh việc mang thai và sinh con

5 Tiết lộ tình trạng mắc bệnh

6 Chung sống với HIV

7 Hỗ trợ và ảnh hưởng của gia đình đối với việc ra quyết định

C Các vấn đề về cung cấp dịch vụ sinh sản hiện có và những ảnh hưởng của nó đến sự tham gia của nam giới

1 Tính bao phủ của các dịch vụ

2 Xét nghiệm

3 Thuốc dự phòng ARV

4 Chăm sóc trẻ sơ sinh

C Các yếu tố quyết định, các rào cản và cơ hội về hành vi và văn hóa để giúp nam giới tham gia nhiều hơn vào PLTMC và SKSS&GT 1 Lý do chính cần lôi kéo sự tham gia của nam giới

2 Những rào cản đối với việc tham gia tích cực hơn của nam giới

3 Những cơ hội cho việc tham gia tích cực hơn của nam giới

Trang 8

V MÔ HÌNH VÀ KHUYẾN NGHỊ .

A Những khuyến nghị chung đối với công tác truyền th ông thay đổi hành vi

B Những khuyến nghị chung đối với công tác cung cấp dịch vụ

C Mô hình thí điểm nhằm tăng cường sự tham gia của nam giới

VI KẾT LUẬN

Phụ l ục 1: Bài phê bình hoàn chỉnh

Phụ l ục 2: Các thuật ngữ tham khảo

Phụ l ục 3: Bản đồ các địa bàn được UNICEF hỗ trợ các dịch vụ PLTMC

Phụ l ục 4: Thiết kế nghiên cứu và kế hoạch làm việc

Phụ lục 5: Bản hướng dẫn câu hỏi nghiên cứu

Phụ lục 6: Danh sách địa điểm và người tham gia cuộc nghiên cứu

Phụ lục 7: Chi tiết các kết quả nghiên cứu

Trang 9

Bối cảnh nghiên cứu

Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể trong việc thiết lập và mở rộng các hoạt động Dự phòng lây truyền từ mẹ sang con (PLTMC) ở trong nước cũng như việc khái niệm hóa các liên kết cần thiết giữa Sức khỏe sinh sản và giới tính (SKSS&GT), Sức khỏe Bà mẹ và trẻ sơ sinh (SKBM&TSS) và PLTMC Mục tiêu của Chương trình hành động quốc gia về PLTMC là từ nay cho đến cuối năm 2010, toàn quốc đều tiếp cận được các dịch vụ PLTMC – một mục tiêu đầy tham vọng đòi hỏi phải huy động được các dịch vụ và nguồn lực Hiện nay, hầu hết các phụ nữ có thai được xét nghiệm dương tính ở giai đoạn cuối của thai kỳ, chủ yếu là ngay trước khi sinh, khiến họ không kịp thời tiếp cận các dịch vụ khi cần Một số đánh giá và các cuộc trao đổi với các nhân viên y tế và phụ nữ đi khám thai ở Việt Nam cho thấy còn thiếu sự tham gia của nam giới vào việc cung cấp và sử dụng các dịch vụ, cũng như là chia

xẻ thông tin về tầm quan trọng của công tác PLTMC, và đây là một trong những trở ngại đối với việc tăng cường sử dụng các dịch vụ PLTMC

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu định tính này nhằm điều tra sự tham gia của nam giới trong việc mang thai, chăm sóc sức khoẻ sinh sản nói chung, về PLTMC nói riêng và để đưa ra các khuyến cáo cải thiện chương trình.Nghiên cứu này nhằm để:

Xác định kiến thức, thái độ, hành vi (KT-TĐ-HV) và thực tế tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức

a

khỏe của phụ nữ có thai, bạn tình của họ, các cặp vợ chồng và gia đình như là một đơn vị chủ thể của hoạt động PLTMC trong bối cảnh rộng hơn về SKSS&GT, bao gồm cả dự phòng ban đầu cho cặp vợ chồng trước và trong khi mang thai;

Xác định các yếu tố hành vi và văn hóa , các rào cản và cơ hội để nam giới tham gia nhiều hơn

Thiết kế nghiên cứu

Các số liệu được thu thập qua 115 cuộc thảo luận nhóm tập trung, phỏng vấn sâu và phỏng vấn người cung cấp thông tin chính tại 6 quận của 3 tỉnh có tỷ lệ lây nhiễm cao ở Việt Nam là Quảng Ninh,

An Giang và TPHCM Tại mỗi tỉnh đó, có 1 huyện đã có các dịch vụ PLTMC theo dự án của UNICEF và

1 huyện khác chưa có (nhưng có thể huyện này cũng đã có, nhưng do các tổ chức khác tài trợ) Các

số liệu được thu thập từ nam và nữ nhiễm HIV (một vài người trong số họ đã được nhận các dịch vụ PLTMC), phụ nữ mang thai và bạn tình của họ (người hoặc chưa làm xét nghiệm HIV hoặc đã từng làm nhưng có kết quả âm tính), thành viên gia đình, lãnh đạo địa phương và các cán bộ cung cấp dịch vụ tại tỉnh, huyện và xã Số liệu được phân tích và xử lý bằng phần mềm Nvivo

Các phát hiện chính

Nhóm nghiên cứu đã khảo sát những yếu tố văn hoá-xã hội, sự giao tiếp trong gia đình, giao tiếp giữa hai vợ chồng và vấn đề ra quyết định để xem liệu các vấn đề này có ảnh hưởng đến việc thai phụ quyết định tiếp cận dịch vụ khám thai tại các thời điểm khác nhau trong thai kỳ và chấp nhận dịch vụ PLTMC Những yếu tố này cũng giúp đưa ra một nhận định rõ ràng về quyết định sinh đẻ, trò chuyện

về tình dục, tránh thai và chăm sóc sức khoẻ

Trang 10

Kiến thức và nhận thức về lây nhiễm HIV của nam và nữ giới khá tốt nhưng kiến thức về PLTMC thì còn tương đối hời hợt Cả nam và nữ đều có thái độ rất tích cực đối với các hoạt động PLTMC cũng như đánh giá cao thái độ của chăm sóc và hỗ trợ của các nhân viên y tế trong thời kỳ họ mang thai.

Phụ nữ thường đưa ra lựa chọn và tự chủ trong các quyết định về CSSKSS vì điều đó cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến chính cơ thể họ Những quyết định này ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội và bởi các thành viên trong gia đình, nhưng phụ nữ vẫn nhận thức được quyền tự quyết của họ, đặc biệt đối với quyết định xét nghiệm HIV trong quá trình khám thai định kỳ Theo quan điểm về quyền của

nữ giới, các nỗ lực ngăn cản không cho họ thực hiện quyền này là trái với đạo đức

Mặt khác các quyết định liên quan đến sinh sản (có thai hay phá thai) đều có sự tham gia của cả phụ

nữ và nam giới và cũng chịu ảnh hưởng từ phía gia đình và xã hội Vấn đề về giới tính và sức khoẻ tình dục (SKTD) thường không được thảo luận, nhưng nó lại đóng vai trò quan trọng trong chương trình PLTMC Sự tham gia của nam giới trong dự phòng lây truyền HIV cơ bản cho phụ nữ (thành tố 1) và dự phòng có thai ngoài ý muốn (thành tố 2) đã được thấy rõ trong nghiên cứu này Nhiều nam giới thường tránh thảo luận về các hành vi nguy cơ và khả năng nhiễm HIV với vợ hoặc bạn gái của

họ và thậm chí còn do dự khi tiết lô tình trạng dương tính của họ Do vậy thế phụ nữ bị đặt vào tình thế dễ bị tổn thương vì họ vẫn quan hệ tình dục (QHTD) với bạn tình mà không dùng biện pháp bảo

vệ hoặc có thai mà không biết được các thông tin cần thiết về bạn tình Nghiên cứu cho thấy, một số phụ nữ khi được phỏng vấn đã nói rằng nếu họ được biết trước tình trạng nhiễm HIV của chồng họ thì họ đã có những quyết định khác trong việc kết hôn, cũng như trong QHTD với chồng mà không dùng biện pháp bảo vệ, có thai và thậm chí kể cả việc phá thai

Cuối cùng, việc chẩn đoán nhiễm HIV cần phải được xem xét trong bối cảnh văn hóa – xã hội rộng lớn

và đang thay đổi nhanh chóng tại Việt Nam Những ảnh hưởng của các chiến dịch vận động phòng chống tệ nạn xã hội, trong đó nhiễm HIV bị coi là tệ nạn, vẫn còn tồn tại dù đã giảm bớt Trong một đất nước với những chuẩn mực xã hội đóng vai trò quan trọng và nhà nước ra sức củng cố các thông điệp đó, cả nam và nữ giới đều bị áp lực về các hành vi của mình trong khuôn khổ chuẩn mực được

xã hội chấp nhận Các chuẩn mực đó bao gồm việc thừa nhận và củng cố tích cực một số mô hình gia đình nhất định, có liên kết chặt chẽ với đạo Khổng và các truyền thống văn hóa khác Tương tự như vậy, những gia đình và cá nhân chưa thích nghi sẽ ít được ủng hộ và thừa nhận hơn, và có thể

bị coi như một kiểu cô lập văn hóa – xã hội Việc tiếp thu các thông điệp xã hội như vậy không phải

là không phổ biến, và sẽ có một vòng luẩn quẩn của sự ngượng ngùng, hổ thẹn do những chỉ trích

và cô lập của xã hội gây ra

Đối với những cặp vợ chồng nhiễm HIV, để đi tới quyết định sinh con, họ cần thảo luận về khả năng lây nhiễm HIV trước khi có thai và cần đi làm xét nghiệm Sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với những người nhiễm HIV có thể là một nguyên nhân khiến nam giới hiếm khi nói cho vợ biết về những hành

vi nguy cơ và thậm chí cả về tình trạng nhiễm HIV của họ Việc giấu giếm tình trạng nhiễm HIV với

vợ và người thân gia đình, việc mẹ chồng ủng hộ con trai cưới vợ mà không cho con dâu biết về tình trạng nhiễm bệnh của con trai có thể được giải thích qua những chuẩn mực về xã hội và văn hóa như vậy

Các dịch vụ PLTMC ở Việt Nam đã tập trung mở rộng ở thành tố thứ 3 của quy trình tiếp cận toàn diện, đó là dự phòng lây truyền từ mẹ nhiễm HIV sang trẻ sơ sinh Nghiên cứu này cũng phát hiện thấy cả nam và nữ giới, các gia đình và các nhân viên y tế đều gắn chương trình PLTMC với thành tố thứ 3 và thậm chí hiểu đơn giản PLTMC được thực hiện qua hai hoạt động: nuôi con bằng thức ăn thay thế và thuốc dự phòng ARV Việc mở rộng và tăng cường về chiều sâu của chương trình PLTMC cho nhân viên y tế cũng như cho cộng đồng là điều cần phải làm, đặc biệt khi nhìn vào khía cạnh

sự tham gia của nam giới Nghiên cứu này khẳng định một lần nữa với các nhà quản lý, các nhà làm

Trang 11

chính sách và các nhân viên y tế rằng, không như các nơi khác trên thế giới, thực tế ở Việt Nam nam giới hầu như không ngăn cản vợ mình làm xét nghiệm trong thời gian mang thai hay tiếp cận thuốc

dự phòng ARV và họ thậm chí có ít ảnh hưởng đến các quyết định nuôi con Nghiên cứu này cũng nhắc cho thấy chương trình PLTMC bao hàm ý nghĩa rộng hơn là chỉ đơn thuần bảo vệ trẻ sơ sinh khỏi lây nhiễm

Sự tham gia của nam giới trong vệc chăm sóc trẻ sơ sinh (CSSKSS) nổi lên như một vấn đề cần được quan tâm Việc ủng hộ phụ nữ nuôi dưỡng trẻ bằng một phương pháp duy nhất (bằng sữa bột hoặc

bú sữa mẹ) là rất cần thiết, đặc biệt khi việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ không phải là phương pháp phổ biến trên thực tế, và khi việc nuôi con chỉ bằng sữa bột còn gặp nhiều khó khăn, và vô hình chung sẽ dẫn đến kết quả các bà mẹ nuôi con bằng thức ăn hỗn hợp

Khuyến nghị

Tiếp cận PLTMC toàn diện đòi hỏi phải có một chương trình tập trung vào cả 4 thành tố theo như khuyến nghị của Liên hiệp quốc Ở Việt Nam, nam giới có thể đóng vai trò quan trọng trong hai thành

tố đầu của chương trình PLTMC Những khuyến nghị chung cho công tác truyền thông thay đổi hành

vi (TTTĐHV) và cung cấp dịch vụ đã được đưa ra, kèm theo một mô hình thử nghiệm dựa vào ba cấp

độ thay đổi: cấp cá nhân (các hành vi lành mạnh), cấp xã hội (hỗ trợ xã hội), cấp chính sách/chương trình (tạo môi trường thuận lợi), với các hoạt động cho mỗi thành tố của quy trình tiếp cận toàn diện của Liên hiệp quốc đối với chương trình PLTMC

Trong thành tố thứ nhất, thay đổi hành vi quan trọng nhất ở cấp độ cá nhân là khuyến khích sử dụng BCS đối với nam giới nhiễm HIV Điều này đòi hỏi phải có nhiều nam giới đi xét nghiệm và tiết lộ tình trạng của họ hơn Nghiên cứu phát hiện rằng sự kỳ thị và phân biệt đối xử cũng như nỗi lo sợ bị hắt hủi đã khiến họ không muốn đi làm xét nghiệm, cũng như không muốn tiết lộ tình trạng bệnh của mình Nghiên cứu đề xuất mô hình giáo dục và tiếp cận cộng đồng kết hợp với các phương tiện truyền thông sẽ khuyến khích nam giới đi làm xét nghiệm và tiết lộ tình trạng bệnh của họ với vợ hoặc bạn tình Các dịch vụ tăng cường, như xét nghiệm miễn phí cho nam giới sắp kết hôn hoặc cho phụ nữ có chồng nhiễm HIV cũng sẽ góp phần khuyến khích họ làm xét nghiệm và tiết lộ tình trạng bệnh của mình

Trong thành tố thứ 2, thay đổi hành vi quan trọng nhất là phòng tránh thai nếu như các cặp vợ chồng không muốn sinh con Trong nghiên cứu, một số phụ nữ cho biết họ không có kế hoạch sinh con hoặc mong rằng họ biết được tình trạng của mình trước khi có thai để có thể phòng tránh thai Để điều này trở thành một sự lựa chọn thực sự cần có dịch vụ xét nghiệm trước khi mang thai cho các cặp vợ chồng thông qua gói dịch vụ CSSK bao gồm thăm khám tình trạng sức khoẻ, thông tin chung

về sức khoẻ và dịch vụ làm xét nghiệm Xét nghiệm sớm trong thời kỳ mang thai và nhanh chóng trả kết quả xét nghiệm có thể giúp những phụ nữ mong muốn bỏ thai có cơ hội để thực hiện lựa chọn của mình Với những người mong muốn tiếp tục giữ thai, việc sớm tiếp cận với thuốc dự phòng ARV

sẽ tốt hơn cho đứa trẻ Trong thành tố thứ 2, việc tăng cường công tác tư vấn cho các cặp vợ chồng là rất cần thiết để giúp họ có một lựa chọn—Không thụ thai, phá thai hay tiếp tục giữ thai vì nam giới

sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết định này

Trong thành tố thứ 3 và 4, sự tham gia của nam giới trong thời gian người vợ mang thai và trong khi sinh cũng có thể là một hình thức hỗ trợ Mô hình đề xuất việc mời nam giới tham gia vào những ngày đặc biệt để hiểu về sự thai nghén và sinh đẻ cũng như các dịch vụ PLTMC, và nam giới cũng sẽ được tư vấn về nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ sơ sinh Cuối cùng, cần tư vấn tốt hơn cho những phụ nữ

có kết quả xét nghiệm HIV(-) để tránh bị nhiễm HIV trong tương lai

Trang 12

Kết luận

Nghiên cứu định tính cho thấy sự tham gia của nam giới trong việc ủng hộ vợ đi xét nghiệm HIV trong dịch vụ chăm sóc thai sản định kỳ và tiếp cận các dịch vụ liên quan đến chăm sóc PLTMC là rất hạn chế Nghiên cứu cũng cho thấy cần nỗ lực tăng cường sự tham gia của nam giới vào thành tố 1

và 2 của các quy trình PLTMC toàn diện và đưa ra những lợi ích, lý do căn bản của việc làm này Trong khi Bộ y tế cố gắng mở rộng hoạt động PLTMC trên toàn quốc thì cũng nên áp dụng một cách có hiệu quả những kiến nghị và những phát hiện liên quan đến vấn đề về tiếp cận, chất lượng chăm sóc, quyền lợi của người bệnh và sau cùng là nhằm giảm tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở phụ nữ và trẻ em

Trang 13

I Thông tin chung (tham khảo phụ lục 1 để xem bài phê bình hoàn chỉnh)

