1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức tự học ở nhà, các định luật bảo toàn

157 653 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ Chức Tự Học Ở Nhà, Các Định Luật Bảo Toàn
Tác giả Đinh Thị Bích Đào
Người hướng dẫn TS. Phạm Thế Dân
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo Dục Học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức tự học ở nhà, các định luật bảo toàn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Đinh Thị Bích Đào

TỔ CHỨC TỰ HỌC Ở NHÀ NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TỒN” - SGK VẬT

Trang 2

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

PHT 1A PHT chuẩn bị bài mới của bài Động lượng Định luật bảo toàn động lượng

PHT 1B PHT củng cố bài của bài Động lượng Định luật bảo toàn động lượng

PHT 1C PHT hướng dẫn HS làm bài tập bài Động lượng Định luật bảo toàn động lượng

PHT D1 PHT hướng dẫn HS làm thí nghiệm vật lí bài Động lượng Định luật bảo toàn động

PHT E1 PHT hướng dẫn HS tìm hiểu ứng dụng của vật lí vào thực tiễn (ứng dụng của định luật

bảo toàn động lượng vào thực tiễn) PHT 2A PHT chuẩn bị bài mới của bài Công và công suất

PHT 2B PHT củng cố bài của bài Công và công suất

PHT 2C PHT hướng dẫn HS làm bài tập bài Công và công suất

PHT 3A PHT chuẩn bị bài mới của bài Động năng

PHT 3B PHT củng cố bài của bài Động năng

PHT 3C PHT hướng dẫn HS làm bài tập bài Động năng và bài Thế năng (bài Động năng và

Thế năng chung)

PHT E2 PHT hướng dẫn HS tìm hiểu ứng dụng của vật lí vào thực tiễn (ứng dụng của động

năng, thế năng và sự biến đổi giữa chúng) PHT 4A PHT chuẩn bị bài mới bài Thế năng

PHT 4B PHT củng cố bài của bài Thế năng

PHT 5A PHT chuẩn bị bài mới bài Cơ năng

PHT 5B PHT củng cố bài của bài Cơ năng

PHT 4C PHT hướng dẫn HS giải bài tập bài Cơ năng

PHT 6 PHT ôn tập chương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn:

Thầy hướng dẫn, TS Phạm Thế Dân – người đã trực tiếp khuyến khích, động viên, hướng dẫn tôi thực hiện hoàn thành đề tài bằng tất cả sự tận tình và trách nhiệm

Quý thầy cô trong tổ Phương Pháp Giảng Dạy, khoa vật lí, thư viện, phòng Khoa Học Công Nghệ Sau Đại Học trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, quý thầy cô trong thư viện Khoa Học Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh đã khuyến khích, quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài

Ban Giám Hiệu, quý thầy cô trong bộ môn Vật lí trường THPT KrôngAna, gia đình và bạn

bè đã giúp đỡ cho tôi hoàn thành đề tài

Tác giả Đinh Thị Bích Đào

Trang 4

MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

“Kiến thức là cái gì còn lại khi người ta đã quên hết những điều đã học” (Selma Lagerlof)

Quả đúng như vậy, chúng ta đang tiến tới nền văn minh thứ ba: nền văn minh trí tuệ - nền văn minh với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật Lượng thông tin tích lũy được của nhân loại là khổng lồ và luôn được cập nhật, biến đổi từng giây, từng phút Vòng đời của một công nghệ được rút ngắn lại còn từng ngày, từng tháng… Với lượng kiến thức vô tận đó, liệu chúng ta có thể nhồi nhét hết vào đầu óc của mình? Câu trả lời tất nhiên là không thể! Chúng ta chỉ có thể dạy cho học sinh cách học, cách xử lí những tình huống trong thực tế, rèn luyện

cho học sinh kĩ năng sống…Tóm lại là dạy cho học sinh cách tự học suốt đời, dựa trên bốn trụ cột: học để biết, học để làm, học để cùng chung sống với nhau và học để làm người

Với mục đích đó, đất nước ta đã tiến hành đổi mới phương pháp dạy học từ nhiều năm qua và

đã thu được một số kết quả đáng mừng Nhưng nhìn chung vẫn chỉ dừng lại ở lí luận mà chưa chú trọng nhiều đến việc vận dụng vào thực tiễn dạy học Đa số cách dạy của giáo viên vẫn chưa chú ý

đến vấn đề dạy – tự học cho học sinh Mặt khác, với sức ép của thi cử và tuyển sinh, giáo viên và

học sinh không còn cách nào khác là phải ra sức rèn kĩ năng giải bài tập theo kiểu “nhồi nhét”, học

tủ, học lệch Điều này kéo theo tình trạng dạy thêm – học thêm tràn lan, ngoài thời gian học trên lớp, học sinh dành phần lớn thời gian cho việc học thêm bên ngoài Và điều đương nhiên là còn rất

ít thời gian để tự học ở nhà Kiến thức mà học sinh tiếp thu được trên lớp và trong các buổi học thêm chỉ mới ở dạng “thô”, nếu không có thời gian tự học ở nhà thì học sinh biến những kiến thức dạng “thô” đó thành kiến thức của mình như thế nào? Cứ như vậy, những gì học được sẽ nhanh chóng bị quên lãng theo thời gian Đó là chưa kể đến lối học “nhồi nhét” như vậy sẽ biến học sinh chúng ta thành những chú “gà công nghiệp” chỉ biết chờ đợi thức ăn người ta mang tới mà không biết tự tìm kiếm thức ăn cho riêng mình, từ đó mà tư duy phân tích, tổng hợp, sáng tạo cũng bị thui chột đi

Như vậy, hướng dẫn học sinh tự học là cần thiết, hướng dẫn học sinh tự học ở nhà còn cần thiết hơn, vì nó là cơ sở để học sinh có thể tự học suốt đời Thế nhưng việc dạy học sinh tự học ở nhà hiện nay chưa được quan tâm đúng mực Giáo viên lên lớp cũng chỉ dành vài phút cuối giờ dạy

để dặn dò một cách hình thức là các em về học cái này, cái kia mà chưa hướng dẫn cụ thể là các em

phải làm như thế nào Vì thế, với lòng yêu nghề và với trách nhiệm của bản thân, tôi chọn đề tài “Tổ chức tự học ở nhà nhằm phát huy tính tích cực, tự lực học tập của học sinh trong dạy học chương

“Các định luật bảo toàn” – SGK Vật lí 10” với mong muốn góp một phần sức lực rất nhỏ bé của

mình trong công cuộc đổi mới giáo dục của đất nước Tôi chọn chương “Các định luật bảo toàn” sách giáo khoa vật lí 10 vì nội dung chương này khá trừu tượng và khá khó đối với học sinh so với

Trang 5

những chương khác, đồng thời cũng có nhiều ứng dụng trong thực tế hiện đại mà học sinh cần thiết phải nắm được

Có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề phát huy tính tích cực, tự lực học tập của học sinh như: Nghiên cứu xây dựng và sử dụng bài tập thí nghiệm nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học vật lí ở trường phổ thông (luận văn thạc sĩ giáo dục học của Nguyễn Tiến Dũng, năm 2006); Thiết kế và sử dụng website trong dạy học phần “Dao động điện – dòng điện xoay chiều, dao động điện từ - sóng điện từ” lớp 12 THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh (luận văn thạc sĩ giáo dục học của Mai Hoàng Phương, năm 2007); Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong quá trình dạy học chương “Chất khí” lớp 10 ban KHTN (luận văn thạc sĩ giáo dục học của Lê Phú Đăng Khoa, năm 2008)…

Về vấn đề tự học, có các nghiên cứu như: Xây dựng hệ thống bài tập chương “Các định luật bảo toàn” lớp 10 THPT nhằm phát triển năng lực tư duy độc lập và nâng cao hiệu quả tự học của học sinh (luận văn thạc sĩ giáo dục học của Nguyễn Xuân Phượng, năm 2007); Tổ chức hoạt động học tập tự lực – sáng tạo của học sinh trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” lớp 10 THPT ban cơ bản (luận văn thạc sĩ giáo dục học của Võ Thị Tuyết Mai, năm 2008); Bồi dưỡng năng lực tự học và liên hệ thực tế của học sinh trong dạy học chương “Dòng điện xoay chiều” lớp 12 THPT (luận văn thạc sĩ giáo dục học của Nguyễn Kim Dũ, năm 2007)…

Riêng về vấn đề hướng dẫn học sinh tự học ở nhà, có một số bài báo đề cập đến như: Tổ chức hoạt động tự học ở nhà về môn vật lí cho học sinh (TS Tạ Tri Phương, Tạp chí Giáo dục số 64, 2003); Thí nghiệm vật lí ở nhà của học sinh: ý nghĩa và các phương án tiến hành (TS Nguyễn

Ngọc Hưng, Tạp chí Giáo dục số 27, 2002) Những bài báo này đề cập đến tầm quan trọng và một

số vấn đề lí thuyết của việc hướng dẫn học sinh tự học ở nhà Tiếp tục nghiên cứu sâu và khai thác

nhiều khía cạnh khác của vấn đề tự học ở nhà của học sinh, tôi thực hiện đề tài “Tổ chức tự học ở nhà nhằm phát huy tính tích cực, tự lực học tập của học sinh trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” – SGK Vật lí 10”

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

1 Xây dựng hệ thống phiếu học tập hướng dẫn học sinh tự học ở nhà chương “Các định luật bảo toàn” vật lí lớp 10 THPT ban cơ bản

2 Tổ chức cho học sinh tự học ở nhà nhằm phát huy tính tích cực, tự lực học tập của học sinh

3 Kiểm tra, đánh giá kết quả của hoạt động tự học ở nhà; Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh; Đánh giá mức độ tích cực, tự lực của học sinh trong giờ học trên lớp Từ đó so sánh mức

độ tích cực, tự lực của học sinh khi có hướng dẫn tự học ở nhà với khi không có hướng dẫn tự học ở nhà

III GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Trang 6

Trong quá trình dạy học, nếu giáo viên tổ chức cho học sinh tự học ở nhà một cách phù hợp thì sẽ phát huy được tính tích cực, tự lực học tập của học sinh

IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về tính tích cực, tự lực học tập của học sinh

2 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tổ chức cho học sinh tự học ở nhà

3 Nghiên cứu nội dung chương “Các định luật bảo toàn” và các mục tiêu cần đạt được của học sinh khi học chương này

4 Tìm hiểu thực trạng việc tự học ở nhà môn vật lí của học sinh trường THPT KrôngAna để phát hiện những khó khăn và nguyên nhân những khó khăn đó trong quá trình tự học ở nhà

5 Xây dựng hệ thống phiếu học tập chương “Các định luật bảo toàn”, bao gồm phiếu học tập dùng cho việc chuẩn bị bài mới, phiếu học tập dùng cho việc vận dụng, củng cố bài cũ, phiếu học tập hướng dẫn làm bài tập vật lí, phiếu học tập hướng dẫn làm thí nghiệm vật lí, phiếu học tập hướng dẫn tìm hiểu ứng dụng của vật lí trong thực tiễn

6 Soạn thảo tiến trình dạy học 5 bài của chương “Các định luật bảo toàn” theo hướng phù hợp với quá trình tổ chức tự học ở nhà

7 Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT nhằm xác định mức độ phù hợp, đánh giá tính khả thi và hiệu quả của việc tổ chức cho học sinh tự học ở nhà Rút kinh nghiệm để việc tổ chức

tự học có hiệu quả cao hơn

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Nghiên cứu lí luận

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về tính tích cực, tự lực học tập của học sinh

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tổ chức cho học sinh tự học ở nhà

- Nghiên cứu chương trình, nội dung SGK, sách giáo viên và các tài liệu liên quan đến chương “Các định luật bảo toàn”

2 Điều tra và khảo sát

- Tìm hiểu thực tế việc học bài ở nhà của học sinh thông qua dự giờ, trao đổi với giáo viên và học sinh trường THPT, lập phiếu điều tra khảo sát Phân tích kết quả nhằm đánh giá sơ bộ tình hình

tự học ở nhà của học sinh

- Quan sát việc học của học sinh ở trên lớp, lập bảng thống kê về các biểu hiện của tính tích cực, tự lực của học sinh Phân tích kết quả nhằm đánh giá hiệu quả của việc tổ chức cho học sinh tự học ở nhà đối với việc phát huy tính tích cực, tự lực học tập của học sinh

Trang 7

3 Thực nghiệm sư phạm

Tổ chức cho học sinh tự học ở nhà theo kế hoạch đã vạch ra, so sánh kết quả giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng nhằm khẳng định tính khả thi của việc phát huy tính tích cực, tự lực học tập thông qua việc hướng dẫn học sinh tự học ở nhà Đưa ra kết luận và kiến nghị

VI KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1 Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 10 THPT trong quá trình học chương “Các định luật bảo toàn”

2 Đối tượng nghiên cứu

- Quá trình dạy – học vật lí ở trên lớp chương “Các định luật bảo toàn”

- Quá trình tự học vật lí ở nhà của học sinh chương “Các định luật bảo toàn”

VII PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu việc tổ chức tự học ở nhà và thực nghiệm trên đối tượng học sinh lớp 10 ban cơ bản trường THPT KrôngAna - huyện KrôngAna - tỉnh ĐăkLăk

Trang 8

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC TỰ HỌC Ở NHÀ NHẰM PHÁT HUY

TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH 1.1 Phát huy tính tích cực học tập của học sinh

1.1.1 Khái niệm tính tích cực học tập

- Tính tích cực

Theo tác giả Thái Duy Tuyên, “Tính tích cực là khái niệm biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng Tính tích cực cũng là khái niệm biểu thị cường độ vận động của chủ thể khi

thực hiện một nhiệm vụ, giải quyết một vấn đề nào đấy” [59, tr.463]

Theo tác giả Trần Bá Hoành, “Tính tích cực của con người biểu hiện trong hoạt động Tính

tích cực của trẻ biểu hiện trong những hoạt động khác nhau: học tập, lao động, thể dục thể thao, vui chơi giải trí,…trong đó học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi học đường” [18, tr.46]

- Tính tích cực học tập

Tính tích cực học tập của học sinh là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự gắng sức cao

về nhiều mặt trong hoạt động học tập của trẻ Học tập là một trường hợp riêng của sự nhận thức,

“một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi, và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo viên”

Vì vậy, tính tích cực học tập thực chất là tính tích cực nhận thức Có nhiều cách định nghĩa về tính tích cực nhận thức

Tính tích cực nhận thức biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng trong quá

trình học tập, nghiên cứu; thể hiện ở sự nỗ lực hoạt động trí tuệ, sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí (như hứng thú, chú ý, ý chí,…) nhằm đạt được mục đích đặt ra với chất lượng cao [58]

Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh đặc trưng ở khát vọng học tập,

cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức [25]

Tính tích cực nhận thức được hiểu là “thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua

sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập nhận thức” Dưới góc độ tâm lí học, hoạt động nhận thức được tiến hành trên cơ sở huy động các chức năng nhận thức, tình cảm và ý chí; trong đó chức năng nhận thức đóng vai trò chủ yếu, các chức năng tâm

lí khác đóng vai trò hỗ trợ Các yếu tố của chúng kết hợp với nhau một cách hữu cơ, tác động và thúc đẩy lẫn nhau tạo nên một cái gọi là mô hình tâm lí của hoạt động nhận thức [47]

Cả ba khái niệm trên đều trực tiếp hoặc gián tiếp thừa nhận mô hình tâm lí của tính tích cực nhận thức bao gồm nhận thức, tình cảm và ý chí Theo tác giả Ngô Đình Qua, định nghĩa tiêu biểu cho khái niệm tính tích cực nhận thức là định nghĩa thứ ba: Tính tích cực nhận thức được hiểu là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập nhận thức Các định nghĩa khác góp phần mở rộng nội

hàm của khái niệm

- Các mức độ của tính tích cực nhận thức

Trang 9

+ Tính tích cực tái hiện: Chủ yếu dựa vào trí nhớ để tái hiện những điều đã học được.

