Tổ chức dạy học theo dự án một số kiến thức thuộc phần từ trường và cảm ứng điện từ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_
Nguyễn Thanh Nga
TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MỘT SỐ KIẾN THỨC THUỘC PHẦN “TỪ TRƯỜNG VÀ CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ” – HỌC PHẦN ĐIỆN VÀ TỪ ĐẠI CƯƠNG CHO SINH VIÊN NGÀNH KỸ THUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_
Nguyễn Thanh Nga
TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MỘT SỐ KIẾN THỨC THUỘC PHẦN “TỪ TRƯỜNG VÀ CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ” – HỌC PHẦN ĐIỆN VÀ TỪ ĐẠI CƯƠNG CHO SINH VIÊN NGÀNH KỸ THUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lý
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐỖ HƯƠNG TRÀ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Hương Trà, người đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Vật lý Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Giám đốc trường Đại học giao thông vận tải – cơ sở 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, thầy cô
và các học viên cao học cùng lớp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2009
Tác giả
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên mới với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật hiện đại, những thành tựu của nó gần như được áp dụng ngay lập tức vào tất cả các lĩnh vực, là động lực thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ về mọi mặt của đời sống xã hội Để đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội, đòi hỏi con người không ngừng học hỏi, nâng cao tri thức và
kỹ năng của mình Sứ mệnh đó đã đặt lên vai ngành giáo dục một trọng trách lớn lao: đào tạo con người đáp ứng yêu cầu xã hội ngày càng phát triển
Giáo dục hiện đại đang đứng trước yêu cầu và thách thức lớn lao của xã hội hiện đại Trong trường đại học, việc học tập của sinh viên không thể là thụ động tiếp thu bài giảng của giảng viên mà phải là sự tham gia tích cực vào các hoạt động học tập, độc lập sáng tạo, tích cực tham gia các hoạt động tập thể để có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất và xã hội sau này Việc dạy của giảng viên không chỉ là cung cấp kiến thức, mà phải tạo cho sinh viên có cơ hội tham gia khám phá thế giới thực, phân tích và giải quyết vấn đề Kết quả cần rèn luyện cho sinh viên là tính năng động cá nhân, tư duy sáng tạo, năng lực thực hành giỏi, khả năng hợp tác, khả năng giải quyết các vấn đề mà thực tiễn đặt ra
Thời gian qua, giáo dục nước ta đã và đang thực hiện những thay đổi trong toàn bộ quá trình dạy học: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức thực hiện, đánh giá Việc đổi mới phương pháp nhằm phát triển con người toàn diện hơn, đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hoà nhập vào
sự tiến bộ chung của khu vực và trên thế giới Điều đó đã được khẳng định trong luật giáo dục, điều 28.2 Luật giáo dục ghi rõ: “…Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”[9]; đối với giáo dục đại
Trang 5học, điều 40.2 ghi rõ: “ Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng”[9]
Một lần nữa, nghị quyết TW2 khoá VIII khẳng định: “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp
tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào trong quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học”[5]
Nhiệm vụ của hệ thống giáo dục đại học là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, có đạo đức trong sáng, năng động, nhạy bén, có khả năng tiếp thu nhanh chóng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại Đó là lực lượng lao động nòng cốt đưa đất nước phát triển kịp với xu thế phát triển của thời đại Để đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước, giáo dục đại học tất yếu phải luôn đổi mới cả về nội dung lẫn phương pháp, rèn luyện cho sinh viên kỹ năng giải quyết các vấn đề thực tiễn một cách linh hoạt Đổi mới phải được xem là mệnh lệnh của cuộc sống nếu không muốn đất nước bị tụt hậu
Tuy nhiên, nhìn chung giáo dục đại học của nước ta vẫn chậm đổi mới so với
xu hướng đổi mới chung của giáo dục, nhất là đối với các môn học đại cương ở các trường Đại học kỹ thuật Cụ thể:
- Về nội dung giáo trình giảng dạy: vẫn là các giáo trình cũ được chỉnh sửa đôi chút, các kiến thức rất cũ, việc cập nhật các kiến thức mới còn hạn chế, các kiến thức mà sinh viên tiếp thu được rất khó liên hệ với thực tế
- Về phương pháp dạy học: vẫn là cách dạy học truyền thống - thầy đọc , giảng giải; trò ghi chép cẩn thận, học thuộc Sinh viên rất ít có thời gian tự nghiên cứu, tự học, thực hiện các nhiệm vụ học tập phức hợp gắn liền với thực tiễn
- Về hình thức kiểm tra, đánh giá: điểm thi kết thúc học phần chiếm đến 80% tổng số điểm của học phần, còn 20% là điểm chuyên cần và làm thí nghiệm Như vậy, không có điểm đánh giá quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập của sinh viên,
Trang 6cũng như điểm kỹ năng giải quyết các vấn đề thực tiễn liên quan đến nội dung học tập
Từ thực tiễn dạy học Vật lý ở trường Đại học GTVT, chúng tôi nhận thấy khi giảng dạy các học phần đại cương nói chung, Vật lý đại cương nói riêng, các giảng viên hầu như chỉ tập trung giảng giải, trình bày, thông báo các kiến thức để sinh viên vận dụng giải các bài tập thuần tuý lý thuyết mà ít liên hệ đến các ứng dụng thực tế, có chăng chỉ là giới thiệu mang tính đại khái, chung chung để cho sinh viên biết…Hầu như không có giảng viên nào giao cho sinh viên các nhiệm vụ học tập phức hợp, vận dụng nội dung kiến thức bài học và kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề trong thực tế, qua đó sinh viên phải tự nghiên cứu, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, cộng tác với bạn bè và thầy cô để có thể giải quyết được vấn đề đặt ra, từ đó sinh viên tự trang bị cho mình kỹ năng vận dụng kiến thức (được học, tự nghiên cứu) để giải quyết linh hoạt các vấn đề thực tiễn, tạo sự say mê, hứng thú ở chính người học