A Tình hình HIV/AIDS trên thế giới và tại Việt Nam

Ước tính trên thế giới hiện có khoảng 33,2 triệu người đang sống chung với HIV/AIDS, trong đó khoảng 2,5 triệu trẻ em dưới 15 tuổi (UNAIDS/WHO 2007) Tỷ lệ nhiễm ở các quốc gia châu Á vẫn ở mức độ thấp hơn so với các châu lục khác, nhưng do là các nước đông dân nên dù tỷ lệ lây nhiễm thấp nhưng số lượng người sống chung với HIV/AIDS ở Châu Á lại rất cao (UNAIDS/WHO 2007 và UNICEF Việt Nam 2006) Các hành vi nguy cơ cao như tiêm chích ma túy và quan hệ tình dục không bảo vệ, chủ yếu là mại dâm, đang tiếp tục làm gia tăng đại dịch này ở châu Á (cùng tài liệu nêu trên) Tuy nhiên những nỗ lực dự phòng chưa đủ để giải quyết hai vấn nạn này (cùng tài liệu nêu trên) Nam giới có các hành vi nguy cơ cao cũng có thể đang là bạn tình lâu năm hoặc đã kết hôn, và theo quan niệm xã hội thì có quyền quan hệ tình dục không dùng biện pháp bảo vệ với bạn tình hoặc vợ (UNAIDS/WHO 2007 và BYT 2008a) Áp lực phải sinh con ở các nước châu Á rất cao, và vì vậy hầu hết phụ nữ đều có thể có thai, do đó trẻ cũng có nguy cơ bị lây nhiễm từ người mẹ trong quá trình mang thai, trong khi sinh hoặc khi bú mẹ (Oosterhoff 2008, Chương 1) Vì vậy, rất nhiều nước ở châu Á đang chứng kiến sự lây lan HIV vượt ra khỏi các nhóm dễ bị ảnh hưởng như những người tiêm chích ma túy (TCMT), người hành nghề mại dâm (HNMD), khách mua dâm và lan rộng ra ngoài xã hội, bao gồm cả phụ nữ có thai và trẻ em (UNAIDS/WHO 2007 và UNICEF Việt Nam 2006)

Đại dịch ở Việt Nam hiện vẫn đang được cho là đại dịch tập trung, với tỷ lệ lây nhiễm cao trong nhóm những người tiêm chích ma túy, quan hệ tình dục đồng giới nam, và người hành nghề mại dâm Từ năm 1990 đến 2006, đã phát hiện 106.288 trường hợp nhiễm HIV ở Việt Nam (UNICEF Việt Nam 2006

và BYT 2006), và theo ước tính của UNAIDS thì tổng số người sống chung với HIV dao động trong khoảng 150.000-430.000 (UNAIDS 2007) Ở Việt Nam, khi mà dịch mới chỉ khu trú ở nhóm tiêm chích

ma túy thì không có gì là ngạc nhiên khi mà mọi nỗ lực được tâp trung để tiếp cận đến nhóm người này Tuy nhiên theo Nguyễn và Cộng sự thì nguy cơ lây truyền HIV trong giới nữ ở Việt nam là cao hơn mức ước tính (2003) Họ giải thích thêm rằng “con số được báo cáo có thể chỉ thể hiện một tỷ lệ rất nhỏ và chỉ bằng 16% con số thực tế (Nguyễn và nhóm cộng sự, 2003) Mặc dù mô hình dự báo có khoảng 98.500 trường hợp nhiễm HIV trong nữ giới trong năm 2005, thì con số trong các báo cáo của ngành y tế chỉ là 15.633 Điều đó có nghĩa là trong năm 2005, có khoảng 83.000 phụ nữ nhiễm HIV chưa được ngành y tế phát hiện” (cùng tài liệu nêu trên) Số liệu giám sát trọng điểm được thực hiện hàng năm cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong số phụ nữ có thai đang gia tăng nhanh chóng trong hơn 10 năm qua, từ 0,02% trong năm 1994 lên tới 0,37% năm 2005 (BYT 2006) Trong năm 2005, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong số phụ nữ có thai ở một số tỉnh rất cao: hơn 1% ở Hà Nội và Quảng Ninh và 2%

ở Thái Nguyên (BYT 2006) Ước tính có khoảng 8.500 trẻ em dưới 15 tuổi đang sống chung với HIV ở Việt Nam (BYT 2006)

Uớc tính mỗi năm Việt Nam có thêm khoảng 1,8 đến 2 triệu trẻ sơ sinh Hầu hết phụ nữ (90%) được khám thai và 88% phụ nữ được trợ giúp bởi người đỡ đẻ có kỹ năng (GSO, 2006) Gần 2\3 các ca đẻ được thực hiện tại các cơ sở y tế (cùng tài liệu nêu trên) Hình thức nuôi con bằng sữa mẹ thì khá phổ biến và trẻ tiếp tục được nuôi con bằng hình thức này trong suốt 1 năm đầu, tuy nhiên, chỉ có khoảng 16,9% các bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (cùng tài liệu nêu trên)

Với tỷ lệ hiện nhiễm HIV là 0,37% trong số phụ nữ có thai, ước tính có khoảng từ 5.000-7.000 phụ nữ đang sống chung với HIV sinh con hàng năm (BYT 2006) Tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con, nếu không có bất kỳ can thiệp nào, sẽ dao động trong khoảng từ 15%-25% trong số trẻ không bú mẹ và

từ 25%-40% trong số trẻ bú mẹ (De Cock và cộng sự, 2000) Vì vậy ở Việt Nam sẽ có khoảng 3.000 trẻ em bị nhiễm nếu không được can thiệp (BYT 2006) Nếu được điều trị dự phòng, tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn xấp xỉ 10%, và như vậy số trẻ em bị nhiễm có thể giảm xuống chỉ còn khoảng

Trang 14

1.200-Có thể kết luận rằng, đại dịch ở Việt Nam đã, đang và có thể sẽ tiếp tục gia tăng tỷ lệ hiện nhiễm và mắc mới ra phạm vi các đối tượng rộng hơn, bao gồm cả nhóm bạn tình lâu năm của những nam giới có các hành vi nguy cơ Vì sinh con là một quan niệm văn hóa lâu đời đối với các cặp bạn tình lâu năm, nên cả phụ nữ có thai và trẻ sơ sinh đều là những đối tượng dễ bị ảnh hưởng Hiện tại, do tỷ lệ làm xét nghiệm trong các nhóm nêu trên còn thấp cộng với các định kiến về giới tính, cần phải chú trọng tới các nỗ lực PLTMC.

B Các văn bản hướng dẫn quốc tế về PLTMC

Liên hợp quốc đã áp dụng phương pháp tiếp cận 4 thành tố để ngăn ngừa sự lây truyền từ mẹ sang con (WHO 2007) Phương pháp tiếp cận 4 thành tố này nhằm bảo vệ và hỗ trợ sức khỏe cho cả mẹ và con, và kết hợp cả dự phòng cơ bản cũng như PLTMC (WHO 2007)

Thành tố 1: Dự phòng lây truyền HIV cơ bản trong nhóm phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ

Thành tố 2: Dự phòng có thai ngoài ý muốn trong nhóm phụ nữ có HIV dương tính

Thành tố 3: Dự phòng lây nhiễm từ mẹ có HIV+ sang trẻ sơ sinh

Thành tố 4: Chăm sóc và hỗ trợ phụ nữ, trẻ em và các gia đình bị nhiễm hoặc bị ảnh

hưởng bởi HIV/AIDS

C Chương trình Hành động quốc gia và các văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế:

Bộ Y tế Việt Nam đã soạn thảo một chương trình hành động quốc gia (2006 - 2010) để giải quyết vấn

đề PLTMC (BYT 2006) Chịu trách nhiệm thực hiện ở cấp trung ương là Cục Phòng chống AIDS Việt Nam và Vụ Sức khỏe sinh sản

Mục tiêu tổng thể của chương trình hành động quốc gia của BYT là giảm tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con xuống dưới 10% cho đến năm 2010 (cùng tài liệu nêu trên) Các mục tiêu cụ thể là đảm bảo

tỷ lệ lây nhiễm trong nhóm phụ nữ có thai ở mức thấp hơn 0,5%, 90% phụ nữ có thai được tư vấn, 60% làm xét nghiệm, 100% phụ nữ có HIV đã đăng ký khám và con của họ được điều trị dự phòng và 90% được chăm sóc sau khi sinh và tiếp tục được theo dõi (cùng tài liệu nêu trên)

Chương trìnhhành động này bao gồm các hoạt động xã hội, hỗ trợ kỹ thuật, và các hoạt động tổ chức/quản lý Trách nhiệm thuộc về các cấp khác nhau, như các bệnh viện tỉnh, các trạm y tế quận huyện, và các trạm y tế xã, cũng như các vụ và các đơn vị hành chính đã được nêu tên Chương trình hành động này nêu rõ các dịch vụ PLTMC sẽ được mở rộng ra tất cả 64 tỉnh thành trong thời gian từ 2008-2010

D Các vấn đề về giới ở Việt Nam và những mối liên hệ tiềm tàng đối với PLTMC

Việt Nam, đặc biệt so với các nước khác trong khu vực, đã tiến bộ vượt bậc trong việc cải thiện bình đẳng giới (Đánh giá về Giới ở Việt Nam, 2006) Các kết quả về y tế và giáo dục nhìn chung đã được cải thiện, và các cơ hội kinh tế đã được mở rộng cho cả nam giới và nữ giới Tuy nhiên, những định kiến

về giới vẫn còn rất nặng nề, và liên quan nhiều tới việc ra quyết định trong gia đình, làm việc nhà, và thái độ đối với nam giới và nữ giới tại nơi làm việc và trong xã hội (cùng tài liệu nêu trên) Báo cáo Đánh giá về Giới ở Việt Nam năm 2006 chỉ ra sự bất bình đẳng trong khối lượng công việc, trong đó

nữ giới phải làm việc trung bình là 13 giờ mỗi ngày, còn nam giới trung bình chỉ làm có 9 giờ (cùng

Trang 15

tài liệu nêu trên) Sự bất bình đẳng này có thể được giải thích với một thực tế rằng nữ giới phải dành một lượng thời gian ngang bằng cho các hoạt động kiếm thu nhập, nhưng đồng thời vẫn phải làm phần lớn các việc trong nhà (cùng tài liệu nêu trên) Trong thời gian mang thai và sau khi sinh nở, đặc biệt là khi phải giải quyết các nhu cầu phát sinh về việc chăm sóc và hỗ trợ liên quan đến HIV, sự bất bình đẳng về giới này có quan hệ tới tình trạng sức khỏe của cả mẹ và con.

Xét ở mức độ gia đình, người chồng vẫn luôn được coi là người có quyền quyết định chính trong gia đình ngay cả trong xã hội đương đại ở Việt Nam (Knodel et al 2004) Văn hóa Việt Nam vẫn mang tính gia trưởng, coi người chồng và người cha là người chủ của gia đình (cùng tài liệu nêu trên) Gia đình là đơn vị cơ bản ở Việt Nam, và mô hình gia đình hạt nhân là phổ biến (cùng tài liệu nêu trên) Các mối quan hệ gia đình là các mối quan hệ quan trọng nhất ở Việt Nam, đặc biệt đối với dân tộc chiếm đa số là dân tộc Kinh, vì đối với họ, các mối quan hệ cộng đồng, thị tộc và làng xóm thường không quan trọng bằng mối quan hệ gia đình (cùng tài liệu nêu trên) Các gia đình Việt Nam vì vậy sống rất riêng tư và độc lập, điều đó có nghĩa là chồng và vợ thường phụ thuộc và hỗ trợ lẫn nhau

về đạo đức, tình cảm và tài chính Chồng và vợ có thể trao đổi với nhau về những quyết định quan trọng, tuy nhiên, nếu có sự khác biệt, thì ý kiến của người chồng thường sẽ được coi trọng hơn (cùng tài liệu nêu trên)

Xã hội Việt Nam rất coi trọng cuộc sống gia đình, việc kết hôn và sinh con (thường chỉ sinh con sau khi kết hôn) luôn được mong đợi và khuyến khích (Oosterhoff 2008, Chương 1) Vai trò làm mẹ rất

có giá trị, được tôn kính nhất, và phụ nữ kết hôn với mong muốn là họ sẽ sớm có con (cùng tài liệu nêu trên) Mẹ chồng, mẹ đẻ, và các thành viên khác trong gia đình đều động viên họ có con và do vậy họ có thể đóng vai trò tích cực trong việc mang thai và sinh nở, đặc biệt đối với những phụ nữ trẻ, lần đầu tiên làm mẹ (cùng tài liệu nêu trên) Tư tưởng thích có con trai, đặc biệt là ở một số vùng quê hiện vẫn còn rất phổ biến— vì theo truyền thống nho giáo, cần phải có con trai để duy trì dòng

họ (Oosterhoff, trên báo Văn hóa, Sức khỏe và Giới tính) Các quyết định về khả năng sinh sản được nhìn nhận tùy từng bối cảnh văn hóa xã hội, trong đó các quan điểm và áp lực của toàn bộ gia đình

có ảnh hưởng rất mạnh mẽ

Oosterhoff cho thấy một áp lực rất lớn, kèm theo các nền tảng văn hóa và sức ép từ phía gia đình buộc người phụ nữ phải có con Bà nhấn mạnh rằng là một người mẹ sẽ nâng cao vị thế của một cuộc hôn nhân, và rằng một cặp vợ chồng đã kết hôn nếu không có con thì sẽ không có hạnh phúc trọn vẹn (cùng tài liệu nêu trên) Khuynh hướng thích con trai rất mạnh mẽ, và trong trường hợp người chồng là người con trai duy nhất trong gia đình, thì áp lực phải có con càng lớn (cùng tài liệu nêu trên) Động cơ thúc đẩy trong những trường hợp như vậy thường là mong ước sớm có một đứa cháu trai để nối dõi tông đường Luận cương của bà cũng chỉ ra một số ví dụ về những đứa con trai

là những người sử dụng ma túy, thậm chí đã biết về tình trạng nhiễm HIV, nhưng vẫn được gia đình khuyến khích kết hôn, với hy vọng là sẽ “ngay lập tức” sinh ra một đứa con trai, và đôi khi là mong muốn để có một đứa cháu nội Những người phụ nữ bị ràng buộc bởi các cuộc hôn nhân này có thể không được biết về tình trạng HIV của chồng họ, và sẽ quan hệ tình dục với chồng mà không dùng biện pháp bảo vệ Thậm chí sau khi biết về tình trạng HIV của chồng, họ có thể vẫn quyết định có thai vì những định kiến gia đình, văn hóa và xã hội xoay quanh việc kết hôn và sinh con (cùng tài liệu nêu trên)

Trong khi khó có thể rút ra được các kết luận chung về hành vi tình dục của các cặp vợ chồng, thì việc đàn ông đã có vợ có quan hệ với gái mại dâm là chuyện rất bình thường – một số người có thể rất ít khi làm chuyện này, trong khi những người khác lại là khách hàng thường xuyên (Trần Đức Hòa và nhóm nghiên cứu, 2007) Những lần quan hệ với gái mại dâm thường là đi cùng với bạn bè là nam giới, hoặc với các nam đồng nghiệp trong những lần đi giao dịch công việc (cùng tài liệu nêu trên) Trong những trường hợp như vậy, ngoài việc quan hệ với gái mại dâm, những người đàn ông này

Trang 16

thường uống rượu Những người đàn ông này thú nhận rằng rất khó từ chối những lời mời như vậy

Và không chắc rằng họ có luôn sử dụng bao cao su trong những lần quan hệ như vậy hay không vì

họ thường làm chuyện đó sau khi đã uống rượu (cùng tài liệu nêu trên)

Đồng thời, chồng thường không có nguyên tắc phải trao đổi thẳng thắn với vợ về tình dục Trong khi

họ thường trao đổi với nhau về con cái, các vấn đề tài chính, sức khỏe, và hy vọng về tương lai, thì tình dục luôn là một chủ đề kiêng kị Đàn ông thường thích trao đổi về tình dục với bạn bè của họ, và phụ nữ cũng có thể làm tương tự như vậy, các chủ đề như khoái cảm tình dục thường ít được nữ giới trao đổi hơn so với nam giới (cùng tài liệu nêu trên) Vì vậy, nam giới và nữ giới bị rơi vào trong một vòng xoáy khi mà họ không thể trao đổi một cách cởi mở với nhau về khoái cảm tình dục, và họ cho

là bình thường khi vừa có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân để đạt được khoái cảm, vừa quan hệ với vợ/chồng để sinh con (cùng tài liệu nêu trên)

II Mục đích của nghiên cứu

Bộ Y tế, với sự hỗ trợ của Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Lương thực Thế giới (UNFPA) đã thực hiện nghiên cứu này về sự tham gia của nam giới vào chương trình PLTMC, các rào cản và cơ hội, cũng như sự sẵn sàng của nam giới trong việc hỗ trợ bạn tình của họ tham gia vào các can thiệp PLTMC, bao gồm dự phòng cơ bản trước và trong khi mang

thai, cũng như tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện (TVXNTN) (tham khảo Phụ lục 2 về điều khoản tham chiếu).