+ Tính tích cực sử dụng: Vận dụng kĩ năng giải thích, phân tích, tổng hợp… để giải quyết một vấn đề

+ Tính tích cực sáng tạo: Tạo ra cái mới có giá trị

1.1.2 Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức

Muốn phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, trước hết phải nắm được những biểu hiện cụ thể của tính tích cực Có thể nhận biết tính tích cực nhận thức của học sinh bằng các dấu hiệu sau:

- Thứ nhất là những dấu hiệu bề ngoài qua thái độ, hành vi và hứng thú

Nhu cầu, hứng thú nhận thức của học sinh được thể hiện bằng những dấu hiệu cụ thể sau:

+ Thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng

Thể hiện ở chỗ các em hay nêu những thắc mắc, đặt những câu hỏi nhằm hiểu biết nhiều hơn, sâu hơn về những đối tượng mà các em tiếp xúc Những câu hỏi dạng:

Đây là cái gì? Dùng để làm gì? Có thể…được không? Tại sao? Như thế nào? Từ đâu mà có?

Học tập thụ động, không hứng thú sẽ không có câu hỏi và cũng sẽ không có phản ứng nếu câu hỏi không được trả lời

+ Chú ý quan sát, chăm chú lắng nghe và theo dõi những gì thầy cô làm

+ Giơ tay phát biểu, nhiệt tình hưởng ứng, bổ sung ý kiến vào câu trả lời của bạn và thích

tham gia vào các hoạt động Vui sướng, hài lòng khi được người khác giải đáp những câu hỏi, những thắc mắc hoặc khi tự mình tìm ra câu trả lời đúng Bực mình, thất vọng nếu trí tò mò không được thỏa mãn hoặc khi không thành công trong hoạt động học tập

Có thể cụ thể hóa dấu hiệu bên ngoài qua một số câu hỏi sau đây:

 Các em có chú ý, tập trung tư tưởng học tập không?

 Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập không? (Thể hiện ở chỗ giơ tay phát biểu ý kiến, ghi chép…)

 Có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không?

 Tốc độ học tập có nhanh không?

 Có thường xuyên hỏi thầy cô, trao đổi với bạn bè, tích cực tham gia học nhóm, học tổ không?

 Có hay lui tới thư viện, cửa hàng sách không?

 Thân hình có gầy gò tiều tụy đi không? Sức khỏe có bị giảm sút không?

Có thì giờ vui chơi giải trí không?

Trang 10

Có thì giờ thăm hỏi bạn bè, bà con, tham gia các hoạt động xã hội không?

- Thứ hai là những dấu hiệu bên trong như sự căng thẳng trí tuệ, sự nỗ lực hoạt động, sự

phát triển của tư duy, ý chí và xúc cảm…Những dấu hiệu bên trong này cũng chỉ có thể phát hiện được qua những biểu hiện bên ngoài, nhưng phải tích lũy một lượng thông tin đủ lớn và phải qua một quá trình xử lí thông tin mới thấy được, cụ thể là:

+ Các em tích cực sử dụng các thao tác nhận thức, đặc biệt là các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa…vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức

+ Tích cực vận dụng vốn kiến thức và kĩ năng đã tích lũy được vào việc giải quyết các tình huống và các bài tập khác nhau, đặc biệt là vào việc xử lí các tình huống mới

+Phát hiện nhanh chóng, chính xác những nội dung được quan sát

+ Hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác hiểu ý của mình

+ Có những biểu hiện của tính độc lập, sáng tạo trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ nhận thức như tự tin khi trả lời câu hỏi, có sáng kiến, tự tìm ra một vài cách giải quyết khác nhau cho các bài tập và tình huống, biết lựa chọn cách giải quyết hay nhất

+ Có những biểu hiện của ý chí trong quá trình nhận thức, như sự nỗ lực, cố gắng vượt qua các tác động nhiễu bên ngoài và các khó khăn để thực hiện đến cùng những nhiệm vụ được giao, sự phản ứng khi có tín hiệu thông báo hết giờ

Có thể cụ thể hóa dấu hiệu bên trong qua các câu hỏi sau:

 Có biểu hiện hứng thú, say mê, có hoài bão học tập không?

 Có ý chí vượt khó khăn trong học tập không?

 Có sự phát triển về năng lực phân tích, tổng hợp…năng lực tư duy nói chung không?

 Có biểu hiện sự sáng tạo trong học tập không?

- Thứ ba là kết quả học tập Kết quả học tập là một dấu hiệu quan trọng và có tính chất khái quát của tính tích cực nhận thức Chỉ tích cực học tập một cách thường xuyên, liên tục, tự giác mới

có kết quả học tập tốt

Một số câu hỏi cụ thể hóa dấu hiệu này:

+ Có hoàn thành nhiệm vụ học tập được giao không?

+ Có ghi nhớ tốt những điều đã học không?

+ Có vận dụng được kiến thức đã học vào thực tế không?

+ Có phát triển tính năng động, sáng tạo không?

+ Kết quả kiểm tra, thi cử có cao không?

Trên đây là những biểu hiện tính tích cực nhận thức của học sinh Tuy nhiên mức độ tích cực của học sinh trong quá trình học tập không giống nhau Giáo viên có thể phát hiện được điều đó nhờ

Trang 11

dựa vào một số dấu hiệu như: Tự giác học tập hay bị bắt buộc bởi những tác động bên ngoài (gia đình, bạn bè, xã hội,…); Thực hiện nhiệm vụ của thầy giáo theo yêu cầu tối thiểu hay tối đa; Tích cực nhất thời hay thường xuyên, liên tục; Tích cực tăng lên hay giảm dần; Có kiên trì vượt khó hay không?

Ta có thể lượng hóa mức độ tích cực của học sinh qua một số tiêu chí sau:

- Mức độ hoạt động của học sinh trong giờ học (bốn mức độ)

+ Mức độ 1: Thụ động hoàn toàn (đơn thuần ghi chép)

+ Mức độ 2: Nhận biết không chủ định (giáo viên nói gì ghi đó, không phân biệt đúng

- sai)

+ Mức độ 3: Nhận biết có chủ định (tiếp thu có chọn lọc, ghi theo ý riêng của mình) + Mức độ 4: Tích cực suy nghĩ, tìm tòi, tham gia giải quyết vấn đề (được lượng hóa bằng số % số học sinh phát biểu xây dựng bài…)

- Sự tập trung chú ý của học sinh trong tiến trình bài học (bốn mức độ)

+ Mức độ 1: Hoàn toàn không chú ý (làm việc riêng, nói chuyện, không tập trung) + Mức độ 2: Chú ý giả tạo (ngồi nghiêm chỉnh nhưng đầu óc trống rỗng)

+ Mức độ 3: Chăm chú theo dõi, quan sát

+ Mức độ 4: Tập trung chú ý cao độ (tập trung, hăng say phát biểu xây dựng bài…)

Đánh giá kết quả nhận thức dựa vào điểm số

Đánh giá mức độ nắm vững kiến thức, kĩ năng (theo bốn mức độ)

+ Mức độ 1: Sự ghi nhớ (nhớ lại, tái hiện, nhận biết)

+ Mức độ 2: Hiểu bài (hiểu vấn đề, có thể trình bày lại các luận điểm của bài học bằng ngôn ngữ riêng của mình)

+ Mức độ 3: Có khả năng vận dụng (vận dụng tri thức vào các tình huống quen thuộc

và không quen thuộc; giải quyết những vấn đề do thực tế đặt ra)

+ Mức độ 4: Sáng tạo (có cách giải quyết độc đáo, nghĩ ra những cách làm mới).[17], [47],[58], [59]

1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến tính tích cực nhận thức

Trang 12

Tính tích cực nhận thức của học sinh tuy nảy sinh trong quá trình học tập nhưng lại chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố và là hậu quả của nhiều nguyên nhân: có những nguyên nhân phát sinh lúc học tập, có những nguyên nhân được hình thành từ quá khứ, thậm chí từ lịch sử lâu dài của nhân cách

Nhìn chung, tính tích cực nhận thức phụ thuộc vào những nhân tố sau đây:

- Bản thân học sinh, tính tích cực nhận thức phụ thuộc vào:

+ Đặc điểm hoạt động trí tuệ: tái hiện, sáng tạo…

+ Năng lực: hệ thống tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, sự trải nghiệm cuộc sống

+ Tình trạng sức khỏe

+ Trạng thái tâm lí: hứng thú, chú ý, nhu cầu, động cơ, ý chí, xúc cảm…

+ Phẩm chất: các giá trị đạo đức, thẩm mĩ, lòng yêu khoa học, tinh thần trách nhiệm…

- Nhà trường

+ Chất lượng quá trình dạy học: Mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức kiểm tra đánh giá

+ Quan hệ thầy trò

+ Không khí đạo đức trong nhà trường

- Gia đình: Gia đình có ảnh hưởng cực kì quan trọng không những đến tính tích cực nhận thức mà còn đến nhân cách và toàn bộ cuộc đời các em

Trước hết là yếu tố di truyền Tuy nhiên, di truyền không phải là yếu tố quyết định đến sự thành đạt của mỗi con người, mà nó có thể được cải tạo và bù đắp bằng những khả năng khác mà

bản thân các em và gia đình có thể tạo ra

Tiếp theo là truyền thống gia đình Truyền thống gia đình ảnh hưởng rất lớn đến các em

thông qua tấm gương của bố mẹ và không khí đạo đức chung của gia đình

Gia đình cũng là cái nôi nuôi dưỡng bản sắc văn hóa dân tộc và nhờ đó mà ảnh hưởng đến các em

Việc tham gia trực tiếp giáo dục con cái, sự quan tâm theo dõi, động viên, nhắc nhở thường xuyên của bố mẹ có ý nghĩa vô cùng quan trọng và ảnh hưởng hết sức to lớn đối với tinh thần học tập, việc rèn luyện đạo đức và kết quả học tập của các em

- Xã hội: Xã hội hiện đại với đặc điểm là khoa học kĩ thuật phát triển nhanh và cạnh tranh

quyết liệt ở quy mô toàn cầu, việc đào tạo những con người tích cực, năng động, sáng tạo đã trở thành chiến lược, là lẽ sống của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Vì vậy, nhà trường luôn phải thay đổi, cải cách quá trình giáo dục cho phù hợp với yêu cầu xã hội Quy mô, mạng lưới cũng như các loại hình nhà trường…cũng luôn phải thay đổi cho phù hợp với nhu cầu học tập của người dân Xã hội

Trang 13

có trách nhiệm xác định mục tiêu, chương trình, nội dung dạy học giáo dục để đào tạo nên những

công dân có trách nhiệm và hòa nhập tốt

Các tổ chức xã hội trong nhà trường như các nhóm bạn, đoàn thanh niên, tập thể lớp… là những động lực xã hội rất quan trọng của tính tích cực học tập

Như vậy, tính tích cực nhận thức của học sinh chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố Nhưng nhà trường, đặc biệt là người thầy giáo khi đứng lớp giữ vai trò quan trọng nhất trong việc tích cực hóa hoạt động của học sinh Nhà trường cần tổ chức phối hợp các nhân tố trên để phát huy tinh thần tích cực học tập của các em nhằm nâng cao hiệu quả học tập

Trong những nhân tố trên đây, có những nhân tố có thể hình thành ngay, nhưng có những nhân tố chỉ được hình thành qua một quá trình dài lâu, dưới ảnh hưởng của rất nhiều tác động Vì thế việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh đòi hỏi một kế hoạch dài lâu và toàn diện khi phối hợp hoạt động của gia đình, nhà trường và xã hội

1.1.4 Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức

Phát huy tính tích cực nhận thức là một vấn đề đã được quan tâm từ lâu

Từ thời cổ đại, các nhà sư phạm như Khổng Tử, Aristot,…đã từng nói đến tầm quan trọng to lớn của việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh và đã đề cập nhiều biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức

J A Komenski, nhà sư phạm lỗi lạc của thế kỉ XVII đã đưa ra những biện pháp dạy học bắt

học sinh phải tìm tòi, suy nghĩ để nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng

J J Ruxo cũng cho rằng phải hướng học sinh tích cực tự giành kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo

A Distecvec thì cho rằng người giáo viên tồi là người cung cấp cho học sinh chân lí, người

giáo viên giỏi là người dạy cho họ cách tìm ra chân lí

K D Usinski nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều khiển, dẫn dắt học sinh của giáo

viên

Trong thế kỉ XX, các nhà giáo dục Đông, Tây tìm kiếm con đường phát huy tính tích cực trong hoạt động dạy học phải kể đến B P Exipop, M A Danilov, M N Scatkin, I F Khalamov, I

I Samova, Okon, Skiner,…

Ở Việt Nam, các nhà lí luận dạy học quan tâm nhiều đến tính tích cực nhận thức trong dạy học như GS Hà Thế Ngữ, GS Nguyễn Ngọc Quang, GS Đặng Vũ Hoạt,…

Gần đây, tư tưởng dạy học tích cực sáng tạo đã là một chủ trương quan trọng của Đảng, nhà

nước và của ngành giáo dục nước ta, đã được giới thiệu rộng rãi trên các báo cáo và tạp chí khoa học chuyên ngành

Các nhà nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau: Nhận thức luận, điều khiển học, xã hội học, tâm lí học… Nhưng các thầy giáo thì quan tâm nhất là vấn đề nâng cao

Trang 14

tính tích cực nhận thức trong giờ lên lớp và phần lớn các luận án tiến sĩ, các luận văn thạc sĩ đều hướng đến vấn đề này

Các biện pháp nhằm nâng cao tính tích cực nhận thức của học sinh rất đa dạng, có thể tóm tắt thành các nhóm sau:

- Nhóm biện pháp cho các thầy giáo đứng lớp

- Nhóm biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức thông qua các hoạt động giáo dục

- Nhóm biện pháp thông qua tác động của gia đình

- Nhóm biện pháp do xã hội tác động

Trong luận văn này, tôi đi sâu phân tích nhóm biện pháp cho các thầy giáo đứng lớp Nhóm biện pháp này rất quan trọng vì nó tác động trực tiếp đến học sinh và về thời gian thì dạy học chiếm hơn 80% hoạt động của nhà trường Nó rất phong phú, đa dạng bao gồm một số vấn đề sau:

+ Giác ngộ ý thức học tập, kích thích tinh thần trách nhiệm và hứng thú học tập của các em

bằng cách nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu

+ Kích thích hứng thú qua nội dung: Đây là biện pháp mà các thầy giáo hay làm nhất Tùy

thế mạnh của từng môn học mà cách kích thích hứng thú sẽ khác nhau Nhưng nhìn chung, muốn

kích thích được hứng thú của học sinh thì nội dung phải mới và gắn liền với những kiến thức và

kinh nghiệm mà các em đã có, gắn liền với cuộc sống hiện tại và sự phát triển tương lai của các em

Kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt và suy nghĩ hàng ngày, phải thỏa mãn nhu cầu nhận thức và thực tiễn của các em

+ Kích thích hứng thú qua phương pháp dạy học: Để tích cực hóa hoạt động nhận thức của

học sinh phải phối hợp nhiều phương pháp với nhau, những phương pháp có tác dụng tốt nhất trong

việc tích cực hóa hoạt động nhận thức là: dạy học nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, sử dụng các phương tiện hiện đại, thảo luận, tự học, trò chơi học tập…

+ Sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là những phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại

Đây là biện pháp hết sức quan trọng nhằm nâng cao tính tích cực của học sinh và giúp nhà trường đưa chất lượng dạy học lên một tầm cao mới

+ Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: Cá nhân, nhóm, tập thể lớp…; Làm việc

trong vườn trường, xưởng trường, phòng thí nghiệm…, tổ chức tham quan, các hoạt động nội khóa, ngoại khóa đa dạng Việc tổ chức cho các em xâm nhập thực tế, tham gia các hoạt động xã hội là hết sức quan trọng, có tác dụng rất tốt trong việc tạo nên những động lực học tập lành mạnh và tính tích cực học tập

Ngoài ra, có thể tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh qua nhiều biện pháp khác như:

+ Thầy giáo, bạn bè động viên, khen thưởng khi có thành tích học tập tốt

Trang 15

+ Luyện tập dưới các hình thức khác nhau, vận dụng kiến thức vào thực tiễn các tình huống mới

+ Kích thích tính tích cực qua thái độ, cách ứng xử giữa thầy giáo và học sinh

+ Phát triển kinh nghiệm sống của học sinh trong học tập

+ Kiểm tra, đánh giá có tác dụng rất quan trọng đến việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh

1.2 Phát huy tính tự lực học tập của học sinh

1.2.1 Khái niệm và ý nghĩa của tính tự lực học tập

Cũng theo từ điển tiếng việt, tự học nghĩa là tự mình học lấy, không cần ai dạy

Với ý nghĩa như trên, theo từ điển tiếng việt, tự lực học tập chính là tự học

Theo tác giả Thái Duy Tuyên, tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo,…và kinh nghiệm lịch sử - xã hội loài người nói chung của chính bản thân người học.[57]

Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, tự học là tự mình dùng các giác quan để thu nhận thông tin

rồi tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi

cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh cho được một lĩnh vực hiểu biết nào đó, một số kĩ năng nào đó [61]

Theo tác giả Nguyễn Hiến Lê, tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để

hiểu biết thêm Có thầy hay không, ta không cần biết Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được: đó mới là điều kiện quan trọng.[28]

Các định nghĩa tuy có khác nhau về cách diễn đạt nhưng về nội dung cơ bản là giống nhau

Ta có thể hiểu theo cách định nghĩa của tác giả Thái Duy Tuyên: tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo,…và kinh nghiệm lịch sử - xã hội loài người nói chung của chính bản thân người học

- Các kiểu tự học

Tác giả Thái Duy Tuyên cho rằng tự học gồm các kiểu sau:

+ Tự học dưới sự hướng dẫn của thầy như tự học của học sinh, sinh viên, thực tập sinh, nghiên cứu sinh…

+ Tự học không có sự hướng dẫn của thầy: trường hợp này thường liên quan đến những người đã trưởng thành, những nhà khoa học

Trang 16

+ Tự học trong cuộc sống: thường gặp ở các nhà văn, các nhà văn hóa, các nhà kinh tế, các nhà chính trị xã hội…[59]

Khi hiểu từ “thầy” theo nghĩa rộng, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng khi đã học thì bao giờ cũng có thầy Bởi học là kế thừa vốn văn hóa, khoa học của nhân loại, vốn này được đúc kết trong sách giáo khoa, và phải nhiều thầy, thậm chí nhiều thế hệ thầy mới có thể viết được những sách giáo khoa đó Khi đã có hệ thống sách giáo khoa thì việc học có thể diễn ra theo ba cách:

+ Có sách giáo khoa rồi người học tự đọc lấy mà hiểu, tự rút kinh nghiệm về tư duy, tự phê bình về tính cách (như thiếu kiên trì, thiếu tư tưởng tiến công, dễ thỏa mãn…) Đó là tự học ở mức cao Tác giả sách giáo khoa, nếu là thầy giỏi thì có thể giúp nhiều không những cho việc tiếp thu kiến thức mà còn cho cả việc rèn luyện tư duy và tính cách

+ Có sách giáo khoa và có thêm những ông thầy ở xa hướng dẫn tự học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin viễn thông khác Hướng dẫn tự học chủ yếu là hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh kiến thức, hướng dẫn tự phê bình về tính cách trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức Đó là tự học có hướng dẫn

+ Có sách và có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày, trong tuần Bằng những hình thức thông tin trực tiếp không qua máy móc hoặc ít nhiều có sự hỗ trợ của máy móc đặt ngay trên lớp

Đó là học giáp mặt trên lớp và về nhà tự học có hướng dẫn.[53]

- Tự học của học sinh ở trường phổ thông

Tự học trong nhà trường phổ thông trong thực tế vẫn còn là một vấn đề mới, mặc dù giáo dục hiện đại đã đề cập đến hàng mấy thập kỉ nay

Mục đích tự học của học sinh thường là hoàn thành tốt những phần nào đó trong nhiệm vụ học tập của mình Tự học của học sinh THPT luôn gắn liền với năng lực chủ động tích cực của từng học sinh Học sinh phải huy động toàn bộ tư duy, sự chủ động, tính tự giác, lòng say mê để nghiên cứu tài liệu, tự mình tìm tòi những tài liệu có liên quan đến bài học để có sự so sánh, đối chiếu, tự mình vận dụng, chuyển hóa kiến thức bài học dưới sự định hướng và dẫn dắt của giáo viên

Tự học của học sinh mới dừng lại ở cấp độ thấp nhưng đây lại là cơ sở vô cùng quan trọng cho việc hình thành năng lực tự học, tự nghiên cứu thuần thục của một nhà khoa học sau này

Đối với học sinh, tự học, tự nghiên cứu dựa trên cơ sở của việc học và nắm vững hệ thống kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa và hệ thống phương pháp học, kĩ năng học, tiến tới có kĩ xảo

và thói quen tự học, tự nghiên cứu Vì vậy, ở đây, vai trò của giáo viên vô cùng cần thiết Người thầy là người hướng dẫn tổ chức cho trò tự nghiên cứu, tìm ra kiến thức và tự thể hiện mình trong lớp học Thầy cũng là trọng tài cố vấn, kết luận trong các cuộc tranh luận đối thoại (trò – trò, thầy – trò) để khẳng định kiến thức do trò tự tìm ra và cũng là người kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của trò

- Ý nghĩa của tự học

Trang 17

Tự học là một trong những yếu tố quyết định chất lượng giáo dục Chất lượng giáo dục của mọi nhà trường chính là chất lượng giáo dục học tập và rèn luyện của học sinh Để tạo ra chất lượng này, cần có sự tham gia của nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là vấn đề tự học, tự giáo dục của học sinh Người dạy dù cố gắng đến đâu nhưng người học không động não, không tự tìm tòi, suy nghĩ trong quá trình lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thì kết quả dạy học không thể tốt được Cũng như bất kì một người nào, học sinh không bao giờ nắm vững thật sự những kiến thức, nếu người ta đem đến cho các em dưới dạng đã “chuẩn bị sẵn” L.N Tolxtoi đã viết “Kiến thức chỉ thực sự là kiến thức khi nào nó là thành quả của những cố gắng của tư duy chứ không phải của trí

nhớ” A Đixtervec viết: “Người giáo viên tồi cung cấp chân lý, còn người giáo viên tốt thì dạy người ta tìm ra chân lý”

+ Tự học hình thành nên những con người năng động, sáng tạo Tự học là quá trình học sinh

vận động trí tuệ để chiếm lĩnh tri thức, tự mình luyện tập các thao tác, hành động để hình thành kĩ năng, kĩ xảo Vì thế, tự học giúp người học tự tìm ra tri thức mới, cách thức hành động mới bằng chính sự nỗ lực của bản thân mình

+ Tự học tạo nền xuất hiện các nhà nghiên cứu khoa học Tự học và nghiên cứu khoa học

đều hướng vào mục đích chung là phát hiện tri thức mới, cho dù tri thức mới do nhà khoa học và học sinh tìm ra có khác nhau về ý nghĩa (mới đối với cả nhân loại và mới đối với từng cá nhân)

Phương pháp tự học rất gần gũi với phương pháp nghiên cứu khoa học Do đó, quá trình học sinh tự học cũng chính là quá trình các em được tiếp xúc, làm quen với hoạt động nghiên cứu khoa học

+ Tự học là một yêu cầu cấp thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học Đổi mới phương

pháp dạy học hiện đang là vấn đề rất được quan tâm của tất cả các nhà trường Định hướng cơ bản trong đổi mới phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học, lấy người học làm trung tâm Để thực hiện được định hướng đó, đòi hỏi học sinh phải nghiên cứu trước bài học, đọc thêm các tài liệu có liên quan, đề xuất vấn đề,…Hàng loạt công việc độc lập trên chỉ có thể được giải quyết bằng con đường tự học.[37]

1.2.2 Nội dung hoạt động tự lực học tập

Để tự học có hiệu quả cần phải làm gì? Theo quy trình nào? Đó là những vấn đề, những câu hỏi đặt ra cho người tự học, cho các giáo viên là những người đang hướng dẫn học sinh tự học Nội dung tự học phụ thuộc vào từng đối tượng cụ thể, nhưng ta có thể nêu lên những nội dung cơ bản, cần thiết cho mọi đối tượng như sau:

- Chuẩn bị cho hoạt động tự học, gồm những bước cơ bản sau:

+ Xác định nhu cầu và động cơ, kích thích hứng thú học tập

Việc làm đầu tiên nhằm khởi phát hoạt động tự học là người học phải làm sao tự kích thích, động viên mình, làm cho mình tự cảm thấy cần thiết và hứng thú bắt tay vào việc học, qua việc xác

Trang 18

định ý nghĩa quan trọng của vấn đề nghiên cứu, tinh thần trách nhiệm đối với công việc, qua cảm giác hứng thú đối với nội dung vấn đề và phương pháp làm việc

+ Xác định mục đích và nhiệm vụ tự học

Khi đã có động cơ và hứng thú thì người học phải trả lời câu hỏi học để làm gì? Học cái gì? Đối với đa số học sinh, sinh viên,…nói chung học tập là nhiệm vụ chính và thời gian làm việc tương đối tập trung, lại có sự hướng dẫn của giáo viên, nên việc xác định mục đích, nhiệm vụ học tập thường chỉ là việc cụ thể hóa những bài tập, nhiệm vụ mà giáo viên đã giao Để việc tự học có hiệu quả, mục đích và nhiệm vụ tự học phải có tính chất thiết thực, vừa sức, có tính định hướng cao và cố gắng tập trung dứt điểm từng vấn đề trong thời kì nhất định

+ Xây dựng kế hoạch

Để việc học tập có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải chọn đúng trọng tâm công việc, phải xác định học cái gì là chính, là quan trọng nhất, có tác động trực tiếp đến mục đích Bởi vì nội dung cần phải học thì nhiều, mà sức lực và thời gian thì có hạn, nếu việc học tập dàn trải, phân tán thì việc học sẽ không có hiệu quả Điều này rất quan trọng nhưng trong thực tế lại ít được chú ý nên

có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả tự học Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải sắp xếp công việc cho hợp lí về logic nội dung cũng như về thời gian Điều đó sẽ giúp cho công việc được trôi chảy và tiết kiệm thời gian cũng như sức lực

- Tự lực nắm nội dung học vấn

Đây là giai đoạn quan trọng nhất và chiếm nhiều thời gian nhất, là giai đoạn quyết định khối lượng kiến thức, kĩ năng tích lũy được cũng như sự phát triển của con người, nghĩa là quyết định sự thành công của tự học Giai đoạn này gồm nhiều bước

+ Lựa chọn tài liệu và hình thức tự học như

+ Sách vở, báo chí, tranh ảnh, số liệu thống kê, kỉ yếu hội thảo, báo cáo tổng kết, các văn kiện,…

+ Nghiên cứu lí luận, dự giờ, tham gia hội thảo, seminar, đi thực tế,…

Đây là bước đi ban đầu cần thiết, vì nếu không chọn được sách vở, tài liệu tốt thì việc tích lũy tài liệu sẽ hết sức chậm trễ và nhiều khi sai lệch Tuy nhiên, trong thực tế nhiều người không thấy hết tầm quan trọng của vấn đề này, thấy tài liệu nào cũng đọc, đọc không có hệ thống, làm lãng phí thời gian và chất lượng đọc thấp

+ Tiếp cận thông tin

Quá trình tự nhận thức thực sự được bắt đầu từ đây và thường diễn ra dưới các dạng chủ yếu sau: đọc sách; nghe giảng; seminar, hội thảo; làm thí nghiệm; tham quan, điều tra, khảo sát thực tiễn,…

Đối với học sinh thì nghe giảng là dạng thường được sử dụng nhất, nhưng nghe giảng ở đây cũng phải tiến hành theo tinh thần chủ động, độc lập

Trang 19

+ Xử lí thông tin

Thông tin đã được tiếp nhận cần phải có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được Việc xử

lí có nhiều giai đoạn, những giai đoạn đầu thường tập trung vào việc làm cho thông tin gọn lại và có

hệ thống để dễ lưu giữ, bao gồm các khâu: tóm tắt; xây dựng sơ đồ graph; phân loại Tiếp đó có thể: phân tích – tổng hợp; so sánh; trừu tượng hóa – khái quát hóa;…để bước đầu đề xuất cái mới

+ Vận dụng thông tin để giải quyết vấn đề: đây là giai đoạn khó khăn nhất của quá trình tự học Các vấn đề thường gặp đối với người học là: làm bài tập; làm thí nghiệm; viết báo cáo; xử lí các tình huống;…

Điều đáng lưu ý là nhiều lúc người học đã tập hợp được một khối lượng thông tin khá lớn, nhưng vẫn không giải quyết được vấn đề Trong trường hợp này nên chú ý:

 Phạm vi giải quyết vấn đề nên vừa phải, không quá rộng để có thể tập trung đào sâu vào một số vấn đề nhằm phát hiện ra cái mới

 Lựa chọn đúng những vấn đề then chốt, nhằm giải quyết được những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu đang cản trở sự phát triển của hệ thống cần nghiên cứu

 Thay đổi các yếu tố tạo nên hệ thống cũng là một biện pháp để giải quyết vấn

đề

 Thay đổi mối liên hệ giữa các yếu tố

+ Phổ biến thông tin

Các kết quả học tập, nghiên cứu cần được phổ biến để mở rộng tác dụng xã hội của nó Các hình thức phổ biến thông dụng hiện nay là: qua sách, báo; qua các seminar, hội thảo, báo cáo khoa học; qua phim ảnh; qua phát thanh và vô tuyến truyền hình; qua mạng Internet