Trong học phần Điện và Từ đại cương dành cho sinh viên các trường Đại học
kỹ thuật, một số kiến thức phần Từ trường và Cảm ứng điện từ có rất nhiều ứng dụng hay và lý thú Người học sẽ học tập tích cực hơn nếu các kiến thức được vận dụng vào giải quyết những vấn đề cụ thể, thực tế, điều đó làm cho các kiến thức trở nên có nghĩa đối với người học, khơi dậy lòng say mê, hứng thú ở họ Với mục đích trang bị cho sinh viên kiến thức vững chắc, rèn luyện kỹ năng giải quyết các vấn đề thực tế đặt ra, khơi dậy tính tích cực, tự chủ của sinh viên thì việc tổ chức dạy học
dự án sẽ đem lại hiệu quả cao
Dạy học dự án (DHDA) là một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt động và quan điểm dạy học tích hợp DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành,
tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học
Trang 7Ở Việt Nam, các đề án môn học, đề án tốt nghiệp từ lâu cũng đã được sử dụng trong đào tạo đại học, các hình thức này gần gũi với dạy học theo dự án Tuy vậy trong lĩnh vực dạy học, DHDA này chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thích đáng, nên việc sử dụng chưa đạt hiệu quả cao Một vài năm gần đây, tuy đã có một
số nghiên cứu vận dụng dạy học dự án vào dạy học một số kiến thức vật lí nhưng tập trung chủ yếu vào dạy học với đối tượng học sinh phổ thông
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài:
Tổ chức dạy học dự án một số kiến thức thuộc phần “Từ trường và Cảm ứng điện từ” - học phần Điện và Từ đại cương cho sinh viên ngành kỹ thuật trường Đại học Giao thông
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc tổ chức dạy học dự án một số nội dung kiến thức thuộc phần “Từ trường và Cảm ứng điện từ”- học phần Điện và Từ đại cương nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của người học, hướng tới phát triển kỹ năng tư duy bậc cao, rèn luyện cho sinh viên khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động dạy học của giảng viên và sinh viên trường Đại học GTVT trong tiến trình dạy học một số kiến thức phần “Từ trường và Cảm ứng điện từ”- học phần Điện và Từ đại cương theo mô hình dạy học dự án
4 Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu
Phương pháp dạy học PBL (Project – Based Learning) là mô hình dạy học mới xuất hiện cách đây khoảng 25 năm trên nước Mỹ nhằm thay thế cho lối học truyền thống lúc bấy giờ Với lớp học truyền thống một bài học diễn ra chỉ trong thời gian ngắn (chỉ 1 tiết hay 2 tiết học), tách biệt với bên ngoài và người thầy là trung tâm của quá trình dạy học Còn với phương pháp PBL thì tạo ra một lớp học tích cực hơn, phát huy tính chủ động của người học trong quá trình học tập, bài học được thay thế bằng những dự án có thời gian kéo dài, tích hợp được nhiều môn học, ngành học có liên quan Trong đó, người học là trung tâm của quá trình dạy học
Trang 8Nội dung của bài học dưới dạng một dự án, người học phải tự thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên, phải liên hệ với thực tiễn cuộc sống xung quanh các em
* Mục tiêu của dạy học dự án
Dạy học dự án hướng tới phát triển các kỹ năng tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá) cho người học
* Các đặc điểm của dạy học dự án:
- Chủ đề của dự án gắn với thực tiễn, kết quả dự án có ý nghĩa thực tiễn-xã hội
- Chủ đề và nội dung của dự án phù hợp với hứng thú của người học
- Người học tham gia tích cực và tự lực vào tất cả các giai đoạn của quá trình dạy học: đề xuất vấn đề,lập kế hoạch giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề và trình bày kết quả thực hiện
- Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, huy động nhiều giác quan
- Đó là những sản phẩm hành động có thể công bố, giới thiệu được
- Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc các môn học khác nhau
- Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm
Trong những năm gần đây, chương trình dạy học cho tương lai do Intel tổ chức cũng đã nhấn mạnh vai trò của dạy học dự án, đã thu hút được đông đảo các quốc gia trên thế giới tham gia, trong đó có Việt nam, bước đầu đã thu được thành công Ở Việt nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu lý luận và tổ chức dạy học dự án,
có thể kể một số công trình như:
“Dạy học theo dự án-một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên” của hai tác giả Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Thị Diệu Thảo (tạp chí GD; 2004/ số 80.15-17), tác giả tiếp cận dạy học dự án từ góc độ lý luận
“Dạy học dự án và tiến trình thực hiện” của tác giả Đỗ Hương Trà (tạp chí GD; 2007/ số 157.12-14, 23).Tác giả đã đưa ra tiến trình thực hiện dạy học dự án, thông qua đó để vận dụng vào tổ chức dạy học dự án một cách hiệu quả
Trang 9“Đặc điểm cấu trúc của dạy học dự án và kết quả việc vận dụng vào dạy học môn kỹ thuật số” của tác giả Lê Văn Hồng ( tạp chí GD; 2006/ số 133.31-32,17), tác giả đã nghiên cứu lý luận của dạy học dự án và vận dụng vào dạy môn kỹ thuật
số bước đầu đã thu được thành công
“Project-Based Learning (PBL) và việc ứng dụng vào dạy học môn Vật lý ở trường phổ thông Việt Nam trong tương lai” của tác giả Hồ Thanh Liêm, luận văn tốt nghiệp đại học tháng 6/2005 Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, trong