Nghiên cứu này nhằm để:

Xác định kiến thức, thái độ, hành vi và thực tế tìm kiếm các dịch vụ sức khỏe của phụ nữ có

a

thai, bạn tình của họ, các cặp vợ chồng và gia đình như là một đơn vị chủ thể PLTMC trong bối cảnh rộng hơn về Sức khỏe sinh sản và giới tính (SKSS&GT), bao gồm cả dự phòng ban đầu cho cặp vợ chồng trước và trong khi mang thai;

Xác định các yếu tố hành vi và văn hóa, các rào cản và cơ hội để nam giới tham gia nhiều hơn

Nghiên cứu này là cơ sở để đề xuất một loạt các khuyến nghị và các mô hình can thiệp nhằm để gia tăng sự tham gia của nam giới

III Phương pháp và Thiết kế nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu bao gồm một chuyên gia tư vấn quốc tế, một nghiên cứu viên cao cấp và 4 nghiên cứu viên người Việt Nam (hai nam và hai nữ) Bốn nghiên cứu viên này được chia thành 2 nhóm – một nhóm đi Quảng Ninh và nhóm kia đi thực hiện nghiên cứu ở 2 tỉnh phía Nam BYT và UNICEF hỗ trợ

về mặt kỹ thuật, giám sát và hậu cần cho các nhóm

Trang 17

A Các khu vực thu thập số liệu

Vì đại dịch ở Việt Nam là đại dịch tập trung nên một số tỉnh thành có tỷ lệ lây nhiễm cao hơn các tỉnh thành khác Các dịch vụ HIV/AIDS nói chung, và các dịch vụ PLTMC nói riêng thường được cung cấp

tại các quận huyện trọng điểm tại các tỉnh thành có tỷ lệ lây nhiễm cao (xem phụ lục 3 về bản đồ các địa điểm có chương trình PLTMC thông qua dự án do UNICEF hỗ trợ) Nghiên cứu này tập trung

thu thập số liệu từ ba tỉnh thành có nguy cơ cao nhưng rất khác nhau nhằm đưa ra một nhìn nhận chính xác hơn về các vấn đề và những mối liên quan Vì các dịch vụ PLTMC không được cung cấp tại tất cả các quận huyện của 3 tỉnh có nguy cơ cao này, nên việc chọn mẫu được thực hiện tại cả các quận huyện có dịch vụ và các quận huyện không có dịch vụ

Các tỉnh thành này bao gồm tỉnh Quảng Ninh ở miền Bắc, là tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV cao, chủ yếu do

sử dụng ma túy Mặc dù tỉnh có cả các khu vực đô thị và nông thôn, các số liệu ở tỉnh này chủ yếu tập trung ở các khu vực cận đô thị và vùng nông thôn Địa điểm thứ hai là T.P Hồ Chí Minh, một thành phố chủ yếu là đô thị, là nơi đại dịch gia tăng do ma túy và mại dâm, và cũng do tình trạng nhập cư Tỉnh thứ ba là An Giang, giáp với biên giới Cam-pu-chia, là nơi có đại dịch gia tăng do ma túy và mại dâm, và cả do tình trạng lao động nhập cư và mại dâm qua biên giới Ba tỉnh thành này rất khác nhau

về văn hóa và kinh tế- xã hội và vì vậy, việc ra quyết định trong gia đình, thái độ trong gia đình, và các mối quan hệ vợ chồng cũng có thể rất khác nhau

Các số liệu được thu thập ở tổng cộng 6 quận, huyện Sáu quận huyện này bao gồm 3 quận, huyện

đã cung cấp các dịch vụ PLTMC kể từ năm 2005 và 3 quận huyện còn lại chưa hề được cung cấp bất

kỳ một dịch vụ PLTMC nào Việc so sánh giữa các địa bàn đã có và chưa có các dịch vụ PLTMC rất có ích trong việc xác định các mức độ nhận thức về PLTMC và sự cởi mở trong việc trao đổi về các vấn

đề có liên quan đến HIV

B Các phương pháp nghiên cứu:

Áp dụng một số các phương pháp nghiên cứu định tính, bao gồm phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm

tập trung, quan sát các cơ sở y tế, và phỏng vấn bán cấu trúc (tham khảo phần Thiết kế và Kế hoạch nghiên cứu ở Phụ lục 4 và các bảng câu hỏi ở Phụ lục 5).

Nhóm nghiên cứu phát triển các câu hỏi, và dựa vào đó, xây dựng một bộ câu hỏi điều tra và các tài liệu hướng dẫn cho các nhóm đối tượng tham gia phỏng vấn khác nhau Để đánh giá các cơ sở y tế, nhóm đã xây dựng một bộ câu hỏi theo cấu trúc và tài liệu hướng dẫn quan sát Các bộ câu hỏi điều tra này đã được thử nghiệm trước ở một bệnh viện phụ sản ở Hà Nội và sau đó đã được sửa đổi lại

Cả nhóm đã tham gia thảo luận trong một ngày về các bộ câu hỏi điều tra này để chuẩn bị cho việc thu thập số liệu

Địa bàn thu thập số liệu đầu tiên là tỉnh Quảng Ninh, và hai nghiên cứu viên (một nam và một nữ)

đã thu thập thông tin cùng với chuyên gia tư vấn quốc tế Các cuộc họp phản hồi được tổ chức hàng ngày và riêng cuộc họp vào ngày thứ ba của chuyến thu thập số liệu được tổ chức lâu hơn Một cuộc họp phản hồi khác được tổ chức sau chuyến đi thực địa đầu tiên của hai nghiên cứu viên tại tỉnh Quảng Ninh với hai nghiên cứu viên đi thực địa tại miền Nam Cả nhóm nghiên cứu cùng kiểm tra chéo các phát hiện thu được tại các cơ sở y tế với các phát hiện được lấy trong các báo cáo đánh giá khi kết thúc dự án, vì cả hai nghiên cứu này đều được thực hiện gần như là tại cùng một thời điểm

Trang 18

C Thu thập số liệu

Tổng cộng đã thực hiện được 115 cuộc phỏng vấn, trong đó có 31 cuộc được thực hiện tại tỉnh

Quảng Ninh, 40 cuộc ở in TP HCM và 44 cuộc ở tỉnh An Giang (tham khảo danh sách những người được phỏng vấn tại Phụ lục 6):

29 cuộc phỏng vấn với các nhân viên tại các cơ sở y tế

hoặc đã từng làm xét nghiệm nhưng có kết quả âm tính

13 cuộc phỏng vấn /thảo luận nhóm với chồng/bạn tình của những phụ nữ này

11 cuộc phỏng vấn /thảo luận nhóm với các thành viên trong gia đình của các nam giới/nữ

giới nhiễm HIV

5 cuộc phỏng vấn /thảo luận nhóm với các thành viên trong cộng đồng có con dâu/con gái

đang có thai

Rất may mắn, nhóm nghiên cứu đã phỏng vấn được một nhóm phụ nữ có thai, tất cả các ông chồng

và bố mẹ chồng của họ Việc này không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được, vì các ông chồng của họ phải đi làm, hoặc bố mẹ chồng sống ở xa Vì vậy, trong một 2-3 cuộc phỏng vấn khác, nhóm chỉ phỏng vấn được một số các ông chồng/bạn tình hoặc mẹ đẻ/mẹ chồng của những phụ nữ có tham gia vào cuộc thảo luận nhóm Ở TP HCM, vì khó tiến hành phỏng vấn những người có liên quan với nhau, nên trong một số trường hợp nhóm đã tiến hành phỏng vấn những nam và nữ giới nhiễm HIV và mẹ đẻ/mẹ chồng của những người nhiễm HIV nhưng họ không hề có quan hệ gì với nhau

Cuộc phỏng vấn được ghi âm và gỡ băng ra bằng tiếng Việt Sau đó các đoạn băng này được dịch sang tiếng Anh Sau khi đã hoàn tất việc thu thập số liệu, chuyên gia tư vấn quốc tế gặp riêng từng

cá nhân nghiên cứu viên để làm rõ nội dung của cuộc phỏng vấn, trao đổi về những ấn tượng ban đầu và kiểm tra các quá trình thu thập số liệu

D Phân tích

Sau khi đã gỡ băng và dịch sang tiếng Anh, một cuộc họp tổng kết đã được tổ chức giữa nhóm nghiên cứu, BYT và UNICEF để cùng phân tích các kết quả thu được Các số liệu được nhập vào phần mềm NVivo và được mã hóa, sau đó được sắp xếp theo các dòng điều tra thông tin đã được phát triển Các mối liên hệ và các yếu tố gia đình chính có ảnh hưởng tới việc chấp nhận và sử dụng các dịch vụ PLTMC cũng được hình thành

Trưởng nhóm nghiên cứu đã lập dự thảo báo cáo, dựa trên các cuộc thảo luận với các nghiên cứu viên, các báo cáo tóm tắt của các nghiên cứu viên và bản phân tích bằng chương trình NVivo Dự thảo báo cáo này đã được chia xẻ và chỉnh sửa dựa trên các ý kiến nhận xét của các nghiên cứu viên, BYT, UNICEF và các tổ chức quốc tế khác Các mô hình và đề xuất được phát triển tại cuộc hội thảo sau khi dự thảo báo cáo được trình bày, trong đó có sự tham dự của các đại diện từ các tổ chức UNFPA, WHO và các tổ chức quốc tế khác

Trang 19

E Những hạn chế của nghiên cứu này

Hầu hết các số liệu được thu thập tại các tỉnh thành có tỷ lệ hiện nhiễm cao với hỗ trợ rất lớn từ các

tổ chức quốc tế Vì vậy kiến thức, thái độ và thực hành có thể tốt hơn so với các tỉnh thành khác

Một trong những thách thức lớn nhất đối với chương trình PLTMC là phải đảm bảo tỷ lệ thấp nhất của số phụ nữ bị mất theo dõi Theo như các phát hiện của nghiên cứu, khoảng từ 1/3 đến ½ số phụ

nữ được xét nghiệm và có kết quả dương tính không quay lại để lấy kết quả của họ và không thể theo dõi tiếp được Hiểu rõ về những nhận thức và thực tế của việc sống chung với HIV trong những phụ nữ nói trên sẽ giúp chúng ta nhìn nhận được bản chất của vấn đề, giúp cải thiện chương trình PLTMC, kể cả sự tham gia của nam giới Vì không thể tiến hành phỏng vấn những phụ nữ này và gia đình của họ, nghiên cứu này đã phải đặt ra một số giả định về những vấn đề và những quan ngại mà những người phụ nữ này đang phải đối mặt, dựa trên các số liệu thu được từ những phụ nữ nhiễm HIV, bạn tình và người thân của họ

Quá trình thu thập số liệu trong cuộc nghiên cứu này gặp rất nhiều khó khăn Thay vì cần một nhóm thì cuộc nghiên cứu cần tới hai nhóm nghiên cứu quốc gia đi thu thập số liệu và chuyên gia tư vấn quốc tế không thể theo sát cả quá trình thu thập số liệu Hơn nữa, việc gỡ băng mất rất nhiều thời gian do số liệu thu thập rất nhiều và chính điều này cũng khiến chất lượng của các bản dịch không được tốt

Cuộc nghiên cứu này tập trung tìm hiểu sự tham gia của nam giới vào các quyết định sức khoẻ sinh sản Và vì vậy, các cuộc phỏng vấn đã được thực hiện với những nam giới và nữ giới hiện đang có mối quan hệ lâu dài (hầu hết là các cặp vợ chồng hợp pháp) hoặc họ đã goá vợ (chồng) Vì vậy cuộc nghiên cứu không đề cập đến những phụ nữ không thuộc nhóm những người có mối quan hệ lâu dài và cũng phải chú ý rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định của họ Ngoài ra, cuộc nghiên cứu cũng không thấy sự ảnh hưởng của các nam thành viên trong gia đình như bố chồng

và bố đẻ, về vấn đề sức khoẻ sinh sản của phụ nữ, vì trên thực tế nghiên cứu thu thập được nhiều thông tin từ các bà mẹ chồng và mẹ đẻ nhiều hơn và cũng có rất ít số liệu được thu thập từ hoặc về ảnh hưởng của họ

Trang 20

Các phát hiện chính

Năm loại câu hỏi được phát triển để dùng trong

nghiên cứu này là:

Sự hiểu biết về HIV trong các thành viên

mang thai, khi sinh và sau khi sinh là gì?

Tình trạng HIV có ảnh hưởng như thế nào

đối với vai trò này? Mối quan hệ giữa tình

trạng HIV và có con là gì? Nam giới và phụ

nữ cảm thấy thế nào về mối quan hệ này?

Họ thông tin cho nhau về vấn đề này

bằng cách nào?

Các quyết định về việc chăm sóc và hỗ

3

trợ trong khi mang thai, trong lúc sinh

và sau khi sinh được thực hiện như thế

nào? Tình trạng HIV (đã biết rõ, còn nghi

ngờ, không biết) có ảnh hưởng gì tới các

quyết định này? Ai là người có ảnh hưởng

tới các quyết định đó và ảnh hưởng như

thế nào? Nam giới có quan điểm và cảm

sẵn có cho phụ nữ mang thai có nguy cơ/

đã nhiễm HIV? Nam giới có thể tham gia

như thế nào tại thời điểm này? Những

kinh nghiệm thực tế của phụ nữ đã nhận

PLTMC hiện đang cung cấp? Các dịch vụ

này đang được cung cấp như thế nào? Ai

đang tiếp cận các dịch vụ này? Ai chưa

được tiếp cận, và lý do vì sao lại chưa tiếp

cận được?

Những lĩnh vực nghiên cứu này đã giúp nhóm

nghiên cứu hiểu sâu hơn về các yếu tố văn

hóa-xã hội, sự giao tiếp trong gia đình và giữa hai vợ

chồng có ảnh hưởng như thế nào đến việc phụ

nữ có thai quyết định tiếp cận dịch vụ khám thai

tại các thời điểm khác nhau trong thai kỳ và chấp

có thể kết luận là do những khác biệt giữa miền Bắc và miền Nam của Việt Nam, tuy nhiên, văn hóa, các thành phần di cư và các điều kiện kinh tế

xã hội có thể là nguyên nhân của những sự khác biệt này Những sự khác biệt này được phân ra thành 3 lĩnh vực sau:

Vai trò và ảnh hưởng của các thành

• viên trong gia đình đối với việc ra các quyết định:

Vấn đề này có vẻ mạnh mẽ hơn ở Quảng Ninh

so với hai tỉnh thành ở trong Nam Nhóm nghiên cứu cảm thấy một phần là do các cặp vợ chồng ở các tỉnh trong Nam có thể sống tương đối xa gia đình của họ, đôi khi là do nhu cầu việc làm Ngoài

ra còn có một cảm nhận khác là nhìn chung các cặp vợ chồng trong Nam sống độc lập hơn, họ thường có khuynh hướng giữ khoảng cách với hàng xóm, với cộng đồng và các thành viên trong gia đình họ và vợ chồng thường sống dựa vào nhau nhiều hơn

Sự gần gũi giữa các cặp vợ chồng

• nhiễm HIV:

Nghiên cứu này cũng phát hiện thấy nhiều trường hợp tại các tỉnh trong Nam, các cặp vợ chồng trở nên gần gũi với nhau hơn sau khi biết được tình trạng HIV của họ, hoặc duy trì được sự gần gũi giữa hai vợ chồng Ở Quảng Ninh, các cặp vợ chồng nhiễm HIV khi được phỏng vấn đã bày tỏ

sự buồn bã và thất vọng nhiều hơn, đặc biệt là trong các trường hợp khi mà người vợ không biết

gì về tình trạng HIV của chồng mình Ở An Giang

và TP HCM, các cặp vợ chồng nhiễm HIV nói rằng

họ sống dựa vào sự hỗ trợ lẫn nhau là chính và cùng trao đổi về tương lai và cuộc sống của con cái họ Có những ví dụ về sự lo ngai và quan tâm của những người chồng

Mong muốn có con của các cặp vợ

• chồng nhiễm HIV:

Nghiên cứu cho thấy rằng áp lực phải có một đứa con, và chấp nhận có một đứa con, kể cả khi đã nhiễm HIV, ở Quảng Ninh cao hơn so với ở An Giang và TP HCM Trong khi nhiều cặp vợ chồng

ở TPHCM và An Giang thẳng thắn nói rằng họ không có kế hoạch sinh con, thì ở Quảng Ninh, các cặp vợ chồng đã thú nhận là họ muốn có một đứa con, hoặc đang cố gắng hoặc đang lên

kế hoạch chờ đợi thêm một thời gian nữa trước khi có thai Ngoại trừ các trường hợp các cặp vợ chồng đã có một con/nhiều con

Trang 21

đó cũng giúp mang lại một nhận định rõ ràng về quyết định sinh con, thảo luận về tình dục, phòng tránh thai và chăm sóc sức khoẻ.

Các kết quả nghiên cứu được sắp xếp theo 3 mục tiêu nghiên cứu

Kiến thức, thái độ, hành vi và thực tế tìm kiếm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của phụ nữ có

A Kiến thức, thái độ, hành vi và thực tế tìm kiếm các dịch vụ y

tế của phụ nữ có thai, bạn tình của họ, các cặp vợ chồng và gia đình

A.1 Kiến thức và nhận thức về HIV, PLTMC và chăm sóc thai sản

Mặc dù kiến thức tổng thể về lây truyền HIV, trong đó có lây truyền mẹ con, của cả nam và nữ giới, người nhiễm và không nhiễm HIV đều khá tốt, nhưng vẫn còn tồn tại những hiểu nhầm về sự lây truyền Những điều này cho thấy vẫn còn sự sợ hãi, lo ngại lây nhiễm HIV, cũng như sự kỳ thị liên quan đến HIV Tuy nhiên, khi được hỏi về những hoạt động nào là có nguy cơ, thì sự hiểu biết của mọi người rất khác nhau Một số câu trả lời cho thấy họ hiểu nhầm, khi nghĩ rằng việc dùng chung dụng cụ để cắt tóc hoặc cắt móng chân/móng tay, giặt chung quần áo, dùng chung bàn chải đánh răng, khăn mặt và xà phòng và cả việc ăn uống cùng nhau, dùng chung bát và đũa là có nguy cơ bị lây nhiễm

“Tôi biết một người bị nhiễm HIV nên thỉnh thoảng tôi tránh xa họ, vì cũng có thể có nguy cơ

Đi cạo râu hoặc lấy ráy tai cũng có thể có nguy cơ Nếu dùng chung mọi thứ với những người nhiễm, chúng ta cũng sẽ bị nhiễm Theo tôi biết thì HIV không thể bị lây truyền do muỗi đốt

Đi cạo râu và cắt móng tay cũng có thể nguy hiểm nên tôi mua đồ riêng và sử dụng ở nhà

(cười).” Bạn tình nam của một phụ nữ có thai, Tân Châu, An Giang

“…qua đường máu, quan hệ tình dục, tiếp xúc với máu và bị nhiễm, chơi bời trác táng, tiêm

chích ma túy, quan hệ tình dục bừa bãi, dùng chung dao cạo râu, bàn chải đánh răng, xà

phòng ” Thành viên trong gia đình của người nhiễm, Tân Châu, An Giang

b Phòng lây truyền mẹ con

Mặt khác, kiến thức về PLTMC, đặc biệt là của nam giới còn rất khiêm tốn, thậm chí ở cả những

địa phương đã được tiếp nhận các dịch vụ PLTMC Mặc dù nhiều nam giới cho rằng các quyết định

Trang 22

về sức khoẻ sinh sản nên dành cho phụ nữ nhưng họ vẫn rất quan tâm về tương lai của con cái họ và luôn muốn tìm hiểu các biện pháp để bảo vệ vợ, con mình.