- Kiểm tra và đánh giá

Kết quả tự học phải được kiểm tra và đánh giá Tự kiểm tra và đánh giá thế nào cho có hiệu quả cũng là một loại vấn đề đặt ra cho công tác tự học.[57],[59]

1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tự lực học tập

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học của người học Phải điều khiển, phối hợp những nhân tố ấy trong quá trình tổ chức tự học mới đạt được chất lượng và hiệu quả mong muốn Sau đây là những nhân tố chính:

- Bản thân người học: động lực (động cơ, nhu cầu) học tập; tố chất, năng khiếu bẩm sinh;

trình độ lí luận và sự trải nghiệm thực tiễn; kĩ năng tự học; phẩm chất, ý chí, xúc cảm;…

Để có thể tự học tốt, cần có sự say mê học tập, chủ động, tự giác, tích cực trong việc đọc sách giáo khoa, tìm ra kiến thức bài học Tìm tòi tài liệu có liên quan đến bài học, sau đó đọc, ghi chép, kết hợp trao đổi cùng bạn bè So sánh, đối chiếu giữa kiến thức trong sách giáo khoa và tài liệu tham khảo để rút ra kiến thức tổng hợp, khái quát nhất Dựa trên những kết luận của giáo viên, tự kiểm

Trang 20

tra, đánh giá, tự điều chỉnh để hoàn thiện kiến thức và biết ứng dụng vào từng tình huống cụ thể; rút

ra được kinh nghiệm về cách học tự học

- Giáo viên, cha mẹ, bạn bè và xã hội: Giáo viên ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng tới quá

trình tự học qua nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học Ngoài ra, thái

độ, mối quan hệ giáo viên -học sinh sẽ có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng dạy học nói chung cũng như chất lượng tự học Giáo viên cần hướng dẫn học sinh tự đọc sách giáo khoa và tài liệu học tập (từ địa chỉ tài liệu đến cách đọc, cách ghi chép,…) Hướng dẫn học sinh tự nắm bắt tri thức bằng cách đưa ra được những tình huống học tập có vấn đề, kích thích hứng thú học tập để học sinh có điều kiện tự thể hiện mình, nhằm phát triển tư duy sáng tạo, tính chủ động và lòng say mê học tập ở các em Giáo viên là người tổ chức, vừa là trọng tài, vừa là người điều chỉnh kiến thức mà học sinh thu nhận được, nhằm cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức chuẩn mực mang tính bao quát, tổng hợp

Cha mẹ, anh em trong gia đình, họ hàng,…là nguồn động viên tinh thần quý giá và liên tục, đồng thời cũng là nơi kiểm tra, đánh giá chặt chẽ và nghiêm khắc, là nguồn cung cấp tài chính và phương tiện,…cho người học Bạn bè, nhất là các nhóm nhỏ có tác dụng rất quan trọng trong việc trao đổi, tranh luận, giúp đỡ nhau trong học tập nhằm vượt qua những khó khăn, làm nảy nở các tư tưởng khoa học mới, phát triển lòng yêu khoa học và củng cố niềm tin ở bản thân và cộng đồng

- Các điều kiện vật chất và tinh thần như: sách vở, thời gian, tài chính, môi trường đạo đức

lành mạnh của gia đình, nhà trường và xã hội là những nhân tố rất quan trọng làm nền cho sự phát triển nhân cách nói chung Nhà trường cần tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh tự học tốt bằng cách trang bị cho họ tài liệu học tập đầy đủ thông qua thư viện học tập hoặc máy tính nối mạng, hoặc soạn thảo những trang web riêng cho từng môn học Tổ chức những hoạt động ngoại khóa phong phú gắn với những chủ đề học tập để giáo viên, học sinh có điều kiện trao đổi, tranh luận, phát huy tối đa tính năng động, chủ động ở học sinh, kích thích hứng thú học tập ở cả học sinh và giáo viên

Tất cả những nhân tố trên cần được xem xét dưới một dạng tổng thể khi giải quyết vấn đề tự học và phải phát hiện kịp thời những lỗ hổng, những điểm yếu để bổ sung, khắc phục, nhằm tạo ra một sự phát triển hài hòa, cân đối Đồng thời phải tìm được điểm chính yếu nhằm tạo ra động lực để thúc đẩy quá trình tự học.[57], [59], [61]

1.2.4 Kĩ năng tự học môn vật lí và hình thành kĩ năng tự học môn vật lí cho học sinh

- Kĩ năng tự học môn vật lí

Kĩ năng tự học môn vật lí là khả năng học sinh tiến hành hoạt động tự học theo những mục đích, yêu cầu nhất định, hướng vào việc giải quyết các nhiệm vụ học tập khác nhau mà môn học vật

lí đề ra

Trang 21

Vật lí là bộ môn khoa học thực nghiệm Kiến thức vật lí được hình thành chủ yếu bằng hai con đường: quan sát, thực nghiệm, từ đó quy nạp thành lí thuyết; hoặc được hình thành bằng con đường suy diễn lí thuyết, rồi kiểm chứng bằng thực nghiệm Vật lí cũng là bộ môn có rất nhiều ứng dụng vào sản xuất và đời sống hàng ngày

So với các môn học khác, kĩ năng tự học môn vật lí có những nét đặc trưng:

+ Trong quá trình tự học, bên cạnh việc luôn phải suy luận logic để phát hiện kiến thức mới, học sinh còn phải biết cách tự tổ chức thí nghiệm để quan sát thu thập thông tin để xử lí, từ đó rút ra kiến thức mới hoặc để kiểm nghiệm các hệ quả vật lí

+ Học sinh phải tự giải nhiều bài tập vật lí với những thể loại, dạng thức khác nhau Mỗi thể loại, dạng thức đòi hỏi một cách giải thích hợp, nhất là đối với loại bài tập thí nghiệm vật lí

+ Học sinh phải tự ôn tập, hệ thống hóa phần lớn kiến thức vật lí đã học sau mỗi chương, mỗi phần, vì thời gian dành để ôn tập trên lớp không nhiều Nếu công việc này không được tiến hành thường xuyên thì sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả lĩnh hội kiến thức vật lí tiếp theo của các

em

+ Học sinh phải vận dụng những kiến thức vật lí đã học để tự giải thích các hiện tượng tự nhiên, các ứng dụng thực tế, tự giải quyết các bài toán do kĩ thuật và đời sống đặt ra từ đơn giản đến phức tạp,…

Từ những điều trình bày ở trên, có thể xác định kĩ năng tự học môn vật lí của học sinh như sau:

+ Học sinh phải xác định rõ nội dung tự học:

 Tìm hiểu kiến thức mới (khái niệm vật lí, định luật vật lí, ứng dụng vật lí, phương pháp tìm hiểu, nghiên cứu bộ môn vật lí)

 Giải bài tập vật lí (định tính, định lượng, thí nghiệm)

 Ôn tập, hệ thống hóa kiến thức vật lí

 Tìm phương án giải quyết vấn đề thực tiễn, kĩ thuật đặt ra cho môn vật lí Học sinh phải hình dung xem, để giải quyết được nhiệm vụ đó thì cần phải có những kiến thức vật lí nào? Phải có những công cụ gì? Không gian để thực hiện như thế nào? Thực hiện một mình hay phải có sự hỗ trợ của người khác? Thời gian mất độ bao lâu?

+ Trên cơ sở kiến thức, dụng cụ, tài liệu đã có và có thể tập hợp được, học sinh cần phải:

 Lựa chọn hình thức tự học: có thầy hướng dẫn, độc lập hoàn toàn hay thảo luận, tranh luận với bạn bè

 Lựa chọn biện pháp tự học: tập hợp tài liệu, đọc tài liệu, giải bài tập, làm thí nghiệm, tổ chức quan sát tự nhiên…

 Vạch ra thứ tự các bước tự học một cách hợp lí

+ Học sinh phải thực hiện các bước tự học:

Trang 22

 Tập hợp các tài liệu, tư liệu, dụng cụ vật lí

 Tự đọc, nghiên cứu, tranh luận để bổ sung các kiến thức cần thiết

 Xin ý kiến hướng dẫn thêm của thầy giáo (nếu cần)

 Tự làm thí nghiệm vật lí hoặc tự tổ chức quan sát hiện tượng vật lí, thu thập thông tin, xử lí định hướng để trừu tượng hóa, khái quát hóa thành kiến thức mới hay khẳng định hoặc bác bỏ một hệ quả vật lí…

 Tự xác định các bước và giải hoàn thiện một loại bài tập vật lí nào đó

 Tự lập bảng hoặc lập sơ đồ, cây kiến thức vật lí để hệ thống hóa kiến thức vật

 Kết quả đạt được đúng như dự kiến hay sai lệch so với dự kiến? Vì sao?

 Cần điều chỉnh khâu nào trong các khâu: thực hiện, định hướng, định chuẩn ban đầu hay khâu lập kế hoạch tự học,…?

- Hình thành kĩ năng tự học môn vật lí cho học sinh thông qua con đường dạy học Việc hình thành kĩ năng tự học nói chung và kĩ năng tự học môn vật lí nói riêng có thể thông qua nhiều con đường, nhưng trong đó dạy học là con đường cơ bản nhất Tuy nhiên, để cho dạy học trở thành con đường cơ bản nhất trong việc hình thành kĩ năng tự học môn vật lí cho học sinh thì giáo viên cần phải thực hiện tốt những yêu cầu sau đây:

+ Kích thích nhu cầu và duy trì hứng thú học và tự học vật lí ở học sinh

 Làm cho học sinh thấy rằng nếu học tốt bộ môn vật lí sẽ có điều kiện nắm được các ứng dụng to lớn của vật lí vào kĩ thuật và đời sống, lao động sẽ nhẹ nhàng hơn, tạo ra sản phẩm nhanh hơn, nhiều hơn, tốt hơn, giúp cho cuộc sống của bản thân mình, của gia đình mình, của xã hội nên phong phú, văn minh hơn

 Chỉ cho học sinh thấy khả năng ứng dụng của bộ môn vật lí vào đời sống và kĩ thuật còn rất nhiều, các em cần phải học tốt môn vật lí để hiểu được các ứng dụng mới và có thể tự mình tìm ra các ứng dụng mới

 Thường xuyên tạo tình huống có vấn đề một cách hợp lí khi vào các bài học

 Tạo điều kiện cho nhiều học sinh trực tiếp tham gia vào quá trình tổ chức thực hiện, quan sát thí nghiệm, thu thập thông tin, xử lí, trình bày kết quả

+ Bồi dưỡng cho học sinh niềm tin vào khả năng tự học vật lí của bản thân

Trang 23

Lựa chọn và giao nhiệm vụ học tập vật lí vừa sức cho học sinh Cộng với sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên, học sinh có đủ khả năng để tự hoàn thành được nhiệm vụ với một

sự nỗ lực nhất định

Các nhiệm vụ học tập và tự học môn vật lí giao cho học sinh có mức độ khó khăn, phức tạp tăng dần, nhưng học sinh hoàn toàn có thể tự hoàn thành được Những thành công bước đầu trong hoạt động tự tổ chức chiếm lĩnh tri thức của các em phải được giáo viên động viên, khuyến khích Chính điều đó tạo cho học sinh sự tin tưởng vào khả năng của chính bản thân mình

+ Hình thành ở học sinh các hành động của kĩ năng tự học môn vật lí

 Xác định rõ thứ tự và cách thức thực hiện hành động tự học trong giờ vật lí cho học sinh

 Giao cho học sinh các nhiệm vụ học tập khác nhau: tìm cách đo các đại lượng vật lí với dụng cụ và vật liệu cho trước, tự phân tích và giải các bài tập vật lí, quan sát tự nhiên hoặc tiến hành các thí nghiệm vật lí để thu thập số liệu hay rút ra một tính chất vật lí hay một quy luật vật

1.3 Tổ chức tự học ở nhà nhằm phát huy tính tích cực, tự lực học tập của học sinh

1.3.1 Vai trò của việc tổ chức tự học ở nhà đối với việc phát huy tính tích cực, tự lực học tập của học sinh

Tự học ở nhà là một trong các hình thức dạy học vật lí (bài lên lớp, tham quan ngoại khóa, tự

học ở nhà) Tự học ở nhà – một hoạt động nhận thức đòi hỏi tính tích cực và tự lực rất cao; đảm bảo việc lĩnh hội kiến thức của học sinh sâu sắc, chắc chắn, biết vận dụng thành thạo, linh hoạt vào thực tiễn [45]

Trong dạy học vật lí, dù ở trên lớp hay ở nhà, việc tự học của học sinh cần được chú trọng phát huy Song việc tự học ở nhà phát huy được năng lực, tính tích cực của học sinh nhiều hơn, bổ

sung, củng cố cho việc học trên lớp “Bài giảng ở trên lớp chỉ là bước mở đầu cho công việc tiếp tục

tự học ở nhà để hiểu vấn đề, chứ không phải là cung cấp hoàn chỉnh, cuối cùng cho việc học tập”[55]

Để nâng cao hiệu quả dạy học, cần có sự kết hợp giữa việc giảng dạy ở lớp có chất lượng cao với việc tổ chức tốt quá trình học tập ở nhà Nếu trên lớp, giáo viên “nhai kĩ” tất cả cho học sinh đến

Trang 24

nỗi các em chẳng còn gì để mà nghĩ nữa cả, các em chỉ phải làm một công việc thuần túy máy móc: theo dõi sự suy luận của giáo viên và ghi nhớ lại Nói một cách hình tượng, giáo viên tự mình đã suy nghĩ thay cho học sinh, muốn nhét những kiến thức đã được chuẩn bị sẵn vào đầu óc các em Như vậy tạo điều kiện làm nảy sinh tính lười biếng trí tuệ, không rèn luyện được kĩ năng tự lực phân tích tài liệu giáo khoa Đó chính là nguồn gốc của những khó khăn mà học sinh thường gặp phải trong quá trình học ở nhà Việc học ở nhà đòi hỏi thái độ tự lực đối với sự lĩnh hội kiến thức, một sự căng thẳng trí tuệ Nhưng nhiều khi trong trường học, học sinh lại không được rèn luyện chính những phẩm chất đó Từ đó nảy ra nhiệm vụ là nâng cao tính tích cực tư duy của học sinh trong giờ lên lớp, làm cho các em quen với sự căng thẳng trí tuệ, quen nhận thức tự lực, và bằng cách đó tạo

ra những điều kiện để học tập ở nhà có hiệu quả cao hơn Chỉ có nâng cao chất lượng các tiết lên lớp

ở trường phổ thông và trang bị cho học sinh những kĩ xảo của hoạt động nhận thức tự lực tích cực thì mới có thể tạo nên những tiền đề cho việc tổ chức có hiệu quả hơn việc học tập ở nhà [25]

1.3.2 Nội dung hoạt động tự học môn vật lí ở nhà

Nội dung hoạt động tự học ở nhà của học sinh phải được giáo viên thiết kế có chủ định và có

kế hoạch Những câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa chỉ là một trong các cơ sở để giáo viên thiết kế nội dung hoạt động tự học ở nhà của học sinh Để thiết kế được nội dung hoạt động ở nhà của học sinh một cách đúng đắn, liên tục trong thời gian dài, cần dựa trên các chức năng cơ bản sau đây của việc tự học ở nhà:

- Phục hồi các kiến thức nghiên cứu trên lớp học, khắc sâu các kiến thức cần nhớ lâu dài và làm chính xác thêm kiến thức của bài học Điều này chỉ đạt được nếu học sinh đọc sách giáo khoa

(làm việc với sách giáo khoa), đối chiếu các ghi chép trong vở với sách giáo khoa, bổ sung các hình

vẽ, đồ thị,…

- Rèn luyện các kĩ năng cần thiết, đặc biệt kĩ năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn (giải thích

hiện tượng vật lí liên quan tới kiến thức đã học, giải bài tập vật lí,…)

- Chuẩn bị những kiến thức làm cơ sở cho việc nghiên cứu các vấn đề tiếp theo

Hoạt động tự học ở nhà môn vật lí nên gồm những nội dung sau đây:

- Dạy học sinh đọc và hiểu bài học trong sách giáo khoa (làm việc với sách giáo khoa)

- Áp dụng kiến thức theo mẫu, áp dụng kiến thức vào những tình huống đơn giản, quen thuộc

- Áp dụng kiến thức vào những tình huống không quen thuộc, có yếu tố sáng tạo

- Quan sát hiện tượng vật lí, tự phân tích và giải thích

- Hệ thống hóa và khái quát hóa kiến thức

Với các nội dung trên, khi xây dựng phiếu học tập hướng dẫn học sinh tự học ở nhà, cần chú

ý các vấn đề sau:

Trang 25

- Trong các nội dung nêu trên, cần đặc biệt quan tâm tới việc dạy học sinh làm việc với sách giáo khoa vì rất ít giáo viên chú ý đến nội dung này, cho rằng đây là việc “đơn giản” Thực tế cho thấy học sinh chỉ sử dụng sách giáo khoa để tìm lại vấn đề mà họ chưa thực sự hiểu rõ ràng ở trên lớp và để làm các bài tập trong sách giáo khoa Nếu quan niệm sách giáo khoa là tài liệu chính, là nguồn kiến thức quan trọng nhất của học sinh thì rõ ràng cần đặt ra vấn đề dạy cho học sinh biết cách sử dụng sách giáo khoa có hiệu quả Để dạy học sinh làm việc với sách giáo khoa, nên đặt ra những câu hỏi trong phiếu học tập (chủ yếu là phiếu học tập chuẩn bị bài mới) sao cho trong bản thân các câu hỏi đó có chứa đựng việc hướng dẫn học sinh đọc sách Đồng thời khi trả lời các câu hỏi đó, học sinh cũng rèn luyện được kĩ năng làm việc với sách

Ví dụ:

+ Câu 1 (PHT 1A) Em hãy quan sát mục lục, sau đó đọc lướt qua chương IV Các định luật bảo toàn và cho biết chúng ta sẽ nghiên cứu những vấn đề cơ bản nào trong chương này? Có những

khái niệm nào đã học ở THCS? Em hiểu gì về những khái niệm ấy?

Khi trả lời câu hỏi này, học sinh sẽ quan sát mục lục của sách giáo khoa trước, sau đó mới lướt qua các bài trong chương IV để biết những nội dung chính của chương Như vậy, học sinh đã rèn luyện được bước đầu tiên cơ bản khi đọc sách: đọc khái quát Tương tự với từng bài, ta có câu hỏi sau:

Câu 3 (PHT 1A) Em hãy đọc lướt bài 23 Động lượng Định luật bảo toàn động lượng trang

122 SGK Vật lí 10, cho biết bài này gồm những nội dung cơ bản nào?

+ Câu 4 (PHT 1A) Các yếu tố đặc trưng của vec tơ động lượng? (điểm đặt, phương, chiều,

- Hai nội dung: áp dụng kiến thức theo mẫu, áp dụng kiến thức vào những tình huống quen thuộc; áp dụng kiến thức vào những tình huống không quen thuộc, sáng tạo được thể hiện ở những

Trang 26

câu hỏi trong phiếu học tập, thể hiện rõ nhất ở phiếu học tập củng cố bài Trong những phiếu học tập củng cố bài này, dựa vào mục tiêu của từng bài học mà đặt ra những câu hỏi cụ thể, trong đó có các bài tập đơn giản chỉ yêu cầu áp dụng công thức vào những tình huống quen thuộc, các bài tập khó hơn thì yêu cầu sự sáng tạo Vì vậy, trong phiếu học tập củng cố bài, nên phân thành 2 phần: phần câu hỏi bắt buộc với mọi học sinh và phần câu hỏi làm thêm dành cho học sinh khá

- Việc rèn luyện học sinh thực hiện nội dung thứ 2: áp dụng kiến thức theo mẫu, áp dụng kiến thức vào những tình huống quen thuộc còn được thể hiện ở phiếu học tập hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí PHT này đưa ra phương pháp chung để giải từng dạng bài tập, sau đó trình bày một bài vận dụng Tiếp theo đưa ra bài tập tương tự để học sinh rèn luyện kĩ năng giải Cuối cùng, ra bài tập ở mức độ khó hơn để học sinh rèn luyện các thao tác tư duy khác

Để thực hiện nội dung thứ 4: quan sát hiện tượng vật lí, chúng ta nên xây dựng phiếu học tập hướng dẫn học sinh quan sát và làm thí nghiệm vật lí ở nhà

Nội dung thứ 5: Hệ thống hóa và khái quát hóa kiến thức Nội dung này được thể hiện qua các câu hỏi trong phiếu học tập chuẩn bị bài mới, phiếu học tập củng cố bài và phiếu học tập ôn tập chương

Ví dụ:

Câu 1 (PHT 6) Những vấn đề cơ bản của chương IV Các định luật bảo toàn là gì? Chúng

có liên quan đến nhau như thế nào? Hãy biểu thị sự liên quan đó bằng sơ đồ tóm tắt

Câu 3 (PHT 6) Trong chương này có các định luật bảo toàn nào? Người ta dùng những phương pháp nào để chứng minh các định luật đó? Điều kiện áp dụng các định luật đó?

Câu 3 (PHT 1A) Em hãy đọc lướt bài 23 Động lượng Định luật bảo toàn động lượng trang

122 SGK Vật lí 10, cho biết bài này gồm những nội dung cơ bản nào?

Câu 5(PHT 1B) Em hãy lập dàn ý (có thể biểu thị bằng sơ đồ) thể hiện nội dung cơ bản của bài và mối liên hệ giữa những nội dung cơ bản đó với nhau

Để trả lời được các câu hỏi này, học sinh phải có kĩ năng hệ thống hóa kiến thức của một bài, một chương, kĩ năng khái quát hóa thành sơ đồ thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức đó

Trong các nội dung trên thì ba nội dung đầu sẽ là bắt buộc với mọi học sinh, các nội dung còn lại dành cho học sinh yêu thích vật lí Do đó, học sinh có thể hoàn thành với thời hạn khác nhau

Ví dụ, với bài tập yêu cầu học sinh làm thí nghiệm vật lí ở nhà, cần cho học sinh một thời hạn khá dài để các em có thời gian nghiên cứu, tìm tòi Còn bài tập yêu cầu chuẩn bị bài mới và bài tập củng

cố bài thì yêu cầu học sinh phải hoàn thành ngay

Khi xây dựng các nội dung này, cần chú ý một số nguyên tắc sau đây:

- Nội dung phải phù hợp với logic của từng bài học: bài hình thành các khái niệm, các định luật vật lí cơ bản, bài áp dụng khái niệm, định luật vào thực tiễn, bài ôn tập, hệ thống hóa kiến thức…

Trang 27

- Phải chống được hiện tượng “quá tải” cho học sinh Vì việc tự học ở nhà là hoạt động phải vừa sức và phải hoàn thành trong một thời gian nhất định nên sự “quá tải” thường thể hiện ở hai khía cạnh: học sinh phải dành quá nhiều thời gian để học một môn học, trong khi hàng ngày có từ 4 đến 5 môn; học sinh không thỏa mãn với hoạt động “nhẹ nhàng”, do đó phải tìm tòi nhiều qua các tài liệu tham khảo hoặc tham gia các lớp học thêm Thời gian dành cho việc chuẩn bị môn vật lí chỉ nên kéo dài từ 35 – 45 phút tăng dần từ cấp THCS lên THPT

- Độ khó, độ phức tạp cần được tăng dần từ từ theo cấp học, theo lớp học và trong quá trình nghiên cứu tài liệu Chẳng hạn, vào đầu phần, đầu chương chỉ nên sử dụng 3 nội dung đầu tiên Ngoài ra các câu hỏi, bài tập phải đa dạng để không gây ra buồn tẻ

1.3.3 Phiếu học tập hướng dẫn học sinh tự học ở nhà

a Vai trò của phiếu học tập

Phiếu học tập là những tờ giấy rời, có in sẵn những thông tin, số liệu, sự kiện…cần thiết

nhưng không có trong sách giáo khoa để yêu cầu học sinh phân tích, khai thác kiến thức phục vụ cho bài học Hoặc có ghi sẵn những nhiệm vụ học tập, dưới dạng các vấn đề, các câu hỏi, bài tập để yêu cầu học sinh giải quyết, trả lời các câu hỏi và làm các bài tập…

Về cơ bản, phiếu học tập có hai chức năng chính: cung cấp thông tin cho người học để người học xử lí thông tin phục vụ cho bài học; công cụ để học sinh hoạt động và giao tiếp trong học tập

Sử dụng phiếu học tập trong dạy học sẽ phát huy được tính tích cực, tự lực học tập của học sinh Phiếu học tập cụ thể hóa các nhiệm vụ học tập thành các vấn đề, các bài tập, các câu hỏi cùng với những hướng dẫn, những gợi ý về cách thực hiện của giáo viên Học sinh có thể hoạt động độc lập, cũng có thể hợp tác theo nhóm để thực hiện nhiệm vụ Việc sử dụng phiếu học tập một cách thường xuyên tạo cho học sinh một thói quen tự giác và chủ động trong học tập Phiếu học tập đặt ra nhiệm vụ cho từng cá nhân nên đó là cơ hội để học sinh thể hiện khả năng của mình, là cơ sở để giáo viên có thể theo dõi và đánh giá kết quả học tập của học sinh Phiếu học tập có thể sử dụng

trong kiểm tra kiến thức và củng cố kiến thức, trong dạy bài mới, trong rèn luyện kĩ năng ở trên lớp,

và cả trong việc học ở nhà làm cho học sinh học tập một cách tích cực, chủ động và sáng tạo, chống

lại thói quen ỷ lại, thụ động trong học tập

b Nguyên tắc xây dựng phiếu học tập

Có nhiều dạng phiếu học tập, căn cứ vào một số tiêu chí để chia ra các dạng phiếu học tập khác nhau Căn cứ vào chức năng, gồm có: phiếu cung cấp thông tin, phiếu công cụ hoạt động, giao tiếp Căn cứ vào mục đích, gồm có: phiếu dùng trong kiểm tra bài cũ, dạy bài mới, củng cố bài, ra bài tập ở nhà Căn cứ vào nội dung của phiếu, gồm có: phiếu yêu cầu học sinh giải quyết vấn đề, phiếu yêu cầu làm bài tập câu hỏi, phiếu yêu cầu thực hành và rèn luyện kĩ năng

Tuy nhiều dạng, nhưng việc xây dựng phiếu học tập đều phải tuân theo một số nguyên tắc sau:

Trang 28

- Phiếu học tập phải phù hợp với mục tiêu và nội dung của bài học Phiếu học tập phải giúp

học sinh khai thác và nắm bắt được những nội dung cơ bản, trọng tâm của bài học Phiếu học tập có thể chuyển tải nội dung một phần bài học, hoặc nội dung cả bài học

- Phiếu học tập phải vừa nêu nhiệm vụ học tập, vừa hướng dẫn và gợi ý cách thực hiện

Thông thường giáo viên đặt ra câu hỏi bài tập hoặc tình huống đều kèm theo những gợi ý và hướng dẫn để học sinh biết phải làm gì, làm như thế nào, dựa vào cơ sở nào để làm…Ví dụ: Em hãy dựa vào hình vẽ số…, bài viết trong sách giáo khoa trang… để phân tích, giải thích, cho nhận xét,…về…

- Phiếu học tập phải thể hiện được phương pháp hoạt động và giao tiếp của học sinh: những

câu hỏi, bài tập và tình huống đặt ra cho học sinh đó là những mệnh lệnh, những gợi ý của giáo viên cũng chính là những gợi ý về phương pháp hoạt động và các thao tác tư duy để thực hiện mệnh lệnh

đó Ví dụ: dựa vào bản đồ, biểu đồ, hình vẽ, sách giáo khoa, số liệu…như vậy thì học sinh phải sử dụng các phương pháp: khai thác kiến thức từ bản đồ, biểu đồ, hình vẽ, sách giáo khoa,…

Câu hỏi, bài tập yêu cầu phân tích, chứng minh, so sánh…học sinh cũng phải sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp,…để thực hiện mệnh lệnh

- Phiếu học tập phải đảm bảo tính khoa học, chính xác: các thông tin đưa ra trong phiếu học

tập phải hoàn toàn chính xác, khoa học và cách trình bày phiếu phải rõ ràng, logic

- Phiếu học tập phù hợp với trình độ của học sinh: các nhiệm vụ đặt ra trong phiếu học tập

vừa sức đối với học sinh, tránh khó quá hoặc dễ quá đều không mang lại hiệu quả

c Quy trình xây dựng phiếu học tập

Để việc thiết kế xây dựng phiếu học tập một cách khoa học và có hiệu quả, cần tiến hành theo trình tự các bước như sau:

- Bước 1: Xác định mục tiêu bài học và mục tiêu từng phần của bài học để nắm được cái đích

mà học sinh cần phải đạt tới của bài này là gì? Phần này là gì?