đó đã tổ chức soạn thảo dạy học dự án chương “Dòng điện trong các môi trường” thuộc chương trình Vật lý lớp 11 nhưng chưa tiến hành thực nghiệm sư phạm
“Tổ chức dạy học các kiến thức phần Những định luật cơ bản của dòng điện không đổi cho học sinh lớp 11 THPT theo quan điểm của dạy học dự án” của tác giả Nguyễn Văn Nghĩa, luận văn tốt nghiệp ĐH tháng 6/2006 ĐHSP Hà Nội, tác giả đã
tổ chức được một số nội dung kiến thức đó là dự án lắp mạch điện cho phòng học
và dự án tìm hiểu cấu tạo của pin điện hoá nhưng chưa tiến hành thực nghiệm với học sinh
Một số đề tài luận văn nghiên cứu việc tổ chức dạy học dự án các kiến thức liên quan đến phần Điện và Từ như:
“Tổ chức dạy học dự án một số nội dung kiến thức chương Cảm ứng điện từ sách giáo khoa Vật lí lớp 11 THPT nhằm phát triển hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của học sinh trong học tập” của tác giả Đào Thị Thu Thuỷ, luận văn thạc sỹ,
2005 Tác giả đã tiến hành nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học dự án và tổ chức thực nghiệm cho học sinh trường THPT NK Trần Phú, Hải Phòng, qua đó gây được hứng thú học tập cho học sinh
Trong nghiên cứu “Tổ chức hoạt động dạy học chương Chuyển động của hạt mang điện trong điện trường và từ trường - học phần điện và từ đại cương, nhằm phát huy tính tích cực, tự chủ của người học” của tác giả Phùng Việt Hải (luận văn thạc sỹ, 2007), tác giả đã tiến hành thiết kế các hoạt động dạy học dựa trên cơ sở lí luận của dạy học dự án và đã thu được những kết quả khả quan trong việc phát huy tính tích cực, tự chủ và sáng tạo của người học
Trang 10Trong những năm gần đây, các giảng viên ở các trường Đại học sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, Đại học sư phạm Hà Nội đã giảng cho sinh viên về mô hình dạy học dự án và tổ chức thực hiện dạy học dự án cho đối tượng sinh viên, thu hút được sự tham gia tích cực, khơi dậy lòng say mê, hứng thú của người học Ngày 26/03/2005, Sở GD-ĐT TPHCM đã tổ chức hội thảo về mô hình dạy học dự án tại trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai - nơi mô hình dạy học này được triển khai mạnh mẽ nhất
Bên cạnh đó còn có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác và một số học viên cao học đã vận dụng quan điểm của dạy học dự án vào tổ chức dạy học ở một số trường tại Thành Phố Hồ Chí Minh và Hà Nội…bước đầu đã thu được nhiều thành công trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực,
tự chủ của người học, lôi cuốn người học vào thực hiện dự án học tập một cách tự giác
5 Giả thuyết khoa học
Dựa trên cơ sở lí luận của dạy học dự án cũng như dựa trên việc phân tích các nội dung kiến thức cần dạy thì có thể tổ chức dạy học dự án một số kiến thức phần Từ trường và Cảm ứng điện từ- học phần Điện và Từ đại cương cho sinh viên ngành kỹ thuật nhằm phát huy tính tính cực, tự chủ và kích thích hứng thú cho người học
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu bản chất của hoạt động dạy học nói chung, bản chất của hoạt động dạy học Vật lý nói riêng
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học dự án, quá trình thiết kế dự án, quá trình hướng dẫn người học lập dự án vào việc tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát triển các hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của sinh viên
- Điều tra ban đầu để phân tích những thuận lợi, khó khăn của giảng viên và sinh viên trường Đại học GTVT khi dạy học các kiến thức phần Từ trường và Cảm ứng điện từ- học phần Điện và Từ đại cương
Trang 11- Nghiên cứu nội dung kiến thức phần Từ trường và Cảm ứng điện từ- giáo trình Vật lý đại cương và các tài liệu khoa học liên quan
- Vận dụng dạy học dự án vào việc soạn thảo tiến trình dạy học một số kiến thức phần Từ trường và Cảm ứng điện từ- học phần Điện và Từ đại cương, phát huy tính tích cực, tự chủ của sinh viên trong quá trình học tập
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo tiến trình đã soạn thảo để đánh giá hiệu quả của nó đối với việc phát huy tính tích cực, tự chủ của người học
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1.Nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các tài liệu về tâm lí học, lý luận dạy học đại học, lý luận dạy học hiện đại, lý luận dạy học Vật lý, các văn kiện đại hội Đảng về đổi mới giáo dục, các bài báo, tạp chí có liên quan
- Nghiên cứu giáo trình Vật lý đại cương, học phần “Điện và Từ đại cương”, trọng tâm là các kiến thức phần Từ trường và Cảm ứng điện từ và các tài liệu khoa học liên quan
- Nghiên cứu việc ứng dụng các kiến thức Từ trường và Cảm ứng điện từ vào trong thực tế
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến việc tích hợp công nghệ, sử dụng các phần mềm tin học hỗ trợ, nhằm phát huy tối đa hiệu quả của dạy học
7.2 Điều tra
Dự giờ, quan sát, điều tra thực trạng dạy học kiến thức phần Từ trường và Cảm ứng điện từ đại cương của giảng viên và sinh viên trường Đại học GTVT
7.3 Nghiên cứu thực nghiệm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm trên đối tượng là sinh viên trường Đại học GTVT Sau đó dùng thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiệm sư phạm
và kiểm định giả thuyết thống kê.Từ đó khẳng định hiệu quả của tiến trình dạy học
đã soạn thảo đối với việc phát huy tính tích cực, tự lực của người học
Trang 128 Những đóng góp mới của luận văn
- Cụ thể hoá cơ sở thực tiễn của việc vận dụng dạy học dự án trong tổ chức dạy học các nội dung kiến thức Vật lý
- Soạn thảo được tiến trình dạy học dự án một số kiến thức trong phần “Từ trường và Cảm ứng điện từ”- học phần Điện và Từ đại cương
- Cung cấp số liệu và thông tin khoa học làm phong phú thêm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học
- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lý ở đại học theo tinh thần của dạy học hiện đại
Trang 13Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC DỰ ÁN
1.1 Bản chất của hoạt động dạy học
1.1.1 Bản chất của hoạt động học
1.1.1.1 Khái niệm hoạt động học
Khi nói đến hoạt động học cần làm rõ khái niệm học và khái niệm hoạt động học
- Trong cuộc sống đời thường con người luôn luôn có quá trình tiếp thu, tích luỹ những kinh nghiệm sống, trên cơ sở đó tạo nên những tri thức tiền khoa học, làm cơ sở tiếp thu những khái niệm khoa học ở trong nhà trường Đó chính là việc học, là cách học theo phương pháp của cuộc sống thường ngày, giống như con người khi sinh ra đến khi chết lúc nào cũng phải học ăn học nói học gói học mở, đi một ngày đàng học một sàng khôn…
- Trên thực tế, chỉ có phương thức đặc thù ( phương thức nhà trường) mới có khả năng tổ chức để cá nhân tiến hành hoạt động đặc biệt đó là hoạt động học, qua
đó hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học, năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn; và trong tâm lý học sư phạm, hoạt động học là khái niệm chính được dùng để chỉ hoạt động học diễn theo phương thức đặc thù, nhằm chiếm lĩnh tri thức,
kĩ năng, kĩ xảo
1.1.1.2 Bản chất của hoạt động học
Hoạt động học tập là hoạt động chuyên hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở người học Sự tái tạo ở đây hiểu theo nghĩa là phát hiện lại Sự thuận lợi cho người học ở đây đó là con đường để phát hiện lại đã được các nhà khoa học tìm hiểu trước, giờ người học chỉ việc tái tạo lại Và để tái tạo lại, người học không có cách
gì khác đó là phải huy động nội lực của bản thân (động cơ, ý chí, …), càng phát huy nội lực của bản thân cao bao nhiêu thì việc tái tạo lại kiến thức càng diễn ra tốt bấy nhiêu Do đó hoạt động học làm thay đổi chính người học Ai học thì người đó phát triển, không ai học thay thế được, người học cần phải có trách nhiệm với chính bản thân mình, vì mình trong quá trình học Hoạt động học có thể cũng có thể làm thay
Trang 14đổi khách thể nhưng như thế không phải là mục đích tự thân của hoạt động học mà chính là phương tiện để đạt được mục đích làm thay đổi chính chủ thể của hoạt động
Hoạt động học là hoạt động tiếp thu những tri thức lý luận, khoa học Nghĩa
là việc học không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt những khái niệm đời thường mà học phải tiến đến những tri thức khoa học, những tri thức có tính chọn lựa cao, đã được khái quát hoá, hệ thống hoá
Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động học Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học, phương pháp học, nghĩa là phải có những tri thức về chính bản thân hoạt động học
Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi học sinh, sinh viên Do đó nó giữ vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển tâm lý của người học trong lứa tuổi này
1.1.1.3 Đối tượng của hoạt động học
Chủ thể của hoạt động học là người học thì đối tượng của hoạt động học hướng tới đó là tri thức Nhưng tri thức mà người học phải học được lựa chọn từ những khoa học khác nhau, theo những nguyên tắc nhất định, làm thành những môn học tương ứng và được cụ thể ở những đơn vị cấu thành như: khái niệm, kĩ năng, thái độ…
Đối tượng của hoạt động học có liên quan chặt chẽ với đối tượng của khoa học Tuy vậy, có sự khác nhau về nguyên tắc giữa hoạt động học và hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động học là hoạt động tái tạo lại những tri thức đã có từ trước ở người học, còn hoạt động nghiên cứu khoa học đó là phát hiện những chân
lý khoa học mà loài người chưa biết đến Có thể nói: đối tượng của hoạt động học là cái mới với cá nhân người học nhưng không mới đối với nhân loại
1.1.1.4 Phương tiện học tập
Hoạt động bao giờ cũng hướng tới một đối tượng cụ thể, và chủ thể phải có những phương tiện, những điều kiện cụ thể để chiếm lĩnh đối tượng Trong hoạt
Trang 15động học tập, ngoài những phương tiện như: giấy, bút, sách, giáo trình, máy tính…
nó còn mang tính chất đặc thù của hoạt động học tập đó là mọi yếu tố của nó đều được hình thành trong quá trình học tập Phương tiện học tập không có sẵn trong tâm lý chủ thể mà hình thành chính trong quá trình chủ thể tham gia hoạt động học tập
Phương tiện chủ yếu của hoạt động học tập đó là các hành động học tập: so sánh, phân loại, phân tích, khái quát hoá Tâm lý học đã khẳng định so sánh, phân loại là những hành động học tập, là phương tiện đắc lực cho việc hình thành những khái niệm kinh nghiệm, còn phân tích, khái quát hoá là phương tiện để hình thành nên những khái niệm khoa học
Cần nhấn mạnh rằng trong hoạt động học, phương tiện chủ yếu là tư duy Trong giáo dục, tất cả các hình thức tư duy đều quan trọng và cần thiết
1.1.1.5 Điều kiện học tập
Hoạt động học muốn được diễn ra phải có điều kiện của nó Điều kiện đầu tiên đó là có sự tham gia của các yếu tố bên ngoài (ngoại lực) như: có sự hướng dẫn của thầy, sách, vở, bút, máy tính, giáo trình… Điều kiện thứ hai đó là có sự vận động của chính bản thân người học hay còn gọi là yếu tố nội lực Đó là những tri thức mà người học học được, trình độ trí tuệ hiện có của người học, động cơ, ý chí, hứng thú của người học…
Khi có đầy đủ những điều kiện đó, người học dù trong hoàn cảnh có thầy với trò, hay không có sự có mặt của thầy thậm chí khi ra trường, hoạt động học vẫn diễn
ra Từ đó có thể hiểu học là quá trình tương tác các yếu tố ngoại lực và yếu tố nội lực thông qua hoạt động dạy và học Trong đó, yếu tố nội lực ở đây đóng vai trò quan trọng trong hoạt động học của người học