“Em lấy chồng năm 22 tuổi, 23 tuổi có con, và góa chồng năm 25 tuổi Chồng em làm việc ở

tận Cam-phu-chia, anh ấy không sử dụng ma túy Nhưng em nghĩ chính chồng em là người

đã lây bệnh cho em Có người đã bảo là em nên dùng BCS khi quan hệ tình dục với chồng.”

Một phụ nữ nhiễm HIV, Tịnh Biên, An Giang

“Tôi có nghe về vấn đề đó, những tôi chẳng hiểu lắm Tôi nghe nói rằng mẹ bị nhiễm có

thể uống thuốc để tránh lây nhiễm sang cho con Tôi đã bảo con gái tôi phải cẩn thận để tránh không lây sang cho con nó, để biết cách phòng tránh cho đứa bé Khi tôi nhìn thấy nó nhai cơm và đút cho con nó, tôi bảo nó đừng làm như thế nữa Các nhân viên y tế ở trạm xá

phường có đến nhà thăm để giải thích và hướng dẫn về cách phòng bệnh cho đứa bé” Mẹ

của phụ nữ nhiễm HIV, Quận 6, TP HCM

“Để tránh lây truyền HIV cho con trong khi mang thai, thì cần phải đi đến trạm y tế để khám

thai, sau khi sinh, không cho con bú Khi tắm cho con, tôi phải đeo găng tay để tránh bị trầy

xước có thể làm lây truyền HIV sang cho con vì da trẻ rất non và yếu.” Nam nhiễm HIV, Yên

Hưng, Quảng Ninh

Các cán bộ y tế và các nhà lãnh đạo cho biết trong khi các thông điệp về sự lây truyền HIV/AIDS được tuyên truyền rộng rãi thì các thông điệp về PLTMC lại không được nhắc đến thường xuyên và chỉ gần đây mới được tuyên truyền Trong khi nhiều người biết được rằng phụ nữ bị nhiễm HIV có thể lây truyền cho con của họ, nhưng lại có rất ít kiến thức về cách dự phòng lây truyền mẹ con

“Chúng tôi không biết gì về điều đó (PLTMC) Đó là một chương trình mới nên chúng tôi

không biết Tôi chỉ biết là có trường hợp phụ nữ bị nhiễm HIV vẫn có thể sinh ra con không bị nhiễm Phương pháp chính để dự phòng là nuôi con bằng sữa bột (sữa công thức) Phần lớn chúng tôi biết được điều này là do được các cán bộ y tế tư vấn cho Nhưng trước đây tôi chưa

từng thấy dịch vụ này ở đây.” Chồng của phụ nữ có thai, Uông Bí, Quảng Ninh

c Chăm sóc phụ nữ mang thai

Nhận thức của phụ nữ và các thành viên nữ trong gia đình về chăm sóc thai sản rất tốt Họ đều thấy được tầm quan trọng của việc khám thai định kỳ, làm xét nghiệm, sinh ở những cơ sở an toàn và tầm quan trọng của việc nghỉ ngơi và ăn uống đủ chất

Nhìn chung nam giới biết là phụ nữ có thai cần được nghỉ ngơi và ăn uống đủ chất, nhưng không biết thông tin về những lần đi khám thai tại các cơ sở y tế Nhìn chung, họ có rất ít kiến thức về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản và những vấn đề khác về chăm sóc thai sản Một vài phụ nữ thông báo cho chồng mình về những điều xảy ra trong khi khám thai, còn những người khác thì không

Một số ông chồng có quan tâm, nhưng những người khác thì chẳng quan tâm gì hết Một

số là do đi làm về mệt, những người khác thì đi nhậu nhẹt – nên chẳng quan tâm gì cả.” Một

thành viên trong gia đình,Tân Châu, An Giang

“Đối với một số cặp vợ chồng, người vợ thông báo cho chồng mình rằng hôm nay họ sẽ đi

khám thai hoặc hỏi ý kiến chồng về việc đi làm xét nghiệm nhưng những người khác thì không vì ở nơi họ ở hầu hết nam giới phải đi làm từ sáng sớm đến tận khuya mới về, vì thế những người vợ tự quyết định và sau đó thông báo cho chồng họ biết kết quả Hơn nữa,

những người chồng cũng không mấy quan tâm về những vấn đề này” Một nam giới nhiễm

HIV, Tân Châu, An Giang

Trang 23

A.2 Thái độ đối với chương trình PLTMC

a Thái độ đối với việc sử dụng BCS nếu nhiễm HIV

Nghiên cứu cho thấy trong số các cặp nhiễm HIV, nhiều cặp nói rằng họ sử dụng BCS khi biết là họ

bị nhiễm HIV Thái độ về việc sử dụng BCS nhìn chung rất tích cực, tuy nhiên nam giới nói rằng họ không đạt khoái cảm như trước đây Sử dụng BCS để phòng tránh lây nhiễm và tránh thai khi một người bị nhiễm HIV cũng được một số cặp vợ chồng thực hiện thường xuyên

“Khi em biết là em bị nhiễm, em bảo chồng em dùng BCS để phòng tránh những điều xấu và

anh ấy nghe theo.” Một phụ nữ nhiễm HIV , Quận 6, TP HCM

“Sau khi kết hôn, tôi vẫn luôn dùng BCS cho đến tận bây giờ, tôi đã khuyên cô ấy đi làm xét

nghiệm rất nhiều lần, cuối cùng thì cô ấy cũng đi xét nghiệm và kết quả là âm tính.” Một nam

giới nhiễm HIV, Yên Hưng, Quảng Ninh

b Thái độ về việc sinh con nếu nhiễm HIV

Nghiên cứu thấy cả nam và nữ giới nhiễm HIV đều cho rằng các cặp vợ chồng nhiễm HIV không nên sinh con Điều này trái ngược với thực tế, khi rất nhiều cặp vợ chồng nhiễm HIV vẫn có con

Trong nhiều trường hợp, người phụ nữ phát hiện ra tình trạng của họ trong khi mang thai Dựa vào những thông tin cả nam và nữ giới đều cho rằng các cặp vợ chồng nhiễm HIV không nên sinh con,

một câu hỏi được đặt ra là liệu các cặp vợ chồng có thay đổi quyết định về việc sinh con hay không nếu họ biết được tình trạng nhiễm HIV của họ trước khi có thai

Một vài phụ nữ nhiễm HIV khẳng định rõ rằng họ không muốn sinh con vì tình trạng nhiễm bệnh của họ

“Tôi biết là tôi đã bị nhiễm HIV nên tôi không muốn có con để tránh truyền HIV sang cho vợ

và con.” Một nam giới nhiễm HIV, Uông Bí, Quảng Ninh ,

“Nhiều ông chồng không muốn có con bởi họ sợ đứa trẻ cũng sẽ bị nhiễm.”

nhiễm HIV, Tân Châu, An Giang

“Tôi sợ vì tôi rất yếu Tôi không thể kiếm đủ tiền để trang trải cuộc sống Tôi cũng không chắc

của em, nhưng em rất lo lắng cho tương lai Em hy vọng là em có thể có con.” Một phụ nữ

nhiễm HIV, Uông Bí, Quảng Ninh

“Chúng tôi thường nói chuyện với nhau về vấn đề tình dục, thường là về chuyện cần phải sử

dụng một số biện pháp tránh thai Nhưng bây giờ chúng tôi thực sự muốn có một đứa con, nên chúng tôi không sử dụng biện pháp tránh thai nào cả Chúng tôi chỉ bàn với nhau để

quan hệ vào đúng thời điểm để có thể có con.” Một nam giới nhiễm HIV, Quận 6, TP HCM

Một số phụ nữ phát hiện ra tình trạng HIV của họ khi đang mang thai nói rằng họ sẽ đi nạo thai nếu họ phát hiện ra tình trạng của họ sớm hơn Đôi khi, chính chồng hoặc gia đình chồng ép họ phải giữ thai

“Thực lòng thì em không muốn có con với anh ấy, vì anh ấy đã có con riêng rồi, chúng em

cũng đã có một đứa con gái; khi em có thai được một tháng, em muốn đi nạo thai Lúc đầu anh ấy cũng đồng ý với em, sau đó anh ấy nói làm như thế là trái với đạo đức Khi em đang đi tới bệnh viện để phá thai, anh ấy đuổi theo và nói rằng “dừng lại, bố anh bảo em phải giữ lại

Trang 24

cái thai này, mình đã có 2 con gái, nên nếu có thêm một đứa con trai sẽ tốt hơn.” Một phụ nữ

nhiễm HIV, Yên Hưng, Quảng Ninh

“Nếu tôi biết về việc này sớm hơn, tôi đã đi phá thai rồi Tôi tiếc là tôi chỉ biết về tình trạng này

khi tôi đã có thai được 5 tháng.” Một phụ nữ nhiễm HIV, Quận 6, TP HCM

Thái độ đối với việc chăm sóc thai sản

Hầu hết nam giới, nữ giới và các thành viên trong gia đình đều rất ủng hộ việc làm xét nghiệm trong khi mang thai

“Đa số các ông chồng ủng hộ làm xét nghiệm HIV Nhưng chúng tôi chỉ làm xét nghiệm HIV

cùng với các xét nghiệm khác khi chúng tôi có thai chứ không làm xét nghiệm HIV riêng vào

những thời điểm khác vì chồng sẽ nghĩ là chúng tôi không tin tưởng họ.” Phụ nữ có thai , Uông

Bí, Quảng Ninh

“Tôi nghĩ là mọi người đều cần làm xét nghiệm HIV, vì như vậy chúng ta sẽ biết là bản thân

mình có nhiễm hay không Tất cả phụ nữ có thai đều nên làm xét nghiệm để biết cách phòng

tránh cho con họ.” Một phụ nữ nhiễm HIV, Uông Bí, Quảng Ninh.

Có lẽ phát hiện bất ngờ nhất trong cuộc nghiên cứu này là những người phụ nữ thể hiện sự tự chủ trong việc tự quyết định làm xét nghiệm HIV trong thời kỳ mang thai Bằng việc đưa xét nghiệm HIV vào thành một phần của chăm sóc thai sản, hoạt động này được đón nhận như một phần của loạt dịch vụ mọi người phải làm trong thời gian mang thai, và có rất ít sự kỳ thị đối với hoạt động này Hơn nữa, việc đưa xét nghiệm HIV vào thành một phần của hoạt động chăm sóc thai sản đã giúp điều này nằm trong quyền quyết định của phụ nữ, có nghĩa là phụ nữ có thể quyết định có hoặc không làm xét nghiệm Cuộc nghiên cứu này mạnh dạn khuyến nghị rằng hầu hết các ông chồng và thành viên trong gia đình nên ủng hộ việc làm xét nghiệm thường xuyên trong những lần khám thai hơn tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện riêng biệt cho phụ nữ mang thai

“Đối với một số cặp vợ chồng, người vợ thường thông báo cho chồng mình rằng hôm nay

họ sẽ đi khám thai hoặc hỏi ý kiến chồng về việc làm xét nghiệm, nhưng nhiều người khác thì không, vì ở nơi họ ở hầu hết nam giới phải đi làm từ sáng sớm đến tận khuya mới về, do vậy người vợ tự quyết định và sau đó thông báo cho chồng họ biết kết quả Hơn nữa, những

người chồng cũng không mấy quan tâm về những vấn đề này” Một nam giới nhiễm HIV, Tân

Thái độ đối với việc chăm sóc trẻ sơ sinh

Tất cả các bà mẹ rất có ý thức bảo vệ sức khỏe cho con họ và nói rằng họ làm theo đúng hướng dẫn của bác sĩ Họ đều biết là cần phải làm theo đúng hướng dẫn của bác sĩ để có lợi và bảo vệ sức khỏe cho con của họ Cả nam giới và nữ giới đều chấp nhận hình thức nuôi con bằng thức ăn thay thế tuy nhiên họ gặp phải một vài khó khăn về chi phí cho hình thức nuôi con này Các thành viên trong gia đình cũng chấp nhận hình thức nuôi con bằng thức ăn thay thế

A.3 Hành vi và thực tế tìm kiếm dịch vụ y tế của phụ nữ có thai và bạn tình:

Nghiên cứu cho thấy vai trò của nam giới đối với việc ra quyết định trong thời kỳ trước sinh, trong khi sinh và nuôi dưỡng trẻ, bao gồm việc làm xét nghiệm thường xuyên trong thời gian mang thai là không đáng kể Tuy nhiên, nam giới lại có vai trò lớn trong các quyết định về sinh sản và SKTD, bao gồm việc thảo luận về các hành vi nguy cơ, sự mang thai, quyết định có con hay không và các quyết định về ngừng mang thai

Như nhiều các nghiên cứu khác tại Việt Nam, nghiên cứu chỉ ra rằng việc ra quyết định của nữ giới

Trang 25

về sinh sản, mang thai, sinh con và tìm kiếm dịch vụ y tế khi mang thai, khi sinh và sau sinh, ở cả góc

độ sức khỏe cho bản thân cũng như sức khỏe của trẻ, bị ảnh hưởng do nhiều các yếu tố phức hợp,

và lần lượt những yếu tố này hình thành và tác động lên sở thích và nguyện vọng của nữ giới Những

sở thích và nguyện vọng này lại tương tác với một số các yếu tố cùng loại, gây ra tác động mạnh mẽ đến hoạt động và hành vi chăm sóc sức khỏe cho nữ giới và con của họ

Trong nghiên cứu này, cả nam và nữ giới, cũng như các thành viên cộng đồng, cán bộ y tế khẳng định

nhiều lần rằng quyết định sử dụng dịch vụ SKSS là do người phụ nữ Một điều rất quan trọng là

các quyết định này chủ yếu trong thời kỳ trước và trong khi sinh, và là kết quả của các tương tác và tác động bên ngoài cơ sở y tế đến người phụ nữ Hơn nữa, nghiên cứu cũng cho thấy sự tin tưởng

và tôn trọng cao của phụ nữ Việt Nam (và cả người nhà) đối với các cán bộ y tế có thể ảnh hưởng đến mức độ chọn trên thực tế - phụ nữ thường ngần ngại không dám phản đối ý kiến của cán bộ

y tế Trong bối cảnh những thuật ngữ ‘hướng dẫn’, ‘tư vấn’ và ‘lời khuyên’ vẫn còn bị lẫn lộn, và ranh giới giữa việc ‘giúp người phụ nữ quyết định chọn lựa’ và ‘tư vấn để phụ nữ có quyết định đúng đắn’ còn chưa rõ ràng, do vậy chưa thể kết luận rằng người phụ nữ có thực sự toàn quyền quyết định lựa chọn hay không Cuối cùng, khi một số dịch vụ SKSS vẫn là miễn phí (như dịch vụ PLTMC), các quyết định liên quan đến chi trả, đặc biệt đối với các dịch vụ thiết yếu, cần phải được bàn bạc với cả người chồng/bạn tình Ví dụ, một trong những nguyên nhân dẫn đến việc phụ nữ không đồng ý các xét nghiệm có thể liên quan đến giá thành của xét nghiệm đó Nhưng nếu là xét nghiệm này là miễn phí,

họ sẽ cảm thấy thoải mái hơn trong việc tự đưa ra quyết định

a Sự tham gia của nam giới trong các quyết định SKSS và SKGT

Quyết định về tình dục, SKTD và sinh nở cần được phân biệt với quyết định về chăm sóc trước sinh hoặc khi sinh tại các cơ sở y tế Những quyết định như vậy thường bị ảnh người chồng và gia

đình tác động mạnh Các quyết định về sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT) được thảo luận giữa

vợ và chồng, đặc biệt khi quyết định bắt đầu hay ngừng sử dụng BPTT để quyết định có hay không sinh con

“Chúng tôi ít khi nói về chuyện đó (tình dục và những vấn đề có liên quan như tránh thai)

nhưng trước khi có con chúng tôi có nói chuyện với nhau về chuyện đó, khi chúng tôi muốn

có con, chúng tôi thôi không nói chuyện đó nữa (tránh thai).” Chồng của một phụ nữ có

thai,Tân Châu, An Giang

Các cặp vợ chồng có thể có hoặc không trao đổi về các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) Nhưng thường thì nam giới không thảo luận với vợ về vấn đề này do sợ bị quy kết là không chung thủy Ngược lại, họ thường thảo luận với bạn bè nhiều hơn, kể cả những lo lắng làm thế nào mà bị nhiễm bệnh Họ có thể tự mua thuốc chữa hoặc đi đến bác sỹ Một số nam giới cũng nói rằng họ cảm thấy thoải mái khi nói với vợ về chủ đề SKTD, phần lớn nói rằng đây vẫn là chủ đề kiêng kỵ Thảo luận

về SKTD cũng liên quan đến các vấn đề tiết lộ trình trạng nhiễ HIV hoặc quyết định đi xét nghiệm cho cả hai

“Ví dụ, khi tôi có QHTD với gái mại dâm mà tôi không rõ về vấn đề lây truyền qua đường tình

dục, tôi nói với bạn tôi rằng tôi đã ngủ với gái mại dâm và đã không dùng BCS tuy nhiên tôi

đã xuất tinh ra ngoài mà không xuất tinh vào trong Vậy thì liệu tôi có bị nhiễm không? Đại

loại là thế ” Chồng của một phụ nữ mang thai, Tân Châu, An Giang

“Những chuyện riêng tư liên quan đến tình dục thì đàn ông thường hay tâm sự với bạn bè,

sau đó nếu không tìm ra giải pháp, họ sẽ về tâm sự với vợ Họ không bao giờ tâm sự ngay với vợ về vấn đề của họ Giải pháp cuối cùng là họ sẽ đi khám bác sĩ hoặc tự mua thuốc về

để uống Tôi cho rằng như thế là không đúng lắm, nhưng bản chất đàn ông vốn là vậy.” Hội

Nông dân, Tân Châu, An Giang

Trang 26

Hơn nữa, nếu không có sự đồng ý của người chồng và gia đình thì người phụ nữ không thể một mình quyết định việc bỏ thai Đôi khi người chồng hoặc gia đình còn ép họ phải giữ thai ngay cả khi họ muốn phá thai (xem thêm trong nghiên cứu trường hợp 2).