- Bước 2: Xác định nhiệm vụ học tập cho học sinh ở từng phần: Cần vạch ra nhiệm vụ cụ thể cho học sinh ở từng phần cần làm gì? Giải quyết những vấn đề gì? Và kết quả cần đạt được ở phần này là gì? Như vậy, căn cứ vào nhiệm vụ và kết quả cần đạt tới mà xây dựng các yêu cầu và nhiệm

vụ trong phiếu học tập

- Bước 3: Xác định những nội dung cụ thể trong bài cần xây dựng phiếu học tập: Sau khi đã xác định được mục tiêu của bài học và từng phần của bài học, phân tích nội dung bài học để xác định các kiến thức trọng tâm và các kĩ năng cơ bản của bài học, xác định cả các hình thức, phương pháp, phương tiện dạy học cần sử dụng trong bài học, từ đó định hướng các nội dung nào của bài được sử dụng phiếu học tập Tùy nội dung từng bài mà có thể 1 hoặc 2 đơn vị kiến thức được sử dụng phiếu học tập, hoặc nội dung toàn bài được sử dụng phiếu học tập

Trang 29

- Bước 4: Xác định nội dung của phiếu học tập và cách trình bày phiếu Nội dung phiếu chính là những kiến thức, kĩ năng cơ bản mà học sinh cần khám phá, lĩnh hội và rèn luyện, gồm cả những chỉ dẫn về tài liệu và phương tiện khai thác kiến thức Cách trình bày phiếu có thể là câu hỏi, bài tập hay nêu các vấn đề cần giải quyết Hình thức trình bày có thể là bảng điền kiến thức, biểu đồ,

sơ đồ hoặc văn bản…

- Bước 5: Viết phiếu học tập: Dựa vào mục tiêu, nội dung, tài liệu và phương tiện đã xác định, đồng thời dựa vào mức độ nhận thức của học sinh trong lớp để giáo viên đưa ra các câu hỏi, bài tập cho phù hợp Các câu hỏi, bài tập, các vấn đề hoặc các thông tin viết ra ngắn gọn, chính xác

và dễ hiểu Khối lượng và mức độ công việc phù hợp với trình độ của học sinh Mỗi phiếu có thể thể hiện một đơn vị kiến thức hoặc nhiều đơn vị kiến thức.[14]

Các tiêu chí để xây dựng phiếu học tập:

Thứ nhất, phiếu học tập cụ thể hóa các yêu cầu của giáo viên bằng các câu hỏi, các bài tập Khi thực hiện những yêu cầu này, học sinh rèn luyện cho mình kĩ năng tự học, từ đó nâng cao năng lực tự học của mình Phiếu học tập còn chứa đựng những thông tin cần thiết để hướng dẫn cho việc

tự học ở nhà của học sinh được thuận tiện Như vậy, hệ thống phiếu học tập của đề tài này khắc phục được tình trạng hướng dẫn học bài ở nhà hiện nay của đa số giáo viên là chỉ dặn dò các em về học bài này, làm bài tập nọ

Thứ hai, phiếu học tập không những giúp học sinh tự chiếm lĩnh những kiến thức (khái niệm, định lí, định luật…) đơn lẻ rời rạc, mà còn thấy được sự liên kết giữa chúng với nhau, thấy được quá trình xây dựng một đơn vị kiến thức, một bài học, một chương của sách giáo khoa Thông qua việc thực hiện phiếu học tập, học sinh còn học được cách đọc sách; không chỉ học kiến thức mà còn học phương pháp học

Thứ ba, phiếu học tập không đơn điệu ở nội dung mà còn có những phần bài tập yêu cầu học sinh quan sát hiện tượng, làm thí nghiệm, liên hệ thực tế, điều này tránh được sự nhàm chán ở học sinh Phiếu học tập phân thành nhiều mức độ dành cho nhiều đối tượng học sinh, không quá khó với học sinh trung bình, không quá dễ đối với học sinh khá

Phần phiếu học tập chuẩn bị bài mới chủ yếu để học sinh làm quen với kiến thức của bài mới, có cái nhìn tổng quát về nội dung của toàn bài, toàn chương và mối liên hệ giữa những nội dung đó với nhau, tức là biết được sơ qua về mục tiêu cần đạt đến của mình Từ đó chiếm lĩnh kiến thức trên lớp có hiệu quả hơn

Phần phiếu học tập củng cố bài được xây dựng dựa trên mục tiêu cần đạt được của từng bài Thực hiện phiếu này, học sinh đạt được mức độ kiến thức cần thiết theo chuẩn kiến thức, kĩ năng Ngoài ra, phần bài tập làm thêm còn giúp cho những học sinh khá phát huy hết khả năng của mình

Phiếu học tập hướng dẫn làm bài tập, phiếu này bao gồm những dạng bài tập cơ bản của chương, trong đó hướng dẫn các bước giải, các ví dụ cụ thể vận dụng các bước đó, cách phân tích

Trang 30

đề bài để thấy được bản chất vật lí của bài Nhờ có phiếu này, học sinh có cái nhìn tổng quát hơn, biết phân biệt các dạng bài tập, từ đó giải bài tập nhanh hơn

Phiếu học tập hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm vật lí ở nhà nhằm hướng dẫn học sinh tự mình (hoặc hoạt động nhóm) làm một số dụng cụ thí nghiệm vận dụng kiến thức của chương Thông qua hoạt động làm thí nghiệm này, học sinh học được kĩ năng hợp tác nhóm, thấy được cái hay của vật lí trong thực tiễn, từ đó hình thành lòng ham thích vật lí

1.3.4 Tổ chức cho học sinh tự chuẩn bị bài mới

Bài tập chuẩn bị bài mới (hay còn gọi là bài tập nhận thức) có vai trò định hướng, chuẩn bị tâm lí và kiến thức cho giờ học trên lớp Đây có thể gọi là kiến thức phác thảo ở dạng “thô” mà học

sinh đã chuẩn bị trước, tự mình làm quen, tự hiểu, tự đánh giá dưới sự hướng dẫn của giáo viên Sau khi đã tự mình chuẩn bị được một số “vốn liếng” nhất định, các em tự tin tiếp thu có chọn lọc tri thức mới, có thể trao đổi, thảo luận và bảo vệ ý kiến của riêng mình trong giờ học trên lớp

Năng lực tự học đó tuy còn hạn chế, vẫn là nội lực quyết định sự phát triển của người học,

“Người thầy giỏi là người biết dạy cho học trò biết tự học Người học giỏi là người biết tự học sáng tạo suốt đời”

Thông thường, khi hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới, giáo viên thường chỉ chú trọng đến những kiến thức cơ bản một cách rời rạc Với đề tài này, bài tập chuẩn bị bài mới ngoài mục đích giúp học sinh tự tìm hiểu về những kiến thức cơ bản của bài mới ra, còn luyện cho các em những kĩ năng cần thiết khác như: kĩ năng đọc sách giáo khoa, kĩ năng tóm tắt nội dung cơ bản, tìm hiểu mối liên hệ giữa những nội dung kiến thức đó, tìm hiểu quá trình xây dựng một đơn vị kiến thức của sách giáo khoa, khả năng liên hệ thực tế…Tất cả những kĩ năng này là phương tiện để các em rèn

luyện cho mình khả năng khai thác và xử lí thông tin một cách linh hoạt, biết giải quyết những vấn

đề trong thực tiễn mà xã hội yêu cầu, là nền tảng cần thiết để tự học suốt đời

Khi hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới, cần đặc biệt quan tâm đến việc dạy học sinh làm việc với sách giáo khoa Nhưng trong thực tế rất ít giáo viên chú ý đến nội dung này, cho rằng đây

là việc “đơn giản” Học sinh chủ yếu chỉ sử dụng sách giáo khoa để tìm lại vấn đề mà các em chưa thực sự hiểu rõ ở trên lớp để làm các bài tập Nếu quan niệm sách giáo khoa là tài liệu chính, là nguồn kiến thức quan trọng nhất của học sinh thì rõ ràng cần phải dạy cho học sinh biết cách sử dụng sách giáo khoa có hiệu quả

Theo Razumovski, dấu hiệu đặc trưng của một bài học trọn vẹn là học sinh có thể định hình được tài liệu nghiên cứu thể hiện ở việc thuộc bài khóa của sách giáo khoa; thực hiện hết các bài tập theo nội dung đó; có thể đánh giá được kết quả kiến thức và kĩ năng ngay sau khi nghiên cứu bài

học đó, hoặc kéo dài về sau Để làm được điều này, giáo viên cần xây dựng được một hệ thống các câu hỏi dựa trên yêu cầu về nắm vững khái niệm, định luật, hiện tượng hay học thuyết vật lí Các câu hỏi này về bản chất phải khác các câu hỏi đang được trình bày ở sách giáo khoa, cho phép làm

Trang 31

tường minh các mối liên hệ logic giữa các yếu tố cơ bản để hình thành khái niệm, định luật,…; vừa tạo điều kiện để học sinh có thể định hình lại bài học Đồng thời, để trả lời được các câu hỏi này,

học sinh bắt buộc phải đọc sách giáo khoa, phân tích thí nghiệm trong sách giáo khoa, phân tích các lập luận trong sách giáo khoa…tìm thấy những điểm chính yếu để trả lời cho câu hỏi Việc đọc sách giáo khoa có hướng dẫn như vậy, chắc chắn sẽ giúp học sinh nhớ lâu các kiến thức cần nhớ cũng như chống được hiện tượng “quá tải”.[45]

Có thể chia bài tập chuẩn bị bài mới thành các mức độ sau:

- Bài tập yêu cầu đọc lướt, đọc thông, nhằm hướng dẫn học sinh tìm hiểu khái quát, xác định

những định hướng ban đầu Bài tập yêu cầu tìm bố cục, cách chia đoạn, xác định nội dung mỗi đoạn, lập dàn ý,…

Để tìm hiểu cấu trúc nội dung của từng phần, từng chương, giáo viên hướng dẫn học sinh trả

lời các câu hỏi sau: Nội dung của cuốn sách gồm mấy phần? mỗi phần nói về vấn đề gì? Các phần được sắp xếp như thế nào? Tại sao sắp xếp theo vị trí như vậy? trong mỗi phần có mấy chương? Cách sắp xếp các phần, các chương có ý nghĩa gì?

Để phân tích cấu trúc nội dung của một bài, học sinh cần xác định vị trí của bài, xác định các đơn vị kiến thức có trong bài và chỉ ra logic sắp xếp đó, chỉ ra kiến thức cơ bản của bài

Ví dụ: Khi yêu cầu học sinh chuẩn bị bài mới cho bài “Động lượng Định luật bảo toàn động lượng”, giáo viên đưa ra những câu hỏi sau:

Câu 1 Em hãy đọc lướt chương IV Các định luật bảo toàn và cho biết chúng ta sẽ nghiên

cứu những vấn đề cơ bản nào trong chương này? Có những khái niệm nào đã học ở THCS? Em hiểu

gì về những khái niệm ấy?

Câu 2 Trong chương này chúng ta sẽ học những định luật bảo toàn nào? Em hiểu như thế nào là đại lượng bảo toàn?

Câu 3 Em hãy đọc lướt bài 23 Động lượng Định luật bảo toàn động lượng trang 122 SGK

Vật lí 10, cho biết bài này gồm những nội dung cơ bản nào?

Câu 4 Em hãy lập dàn ý (có thể biểu thị bằng sơ đồ) thể hiện nội dung cơ bản của bài và mối liên hệ giữa những nội dung cơ bản đó với nhau

- Bài tập yêu cầu đọc sâu

Nội dung bài thường được thể hiện trên nhiều kênh thông tin khác nhau Để khai thác thông tin từ các kênh đó, học sinh cần có các kĩ năng như: kĩ năng đọc hiểu văn bản, kĩ năng phân tích bảng biểu, số liệu, bản đồ, đồ thị, tranh ảnh…

Ví dụ:

Câu 1 Các yếu tố đặc trưng của vec tơ động lượng? (điểm đặt, phương, chiều, độ lớn)

Để trả lời được câu hỏi này, học sinh phải đọc kĩ và phân tích đoạn kiến thức về động lượng

Trang 32

Câu 2 Quan sát hình vẽ 24.2 và 24.4 SGK Vật lí 10 Cho biết dựa vào đâu để người ta phân

Với câu hỏi này, học sinh phải phân tích số liệu và biết rút ra nhận xét từ số liệu đã cho Câu 4 Đọc mục II bài 25 SGK Vật lí 10, viết công thức tính động năng, sgk đã xây dựng

công thức này như thế nào? (Dựa vào những công thức nào? Định luật nào? ) Tại sao từ công thức

Để phân tích được quá trình xây dựng công thức động năng, học sinh đọc kĩ phần kiến thức

có liên quan, có cái nhìn khái quát về phần kiến thức đó và phải biết liên hệ với phần kiến thức trước và sau nó

- Bài tập tìm hiểu các yếu tố ngoài văn bản

Ví dụ:

Câu 1 Nguyên tắc hoạt động của hộp số ô tô, xe máy?

Câu 2 Em hãy lấy 3 ví dụ về vật có khối lượng m ở vị trí cách mặt đất độ cao h, lúc rơi xuống vật sinh công

Câu 5 Dựa vào cơ sở vật lí nào để xây dựng nhà máy thủy điện?

Với những câu hỏi này, học sinh phải tìm hiểu thêm những kiến thức ở ngoài sách giáo khoa mới trả lời được

- Bài tập hướng tới người tiếp nhận, tập trung hơn vào việc khai thác kinh nghiệm, vốn sống,

năng lực, trí tuệ phân hóa khác nhau của học sinh Loại bài tập này góp phần lớn vào việc rèn luyện cho học sinh kĩ năng, bản lĩnh tự tin khi tiếp nhận.[2]

Ví dụ: Tại sao người tham gia giao thông luôn được nhắc nhở không phóng nhanh vượt ẩu? Hãy giải thích yếu tố “phóng nhanh” có liên quan đến hậu quả nghiêm trọng tai nạn giao thông như thế nào?

Khi thực hiện những bài tập như trên, học sinh vừa học được kĩ năng đọc sách, vừa qua đó lĩnh hội kiến thức, lại vừa rèn luyện được các kĩ năng nhận thức khoa học Đó là sự lồng ghép, tích hợp một cách hữu cơ giữa học kiến thức với học cách học, học logic tư duy Cả ba mặt này vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả, vừa là nội dung, vừa là mục tiêu và vừa là phương pháp dạy học [13]

Trang 33

1.3.5 Tổ chức cho học sinh tự giải bài tập vật lí

Việc giải bài tập có nhiều lợi ích cho học sinh như: nâng cao năng lực làm việc tự lực và tính kiên trì, phát triển tư duy sáng tạo do phải tự mình phân tích các điều kiện của đầu bài, tự xây dựng những lập luận…

Tuy nhiên, mục đích của việc giải bài tập vật lí không phải chỉ dừng lại ở việc rèn luyện các

kĩ năng giải bài tập mà mục đích cơ bản của việc giải bài tập là làm cho học sinh hiểu sâu sắc những quy luật vật lí, biết phân tích và áp dụng vào thực tiễn, vào tính toán kĩ thuật và cuối cùng là phát triển năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề

Thế nhưng, thông thường khi giải bài tập, những quan niệm về giải bài tập và những cơ sở khoa học vật lí và logic thực sự cần để giải bài tập lại tồn tại song song tách biệt nhau Việc giải bài tập lại bắt đầu không phải ở chỗ tìm hiểu thực chất vật lí của chúng mà ở chỗ lựa chọn máy móc những công thức có chứa các đại lượng đã cho Cùng với điều đó, các phép tính toán làm lu mờ bản chất vật lí của bài tập Vì vậy, trong đề tài này, tôi đã soạn những dạng bài tập cơ bản, trong đó hướng dẫn cụ thể về phương pháp giải và việc phân tích đề bài để hiểu bản chất vật lí của bài tập Qua đó, các em làm quen dần với việc phân tích bản chất vật lí trong khi giải các bài tập

Muốn học sinh có một thái độ tích cực và tự giác đối với việc giải các bài tập vật lí, cần có một hệ thống các bài tập được soạn thảo chặt chẽ Trong đó các bài tập được sắp xếp theo thứ tự từ

dễ đến khó trong từng dạng và cả khi chuyển từ dạng này sang dạng khác Nếu trong từng dạng bài tập, các bài tập thay đổi từ bài này sang bài khác một cách ngẫu nhiên mà không làm sáng tỏ được

là bài tập sau có khó khăn gì mới hơn bài tập trước, học sinh sẽ không cảm thấy những điều mới trong từng bài tập và dễ dẫn đến nhàm chán