1.1.1.6 Sự hình thành hoạt động học tập
i) Động cơ học tập
Các yếu tố của hoạt động học được hình thành trong chính hoạt động học Nói đến hình thành hoạt động học, trước hết phải nói đến sự hình thành động cơ học tập
Trang 16- Hoạt động học với chủ thể là người học, còn đối tượng của nó là những tri thức khoa học, với mục tiêu cuối cùng là hình thành nhân cách cho người học Chủ thể khi tiến hành hoạt động học, chiếm lĩnh tri thức thì chính tri thức đó trở thành
cái tinh thần, thôi thúc người học Vì vậy có thể hiểu động cơ học tập là sức mạnh
tinh thần điều khiển, điều chỉnh hoạt động học nhằm chiếm lĩnh tri thức khoa học,
để thoả mãn nhu cầu nào đó của người học
- Động cơ của hoạt động học tập ở học sinh, sinh viên được hiện thân ở những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà giáo dục ở nhà trường mang lại cho họ Trong thực tiễn giáo dục, động cơ học tập được chia thành hai loại: động cơ hoàn thiện tri thức và động cơ quan hệ xã hội
+ Động cơ hoàn thiện tri thức là lòng ham mê, khát khao mở rộng tri thức, say mê với những môn học Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ này nó không chứa những mâu thuẫn bên trong và nó đòi hỏi phải có những nỗ lực ý chí để đạt được nguyện vọng chứ không phải hướng vào đấu tranh với chính bản thân mình
+ Động cơ quan hệ xã hội đó là sự thưởng phạt hoặc đe doạ, những áp lực gia đình, nhà trường, công việc, sự hiếu danh hoặc mong đợi sự hạnh phúc Ở mức
độ nào đó động cơ này mang tính cưỡng bách, và có lúc xuất hiện như một vật cản cần vượt qua để đạt được mục đích của mình
Xét về mặt lý luận, mỗi hoạt động được thúc đẩy bởi một động cơ nhất định Hoạt động học hướng đến là những tri thức khoa học, thì chính nó (tức là đối tượng của hoạt động học) trở thành động cơ của hoạt động ấy Động cơ hoàn thiện tri thức
là động cơ chính của hoạt động học tập Nhưng trên thực tế còn có động cơ quan hệ
xã hội Nó “bám vào”, “hiện thân” trên động cơ hoàn thiện tri thức, trở thành một
bộ phận của động cơ hoàn thiện tri thức Khi động cơ hoàn thiện tri thức được đáp ứng thì đồng nghĩa với nó là động cơ quan hệ xã hội cũng được thoả mãn Cả hai loại động cơ này đều xuất hiện trong quá trình học tập và trong từng hoàn cảnh cụ thể, tuỳ theo điều kiện nào đó mà động cơ này hay động cơ kia chiếm vị trí quan trọng hơn, nổỉ lên và chiêm ưu thế trong thứ bậc động cơ Sự phân chia động cơ
Trang 17như vậy chỉ có tính chất tương đối
ii) Mục đích học tập
Theo tâm lý học hoạt động, mục đích được hiểu là cái mà hành động đang diễn ra hướng tới Hoạt động học được thúc đẩy bởi động cơ và nó được tiến hành dưới các hành động học Vì vậy, mục đích của hoạt động học là các khái niệm, các giá trị, các chuẩn mực mà hành động học đang diễn ra hướng đến nhằm đạt được
nó
Quá trình hình thành mục đích bắt đầu từ việc hình thành trong chủ thể dưới các dạng là các biểu tượng, sau đó được tổ chức để hiện thực hoá biểu tượng trên thực tế, và khi thực tế có hoàn thành được thì mục đích được hoàn thành Mục đích của hoạt động học cũng được hình thành như vậy, chỉ có điều nó có tính đặc thù riêng đó là việc hình thành mục đích học tập hướng đến là để thay đổi chính chủ thể
ở đây là người học Mục đích này chỉ có thể được bắt đầu hình thành khi chủ thể bắt đầu bắt tay vào thực hiện hành động học tập của mình Trên con đường chiếm lĩnh đối tượng nó luôn diễn ra quá trình chuyển hoá giữa mục đích và phương tiện học tập Mục đích bộ phận được thực hiện đầy đủ thì nó lại trở thành công cụ để chiếm lĩnh các mục đích tiếp theo
- Hành động phân tích: tìm ra nguồn gốc nội tại, cấu trúc lôgíc của đối tượng
- Hành động mô hình hoá: giúp con người diễn đạt các khái niệm một cách trực quan, nó bao gồm mô hình gần giống với vật thật, mô hình tượng trưng, mô hình mã hoá, nó được dùng nhiều trong sinh học…
- Hành động cụ thể hoá: nhằm vận dụng giúp người học hiểu được rõ nhất bản chất của vấn đề, giải quyết những vấn đề trong mối liên hệ cụ thể từng lĩnh vực
Trang 181.1.1.7 Đặc điểm chung của hoạt động học tập của sinh viên
- Hoạt động học tập của sinh viên có tính chất độc đáo về mục đích và kết quả hoạt động Đó là, khác với lao động, học tập không làm thay đổi đối tượng mà thay đổi chính bản thân mình Sinh viên học tập để tiếp thu các tri thức khoa học, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển những phẩm chất nhân cách người chuyên gia tương lai
- Hoạt động học tập được diễn ra trong điều kiện có kế hoạch vì nó phụ thuộc vào nội dung, chương trình, mục tiêu, phương thức và thời hạn đào tạo
- Phương tiện hoạt động học tập là thư viện, sách vở, máy tính…
- Tâm lý diễn ra trong hoạt động học tập của sinh viên với nhịp độ căng thẳng, mạnh mẽ về trí tuệ
- Hoạt động học tập của sinh viên mang tính độc lập cao Cốt lõi của hoạt động học tập của sinh viên là sự tự ý thức về động cơ mục đích, biện pháp học tập
1.1.1.8 Tính tích cực trong hoạt động học của sinh viên
Việc tạo ra tính tích cực học tập của sinh viên là nhiệm vụ chủ yếu của người thầy giáo trong nhà trường đại học Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng mạnh tới tính tích cực hoạt động tập của sinh viên là do sự vận dụng một cách thích hợp phương pháp giảng dạy của thầy
Theo Thái Duy Tiên thì "Tính tích cực học tập của sinh viên là tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người sinh viên từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức, để nâng cao hiệu quả học tập"[24] Tính tích cực học tập của sinh viên được thể hiện qua một số đặc điểm cơ bản sau:
- Trong giờ học sinh viên có chú ý tới bài giảng hay không