“Thực ra tôi không muốn có con với chồng tôi vì anh ta đã có một đứa con riêng, chúng tôi

cũng đã có chung với nhau một đứa con gái rồi; khi tôi có thai được một tháng tôi muốn phá thai Mới đầu chồng tôi đồng ý với tôi nhưng sau đó anh ta nói điều đó không bình thường Khi tôi đang trên đường đến bệnh viện thì anh ta chạy theo và nói “dừng lại, bố anh bảo phải

giữ đứa trẻ, mình đã có 2 đứa con gái rồi, có thêm một thằng con trai nữa càng tốt” Một phụ

nữ nhiễm HIV, Yên Hưng- Quảng Ninh

b Sự tham gia của nam giới trong thời kỳ người phụ nữ mang thai và sinh con

Nhiều cặp vợ chồng và các thành viên trong gia đình nói rằng người chồng có đưa vợ đi khám thai mặc dù còn tùy vào công việc của họ và cơ sở y tế có gần nhà hay không Dường như đa số các ông chồng đi cùng vợ từ 1-2 lần, đặc biệt là khi có thai lần đầu Các ông chồng trên thực tế thường không

đi cùng vợ vào trong phòng khám, mà chỉ đợi ở bên ngoài hoặc ở một quán cà phê gần đó Một số ông chồng thì đưa vợ đến đó rồi đi làm Một số ông chồng cũng nói là họ mới là người nhắc nhở vợ

đi khám thai và tự chăm sóc cho bản thân

Họ (phụ nữ) thường cảm thấy tự tin hơn khi đi cùng chồng Nếu họ lười đi khám thai và

được chồng nhắc nhở, họ sẽ đi thường xuyên hơn- chị biết đấy, chồng là chỗ dựa cho vợ mà

Chồng của phụ nữ có thai, Quận 6, TP HCM

Nhiều ông không đưa vợ đi khám thai được là vì họ phải đi làm, chứ không phải là vì không

Một người hiểu là cần phải giúp đỡ vợ, nhưng lại nói rằng

“Tôi nghèo nên tôi phải đi kiếm tiền cả ngày, những người khác cũng vậy Chúng tôi không

giàu như những người khác, chỉ ở nhà và chăm sóc vợ Tất nhiên là chúng tôi muốn chăm sóc

vợ lắm chứ (giọng rất buồn)…” Chồng của một phụ nữ có thai, Tân Châu, An Giang

Như đã đề cập ở trên, các quyết định về chăm sóc SKSS là dành cho phụ nữ Vì vậy thành tố thứ 3 của chương trình PLTMC tập trung vào sự tương tác giữa những phụ nữ có thai và các nhân viên y tế, vì nếu những người chồng có đưa vợ đến phòng khám thai hoặc phòng sinh thì họ cũng chờ ở bên ngoài Các nhân viên y tế cho biết có ít trường hợp người chồng ngăn cản vợ làm xét nghiệm HIV và

có một vài phụ nữ sợ bị nói ra tình trạng nhiễm bệnh của họ Một vài phụ nữ sợ tình trạng nhiễm HIV của họ sẽ bị tiết lộ ra bên ngoài, tuy nhiên những người lo lắng về tính bảo mật có thể sẽ cung cấp sai địa chỉ hoặc bỏ đi sau khi làm xét nghiệm

Mặc dù trên thực tế, đa số nam giới và phụ nữ đều nói rằng các quyết định liên quan đến việc có thai

và sinh con là quyền của phụ nữ, họ cũng nói rằng có người chồng vẫn có quyền có ý kiến, hoặc yêu cầu vợ đến hoặc không được đến cơ sở y tế nào đó và vợ phải nghe theo Họ cũng nói rằng vì chồng

là người đóng vai trò chính trong việc hỗ trợ, động viên vợ đi kiểm tra hoặc áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe nào đó nên cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với vợ

Theo truyền thống ở Việt Nam, đàn ông luôn có vị trí quan trọng hơn phụ nữ Khi chồng đã

quyết định là vợ phải nghe theo Vậy nên phụ nữ khó có thể nói ra những điều trái với ý kiến

của chồng Phụ nữ nhiễm HIV, Yên Hưng, Quảng Ninh

Trang 27

“Người chồng đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe và chia sẻ với vợ việc

nuôi dạy con cái, nhắc nhở nhau uống thuốc đều đặn và yêu thương lẫn nhau.” Nam giới

nhiễm HIV, Quận 6, TP HCM

“Trong khi bàn bạc, chồng đưa ra ý kiến và vợ phải nghe theo chồng và không được cãi

bướng.” Phụ nữ có thai, Hóc Môn, TP HCM

c Sự tham gia của nam giới trong quyết định làm xét nghiệm HIV

Nhiều người nói rằng đàn ông có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và động viên phụ nữ, nhưng quyết định cuối cùng vẫn là của phụ nữ Mọi người cũng ủng hộ vì làm như vậy là vì lợi ích của đứa trẻ

“Nếu tôi muốn làm xét nghiệm, tôi có thể tự quyết định mà không cần phải hỏi ý kiến chồng

Và thậm chí nếu tôi có hỏi thì chồng tôi cũng sẽ đồng ý Ngày nay, cả vợ lẫn chồng đều cùng

kiếm được tiền.” Một phụ nữ có thai, Tịnh Biên, An Giang

“Tôi nghĩ là phụ nữ tự quyết định, chồng ít có ảnh hưởng, anh ấy sẽ không ngăn cản nếu điều

đó có lợi cho vợ và con Một số ông chồng có thể hỏi: tại sao phải làm xét nghiệm khi chẳng

có bệnh gì, làm xét nghiệm thì phải lấy nhiều máu lắm, nhưng quyết định là ở người vợ, nếu

ngăn cản vợ làm xét nghiệm là không bình thường” Phụ nữ nhiễm HIV , Uông Bí, Quảng Ninh

“Tôi tự quyết định đi làm xét nghiệm vì nó tốt cho tôi Sau khi làm xét nghiệm tôi nói cho

chồng tôi biết, anh ấy nói làm thế cũng tốt Tôi không thấy có người chồng nào phản đối việc

đó cả.” Một phụ nữ có thai, Tân Châu, An Giang

Trong một số trường hợp, nam giới và phụ nữ không đồng ý làm xét nghiệm nói chung và cụ thể hơn là làm xét nghiệm HIV Các lý do đưa ra là sợ bị lấy máu, đau đớn, các chi phí liên quan đến xét nghiệm, v.v Điều này cũng giống với các phát hiện trong đánh giá khi kết thúc dự án

“Không (vợ tôi không sợ phát hiện ra bệnh) Cô ấy chỉ sợ bị lấy máu thôi Cô ấy là vợ tôi nên tôi

hiểu rõ mà Tôi có động viên, nhưng cô ấy không chịu Tôi biết làm gì nữa đây? Tôi bảo cô ấy là đừng sợ gì hết Nhưng vợ tôi tả cho tôi cách người ta lấy máu ra sao Như thế này này (anh ta

làm mẫu bằng 2 ngón tay) nên cô ấy sợ.” Chồng của một phụ nữ có thai, Tân Châu, An Giang

Ngoài ra, đàn ông nói sẽ nói với vợ rằng họ không cần phải đi làm xét nghiệm HIV vì họ là những

“người đàn ông tử tế”, tuy nhiên đây chỉ là trường hợp ngoại lệ chứ không phải ai cũng vậy

Ý tôi là chúng tôi rất đứng đắn, tử tế thì sao lại phải đi xét nghiệm, chỉ phí công mà thôi Chỉ

những người chơi bời trác táng thì mới phải đi xét nghiệm để biết cách mà trị bệnh thôi

Chồng của phụ nữ có thai , Tịnh Biên, An Giang

Một số cơ sở cho rằng trong một số ít trường hợp, phụ nữ từ chối làm xét nghiệm vì họ sợ biết được

về tình trạng của họ, hoặc chồng họ không muốn để họ biết về tình trạng của họ

“Tất nhiên rồi, nhiều người trong nhóm đã thuyết phục vợ đi làm xét nghiệm HIV nhưng

chồng cô ấy rất gầy.” Chủ nhiệm CLB đồng cảm, Yên Hưng, Quảng Ninh

Ở một vài nơi, một số người được phỏng vấn tiết lộ rằng có trường hợp nghi là dương tính và từ chối làm xét nghiệm, các nhân viên y tế sẽ đến nhà họ, đôi khi mang theo cả kim tiêm để lấy máu

Chồng em không chịu đi, họ đến nhà em để lấy máu Lúc đó em sắp sinh Họ cho em làm xét

Trang 28

nghiệm trước khi sinh chừng

1 tháng Em không biết là em

bị nhiễm, em chỉ biết trước khi

em sinh có vài ngày Một phụ

nữ nhiễm HIV, Uông Bí, Quảng

Ninh

d Sự tiết lộ tình trạng nhiễm HIV

và phản ứng của nam giới

Nghiên cứu chỉ ra rằng phần lớn phụ

nữ đều tiết lộ ngay tình trạng của

họ với bạn tình của mình Tuy nhiên,

nam giới không thường xuyên tiết lộ

tình trạng của mình với phụ nữ, và

trong một số trường hợp, họ đã hoàn

toàn che giấu được hành vi nguy cơ của họ với vợ Nghiên cứu cũng có được nhiều ví dụ về những người nam giới rất giúp đỡ và yêu thương người vợ bị nhiễm HIV của họ, và trong một vài trường

hợp, những người chồng còn giúp đỡ vợ của họ ngay cả khi vợ họ bị nhiễm trong khi họ thì không (Xem phần nghiên cứu trường hợp 1) Có một điều dễ thấy rằng đặc biệt ở các tỉnh phía nam, các cặp

vợ chồng nhiễm HIV rất tin tưởng, phụ thuộc tình cảm lẫn nhau, và hỗ trợ cho nhau rất nhiều

Những phụ nữ được phỏng vấn đã làm xét nghiệm trong khi mang thai thường không biết gì về tình trạng của họ Đa số phụ nữ có xét nghiệm HIV(+) đều thông báo cho chồng biết về tình trạng của họ Không có ai nói là bị bạo hành, vì đa số các trường hợp, họ đều bị lây nhiễm từ chồng Trong nhiều trường hợp, những phụ nữ đã nghi ngờ chồng họ có những hành vi nguy cơ cao thì họ đã có chuẩn

bị về mặt tinh thần Còn trong những trường hợp khác, người phụ nữ thường bị sốc Nhìn chung, những phụ nữ cho biết họ phản ứng bằng cách tỏ ra thất vọng và cáu giận với chồng họ nhưng cuối cùng vẫn phải chấp nhận điều này như một thực tế

“Em buồn lắm Khi chồng em biết tin, anh ấy còn buồn chán hơn cả em nữa Anh ấy không

thể chịu đựng được điều đó Em phải đi theo để an ủi anh ấy” Một phụ nữ nhiễm HIV có chồng

không nhiễm, Tịnh Biên, An Giang

“Em bị sốc khi nghe tin chồng em bị dương tính Em chắc là mình cũng bị nhiễm rồi, vì em

biết là chúng em chẳng dùng BCS bao giờ Lúc đó, em chẳng nghĩ được gì ngoài lo cho tương lai của đứa con lớn Em đang có thai và tất cả những gì em có thể nghĩ tới đó là đứa con lớn

của em, vì em chắc chắn là em sẽ chết và cả chồng em và đứa con trong bụng này nữa “Một

phụ nữ nhiễm HIV, Uông Bí, Quảng Ninh

Một số trường hợp khác thì có chồng đã làm xét nghiệm và biết là đã nhiễm HIV hoặc biết là họ đã

có những hành vi nguy cơ và có thể đã nhiễm HIV Một số trường hợp khác thì người chồng nhiễm

HIV, nhưng gia đình và bản thân anh ta lại giấu, không cho bạn tình anh ta biết về tình trạng này (xem

nghiên cứu trường hợp 2) Trong những trường hợp này, người phụ nữ thường chỉ phát hiện ra tình

trạng của mình khi mang thai

Nó đã làm xét nghiệm trước khi kết hôn Lúc đầu nó không nói cho vợ nó biêt, nhưng chuyện

này cũng không giấu mãi được nên sau đó nó đã nói cho vợ nó biết Mẹ chồng của một phụ

nữ nhiễm HIV, Quận 6, TP HCM

Có một trường hợp người chồng không muốn nói cho vợ biết vì sợ rằng cô ấy sẽ lo lắng,

buồn bã Anh ấy nói rằng từ khi anh ấy biết về tình trạng HIV của mình, anh ấy luôn dùng BCS khi quan hệ với vợ Vợ anh ấy hỏi là “tại sao phải dùng BCS?” và anh ấy trả lời rằng anh ấy vẫn

Nghiên cứu trường hợp 1:

Huyền và Minh sống cùng bố mẹ Huyền ở huyện Tân Châu

Họ đã kết hôn được vài năm, Huyền nhiễm HIV còn Minh có thể đã bị nhiễm từ vợ nhưng Minh không tiết lộ tình trạng HIV của mình Minh cho biết anh rất yêu vợ và đứa con duy nhất của anh, anh không muốn vợ đi làm vì chị rất dễ bị mệt Anh không đổ lỗi cho chi đã truyền bệnh cho anh, họ là vợ chồng và anh rất yêu vợ Anh bảo vệ và chăm sóc vợ mình Niềm vui lớn nhất của anh Minh là đứa con trai 3 tuổi Vợ chồng anh Minh sử dụng BCS khi QHTD

Anh Minh không thể nói với gia đình anh rằng vợ anh bị nhiễm vì có thể gia đình anh sẽ bắt anh phải bỏ vợ nhưng anh muốn được tiếp tục chung sống với vợ mình Anh mong muốn được sống hạnh phúc và làm việc kiếm tiền khi anh còn khoẻ mạnh

Trang 29

còn trẻ và không muốn có con sớm Tôi đã đưa anh ấy đến đây để được tư vấn để anh ấy có thể nói thật với vợ, nhưng anh ấy nói là “nếu tôi nói thật cho vợ tôi biết, tôi sẽ rất đau khổ và

có thể chết mất” Chủ nhiệm CLB đồng cảm, Tịnh Biên, An Giang

e Sự hỗ trợ của nam giới đối với người vợ nhiễm HIV

Trong hầu hết các trường hợp, người vợ thường bị lây nhiễm từ người chồng Có nhiều trường hợp người chồng luôn hỗ trợ, động viên và chăm sóc cho vợ của mình Mặc dù vậy, theo quan điểm của các cán bộ y tế và người dân trong cộng đồng thì dường như là các cặp vợ chồng ở trong Nam thể hiện sự gần gũi và hỗ trợ lẫn nhau ở mức độ cao hơn, nhưng cần lưu ý rằng đây chỉ là một số ví dụ rất nhỏ và khó có thể đưa ra kết luận về những sự khác biệt như trên Có 4 trường hợp ở phía Nam có vợ

bị nhiễm nhưng chồng lại không Trong đó có 2 trường hợp, người chồng đã bỏ hoặc có ý định bỏ

vợ sau khi vợ sinh con Hai trường hợp còn lại thì người chồng lại rất hỗ trợ và thương yêu vợ (xem

nghiên cứu trường hợp 1).