Những mối liên hệ giữa những đại lượng vật lí trong các bài tập sẽ được thấu hiểu sâu sắc

hơn nếu kết hợp được việc giải các bài tập tính toán với hoạt động sáng tạo của bản thân học sinh

để tự đặt các bài tập Khi tự đặt ra các bài tập, học sinh sẽ hiểu rõ bản chất vật lí và mối quan hệ

phụ thuộc lẫn nhau giữa các đại lượng vật lí sâu sắc hơn việc giải hàng mấy chục bài tập chọn trong các sách bài tập khác nhau Những bài tập do học sinh đặt ra tự nó mang dấu vết cá tính Vì vậy đem phân tích nội dung và chất lượng của các bài tập ấy, giáo viên dễ dàng thấy mức độ phát triển của mỗi học sinh, kĩ năng vận dụng các kiến thức, khả năng nhận biết vật lí trong đời sống xung quanh của các em, từ đó có sự giúp đỡ kịp thời Tất nhiên, việc tự lập đặt ra bài tập không thay thế việc giải các bài tập trong sách giáo khoa và các sách bài tập mà chỉ giúp hiểu sâu sắc hơn vấn đề của bài tập

Ví dụ:

Trang 34

Câu 1 Em hãy đọc lại khái niệm động lượng và định lí biến thiên động lượng (dạng khác của định luật II Niu tơn) Sau đó em hãy tự ra đề cho một bài tập mà để giải được bài tập này, em phải áp dụng công thức pm v

 và p Ft

Em hãy giải lại bài tập đó

Câu 2 Em hãy ra một bài tập khác trong SGK mà để giải được, phải áp dụng công thức định

1 2

22

12

1

mv mv

A  Sau đó hãy giải bài tập đó

Ngoài ra, nên có những dạng bài tập thí nghiệm nhằm giúp các em biết liên hệ kiến thức đã học với thực tiễn

Ví dụ:

Câu 1 Em hãy quan sát và ghi lại giá trị công suất của các dụng cụ tiêu thụ điện dùng trong gia đình như: nồi cơm điện, ấm đun nước điện, bàn là, quạt điện, bóng điện, tủ lạnh, máy bơm nước… Những số chỉ đó có ý nghĩa gì? So sánh những giá trị thu được, từ đó rút ra kết luận gì?

Câu 2 Hãy tính công mà em thực hiện được khi đi đều từ tầng 1 lên tầng 2 của ngôi trường

em (tự cho các dữ kiện cần thiết)

1.3.6 Tổ chức cho học sinh tự củng cố, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức

Có thể hình dung sơ lược quá trình lĩnh hội kiến thức dưới dạng hình xoắn ốc Trong đó mỗi bậc thang của việc học (tri giác tài liệu mới, hiểu thấu, ghi nhớ, luyện tập vận dụng kiến thức vào thực tiễn, hệ thống hóa, khái quát hóa) sẽ nâng cao trình độ trí tuệ của học sinh hơn, kích thích tính ham hiểu biết và tích cực tư duy của các em Cứ mỗi lần nghiên cứu thêm phần kiến thức đã học thì

sự lĩnh hội lại được bền vững hơn và học sinh lại sáng tỏ thêm những sắc thái và chi tiết khác nhau của các vật thể và hiện tượng nghiên cứu, mà trước đó các em đã bỏ qua không chú ý tới trong lần tri giác đầu tiên

Nhà lý luận dạy học – sinh vật học Xô Viết nổi tiếng N.V Verdilin đã nhận xét rằng các khái niệm khoa học không được hình thành ngay tức khắc ở học sinh mà phải trải qua nhiều mức

độ, nhiều giai đoạn Ở mỗi giai đoạn, trí nhớ lại giàu thêm những tài liệu sự kiện, sự phân tích lại sâu sắc và toàn diện hơn, làm cho những kết luận, những khái quát hóa hoặc những quy tắc đã được lĩnh hội biến thành tài sản trí tuệ của học sinh Chính vì vậy mà việc tiếp tục củng cố và kiểm tra kiến thức của học sinh có ý nghĩa vô cùng to lớn trong lý luận dạy học

Hoạt động củng cố bài thường tiếp diễn sau khi học sinh học bài mới nên ở một mức độ nhất định, sự tái hiện kiến thức là đặc trưng của các dạng hoạt động đó Tuy nhiên, sự tái hiện này không nên lặp lại đơn thuần kiến thức đã giảng Sự lặp lại như vậy, theo lời phát biểu của giáo sư L.V

Dancop, sẽ dẫn tư tưởng theo con đường phẳng phiu Nó không những không kích thích mà thậm

chí, trong một số trường hợp, còn ức chế sự phát triển trí tuệ của học sinh Các em không tập thói

Trang 35

quen phân tích sâu sắc những sự kiện mà chỉ cố gắng “ghi nhớ” kiến thức và các biện pháp ứng dụng chúng trong thực tiễn

Việc củng cố và đào sâu hơn kiến thức thực chất là: sau khi trình bày kiến thức mới, phát biểu các kết luận và khái quát hóa (khái niệm), giáo viên dẫn học sinh tới những sự kiện và thí dụ mới, nhưng bây giờ nhằm mục đích củng cố rộng rãi hơn các khái quát hóa đã đạt được, giải thích chúng sâu sắc hơn và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn Nhiều người cho rằng vì việc củng cố đã được tiến hành trên cơ sở kiến thức đã được thông hiểu nên nó không gây khó khăn lớn cho học sinh Thực ra, hoàn toàn không phải như thế Sự củng cố kiến thức, ở một

mức độ nhất định có liên quan đến một hiện tượng mà tâm lí học gọi là sự chuyển tải kiến thức Bản

chất của hiện tượng này là, trong quá trình học tập, học sinh dường như buộc phải chuyển tải những thao tác tư duy, những kĩ năng và kĩ xảo tư duy đã tiếp thu được, nghĩa là phải áp dụng chúng trong những điều kiện khác Quá trình này, một mặt làm cho việc học tập được dễ dàng hơn vì nó cho phép sử dụng những kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo đã tiếp thu được để lĩnh hội kiến thức mới, mặt khác, nó mang lại những khó khăn nhất định, vì không thể thực hiện một cách máy móc bất kì sự chuyển tải kiến thức nào, mà phải có những chỉnh lý nhất định trong những khái niệm, kĩ năng và kĩ xảo đã lĩnh hội được, phải phá vỡ phần nào những động hình đã có, nghĩa là phải có một sự căng thẳng về trí tuệ và thể lực Do đó, việc củng cố bài học đòi hỏi ở học sinh một sự căng thẳng về trí tuệ và thể lực nếu không nhiều hơn thì, dù sao, cũng không ít hơn so với việc nghiên cứu bài mới khi nghe giáo viên giảng Nguyên lí này quyết định logic và thứ tự của công việc củng cố kiến thức

đã học

Những bài luyện tập thực hành đầu tiên nhằm ứng dụng kiến thức mới do học sinh tiến hành, theo thường lệ, phải thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo viên Việc thực hiện những bài tập này thường mang tính chất tái hiện, vì tiến trình hành động của các em đã được giáo viên vạch cho, ngay

cả khi giảng giải rồi Sau đó, cùng với mức độ nắm vững kĩ năng kĩ xảo, các bài luyện tập khó thêm lên Chúng phải bao hàm một sự mới lạ nhất định và đòi hỏi học sinh ứng dụng kiến thức một cách thận trọng và sáng tạo Sự phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức khi củng cố kiến thức đã học trên lớp, nói đúng ra, chính là ở kĩ năng sau đây của giáo viên: biết lựa chọn tài liệu dạy học và tổ chức các bài luyện tập sao cho các em có thể biểu lộ tính sáng tạo và từ những khía cạnh khác nhau nhất đi tới thông hiểu sâu sắc và nắm vững được kiến thức

Muốn hiểu toàn diện và lĩnh hội vững chắc kiến thức, học sinh phải học có suy nghĩ bài học không phải ngay trong một lần, mà phải nghiên cứu bài vài lần trong một khoảng thời gian nào đó Chỉ có như thế thì trong trí nhớ mới còn lại một “đường mòn sâu sắc”, và kiến thức được lưu trữ lâu dài

V.I Lênin đã dạy rằng: “Sự nhận thức của con người không phải là một đường thẳng, mà là một đường cong tiến dần mãi mãi đến những vòng tròn, những đường xoắn”[25] Phù hợp với quan

Trang 36

điểm của Lênin, giáo sư M.A Đanilôp đã viết về sự cần thiết phải tổ chức hoạt động học tập sao cho học sinh có dịp lĩnh hội một tài liệu nhiều lần Tài liệu nghe ở lớp được giữ lại trong trí nhớ không vững chắc, nên cần thiết phải tổ chức việc thông hiểu và củng cố khi học ở nhà

Nhằm giúp học sinh nắm vững hệ thống kiến thức và rèn luyện kĩ năng tự học, giáo viên có thể đưa ra và hướng dẫn các em làm một số câu hỏi, bài tập trong tự học ở nhà Biện pháp này không chỉ làm cho học sinh nỗ lực học tập, mà còn tự kiểm tra, đánh giá kết quả nhận thức của mình một cách tốt nhất

- Câu hỏi, bài tập dưới dạng tổng hợp nhằm giúp học sinh củng cố, hệ thống hóa kiến thức

đã học Nội dung câu hỏi, bài tập này không phải lặp lại những kiến thức đã học trên lớp hoặc có

sẵn trong sách giáo khoa, mà đòi hỏi phải phát hiện thêm một khía cạnh mới của vấn đề, hoặc mở rộng, nâng cao những điều đã học sâu sắc hơn

- Câu hỏi, bài tập yêu cầu học sinh giải thích, bình luận những ý kiến, nhận định, kết luận, hiện tượng, quá trình,…nhằm rèn luyện kĩ năng phân tích, lí giải, lập luận, chứng minh cho các em

- Câu hỏi, bài tập thực hành nhằm rèn luyện kĩ năng kĩ xảo bộ môn, qua đó giáo dục tính

kiên trì, sự chính xác; đồng thời góp phần củng cố hệ thống kiến thức đã học (bài tập yêu cầu học sinh vẽ và làm việc với bản đồ, lập bảng biểu, sưu tầm tài liệu, tranh ảnh, đọc các loại tài liệu tham khảo khác có liên quan)

Ôn tập, tổng kết chương là nội dung có thể phát triển nhiều kĩ năng và nhiều loại tư duy cho

học sinh Các câu hỏi thường dùng khi ra bài tập củng cố, ôn tập cho học sinh:

- Những vấn đề cơ bản của chương là gì?

- Những vấn đề đó liên quan đến nhau như thế nào?

- Người ta sử dụng những phương pháp nào để chứng minh các định lí? Sắp xếp và phân loại nhóm các định lí có cùng phương pháp chứng minh

- Có cách nào khác để đưa ra hoặc thành lập các khái niệm có trong chương không? Có cách nào khác để chứng minh các định lí có trong chương không?

- Trong chương có các loại bài tập nào?

- Hãy đưa ra các bài tập tương tự?

- Hãy đưa ra một số bài tập mới không có trong giáo trình, trong đó có ứng dụng phần lí thuyết của chương để giải

- Có thể ứng dụng những gì vào thực tế (nội dung, phương pháp, tư tưởng) thông qua các kiến thức của chương? Hoặc là em có rút ra bài học gì sau khi học chương này?[56]

Những vấn đề nêu trên đã được cụ thể hóa trong phiếu học tập củng cố kiến thức và phiếu học tập ôn tập chương (xem mục 2.3.2)

1.3.7 Tổ chức cho học sinh tự quan sát hiện tượng và làm thí nghiệm vật lí ở nhà

Trang 37

Quan sát hiện tượng và làm thí nghiệm vật lí ở nhà là một loại bài làm mà giáo viên giao cho từng học sinh hoặc các nhóm học sinh thực hiện ở nhà

Khác với các loại thí nghiệm khác, học sinh tiến hành thí nghiệm vật lí ở nhà trong điều kiện không có sự giúp đỡ, kiểm tra trực tiếp của giáo viên; chỉ đòi hỏi học sinh sử dụng các dụng cụ thông dụng trong đời sống, những vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền hoặc các dụng cụ thí nghiệm được học sinh tự chế tạo từ những vật liệu này Chính những đặc điểm này đòi hỏi tính tự giác, tự lực cao độ của học sinh trong học tập; tạo nhiều cơ hội để phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong việc thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao Loại thí nghiệm này khác với các loại bài tập ở nhà khác ở chỗ: nó đòi hỏi sự kết hợp giữa lí thuyết và thực nghiệm, giữa hoạt động trí óc và hoạt động chân tay của học sinh

Với những đặc điểm nêu trên, thí nghiệm vật lí ở nhà có tác dụng nhiều mặt đối với việc hình

thành các năng lực cần thiết góp phần phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, hoạt động thực tiễn của học sinh: năng lực tự thiết kế phương án thí nghiệm, lập kế hoạch thí nghiệm, chế tạo hoặc lựa chọn dụng cụ, bố trí và tiến hành thí nghiệm, xử lí kết quả thí nghiệm thu được Việc thực hiện và hoàn thành các công việc trên làm tăng hứng thú học tập, tạo niềm vui thành công trong học tập của học sinh Việc thiết kế phương án thí nghiệm, tiên đoán hoặc giải thích các kết quả thí nghiệm đòi hỏi học sinh phải huy động các kiến thức đã học ở nhiều phần khác nhau của vật lí Nhờ vậy, chất lượng kiến thức của học sinh được nâng cao Thí nghiệm vật lí ở nhà còn làm phát triển những kĩ năng, kĩ xảo thí nghiệm, các thói quen của người làm thực nghiệm mà học sinh đã thu được trong các loại thí nghiệm khác

Khi tổ chức cho học sinh quan sát hiện tượng và làm thí nghiệm vật lí ở nhà, giáo viên cần cá thể hóa quá trình học tập của học sinh bằng cách giao cho các loại đối tượng học sinh khác nhau các

nhiệm vụ khác nhau như: chế tạo dụng cụ thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm với mức độ khó dễ khác

nhau, mức độ hướng dẫn khác nhau về cách chế tạo, lựa chọn dụng cụ, tiến hành thí nghiệm…

- Các dạng thí nghiệm vật lí ở nhà

Khi sử dụng loại thí nghiệm này trong dạy học vật lí, giáo viên cần bố trí thời gian để học sinh báo cáo trước toàn lớp các kết quả đã đạt được, giới thiệu những sản phẩm của mình, nhận được sự đánh giá của giáo viên và tập thể cũng như sự động viên, khen thưởng kịp thời Nội dung của các thí nghiệm vật lí ở nhà không phải là sự lặp lại nguyên xi các thí nghiệm đã làm trên lớp mà phải có nét mới, không đơn thuần chỉ là sự tiến hành thí nghiệm với những hướng dẫn chi tiết Các thí nghiệm vật lí ở nhà có thể mang tính chất định tính hoặc định lượng Nội dung, hình thức của thí nghiệm vật lí ở nhà này rất phong phú, có thể ra dưới nhiều dạng khác nhau:

- Mô tả một phương án thí nghiệm, yêu cầu học sinh tiến hành thí nghiệm, tiên đoán hoặc giải thích kết quả thí nghiệm

Trang 38

Ví dụ: Một chiếc cốc (ly) đặt trên một tờ giấy nhẵn để trên mặt bàn phẳng Quan sát hiện tượng xảy ra với chiếc cốc khi dùng tay kéo từ từ tờ giấy và khi giật nhanh tờ giấy theo phương ngang

- Cho trước các dụng cụ, yêu cầu học sinh thiết kế phương án thí nghiệm để đạt được một mục đích nhất định (quan sát thấy một hiện tượng, xác định được một đại lượng vật lí)

- Yêu cầu học sinh chế tạo một dụng cụ thí nghiệm đơn giản từ các vật liệu cần thiết cho trước, rồi tiến hành thí nghiệm với dụng cụ này nhằm đạt được một mục đích nào đó

Đề tài này chủ yếu khai thác dạng bài tập chế tạo một dụng cụ thí nghiệm, trong đó phân thành nhiều bài tập khác nhau ứng với từng trình độ khác nhau của các nhóm học sinh

Ví dụ: Sau khi học xong bài 23 Động lượng Định luật bảo toàn động lượng, giáo viên ra

các bài tập như sau:

1) Em hãy chế tạo một chiếc tên lửa nước trong đó hoạt động của tên lửa dựa trên nguyên tắc chuyển động bằng phản lực

2) Em hãy chế tạo một chiếc xe phản lực trong đó hoạt động của xe dựa trên nguyên tắc chuyển động bằng phản lực

3) Em hãy chế tạo một chiếc thuyền phản lực trong đó hoạt động của thuyền dựa trên nguyên tắc chuyển động bằng phản lực

Sau một thời gian quy định, giáo viên xem xét xem các em làm những bài tập này đến mức độ nào, nếu nhóm nào chưa hoàn thành vì quá khó thì giáo viên ra những bài tập này ở mức độ dễ hơn bằng cách cho thêm các dụng cụ thí nghiệm như sau:

1) Em hãy chế tạo một chiếc tên lửa nước trong đó hoạt động của tên lửa dựa trên nguyên tắc chuyển động bằng phản lực Cho trước các dụng cụ: Một chai coca lớn, một nút cao su,

một van xe đạp, bơm xe, tấm nhựa, keo dán tổng hợp, kéo, dây thép

2) Em hãy chế tạo một chiếc xe phản lực trong đó hoạt động của xe dựa trên nguyên tắc chuyển động bằng phản lực Cho trước các dụng cụ: Một chai coca rỗng loại lớn, một nút cao su,

một chiếc van ruột xe đạp, bốn hộp tròn đựng băng keo, hai chiếc nan hoa xe đạp, vài cái đinh rệp (đinh mũ), tấm gỗ rộng khoảng 6mm, thanh nẹp gỗ, dây thép, bơm xe

3) Em hãy chế tạo một chiếc thuyền phản lực trong đó hoạt động của thuyền dựa trên nguyên tắc chuyển động bằng phản lực Cho trước các dụng cụ: Một lon kín (chứa nước 1/3 lon) để

làm động cơ, nắp của một hộp xà phòng lớn để làm thuyền, nến, dây kim loại, nút

Tiếp tục kiểm tra mức độ hoàn thành bài tập của học sinh, nếu các em vẫn không thể làm được các bài tập đó thì ra bài tập như trên nhưng có thêm phần hướng dẫn cụ thể cách làm như thế nào (xem mục 2.3.2.1)

1.3.8 Tổ chức cho học sinh tự kiểm tra – đánh giá kết quả học tập

Trang 39

Không nên biến công việc kiểm tra, đánh giá đơn thuần thành việc kiểm tra chất lượng tiếp thu bài học của học sinh Mà công việc này phải góp phần đào sâu và mở rộng kiến thức của các em

và được thực hiện trên cơ sở của tính tích cực trí tuệ cao Nếu sử dụng một cách quá đáng và đôi khi chỉ sử dụng duy nhất có phương pháp hỏi miệng khi kiểm tra việc lĩnh hội bài học (trong đó độ ba bốn học sinh làm việc tích cực) sẽ dẫn tới tính thụ động của đa số học sinh và không mang lại hiệu quả cần thiết Bên cạnh các biện pháp hỏi miệng khác nhau (hỏi cá nhân, hỏi chung tập thể và hỏi nhiều người một lúc), nên áp dụng rộng rãi nhiều hình thức bài tập thực hành và bài tập miệng Khi hoàn thành những bài tập này, học sinh một mặt sẽ bộc lộ trình độ tiếp thu bài học, mặt khác sẽ đào sâu thêm kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo của mình Vấn đề đặt ra là phải làm sao cho việc kiểm tra miệng được phối hợp với các hình thức và thủ thuật khác nhau của sự luyện tập thực hành, nó không những mang tính chất kiểm tra, mà còn có tác dụng dạy học và phải được tiến hành trên cơ

sở tất cả học sinh làm việc tích cực

Để đạt được những tiêu chí như trên, giáo viên nên tổ chức cho học sinh tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập bằng cách: sau mỗi lần học sinh thực hiện phiếu học tập chuẩn bị bài mới, giáo viên đưa ra đáp án và ba rem điểm và yêu cầu các em tự chấm chéo bài cho nhau Làm như vậy, mỗi lần

tự chấm bài, các em có thêm cơ hội để khắc sâu thêm kiến thức, biết nhận xét mức độ hoàn thành bài tập của mình và so sánh với bạn khác

1.3.9 Một số biện pháp tổ chức cho học sinh tự học ở nhà

1.3.9.1 Tổ chức học hợp tác nhóm Việc tổ chức học hợp tác nhóm trong đề tài này được thực hiện chủ yếu ở nhà chứ không phải ở trên lớp như chúng ta vẫn làm Ưu điểm của việc tổ chức học hợp tác nhóm trong trường hợp này là giáo viên có thể bao quát tốt hơn quá trình tự học ở nhà của từng học sinh thông qua các nhóm trưởng Nếu không có học hợp tác nhóm thì giáo viên không thể theo dõi sâu sát từng em được Bên cạnh đó, học hợp tác nhóm ngoài việc nâng cao hiệu quả học tập, năng lực hợp tác giữa các học sinh với nhau cũng được nâng cao Học hợp tác nhóm ở đây không làm lu mờ khả năng tự học của học sinh mà thông qua học nhóm, các em có tinh thần trách nhiệm hơn đối với việc tự học của mình và những em gặp khó khăn trong quá trình tự học cũng được giúp đỡ kịp thời

Cơ sở lí luận về việc học hợp tác nhóm đã được nhiều tác giả nói đến như: Tác giả Thái Duy Tuyên, tác giả Nguyễn Trọng Sửu, tác giả Lê Phước Lộc…Vì vậy, ở đây không trình bày lại tất cả những lí thuyết về học hợp tác nhóm mà chỉ nêu lên những vấn đề cần lưu ý khi tổ chức học hợp tác nhóm ở nhà như sau:

- Các thành viên trong một nhóm được lựa chọn theo sự đa dạng về năng lực, tính cách, sự trải nghiệm…nhưng phải thuận lợi cho việc giúp đỡ nhau tự học ở nhà Ví dụ: Khi các em chuẩn bị bài mới và củng cố bài cũ, giáo viên nên phân nhóm theo khu vực để các em tiện liên lạc với nhau

Trang 40

Còn khi làm thí nghiệm ở nhà thì nên phân nhóm theo sở thích của học sinh Nhưng cũng phải chú ý sao cho trong một nhóm có cả học sinh giỏi, học sinh khá, học sinh trung bình, học sinh yếu

- Tất cả các thành viên đều được lần lượt giữ các chức vụ khác nhau trong nhóm như: nhóm trưởng, nhóm phó, thư kí…Các thành viên cần có nhiệm vụ, vai trò rõ ràng, ví dụ:

+ Nhóm trưởng: điều khiển nhóm, hướng dẫn các thành viên tham gia vào hoạt động, giải thích rõ nhiệm vụ hoạt động của nhóm, tóm tắt, kiểm tra lại xem mọi thành viên đã hiểu hết vấn đề chưa, giải quyết các mâu thuẫn trong quá trình hoạt động nhóm, báo cáo lại cho giáo viên hoạt động của nhóm mình

+ Nhóm phó: hỗ trợ nhóm trưởng trong việc điều khiển nhóm, động viên mọi thành viên hoàn thành nhiệm vụ, đánh giá sự tham gia của các thành viên, thay mặt nhóm trưởng báo cáo kết quả khi cần thiết…

- Số lượng thành viên trong nhóm vừa phải, thường từ 2 đến 5 học sinh Nhóm nhỏ sẽ hoạt động có hiệu quả hơn vì mọi thành viên có trách nhiệm hơn, khoảng cách giữa các thành viên nhỏ lại Tuy nhiên, việc lựa chọn số lượng thành viên khi tổ chức tự học ở nhà còn phụ thuộc nhiều yếu

tố khác như: nội dung nhiệm vụ học tập, phương tiện học tập, số lượng học sinh trong một lớp, khoảng cách địa lí giữa các học sinh…

- Thời gian duy trì nhóm: cần duy trì nhóm đến thời điểm đủ ổn định và nhóm đạt được thành công Giải tán nhóm và thành lập nhóm mới khi các nhóm này có vấn đề và hoạt động kém hiệu quả

- Mỗi thành viên đều phải có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ được giao và giúp các thành viên khác trong nhóm hoàn thành nhiệm vụ một cách tích cực Để đạt được điều này, giáo viên nên giải thích rằng mục tiêu nhóm là phải đảm bảo tất cả các thành viên hoàn thành tích cực bài tập được giao Giáo viên có thể cho điểm cả nhóm bằng cách cộng điểm của từng thành viên trong nhóm Hoặc chọn một bài làm của một thành viên của nhóm để đánh giá, khi đó, các thành viên có trách nhiệm đọc và sửa chữa bài làm cho nhau

- Giáo viên cần có sự hỗ trợ học sinh khi cần thiết Trong quá trình theo dõi hoạt động của các nhóm, giáo viên cần đưa ra những gợi ý, nhắc lại những biện pháp và cách thức để hoàn thành công việc được giao Đối với những nhóm chưa thực hiện nhiệm vụ được giao một cách tích cực, cần đến gần và cùng tham gia với các em

- Cuối mỗi hoạt động, giáo viên cùng học sinh phân tích kết quả học tập để rút ra các kinh nghiệm cho các hoạt động sau Trong những hoạt động đầu tiên, giáo viên có thể tiến hành nhận xét nhóm ngay sau khi hoạt động hợp tác kết thúc, hoặc vào cuối mỗi tiết học Dần dần giáo viên hướng dẫn học sinh tự nhận xét về nhóm mình, còn giáo viên là người tập hợp, khái quát lại, bổ sung vào những nhận xét của từng nhóm.[59]

1.3.9.1 Phương pháp khích lệ học tập và công nhận những cố gắng

Ngày đăng: 15/03/2013, 16:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa các khái niệm và định luật chương IV - Tổ chức tự học ở nhà, các định luật bảo toàn
Hình 2.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa các khái niệm và định luật chương IV (Trang 46)
Bảng 2.1. Tên các phiếu học tập và kí hiệu - Tổ chức tự học ở nhà, các định luật bảo toàn
Bảng 2.1. Tên các phiếu học tập và kí hiệu (Trang 49)
Bảng 3.1. Số HS hoàn thành bài tập trong PHT chuẩn bị bài mới/tổng số HS của lớp - Tổ chức tự học ở nhà, các định luật bảo toàn
Bảng 3.1. Số HS hoàn thành bài tập trong PHT chuẩn bị bài mới/tổng số HS của lớp (Trang 101)
Bảng 3.5. Số HS đạt điểm X i  của PHT 4A - Tổ chức tự học ở nhà, các định luật bảo toàn
Bảng 3.5. Số HS đạt điểm X i của PHT 4A (Trang 102)
Bảng 3.9. Số HS đạt điểm X i  của PHT 1B - Tổ chức tự học ở nhà, các định luật bảo toàn
Bảng 3.9. Số HS đạt điểm X i của PHT 1B (Trang 106)
Bảng 3.15. Bảng phân phối tần số điểm của bài kiểm tra TNKQ cuối chương IV - Tổ chức tự học ở nhà, các định luật bảo toàn
Bảng 3.15. Bảng phân phối tần số điểm của bài kiểm tra TNKQ cuối chương IV (Trang 108)
Bảng 3.18. Bảng phân phối tần số của bài kiểm tra tự luận cuối chương IV - Tổ chức tự học ở nhà, các định luật bảo toàn
Bảng 3.18. Bảng phân phối tần số của bài kiểm tra tự luận cuối chương IV (Trang 109)
Bảng 3.19. Bảng phân phối tần suất của bài kiểm tra tự luận cuối chương IV - Tổ chức tự học ở nhà, các định luật bảo toàn
Bảng 3.19. Bảng phân phối tần suất của bài kiểm tra tự luận cuối chương IV (Trang 110)
Bảng 3.20. Bảng phân phối tần suất tích lũy của bài kiểm tra tự luận cuối chương IV  Nhóm  Tổng - Tổ chức tự học ở nhà, các định luật bảo toàn
Bảng 3.20. Bảng phân phối tần suất tích lũy của bài kiểm tra tự luận cuối chương IV Nhóm Tổng (Trang 110)
Bảng 3.21. Bảng so sánh điểm trung bình cộng của nhóm ĐC và TN - Tổ chức tự học ở nhà, các định luật bảo toàn
Bảng 3.21. Bảng so sánh điểm trung bình cộng của nhóm ĐC và TN (Trang 111)
Bảng 3.22. Bảng so sánh độ lệch chuẩn của nhóm ĐC và TN - Tổ chức tự học ở nhà, các định luật bảo toàn
Bảng 3.22. Bảng so sánh độ lệch chuẩn của nhóm ĐC và TN (Trang 111)
Bảng 3.23. Bảng so sánh sai số tiêu chuẩn của nhóm ĐC và TN: - Tổ chức tự học ở nhà, các định luật bảo toàn
Bảng 3.23. Bảng so sánh sai số tiêu chuẩn của nhóm ĐC và TN: (Trang 112)
Bảng 3.26. Hệ số t của các nhóm ĐC và TN - Tổ chức tự học ở nhà, các định luật bảo toàn
Bảng 3.26. Hệ số t của các nhóm ĐC và TN (Trang 113)
Bảng 3.16. Bảng phân phối tần suất điểm của bài kiểm tra TNKQ cuối chương IV  Nhóm  Tổng - Tổ chức tự học ở nhà, các định luật bảo toàn
Bảng 3.16. Bảng phân phối tần suất điểm của bài kiểm tra TNKQ cuối chương IV Nhóm Tổng (Trang 157)
Bảng 3.17. Bảng phân phối tần suất tích luỹ điểm của bài kiểm tra TNKQ cuối chương IV - Tổ chức tự học ở nhà, các định luật bảo toàn
Bảng 3.17. Bảng phân phối tần suất tích luỹ điểm của bài kiểm tra TNKQ cuối chương IV (Trang 157)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w