- Mức độ tự giác tham gia vào xây dựng bài học, trao đổi thảo luận, ghi chép
- Thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập được giao
- Hiểu bài và có thể trình bày lại theo cách hiểu của mình
- Có hứng thú học tập
- Biết vận dụng những tri thức được học vào thực tiễn
- Có sáng tạo trong quá trình học tập
Trang 191.1.2 Bản chất của hoạt động dạy
Trong phạm vi nhà trường, hoạt động dạy là hoạt động của người thầy - định hướng, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của người học, giúp người học tìm tòi, khám phá tri thức tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách ở bản thân
Theo giáo sư Phạm Hữu Tòng “… bản chất của hoạt động dạy học là dạy hành động – hành động chiếm lĩnh tri thức và hành động vận dụng tri thức, và do
đó trong dạy học, giáo viên cần tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi sự thích ứng của người học để qua đó người học chiếm lĩnh được tri thức, đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách toàn diện của mình”[34]
1.1.3 Sự tương tác trong hệ dạy - học
Trong sự tương tác của hệ dạy học, mỗi hành động của người học diễn ra theo các pha: “Định hướng- chấp hành- kiểm tra” Trong đó, sự định hướng có vai trò quan trọng đối với chất lượng và hiệu quả của hành động Người thầy có vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ cho sự hình thành cơ sở định hướng khái quát hành động của người học
Có thể mô tả sự tương tác trong hệ dạy học bằng sơ đồ hình 1.1:
Cung cấp tư liệu tạo tình huống
Liên
hệ ngược
TƯ LIỆU HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
(MÔI TRƯỜNG)
Hình 1.1 Sơ đồ mô tả sự tương tác trong hệ dạy-học
Trang 20Trong sự vận hành của hệ tương tác dạy học, hành động của người thầy với
tư liệu hoạt động dạy học là khâu tổ chức, cung cấp tư liệu, tạo tình huống có vấn
đề cho hoạt động của người học Hành động dạy của người thầy có tác dụng trực tiếp tới người học, đó là sự định hướng đối với hành động của người học, sự tương tác, trao đổi, tranh luận giữa người học với nhau và qua đó cung cấp những thông tin liên hệ ngược từ phía người học cho giáo viên Còn hành động học của người học đối với tư liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của người học với tình huống học tập thích đáng nhằm chiếm lĩnh tri thức Sự tương tác của người học với tư liệu còn đem lại cho giáo viên những thông tin liên hệ ngược cần thiết cho sự chỉ đạo của giáo viên đối với người học
1.1.4 Bản chất của hoạt động dạy học ở đại học
Bản chất của hoạt động dạy học ở đại học là quá trình nhận thức độc đáo có tính chất nghiên cứu của sinh viên được tiến hành dưới vai trò tổ chức và điều khiển của giáo viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học ở đại học
Tính chất nghiên cứu của sinh viên trong quá trình học tập ở đại học được thể hiện ở những điểm sau:
- Trong quá trình học tập ở đại học, sinh viên phải tự mình chiếm lĩnh hệ
thống các tri thức, kỹ năng, phải nắm vững cơ sở của nghề nghiệp tương lai ở trình
độ đại học và có tiềm năng vươn lên thích ứng với những yêu cầu trước mắt và lâu dài do thực tiễn xã hội đặt ra
- Khi tiến hành hoạt động học tập, sinh viên không chỉ có năng lực nhận thức thông thường mà cần tiến hành các hoạt động nhận thức mang tính nghiên cứu trên
cơ sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao Điều đó có nghĩa
là dưới vai trò hướng dẫn của người thầy, sinh viên không tiếp thu một cách máy móc những chân lý có sẵn mà họ có khả năng tiếp nhận chân lý đó với óc phê phán,
có thể khẳng định, phủ định, hoài nghi khoa học, lật ngược vấn đề, đào sâu vấn đề…
- Trong quá trình học tập ở đại học, sinh viên đã bắt đầu tham gia vào hoạt động tìm kiếm chân lý mới Đó là hoạt động tập dượt nghiên cứu khoa học được
Trang 21tiến hành ở cỏc mức độ từ thấp lờn cao tuỳ theo chương trỡnh học của học phần, chẳng hạn như: bài tập nghiờn cứu sau mỗi học phần, niờn luận, khoỏ luận, luận văn, đồ ỏn tốt nghiệp Hoạt động nghiờn cứu khoa học này giỳp sinh viờn từng bước tập vận dụng những tri thức khoa học, phương phỏp luận khoa học, phương phỏp nghiờn cứu Thụng qua đú, sinh viờn tự rốn luyện cỏc phẩm chất, tỏc phong của nhà nghiờn cứu nhằm giải quyết một cỏch khoa học những vấn đề do thực tiễn xó hội, thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp đặt ra Trong hoạt động học ở đại học, một trong những phương phỏp dạy học cú thể phỏt huy sự tớch cực, tự lực ở sinh viờn đú
Hỡnh 1.2 Chu trỡnh sỏng tạo khoa học theo Razumopxki E
Hỡnh 1.3 Chu trỡnh nhận thức sỏng tạo theo Einstein.
E: lμ các dữ kiện; A: lμ tiền đề rút ra trên cơ sở E; S,S’,S’’ lμ các hệ quả lôgic rút ra từ A
Trang 22- Từ việc khái quát các sự kiện xuất phát, đi đến xây dựng mô hình trừu tượng giả
định (giả thuyết) Từ mô hình dẫn đến việc rút ra các hệ quả lý thuyết (bằng suy
luận logic hay toán học) Sau đó tiến hành thực nghiệm kiểm tra các hệ quả đó
- Nếu kết quả thực nghiệm phù hợp thì mô hình giả thuyết được xác nhận là đúng đắn và trở thành chân lí, ngược lại nếu kết quả thực nghiệm không phù hợp thì phải xem lại giả thuyết, chỉnh lại hoặc thay đổi, tức là đưa ra mô hình mới và lặp lại chu trình trên
1.2.2 Bản chất hoạt động dạy học Vật lý cho sinh viên các ngành kỹ thuật
Việc dạy học Vật lý ở trường đại học cho sinh viên các ngành kỹ thuật là giúp trang bị cho sinh viên những kiến thức nền tảng cơ bản trước khi học các môn chuyên ngành, sinh viên sẽ được học chương trình Vật lý đại cương giành cho sinh viên các ngành kỹ thuật Với kiến thức Vật lý này nhằm giúp cho sinh viên có một tầm nhận thức cao hơn, vững chắc hơn về các vấn đề, các hiện tượng cơ học, nhiệt, điện từ, quang Đặc biệt, giúp cho sinh viên có các kiến thức nền tảng vững chắc