f Sự tham gia của nam giới vào việc chăm sóc trẻ sơ sinh

Hầu hết các cặp nhiễm HIV (và mọi người nói chung) đều biết rằng các bà mẹ nhiễm HIV không nên nuôi con bằng sữa mẹ mà nuôi bằng sữa ngoài Chưa có các thông điệp như bất kỳ hình thức nuôi con hỗn hợp nào cũng rất nguy hiểm cho trẻ nhỏ, hay không cho trẻ bú sữa mẹ thì an toàn hơn là nuôi con hỗn hợp vẫn chưa được đưa ra Không ai trong số những người phụ nữ và nam giới được phỏng vấn đề cập tới các nguy cơ của việc nuôi con hỗn hợp, và chỉ có duy nhất một phụ nữ cho biết rằng chị ta nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu, điều này trái ngược những lời khuyên của các nhân viên y tế Tất cả nam giới và nữ giới dường như đều biết rằng hình thức nuôi con bằng sữa mẹ là không nên Hướng dẫn nuôi dưỡng trẻ sơ sinh dường như không đề cấp đến thông tin về việc nuôi con bằng hình thức cho ăn hỗn hợp sẽ có nguy cơ cao hơn đối với việc nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ Một vài phụ nữ nuôi con bằng cả sữa mẹ và sữa ngoài cho biết họ làm như vậy vì không được cung cấp đủ sữa Những người khác nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ lúc ban đầu

do họ không được biết về hình thức nuôi con bằng thức ăn thay thế đúng thời điểm hoặc là do họ muốn như vậy

“Họ nói rằng, em phải phòng tránh cho con em, không được cho con bú, nhưng em vẫn cho

con em bú toàn sữa mẹ trong 4 tháng Họ có phát sữa, khi con em được hơn 4 tháng thi em

cho nó ăn sữa bột.” Một phụ nữ nhiễm HIV, Uông Bí, Quảng Ninh

“Em cho con em bú và nuôi con em bằng sữa của em bởi vì vào thời điểm đó kiến thức của

em không được đầy đủ Em cho con bú tổng cộng là 3 tháng, sau đó em cho con ăn sữa bột

Con em đã làm xét nghiệm 2 lần rồi nhưng nó không bị nhiễm Bây giờ con em 4 tuổi rồi” Một

phụ nữ nhiễm HIV, Yên Hưng, Quảng Ninh

Đa số phụ nữ nói rằng họ được phát một hộp sữa khi ra viện ở những nơi đã có các dịch vụ PLTMC

Họ được giới thiệu đến cơ sở khác để được phát thêm sữa Các bà mẹ thường được yêu cầu đến khám lại mỗi tháng một lần Đa số các mẹ, đặc biệt là ở TP HCM, nói là không gặp khó khăn gì khi đến lấy sữa cả Một số nói rằng thủ tục còn rầy rà

“Tôi không cho con ăn sữa bột Tôi có được tư vấn chứ, và lúc đầu họ bảo tôi đến lấy sữa miễn

phí tại TTYTDP huyện Sau đó họ bảo tôi có thể lấy sữa ở Bệnh viện Thụy Điển - Uông bí Nhưng tôi chẳng nhận được ở đâu cả Sau đó họ bảo tôi có thể lấy sữa ở Hội phụ nữ, nhưng

thực tế thì họ chẳng có sữa bột để phát.” Một phụ nữ nhiễm HIV, Uông Bí, Quảng Ninh

Những ông bố đều biết con của họ được cho ăn bằng thức ăn thay thế và biết con họ được nuôi bằng loại sữa nào, có đủ hay không Vì vậy các bà mẹ cung cấp thông tin và lôi kéo sự tham gia của

người chồng trong việc chăm sóc con cái, mặc dù người phụ nữ là người đưa ra quyết định Những

Trang 30

người phụ nữ được nhận dịch vụ PLTMC cho biết họ nuôi con bằng sữa bột hoàn toàn Chồng họ cũng thừa nhận điều này và cả hai đều quyết định như vậy vì họ nhận thấy điều đó là tốt nhất cho con họ Những nghiên cứu khác đã thấy được trên thực tế hình thức nuôi con hỗn hợp là phổ biến hơn và rất có thể đối tượng nghiên cứu sẽ cho các nhà nghiên cứu biết những điều họ dự định sẽ

làm Nam giới không tham gia vào các quyết định về nuôi dưỡng trẻ Tuy nhiên, nếu các ông bố

thể hiện sự quan tâm đến sức khoẻ của con mình, nếu việc nuôi trẻ sơ sinh và việc tiếp tục theo dõi gặp khó khăn thì việc nâng cao kiến thức và nhận thức về các thực hành phù hợp cho nam giới là rất cần thiết

Hình thức nuôi con bằng thức ăn thay thế bị gắn với việc nhiễm HIV, vì nuôi con bằng sữa mẹ đã trở thành một quy phạm và nhiều người, đặc biệt là do những người ở các địa phương có chương trình PLTMC đều biết rằng những phụ nữ nhiễm HIV được khuyến nghị nuôi con bằng sữa ngoài nhằm tránh sự lây nhiễm

“Họ (những người nhiễm hoặc thành viên trong gia đình của người nhiễm) cũng giấu tôi

Nhưng tôi biết cách để phát hiện ra những người bị nhiễm Mẹ mà không cho con bú là bị

nhiễm HIV.” Mẹ chồng của một phụ nữ nhiễm HIV, Quận 6, TP HCM

Vì vậy phụ nữ đưa ra những cách giải thích khác cho việc nuôi con bằng sữa ngoài

B Các yếu tố hành vi và văn hóa ảnh hưởng đến sự tham gia của nam giới

B.1 Sự giao tiếp giữa hai vợ chồng

Hầu hết nam giới và phụ nữ đều nói rằng họ nói với nhau về nhiều chuyện và vợ/chồng là người đầu tiên họ tâm sự khi gặp một vấn đề rắc rối Chủ đề của các cuộc nói chuyện bao gồm sức khỏe, y tế, công việc, tiền bạc, có con và nuôi con, kể cả việc tránh thai, các biện pháp tránh thai và ngừng tránh thai khi vợ hoặc chồng muốn có con Chủ đề về giới tính và tình dục được coi là những chủ đề kiêng

kị Nam giới đưa ra những câu trả lời khác nhau khi được hỏi ai là người họ thường hay trao đổi về vấn đề tình dục Một số nói rằng họ nói chuyện với bạn bè, một số thì chẳng nói với ai cả, và một số khác nữa thì trả lời là họ có trao đổi với vợ về chuyện đó Vợ và chồng sống dựa vào nhau là chính vì hầu hết họ sống trong các gia đình hạt nhân

“Trong cuộc sống, chúng tôi thường tâm sự với nhau, rất tình cảm Chúng tôi luôn hỏi ý kiến

nhau khi quyết định làm hoặc không làm một việc gì đó Nếu anh ấy muốn đi đâu chơi, anh

ấy hỏi ý kiến tôi, chứ không như những người khác.” Một phụ nữ nhiễm HIV, Uông Bí, Quảng

loại là những chuyện như vậy.” Chồng của một phụ nữ có thai, Tân Châu, An Giang.

“Vâng, tôi chỉ tâm sự những chuyện đó với vợ tôi thôi, không nói với ai nữa hết Tôi kể cho vợ

tôi nghe mọi chuyện xảy ra với tôi.” Chồng của một phụ nữ có thai, Quận 6, TP HCM

Đàn ông vẫn có trách nhiệm kiếm tiền nuôi gia đình và là trụ cột chính trong nhà Hầu hết các gia đình tham gia phỏng vấn trong nghiên cứu này đều rất ngèo – họ có nguồn thu nhập không ổn định hoặc chỉ trên mức nghèo một chút Áp lực kiếm sống rất nặng nề, đặc biệt đối với các cặp vợ chồng

Trang 31

trẻ Nhiều ông chồng nói rằng họ phải làm việc rất vất và chỉ vì họ cảm nhận được trách nhiệm kiếm tiền để nuôi gia đình của họ, và, vì họ phải làm việc suốt cả ngày, nên một số nói rằng họ quá mệt và không thể tâm sự với vợ được.

“Với nhiều người thì vợ ở nhà làm nội trợ, và chồng phải đi làm kiếm tiền nuôi vợ và con Hầu

hết các ông chồng là người kiếm tiền chính trong gia đình, và vợ chỉ ở nhà làm nội trợ mà

thôi.” Thành viên trong gia đình của phụ nữ có thai, Tân Châu , An Giang

“Nó làm việc vất vả suốt cả ngày kể từ khi có con, và công việc dường như ngày càng nhiều

hơn Trước đây, khi chưa có con, nó chỉ làm việc có vài ngày trong một tháng, những ngày còn lại thì nghỉ Nhưng bây giờ thì khác Nó làm việc ở công trường và dường như chẳng có

lúc nào nghỉ ngơi cả.” Mẹ chồng của một phụ nữ nhiễm HIV, Quận 6, TP HCM

“Cô ấy chẳng tâm sự gì, tối về em thấy mệt nên đi ngủ luôn, hai vợ chồng nằm quay lưng vào

nhau.” Một nam giới nhiễm HIV, Tân Châu, An Giang.

Đồng thời, các quan điểm và ý kiến của người chồng luôn được coi trọng hơn Phụ nữ phải hỏi ý kiến chồng về mọi chuyện

Vai trò của người chồng rất quan trọng Đa số phụ nữ ở đây đều hỏi ý kiến chồng, họ cùng

nhau trao đổi về mọi chuyện Phụ nữ thường nghe theo ý kiến của chồng Thành viên trong

gia đình của một phụ nữ nhiễm HIV, Hóc Môn, TP HCM.

B.2 Việc ra quyết định trong gia đình

Mặc dù đàn ông thường vẫn được coi là “người chủ của gia đình” và là người quyết định chính trong mọi việc, nghiên cứu này cho thấy các cặp vợ chồng trẻ ở Việt Nam thường cùng nhau đưa ra các quyết định Lặp đi lặp lại, những người nam và nữ được phỏng vấn đều trả lời rằng họ thường cùng nhau trao đổi và đưa ra các quyết định, hoặc dựa trên ý kiến ai đưa ra là “đúng”

“Chúng tôi rất hợp nhau, anh ấy không bao giờ lấn át mọi chuyện Tôi không rõ lắm về những

người khác.” Một phụ nữ có thai, Tân Châu, An Giang.

“Có một vài chuyện cô ấy tự quyết định, những chuyện khác thì cô ấy bàn với tôi Chúng tôi

cùng nhau bàn bạc và quyết định.” Một nam giới nhiễm HIV, Hóc Môn, TP HCM

“Vợ chồng đều bình đẳng như nhau mà, vợ không nên phụ thuộc vào chồng.”

B.3 Những mong muốn xung quanh vấn đề sinh con

Rất nhiều cặp vợ chồng nhiễm HIV mong muốn sinh con Cặp vợ chồng không có con sẽ bị cộng đồng chú ý và bàn tán, và phụ nữ còn bị áp lực phải sinh được con trai để nối dõi tông đường Tuy mong muốn có con là phổ biến, một số cặp vợ chồng nhiễm HIV quyết định không muốn hoặc không sinh con (ngay cả khi họ thực sự muốn có) bởi vì họ lo lắng về việc truyền bệnh và không đủ khả năng nuôi con Khi một phụ nữ không muốn có con, cô ấy cũng khó có thể chống lại áp lực của gia đình Như một số trường hợp trong nghiên cứu, người phụ nữ không muốn có con hoặc muốn phá thai, nhưng dưới áp lực của gia đình, chị vẫn phải sinh con

Những người dân trong cộng đồng nhìn chung đều cảm thấy rằng những phụ nữ có HIV+ không nên có con Họ bày tỏ sự lo ngại rằng đứa trẻ sinh ra sẽ bị nhiễm, cũng như vấn đề chăm sóc

và hỗ trợ cho đứa trẻ sau khi bố mẹ qua đời

Trang 32

“Họ không nên làm như vậy Nếu người mẹ nào may mắn thì sẽ sinh ra đứa con không bị

nhiễm, nhưng cô ta cũng không thể sống mãi để nuôi con được Nếu cô ta không may mắn

và sớm qua đời, thì đứa trẻ sẽ trở thành trẻ lang thang Hơn nữa, phụ nữ bị nhiễm thường rất yếu nên khó có thể kiếm đủ tiền để trang trải cho cuộc sống hiện tại, chi phí này sẽ tăng lên

gấp đôi khi phải nuôi con.” CLB đồng cảm, Tịnh Biên, An Giang

“Nhìn chung thì những người bị nhiễm không nên có con Bây giờ họ hiểu biết hơn rồi Họ

biết là họ chẳng sống được lâu vì nhiễm HIV và con họ sẽ trở thành trẻ mồ côi, bất hạnh và

không được chăm sóc Vì vậy, họ sẽ quyết định không sinh con nữa.” Thành viên trong gia đình

của một phụ nữ có thai, Uông Bí, Quảng Ninh.

“Tôi nghĩ là không nên Nếu đứa trẻ được uống thuốc để không bị lây nhiễm thì sẽ rất tốt

Nhưng còn bố mẹ nó thì sao? Không có tài sản gì, khi bố mẹ qua đời đứa trẻ sẽ bị bỏ mặc và không được chăm sóc đầy đủ Sẽ không có ai, kể cả họ hàng ruột thịt, có thể chăm sóc con cái chu đáo như bố mẹ của chúng Đứa trẻ sẽ lớn lên và thiếu thốn đủ thứ Tôi nghĩ rằng phụ

nữ bị nhiễm không nên có con trừ khi có sức khỏe tốt và giàu có.” Vợ của một nam giới nhiễm

HIV, Uông Bí, Quảng Ninh.

Nhưng đồng thời, một số người, đặc biệt là ở Quảng Ninh, lại nói rằng họ rất hiểu lý do vì sao phụ

nữ lại quyết định có con, ngay cả khi biết mình đã nhiễm, vì đã là phụ nữ là phải có- giá trị của cuộc sống sẽ tăng lên nếu có một đứa con

Tôi nghĩ là phụ nữ nếu chưa có con và sức khỏe vẫn bình thường thì vẫn có thể sinh con, vì

bây giờ đã có vắc xin rồi.” Một phụ nữ nhiễm HIV , Uông Bí, Quảng Ninh

“Người dân trong cộng đồng sẽ không phản đối phụ nữ bị nhiễm khi họ làm như vậy.”

viên trong gia đình của một phụ nữ có thai, Uông Bí, Quảng Ninh

“Theo quan điểm của tôi, nếu họ vẫn chưa có con, vì chị biết đấy, bất cứ cặp vợ chồng nào

cũng trông mong có một đứa con, con cái gắn kết mọi người trong gia đình lại với nhau và đem lại niềm hạnh phúc nhất cho bố mẹ Nếu họ muốn có con, họ phải đến cơ sở tư vấn để

biết cách tự chăm sóc bản thân.” Chủ nhiệm CLB đồng cảm, Yên Hưng, Quảng Ninh.

“Có nhiều trường hợp, cả vợ lẫn chồng đều bị nhiễm HIV và cả hai đều muốn có con Đặc biệt

B.4 Những mong muốn của nam giới xung quanh việc mang thai và sinh con

Cả đàn ông và phụ nữ đều nhận thức được rằng giai đoạn mang thai là một giai đoạn rất đặc biệt, người phụ nữ cần được chăm sóc và hỗ trợ chu đáo Đàn ông nói rằng phụ nữ thường mệt mỏi hơn,

dễ xúc động hơn và cần được hỗ trợ nhiều hơn trong khi mang thai và mong muốn chồng mình thể hiện vai trò quan trọng trong giai đoạn này

“Phụ nữ có thai rất dễ cáu bẳn, nên chẳng ai có thể làm vừa lòng các bà được Chúng tôi cũng

không được cáu giận, vì làm thế sẽ khiến các bà ấy mệt mỏi hơn Kể cả khi chưa có thai thì các

bà ấy cũng chẳng khỏe khoắn gì.” Chồng của một phụ nữ có thai, Uông Bí, Quảng Ninh

Cả nam và nữ tham gia phỏng vấn đều trả lời là các ông chồng giúp vợ làm việc nhà trong thời gian

vợ mang thai

Trang 33

“Hai vợ chồng em sống riêng Tất cả các việc nặng trong nhà đều do chồng em làm Khi em

có bầu, anh ấy mua cho vợ nhiều thức ăn hơn Em chỉ làm những việc nhẹ nhàng như là

giặt giũ, nấu cơm…Những việc nặng khác do chồng em làm.” Một phụ nữ có thai, Yên Hưng,

Quảng Ninh

“Nhiều lắm (chồng phải giúp vợ đang có bầu) (tất cả mọi người cùng cười phá lên), không để

cô ấy làm việc nặng khi có bầu này, và tôi còn giúp cô ấy những việc như là nấu nướng nữa

Chồng của một phụ nữ có thai, Tân Châu, An Giang

Trong một số trường hợp, khi hai vợ chồng sống chung với bố mẹ, thì chồng không giúp đỡ nhiều lắm Phụ nữ nói rằng họ mong muốn được chồng hỗ trợ về tài chính và tình cảm trong khi mang thai Nhiều phụ nữ cũng nói rằng chồng họ thường hỏi họ cảm thấy trong người thế nào, muốn ăn món

gì, và ăn uống có đủ chất không

“Ngoài vấn đề kinh tế, tình cảm cũng rất quan trọng Quan trọng nhất là người chồng phải

quan tâm tới gia đình Sinh con ra mà không được người thân quan tâm chăm sóc thì thật là

tồi tệ.” Phụ nữ có thai, Uông Bí, Quảng Ninh

“Có chứ Anh ấy có quan tâm và làm tất các việc nặng, em chỉ làm những việc nhẹ nhàng thôi

tệ nạn xã hội, trong đó nhiễm HIV bị coi là tệ nạn, vẫn còn tồn tại dù đã giảm bớt Tại quốc gia, nơi

mà các chuẩn mực xã hội đóng vai trò quan trọng và nhà nước ra sức củng cố các thông điệp này, cả nam và nữ giới đều bị áp lực về các hành vi của mình trong khuôn khổ chuẩn mực được xã hội chấp nhận Các chuẩn mực đó bao gồm việc thừa nhận và củng cố tích cực một số loại mô hình gia đình nhất định, có liên kết chặt chẽ với đạo Khổng và các truyền thống văn hóa khác Tương tự như vậy, các gia đình và cá nhân chưa thích nghi được sẽ ít được ủng hộ và thừa nhận hơn, và có thể bị coi như một kiểu cô lập văn hóa – xã hội Tiếp thu các thông điệp xã hội như vậy thường xuyên, sẽ tạo

ra vòng luẩn quẩn với những cảm giác ngượng ngùng, hổ thẹn do những chỉ trích và cô lập của xã hội gây ra

“Những quan điểm lệch lạc vẫn còn tồn tại trong cộng đồng: họ cho rằng chỉ những người

mình).” Một nam giới nhiễm HIV, Tân Châu, An Giang

Trang 34

Đối với những cặp vợ chồng nhiễm HIV để đưa ra được quyết định sinh con, họ cần thảo luận về khả năng lây nhiễm HIV trước khi có thai và cần đi làm xét nghiệm Sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với những người nhiễm HIV có thể là một nguyên nhân khiến nam giới hiếm khi nói cho vợ biết về

những hành vi nguy cơ và thậm chí cả về tình trạng nhiễm HIV của họ Việc quyết định dấu kín tình trạng nhiễm HIV với vợ và người thân gia đình, việc mẹ chồng ủng hộ con trai cưới vợ mà không cho con dâu biết về tình trạng của con trai mình có thể được giải thích qua những chuẩn mực về xã hội và văn hóa như vậy Rõ ràng, một số bà mẹ chồng biết là giấu giếm tình trạng nhiễm

bệnh của con trai mình với con dâu là không hợp đạo đức, và xét cho cùng là nó đi ngược lại với tình yêu của một người mẹ, nhưng họ vẫn hy vọng thấy con mình có gia đình “ổn định”, và hy vọng có

cháu – một hình ảnh của sự êm ấm ở một gia đình bình thường (xem nghiên cứu trường hợp 2).