để vào học các môn chuyên ngành, ứng dụng các kiến thức Vật lý vào trong công việc, ngành nghề tương lai của mình
Hoạt động nhận thức Vật lý của sinh viên ở trường đại học có những điểm rất khác biệt với nhận thức của nhà khoa học và với học sinh phổ thông
- So với nhà khoa học
+ Nhà khoa học phải tìm ra kiến thức mới mà trước đây loài người chưa biết tới ; còn sinh viên thì học những kiến thức khoa học mà loài người đã khám phá, đã chọn lọc cho phù hợp với từng đối tượng và sinh viên tìm cách vận dụng những kiến thức đó vào trong thực tế cuộc sống, phục vụ ngành nghề trong tương lai, qua
đó rèn luyện tư duy sáng tạo, học cách suy nghĩ và làm việc của các nhà khoa học, tạo nền tảng kiến thức vững chắc cho các môn khoa học chuyên ngành…
+ Về thời gian, nhà khoa học có nhiều thời gian, thậm chí cả đời mình để khám phá một định luật, xây dựng một giả thuyết nào đó; còn sinh viên thì thời gian rất ngắn, chỉ trong vài tiết học trên lớp và thời gian tự học ở nhà nhưng còn phải dành thời gian cho các môn học khác…
Trang 23Với sự khác nhau đó, ta không hy vọng làm cho sinh viên nhờ áp dụng phương pháp khoa học mà có được những sáng tạo lớn như nhà khoa học, mà chỉ mong muốn các em làm quen với cách suy nghĩ, cách tư duy khoa học, tạo ra những yếu tố ban đầu của hoạt động sáng tạo và nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, nếu một
số sinh viên có lòng ham mê khoa học, muốn tìm tòi khám phá thì có thể gia nhập vào một nhóm nghiên cứu nào đó, dưới sự hướng dẫn của nhà khoa học có uy tín (có thể là giảng viên trong nhà trường, những người làm công tác nghiên cứu trong các viện, các trung tâm,…)
- So với học sinh phổ thông
+ Những kiến thức sinh viên được học trong năm đầu tiên ở trường đại học ít nhiều đã có nền tảng từ phổ thông (như Vật lý, hóa học, toán học, sinh học,…), tuy nhiên học sinh phổ thông bị hạn chế về mặt kiến thức toán học cũng như tư duy, vì vậy có một số vấn đề, một số công thức mà các em phải chấp nhận nhưng không rõ nguồn gốc từ đâu ; còn với sinh viên đại học thì mọi kiến thức đều phải được chứng minh rõ ràng và khả năng áp dụng kiến thức vào thực tế được đòi hỏi cao hơn, có tầm nhìn rộng hơn, bao quát hơn
+ Sinh viên được tiếp cận với các giảng viên , các nhà nghiên cứu trong các trường đại học, các viện nghiên cứu dễ dàng hơn học sinh phổ thông, nguồn tài liệu tham khảo trong các trường đại học cũng rất phong phú Đó là điều kiện thuận lợi giúp sinh viên bước đầu rèn luyện công tác nghiên cứu khoa học, trao dồi kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra
Năng lực nói chung và năng lực sáng tạo không phải là bẩm sinh mà được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của chủ thể Bởi vậy muốn hình thành năng lực phải chuẩn bị cho sinh viên những điều kiện cần thiết để họ thực hiện thành công hoạt động đó Những điều kiện đó là:
- Đảm bảo cho sinh viên có điều kiện tâm lí thuận lợi để tự lực hoạt động:
Tạo mâu thuẫn nhận thức, gợi động cơ, hứng thú tìm tòi cái mới, ta thường gọi là xây dựng tình huống có vấn đề
Tạo môi trường sư phạm thuận lợi
Trang 24- Tạo điều kiện để sinh viên có thể giải quyết thành công những nhiệm vụ được giao:
Lựa chọn một logíc nội dung bài học thích hợp
Rèn luyện cho sinh viên kỹ năng thực hiện một số thao tác cơ bản gồm thao tác tay chân và thao tác tư duy
Cho sinh viên làm quen với các phương pháp nhận thức Vật lý được sử dụng phổ biến
Để đảm bảo những điều kiện này thì phương pháp dạy học là một trong những nhân tố đóng vai trò quyết định Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã chú trọng nhiều tới phương pháp dạy học ‘lấy người học làm trung tâm’, phương pháp dạy học tích cực, như: dạy học dự án, dạy học theo chủ đề, dạy học kiến tạo
1.3 Dạy học dự án
1.3.1 Bản chất dạy học dự án
DHDA (hay còn gọi là phương pháp dự án, học theo dự án) là hình thức dạy học trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết với thực tiễn, thực hành Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện
Học theo dự án là một hoạt động tìm hiểu sâu về một chủ đề cụ thể với mục tiêu tạo cơ hội để người học thực hiện nghiên cứu vấn đề thông qua việc kết nối các thông tin, phối hợp nhiều kỹ năng, giá trị và thái độ nhằm xây dựng kiến thức
và phát triển khả năng và thái độ học tập suốt đời
Dạy học dự án được xây dựng dựa trên những câu hỏi định hướng quan trọng, lồng ghép các chuẩn nội dung và tư duy bậc cao trong những bối cảnh thực
tế
Bài học thiết kế theo dự án chứa đựng nhiều kỹ thuật dạy học khác nhau, có thể lôi cuốn được mọi đối tượng người học, không phụ thuộc vào cách học của họ
Trang 25Thông thường người học sẽ được làm việc với các chuyên gia và những thành viên trong cộng đồng để giải quyết vấn đề gắn với thực tiễn, hiểu sâu nội dung hơn Các phương tiện kỹ thuật cũng được sử dụng để hỗ trợ việc học Trong quá trình thực hiện dự án có thể vận dụng nhiều cách đánh giá khác nhau để giúp người học tạo ra những sản phẩm có chất lượng
Có rất nhiều kiểu dự án được tiến hành trong lớp học Một dự án được coi là hiệu quả khi nó đạt được sự cân bằng giữa khả năng thực hiện của người học với ý
đồ thiết kế của giáo viên, chỉ rõ những công việc người học cần làm Những đặc điểm dưới đây sẽ giúp nhận diện rõ thế nào là bài học dạy theo dự án hiệu quả
- Người học là trung tâm của quá trình dạy học
Bài học theo dự án được thiết kế cẩn thận, lôi cuốn người học vào những nhiệm vụ mở và có tính thực tiễn cao Các nhiệm vụ của dự án kích thích khả năng