“Chồng em đã bị nhiễm trước khi lấy em, nhưng anh ấy không nói cho em biết, cả gia đình

con.” Một phụ nữ nhiễm HIV, Uông Bí, Quảng Ninh

“Có gia đình biết là con trai họ có những hành vi nguy cơ và biết rằng con họ có thể đã mắc

HIV, nhưng họ không muốn đưa con họ đi làm xét nghiệm Khi con trai họ lấy vợ và con dâu

họ có thai, lúc đó họ lại muốn đưa con dâu đi làm xét nghiệm HIV để xem con dâu và cháu nội của họ có bị nhiễm hay không Khi các bà vợ phát hiện là đã nhiễm HIV và không muốn giữ cái thai nữa, họ được chuyển sang Trung tâm phòng chống HIV/AIDS để được tư vấn vì ở đây chúng tôi chưa có chương trình PLTMC Chúng tôi biết là các gia đình vẫn đối xử rất tốt

với con dâu họ.” Cán bộ y tế, An Giang.

Trong bối cảnh như vậy, quyết định xét nghiệm HIV thực sự là một thử thách lớn với hầu hết phụ nữ Xét nghiệm thường kỳ, trong đó xét nghiệm HIV là một phần của gói chăm sóc trước sinh “thiết yếu”,

là một mong muốn với phụ nữ và cán bộ y tế Tuy nhiên, với nhiều phụ nữ, sợ bị tiết lộ nhiễm HIV là nguyên nhân chính Nghiên cứu này không phỏng vấn được các bà mẹ nhiễm HIV trong thời gian mang thai và mất dấu Lý do chính của việc mất đối tượng là do người phụ nữ nghi ngờ rằng mình

có thể nhiễm HIV nên đã cho địa chỉ giả vì sợ lộ bí mật hoặc sợ cán bộ y tế đến nhà (tạo sự chú ý của mọi người xung quanh) Hoặc một số phụ nữ khác về nhà mẹ đẻ của mình trong thời gian mang thai

Bảo mật thông tin và chỉ tiết lộ kết quả xét nghiệm với người phụ nữ, nếu được thực hiện đồng thời sẽ giúp tăng cường sự tin tưởng của họ đối với việc làm xét nghiệm.

“Một số bà mẹ khai sai địa chỉ vì họ không muốn tiết lộ về tình trạng của họ.”

bộ đồng cảm, dường như những người có HIV đi theo một lộ trình từ chấp nhận tình trạng của bản thân, xây dựng lại giá trị của bản thân và vượt qua được cảm giá xấu hổ và tự kì thị trước khi họ dám công khai nói về tình trạng của mình Việc tiết lộ tình trạng bệnh cũng mang lại cho họ cảm giác tự

do và được chấp nhận hơn

Trang 35

B.6 Chung sống với HIV

Nhiều người tham gia trả lời phỏng vấn, người nhiễm, người không nhiễm, các nhân viên y tế, các nhà lãnh đạo địa phương, đều nói rằng sự phân biệt đối xử đã giảm nhiều so với trước đây Chắc chắn

là người dân trong cộng đồng dường như ý thức được rằng chính phủ đang tuyên truyền vận động KHÔNG phân biệt đối xử đối với những người nhiễm HIV Kiến thức về sự lây truyền đã được nâng cao, góp phần làm giảm bớt sự sợ hãi và lo lắng của người dân

Tôi chẳng biết người nào bị nhiễm trong làng này cả Nhưng tôi biết là chính phủ đang cố

gắng tuyền truyền, vận động người dân không phân biệt đối xử với những người nhiễm Các bác sĩ ở trạm xá cũng tư vấn cho dân về các đường lây truyền HIV để chúng tôi có thể tự bảo

vệ bản thân và đối xử bình thường với những người nhiễm.” Chồng của một phụ nữ có thai ,

Tân Châu, An Giang.

Tuy nhiên, một số người cũng nói là sự phân biệt đối xử hiện vẫn còn tồn tại Không rõ các nỗ lực thông tin, giáo dục và truyền thông, vừa nhằm nâng cao kiến thức về HIV vừa tuyên truyền về sự bất hợp lý của việc phân biệt đối xử đã được phổ biến rộng khắp hay chưa

“Nhìn chung thì mọi người không thích tiếp xúc với người nhiễm HIV Chúng tôi cũng sợ

không dám đến gần họ vì ít nhiều gì cũng có hại hết Nếu họ không phải là người thân trong gia đình, thì chúng tôi thấy sợ và không dám đến gần Ngay cả khi chúng tôi biết là HIV

không lây truyền qua bắt tay hoặc ôm hôn, chúng tôi vẫn thấy sợ” Thành viên trong gia đình

của một phụ nữ có thai, Quảng Ninh.

“Những quan điểm lệch lạc vẫn còn tồn tại trong cộng đồng: họ cho rằng chỉ những người

ăn chơi trác táng hoặc tham gia vào các tệ nạn thì mới bị nhiễm, còn họ và gia đình họ thì không thể bị nhiễm, vì thế họ không muốn làm xét nghiệm vì họ nghĩ rằng họ không hề bị

nhiễm Chúng tôi phải tư vấn nhiều, sau đó họ mới đồng ý làm xét nghiệm.” Nhân viên y tế,

Tân Châu, An Giang.

Cuộc nghiên cứu đã phỏng vấn những người phụ nữ đã hoặc đang có những mối quan hệ lâu dài với những người đàn ông đã có gia đình Trong khi một vài cặp đang có ý định hoặc đã chia tay và một

số phụ nữ ở goá thì hầu hết các trường hợp được phỏng vấn vẫn đang chung sống với nhau Đối với những phụ nữ nhiễm HIV thì không thể cường điệu hoá sự hỗ trợ mà họ nhận được từ phía bạn tình của họ (tình cảm cũng như những vấn đề khác) Những người phụ nữ được chẩn đoán nhiễm HIV cho biết họ cảm thấy mình bị cách ly khỏi cộng đồng và thậm chí cả gia đình của họ Trong những

trường hợp đó, những người vợ chỉ còn biết trông chờ vào sự động viên tinh thần từ phía người chồng.

Trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển và các chính sách đang thay đổi của Việt Nam hiện nay,

áp lực kiếm sống càng trở nên lớn hơn, đặc biệt với những người có mức sống trên trung bình Cạnh tranh để có việc làm diễn ra gắt gao, và với những người bệnh thì việc đảm bảo thu nhập thường xuyên là điều khó khăn Nhiều người nhiễm HIV tham gia phỏng vấn trong nghiên cứu này là những người nghèo, có kinh tế khó khăn

Một số người nhắc đến việc phụ nữ bị lây nhiễm từ chồng của họ, đặc biệt là khi đang có thai, sẽ nhận được sự cảm thông của mọi người Họ được coi như nạn nhân, và mọi người thấy rằng họ cần được đối xử tử tế

“Một phụ nữ bị nhiễm, chồng cô ta cũng bị nhiễm Hàng xóm thấy họ tội nghiệp và thuê cô ta

giặt đồ cho họ và trả công cho cô ta hàng tháng – cô ấy rất hiền lành nên họ thấy thương cho

hoàn cảnh của cô ấy.” Thành viên trong gia đình của một phụ nữ có thai, Tân Châu, An Giang.

Trang 36

Thuốc ARV miễn phí, cho dù là dự phòng để bảo vệ trẻ nhỏ hay bố, mẹ đều rất có ý nghĩa Cả nam

và nữ giới được chẩn đoán nhiễm HIV thường nhanh chóng tìm cách để tiếp cận với thuốc ARV miễn phí Nghiên cứu cho thấy trong 11 người phụ nữ được phỏng vấn - những người được nhận thuốc ARV dự phòng trong thời kỳ mang thai thì có một người chia sẻ thuốc với chồng để bảo vệ chồng mình Trong khi kiến thức về thuốc NVP liều đơn còn hạn chế và những người phụ nữ được nhận thuốc này thậm chí không nhớ là đã uống thì kiến thức về thuốc ARV lại tốt hơn

B.7 Hỗ trợ và ảnh hưởng của gia đình:

Có cảm giác là bố mẹ đẻ và bố mẹ chồng có thể đưa ra lời khuyên, nhưng không thể quyết định thay cho các cặp vợ chồng Phần lớn các trường hợp, gia đình chỉ đóng vai trò khuyên bảo và động viên các cặp vợ chồng trẻ mà thôi Đa số các thành viên trong gia đình đều nói rằng họ sẽ động viên con gái/con dâu họ làm theo lời khuyên của nhân viên y tế Không có trường hợp nào mẹ chồng hoặc

mẹ đẻ ngăn không cho phụ nữ đi làm xét nghiệm HIV, hoặc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ Nhiều bà mẹ chồng im lặng đồng ý với việc cho trẻ ăn bằng sữa ngoài, khi nhận ra rằng làm như vậy

là vì lợi ích của đứa trẻ

“Tôi cũng là một người mẹ, nên tôi động viên con dâu tôi đi làm xét nghiệm HIV Nếu kết quả

là dương tính thì nó sẽ được uống thuốc Tôi sẽ không đối xử tệ bạc với nó Tất cả phụ nữ đều

có quyền tự quyết định, mọi người khác chỉ có quyền động viên họ thôi Không ai bị chồng

hoặc mẹ chồng phản đối cả.” Mẹ chồng của một phụ nữ nhiễm HIV, Quận 6, TP HCM

“Con trai tôi muốn có con nhưng vợ nó nói là cả hai đều đã nhiễm nên đứa trẻ cũng sẽ bị

nhiễm Ngoài ra, chúng cần có tiền để nuôi con và chúng cũng chẳng biết là còn có thể sống được bao lâu nữa Nếu chúng có con, sau khi chúng qua đời thì đứa trẻ sẽ rất khổ và chẳng

có tương lai, có con chẳng đơn giản chút nào (nước mắt rơi trên má)…Cứ tạm gác chuyện

này lại cho đến khi chúng nó khấm khá hơn đã chứ không phải là bây giờ.” Mẹ chồng, Phụ nữ

nhiễm HIV , Quận 6, TP HCM

“Họ hướng dẫn chúng tôi rằng không nên nuôi đứa trẻ bằng sữa mẹ Họ nuôi cháu tôi theo

những quy định của bệnh viện, nuôi bằng sữa bình và họ rửa tay sạch khi cho trẻ ăn bởi vì trong sữa mẹ có rất nhiều vi khuẩn Lúc đầu, tôi không hiểu gì hết và hỏi họ tại sao cháu tôi lại không được nuôi bằng sữa mẹ nó mà lại phải nuôi bằng sữa bình Một cô y tá đã giải thích tất cả cho tôi và tôi nghĩ điều đó là hoàn toàn nên làm và cần phải tách đứa trẻ ra khỏi mẹ bởi

vì sữa mẹ có rất nhiều vi khuẩn, đúng không?” Mẹ chồng của một phụ nữ nhiễm HIV ở Quảng

Ninh

Gia đình ở Quảng Ninh có ảnh hưởng lớn hơn so với ở TP HCM và An Giang Điều này một phần là do trên thực tế ở cả hai tỉnh thành phía Nam, các cặp vợ chồng dường như sống cách xa nhà bố mẹ hơn Điều này đặc biệt đúng ở TP HCM, nơi có nhiều người nhập cư từ các tỉnh khác Có một số trường hợp mẹ chồng có ảnh hưởng rất lớn tới quyết định lập gia đình và sau đó là thúc giục hai vợ chồng phải có con, ngay cả khi người chồng nhiễm HIV Trong những trường hợp như vậy, mẹ chồng đóng

vai trò tích cực trong quá trình mang thai và sau khi sinh (xem nghiên cứu trường hợp 2).

Các hành vi của mọi người trong gia đình đối với một cặp vợ chồng nhiễm HIV rất khác nhau, từ hỗ trợ và yêu thương đến tha thứ và chăm sóc người bệnh cẩn thận, đặc biệt là nếu sống cùng trong một nhà Nhiều người nhiễm nói là họ được hỗ trợ và chăm sóc rất tốt từ phía gia đình Sự hỗ trợ này, trong một số trường hợp bao gồm cả sự hỗ trợ lớn về tài chính, đặc biệt là khi người đàn ông trong nhà không đủ khả năng để có nguồn thu nhập ổn định, và các trường hợp sử dụng ma túy Một số thành viên trong gia đình cũng tham gia vào các CLB, để hỗ trợ tốt hơn và biết cách chăm

Trang 37

sóc các thành viên bị nhiễm trong gia

đình Cũng có một số người nhiễm HIV

nói rằng họ giấu các thành viên trong

gia đình về tình trạng bệnh của họ,

và một số trường hợp thì bị gia đình

xa lánh hoặc cắt đứt quan hệ với họ

Một nam giới nhiễm HIV (

Châu, An Giang) nói rằng anh

ta không nói cho bố mẹ biết

là anh ta và vợ đã bị nhiễm “Vì

tôi sợ là bố mẹ tôi sẽ lo lắng và

chia rẽ chúng tôi, nếu thế thì sẽ

không có ai chăm lo cho vợ và

con tôi …(giọng anh ta nghẹn

lại vì nước mắt) Cho nên tôi

phải giữ im lặng cho đến tận

bây giờ và tuyệt đối không để

cho ai biết Anh ta nói rằng gia

đình nhà vợ, ngược lại, đều đã biết cả hai vợ chồng đều đã nhiễm và cách đối xử của họ đối với hai vợ chồng là, “rất tử tế, thái độ vẫn bình thường như trước đây Nhìn chung, khi vợ tôi muốn ăn món gì đó, thì hoặc là anh, chị em vợ, thậm chí là mẹ vợ tôi sẽ đi mua về cho cô ấy ăn”Hiền (nữ nhiễm HIV) và các em trai nó đang sống cùng với tôi Thằng em út rất quí chị nó

Nó thường mua cho chị nó những thứ chị nó thích Chúng nó hiểu và yêu thương nhau lắm,

vì một chị gái của chúng nó đã chết vì HIV rồi Tôi rất thương nó và con trai nó Tôi là mẹ nó nên tôi phải có trách nhiệm với hai mẹ con nó Con trai nó cũng bị nhiễm HIV rồi và chẳng sống được bao lâu nữa Gia đình chồng nó thì chẳng quan tâm gì đến hai mẹ con nó nữa Họ chẳng thương con trai họ nên họ không thể thương con dâu được Họ biết hoàn cảnh của

2 mẹ con, thỉnh thoảng cũng cho thằng cháu nội 2,000 – 3,000 VND.” Mẹ đẻ của một phụ nữ

nhiễm HIV, Tân Châu, An Giang

Sự hỗ trợ của gia đình đóng vai trò rất quan trọng đối với các cặp vợ chồng nhiễm HIV, đặc biệt với người phụ nữ, khi mà hầu hết những người hàng xóm và thành viên trong cộng đồng không muốn giúp đỡ họ

C Các vấn đề về cung cấp dịch vụ sinh sản hiện có và những ảnh hưởng của nó đến sự tham gia của nam giới

C.1 Độ bao phủ của các dịch vụ

Ở Việt Nam, các dịch vụ PLTMC chỉ có ở một vài huyện của các tỉnh có nguy cơ cao Trong cuộc nghiên cứu này có 3 điểm nổi bật liên quan đến việc cung cấp dịch vụ có lẽ vì những địa phương này nằm trong phạm vi nghiên cứu Một là, tại những nơi này tất cả phụ nữ mang thai đều được đi làm xét nghiệm (có nhiều người đồng ý làm xét nghiệm) từ rất sớm trong thời gian mang thai đặc biệt trong một vài tháng qua Hai là, chất lượng của công tác tư vấn sau xét nghiệm rất tốt Ba là, mặc dù sữa bột được khuyến cáo, sẵn có (mặc dù các bà mẹ phải đến các cơ sở để nhận) và miễn phí nhưng không

đủ về số lượng cho hầu hết các bé

Nghiên cứu trường hợp 2

Bà Loan sống ở Quảng Ninh cùng con trai nhiễm HIV, con dâu

và cháu trai Bà cởi mở cho biết rằng con trai bà đã được chẩn đoán có HIV từ trước khi kết hôn vì con trai bà nghiện ma tuý Cháu trai bà có kết quả xét nghiệm HIV âm tính Bà giấu hàng xóm chuyện đó vì bà sợ họ sẽ tẩy chay gia đình bà Khi con trai bà được chẩn đoán nhiễm HIV thì anh ta đã có bạn gái nhưng anh ta không cho bạn gái biết tình trạng bệnh của mình, và bạn gái anh đã giục cưới Con dâu bà đã bị sốc khi biết chị bị nhiễm khi chị sinh con

Chị Nhung con dâu bà nhận ra rằng sẽ chẳng ích gì khi đổ lỗi cho chồng nhưng chị rất buồn vì không một ai trong gia đình cho chị biết tình trạng nhiễm HIV của chồng chị trước khi chị

có thai, vì nếu chị biết thì sẽ không bao giờ chị quyết định có con Bên cạnh đó mẹ chồng chị cũng nói rằng bà sẽ không cho phép chị phá thai và chị nên hiểu là, một khi đã lập gia đình thì phải sinh con

Trang 38

C.2 Xét nghiệm

Bản đánh giá cuối kỳ phát hiện ra rằng có tới 100% phụ nữ có thai đều được làm xét nghiệm, trong đó

có 62% đồng ý đi làm xét nghiệm và trong số những người có kết quả xét nghiệm HIV dương tính thì

có 62% tiếp nhận điều trị và tư vấn Điều này có nghĩa có khoảng 1\3 phụ nữ mang thai từ chối làm

xét nghiệm và có 1\3 phụ nữ có kết quả xét nghiệm HIV dương tính bị mất dấu Nghiên cứu cho thấy

lý do chồng không chấp thuận hoặc phản đối vợ đi làm xét nghiệm hoặc sợ bị bạo hành hay ruồng bỏ đều không phải là lý do chính của sự từ chối làm xét nghiệm hoặc mất dấu Và những

vấn đề như sợ làm xét nghiệm máu, sợ bị lộ tình trạng nhiễm HIV hoặc lo lắng về sự kỳ thị trong cộng đồng mới chính là những nhân tố khiến xảy ra tình trạng trên

a Làm xét nghiệm định kỳ

Ở Việt Nam, việc cung cấp dịch vụ làm xét nghiệm trong thời gian chăm sóc thai sản định kỳ đã

có những bước đi đúng cho các dịch vụ PLTMC Sự tin tưởng và tín nhiệm đối với các cán bộ y tế,

đặc biệt với những cán bộ y tế có liên quan đến việc chăm sóc thai sản là rất cao Việc được tiếp cận với cơ sở sinh sản, thăm khám thai định định kỳ, nhận dịch vụ tư vấn và làm xét nghiệm trong thời gian mang thai và trong khi sinh đã trở nên quen thuộc với phụ nữ Việt Nam

“Lựa chọn” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau xét về việc quyết định có nên làm hay không—nhiều người nghĩ rằng họ nên làm xét nghiệm vì đó là điều bác sĩ yêu cầu họ làm Chỉ một số ít chủ động lựa chọn làm xét nghiệm, và một số ít hơn nữa tự yêu cầu làm xét nghiệm cho họ Trong một

số trường hợp, phụ nữ được bảo là làm xét nghiệm máu chứ không phải là xét nghiệm HIV Các nhân viên y tế thú nhận rằng không phải lúc nào họ cũng nói cho phụ nữ biết họ được lấy máu để làm

gì Nhiều phụ nữ không hề biết là họ được làm xét nghiệm HIV khi chuyển dạ, họ có thể cho là xét nghiệm máu để kiểm tra các bệnh khác

“Nhiều phụ nữ mới đầu rất sợ khi nghe nói về Xét nghiệm HIV, nhưng họ đã đồng ý làm xét

nghiệm sau khi nghe cán bộ y tế giải thích về điều đó.” Cán bộ y tế, Tân Châu, An Giang

“Ngoài những lần đi khám thai, tôi đã 2 lần làm xét nghiệm máu theo yêu cầu của bác sĩ Bác

sĩ nói là làm xét nghiệm máu để kiểm tra xem tôi có bệnh gì không và không hề giải thích gì

thêm.” Một phụ nữ có thai, Quận 6, TP HCM

“Nhân viên y tế tại TYT bảo tôi đi khám thai, xét nghiệm máu và không nhắc gì đến xét

nghiệm HIV.” Một phụ nữ nhiễm HIV, Quận 6, TP HCM

“Xét nghiệm HIV được làm khi chuyển dạ – chỉ đối với các trường hợp nghi nghờ nhiễm, cần

lấy máu để làm xét nghiệm Chúng tôi không tư vấn trước xét nghiệm vì chúng tôi không muốn nói thẳng ra đó là làm xét nghiệm HIV Chúng tôi chỉ nói là cần lấy máu để làm xét

nghiệm.” Cán bộ y tế, Tịnh Biên, An Giang

b Tính bảo mật của các kết quả xét nghiệm

Ở một số nơi chưa có dịch vụ PLTMC, các nhân viên y tế có thể động viên những phụ nữ mà họ nghĩ

là những người đã sử dung ma tuý (SDMT), ốm yếu hoặc trông có vẻ “nghi ngờ” đi làm xét nghiệm Điều này gây ra sự liên tưởng dịch vụ xét nghiệm HIV với các hành vi không lành mạnh trong xã hội

và tăng sự kỳ thị với việc làm xét nghiệm cũng như việc chẩn đoán đã nhiễm HIV

“Những bệnh nhân nghi ngờ nhiễm HIV được khuyến khích đi làm xét ngiệm Nếu họ đồng

ý, chúng tôi có thể cho họ làm xét nghiệm HIV Nếu họ đồng ý chúng tôi sẽ thu tiền Không cần ký vào bản cam kết trước khi làm xét nghiệm Nhân viên phòng khám lấy máu để làm xét

nghiệm.” Cán bộ y tế, Tịnh Biên, An Giang.

“Nếu phụ nữ có thai mà chồng có hành vi nguy cơ như là nghiện ma túy, quan hệ với gái mại

Trang 39

dâm, chúng tôi sẽ khuyên họ về bảo chồng đi làm xét nghiệm HIV Năm ngoái, chúng tôi đã khuyên một cặp làm như vậy, nhưng kết quả là âm tính Các hành vi nguy cơ bao gồm nghiện

ma túy, lái xe đường dài, quan hệ với gái mại dâm, chủ nhà hàng hoặc khách sạn.” Cán bộ y

tế, Uông Bí, Quảng Ninh

Các nghiên cứu khác đã chỉ ra những thách thức đối với Tính bảo mật của các kết quả xét nghiệm ở Việt Nam Các phát hiện trong nghiên cứu này rất nhất quán rằng viẹc phát hiện ra tình trạng nhiễm bệnh hoặc sợ hãi bị người khác phát hiện ra tình trạng HIV của họ là một nỗi lo rất lớn Ngoài ra, đã

có những ví dụ về việc chia sẻ kết quả xét nghiệm

“Tôi nhận được kết quả xét nghiệm HIV từ trung tâm y tế ở tuyến trên.”

cảm, Quảng Ninh

“Các quan chức địa phương nhận được một tờ thông báo có tên của tất cả những người có

HIV(+) trong cộng đồng.” Một phụ nữ nhiễm HIV, Uông Bí, Quảng Ninh

“Các kết quả (+) sẽ được gửi lên phòng kế hoạch của trung tâm y tế dự phòng thành phố

Chúng tôi cung cấp tên, địa chỉ và kết quả, và tổ chức họp hàng tháng để trao đổi về những

trường hợp không theo dõi được” Cán bộ y tế, TP HCM

c Yêu cầu bạn tình nam làm xét nghiệm

Không có trường hợp nào mà các cặp vợ chồng cùng đi làm xét nghiệm tại cơ sở khám thai Ngay

cả sau khi đã biết kết quả của vợ, cũng ít có các ông chồng đến cơ sở y tế để làm xét nghiệm Trong nhiều trường hợp, người chồng đã biết về tình trạng của mình rồi (xem phần chẩn đoán nhiễm HIV

và tiết lộ tình trạng nhiễm HIV) Một số người đồng ý làm xét nghiệm nhưng không làm tại trung tâm khám thai và không chịu làm xét nghiệm cùng với vợ

“Đối với các trường hợp nhiễm HIV, khi tư vấn trước xét nghiệm, chúng tôi luôn vận động

những người phụ nữ đó đưa chồng đến làm xét nghiệm, nhưng chẳng ai đưa chồng đến làm xét nghiệm cả Họ đều tới chỗ khác để làm xét nghiệm, có lẽ họ ngại đến trạm xá phường để

khám thai.” Trung tâm y tế dự phòng Quận, Hóc Môn, TP HCM

“Nhiều phụ nữ có thai được chồng đưa đến làm xét nghiệm tại trung tâm, nhưng chẳng ông

chồng nào chịu làm xét nghiệm cùng với vợ cả.” Cán bộ y tế, Quận 6 TP HCM

Một số nam giới từ chối làm xét nghiệm cho bản thân họ, đa số đều có vẻ muốn từ chối

“Vâng, em có bảo anh ấy đi làm xét nghiệm, nhưng anh ấy không nghe Lúc đó, anh ấy rất

buồn, nhưng anh ấy vẫn động viên em và em cũng động viên anh ấy Nhưng sau khi em sinh,

em không có thời gian để chăm sóc anh ấy nữa, anh ấy lại nghiện lại Em có bảo nhưng anh

ấy không nghe em nữa.” Phụ nữ nhiễm HIV, Quận 6, TP HCM

d Tư vấn sau xét nghiệm

Dường như là hình thức tư vấn có chất lượng sau xét nghiệm mới được áp dụng gần đây và chỉ ở một

số cơ sở được lựa chọn Những người được chẩn đoán nhiễm HIV vài năm trước đây, hoặc hiện nay nhưng ở những nơi chưa có tập huấn, không được tư vấn sau xét nghiệm với thái độ cảm thông và phù hợp

“Họ chẳng tư vấn gì cả Ngay cả sau khi cô ấy đẻ xong, họ cũng chẳng quan tâm, họ bỏ mặc

chúng tôi một mình (nói với người khác): họ bỏ mặc chúng tôi một mình trong bệnh viện Sau khi vợ tôi đẻ xong, họ không phát thuốc cho cô ấy uống; đến lúc tôi hỏi họ cô ấy phải uống thuốc gì thì họ mới nói cho tôi biết, sau đó tôi phải ra hiệu thuốc để mua cho cô ấy mấy viên Bác sĩ không làm (xét nghiệm máu) Ông ấy chỉ đứng đó và nói gì đó Tôi nghe người khác nói là phải yêu cầu họ làm xét nghiệm Sau đó họ gọi tôi đến trả kết quả trước khi chúng

Trang 40

tôi ra viện Họ chẳng tư vấn hay khuyên nhủ gì hết, chẳng có gì cả.” Một người chồng nhiễm

HIV, Quận 6, TP HCM có vợ vừa sinh con tại một bệnh viện không có dịch vụ PLTM

Gần đây, mọi người nói rằng những người cung cấp dịch vụ có thái độ tế nhị, quan tâm và thông cảm hơn khi tư vấn sau xét nghiệm

“Các nhân viên y tế ở trạm xá phường cũng có tư vấn cho em Em nghĩ là họ rất thân thiện…

Có (nó) rất bổ ích Những lần được tư vấn giúp em hiểu ra là không nên kì thị những người

có HIV Ngoài ra, chúng em biết HIV lây truyền qua đường nào và biết cách phòng tránh lây

nhiễm HIV.” Vợ của một nam giới nhiễm HIV, Uông Bí, Quảng Ninh

“Mỗi lần em đến trạm xá, em thường tâm sự với mọi người ở đó rất lâu Họ động viên em rất

nhiều.” Một phụ nữ nhiễm HIV , Tân Châu, An Giang

Cung cấp dịch vụ ở Việt Nam thường ở trong tình trạng quá tải Ví dụ, ta có thể thường xuyên thấy cảnh các phụ nữ sau sinh cùng nằm trên một giường bệnh Các cán bộ y tế tự phải ra quyết định dựa vào thời gian và nguồn lực, mặc dù không đúng theo qui trình Ví dụ, họ có thể bỏ qua việc tư vấn trước khi xét nghiệm vì có quá nhiều phụ nữ đến khám thai, đặc biệt là khi cơ sở đó chỉ khám thai vào một số ngày nhất định trong tháng Hoặc họ có thể tiến hành giáo dục nhóm, hoặc chia sẻ thông tin

cá nhân rất nhanh Dịch vụ tư vấn sau xét nghiệm đã được đảm bảo (tại các cơ sở đã được tập huấn)

theo đúng quy trình cho nam và nữ giới nhiễm HIV Nhưng trong các xét nghiệm định kỳ, khi kết quả

là âm tính, việc tư vấn cho đa số phụ nữ, dù ở các tỉnh có nguy cơ cao, còn hạn chế, thậm chí cả

về các thông tin dự phòng lây nhiễm trong tương lai Một lần nữa, các nhân viên y tế bị hạn chế

về thời gian và nguồn lực Phụ nữ thậm chí còn bị ru ngủ với cảm giác an toàn hơn khi họ đã được xét nghiệm, và khẳng định là “tốt” và “bình thường” Vì thế, chồng của họ cũng “bình thường” và “tốt” –

anh ta không phải là những kẻ chơi bời Xét nghiệm HIV âm tính được xem như một đảm bảo cho

sự chung thủy và hành vi tốt Có rất nhiều cơ hội để tư vấn cho những cặp vợ chồng/bạn tình có kết

quả xét nghiệm HIV âm tính về các vấn đề dự phòng lây nhiễm HIV cũng như giai đoạn cửa sổ

C.3 Thuốc ARV để PLTMC và thuốc ARV cho nam và nữ giới trưởng thành:

Phụ nữ được tư vấn xét nghiệm lần đầu khi đi khám thai tại các địa điểm có nhiều dịch vụ PLTMC tùy theo từng trường hợp Nếu dương tính, và nếu thuốc ARV đã có sẵn tại nơi họ sống, họ sẽ được phát thuốc ARV miễn phí kể từ tuần thứ 28 Phụ nữ dương tính được chuyển đến những cơ sở có cung cấp thuốc ARV Nghiên cứu này phỏng vấn được 11 phụ nữ nhận ARV trong quá trình mang thai, trong

đó một số người được chỉ được phát thuốc trong vài tuần, một số khác được 2-3 tháng Một số nơi có cung cấp dịch vụ xét nghiệm CD4 miễn phí, nhưng không phải chỗ nào cũng miễn phí Hỗ trợ đều nhất là thuốc NVP liều đơn khi chuyển dạ và cho trẻ sau khi sinh Đa số các chị em và chồng nhớ rõ

về thuốc NVP liều đơn, cũng như việc con họ đã được uống thuốc ARV sau khi được sinh ra

“Tôi không được uống thuốc gì trước và trong khi đau đẻ cả.”

Một phụ nữ nhiễm HIV đã được nhận dịch vụ PLTMC, Hóc Môn, TP HCM

Được uống thuốc ARV miễn phí là một trong những động cơ chính để đi làm xét nghiệm và được chăm sóc

“(Chúng tôi hy vọng là) khi chúng tôi sinh con ra, nó không bị nhiễm HIV Chúng tôi nghèo

nên chúng tôi hy vọng được uống thuốc miễn phí.” Một nam giới nhiễm HIV, Quận 6,TP HCM

“Các bác sĩ phát thuốc để em được sống lâu hơn, em rất may mắn Em không có tiền để mua

thuốc ở ngoài.” Một nam giới nhiễm HIV, Tân Châu, An Giang

“Nếu họ (những phụ nữ có thai) bị nhiễm HIV, trung tâm y tế phát thuốc cho họ để bảo vệ

con họ không bị nhiễm HIV.” Chủ nhiệm CLB đồng cảm, Yên Hưng, Quảng Ninh

Ngày đăng: 15/03/2013, 17:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình có sự tham gia của nam - Sự tham gia của nam giới vào chương  trình dự phòng lây truyền mẹ con ở  Việt Nam
Hình c ó sự tham gia của nam (Trang 76)
Bảng 1: Các chỉ số thu thập từ chương trình PLTMC (Bộ Y Tế 2008) - Sự tham gia của nam giới vào chương  trình dự phòng lây truyền mẹ con ở  Việt Nam
Bảng 1 Các chỉ số thu thập từ chương trình PLTMC (Bộ Y Tế 2008) (Trang 157)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w