ra quyết định, niềm cảm hứng, say mê của người học trong quá trình thực hiện và tạo ra sản phẩm cuối cùng Người học lĩnh hội kiến thức bài học thông qua việc tìm hiểu và tự quyết định mức độ hoàn thành các nhiệm vụ của dự án Giáo viên giữ vai trò người hỗ trợ hay hướng dẫn Người học hợp tác làm việc với nhau trong các nhóm, phát huy tối đa năng lực cá nhân khi đảm nhận những vai trò khác nhau
- Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các chuẩn
Những dự án tốt được phát triển dựa trên những nội dung cốt lõi của chương trình đáp ứng các chuẩn quốc gia và địa phương Dự án có các mục tiêu rõ ràng gắn với các chuẩn và tập trung vào những hiểu biết của người học sau quá trình học Từ việc định hướng vào mục tiêu, giáo viên sẽ chọn lựa hình thức dạy học phù hợp, lập
kế hoạch đánh giá và tổ chức các hoạt động dạy và học Kết quả của dự án được thể hiện kết tinh trong sản phẩm của người học và quá trình thực hiện nhiệm vụ, ví dụ phần thuyết trình đầy thuyết phục hay ấn phẩm thông tin thể hiện sự lĩnh hội các chuẩn nội dung và mục tiêu dạy học
- Dự án được định hướng theo Bộ câu hỏi khung chương trình
Câu hỏi khung chương trình sẽ giúp các dự án tập trung vào những hoạt động dạy học trọng tâm Người học được giới thiệu về dự án thông qua các câu hỏi
Trang 26gợi mở những ý tưởng lớn, xuyên suốt và có tính liên môn Người học sẽ buộc phải
tư duy sâu hơn về các vấn đề nội dung của môn học theo các chuẩn và mục tiêu Có
ba dạng câu hỏi khung chương trình: Câu hỏi khái quát, Câu hỏi bài học và Câu hỏi
nội dung Câu hỏi khái quát là các câu hỏi rộng, có tính mở, đề cập đến các ý tưởng
lớn và các khái niệm xuyên suốt Câu hỏi loại này thường mang tính liên môn, giúp người học hiểu được mối quan hệ giữa các môn học Các câu hỏi bài học được gắn trực tiếp với dự án, hỗ trợ việc tìm kiếm lời giải cho Câu hỏi khái quát Các câu hỏi bài học thể hiện mức độ hiểu những khái niệm cốt lõi về dự án của người học Các câu hỏi nội dung thường mang tính thực tiễn cao, bám sát các chuẩn và mục tiêu đã
đề ra
- Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên
Ngay từ khi triển khai dự án, các kết quả dự kiến cần phải được làm rõ và phải luôn được rà soát nhiều lần để kiểm chứng mức độ lĩnh hội bằng các phương pháp đánh giá khác nhau Người học sẽ được xem mẫu và hướng dẫn trước để thực hiện công việc có chất lượng nhất, và phải biết rõ điều gì đang chờ đợi ngay từ khi bắt đầu dự án Cần phải tạo cơ hội để rà soát, phản hồi hay điều chỉnh trong suốt quá trình thực hiện dự án
- Dự án có liên hệ với thực tế
Dự án phải gắn với đời sống thực tế của người học, có thể mời các chuyên gia cùng tham gia để tạo ra những tình huống dạy học Người học có thể thể hiện việc học của mình trước những đối tượng thực tế, liên hệ với các nguồn lực cộng đồng, tham khảo các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu, hoặc trao đổi thông qua công nghệ hiện đại
- Người học thể hiện sự hiểu biết của mình thông qua sản phẩm và quá trình
thực hiện
Thông thường các dự án được kết thúc với việc người học thể hiện thành quả học tập của mình thông qua các bài thuyết trình, các văn bản tài liệu, các mô hình dàn dựng, các đề án hoặc thậm chí là các sự kiện mô phỏng như một hội thảo giả Những sản phẩm cuối cùng này giúp người học thể hiện khả năng diễn đạt và
Trang 27làm chủ quá trình học tập
- Công nghệ hiện đại hỗ trợ và thúc đẩy việc học của người học
Người học được tiếp cận với nhiều công nghệ khác nhau giúp hỗ trợ phát triển kỹ năng tư duy, cho ý kiến đánh giá về nội dung và hỗ trợ tạo ra sản phẩm cuối cùng Với sự trợ giúp của công nghệ, người học tự chủ hơn với kết quả cuối cùng,
có cơ hội “cá nhân hoá sản phẩm” Người học có thể vươn ra khỏi bốn bức tường lớp học bằng cách cộng tác với các lớp học từ xa qua email và các trang web tự tạo, hoặc trình bày việc học của mình qua các chương trình đa phương tiện
- Kỹ năng tư duy là không thể thiếu trong làm việc theo dự án
Làm việc theo dự án sẽ hỗ trợ phát triển cả kỹ năng tư duy siêu nhận thức lẫn
tư duy nhận thức như hợp tác, tự giám sát, phân tích dữ liệu, và đánh giá thông tin
Trong suốt quá trình thực hiện dự án, các câu hỏi khung chương trình sẽ kích thích người học tư duy và liên hệ với các khái niệm mang ý nghĩa thực tiễn cao
- Chiến lược dạy học đa dạng hỗ trợ phong cách học đa dạng
Các chiến lược dạy học sẽ tạo ra một môi trường học tập đa dạng hơn, thúc đẩy tư duy bậc cao hơn Những chiến lược dạy học sẽ giúp đảm bảo cho người học được tiếp cận với toàn bộ nội dung của chương trình, tạo cơ hội thành công cho mỗi học viên Trong dạy học dự án có thể kết hợp các kỹ thuật dạy học hợp tác, làm việc nhóm, phân nhánh tổ chức, nhận xét phản hồi từ giảng viên hoặc từ bạn học
Bản chất của DHDA có thể được tóm tắt theo sơ đồ hình 1.4
Trang 281.3.2 Các giai đoạn thực hiện dạy học dự án
1.3.2.1 Lập kế hoạch
1.3.2.1.1 Kế hoạch của GV
a Triển khai bài học thành dự án
Xuất phát từ nội dung bài học, GV phải xác định các nội dung kiến thức
và kỹ năng người học cần đạt được, phải có ý đồ tổ chức bài học thành dự án
và suy nghĩ về ý tưởng dự án
Kỹ năng tư duy
và cộng tác làm việc
Hỗ trợ phong
cách học đa
dạng
Gắn với cộng nghệ hiện đại
Định hướng thực tiễn
Đánh giá đa dạng, thường xuyên
Tập trung mục tiêu quan trọng
Định hướng theo bộ câu hỏi khung
DHDA (Người học là trung tâm)
Hình 1.4 Sơ đồ tóm tắt bản chất dạy học dư án
Trang 29- GV luôn cần phải nhìn thấy, phải tìm thấy những vấn đề thực tiễn đang diễn biến trong cuộc sống xung quanh có liên quan đến nội dung bài học
- GV phải nhìn thấy những vấn đề lớn mà thế giới đang phải đối mặt, ví dụ: khủng hoảng năng lượng, ô nhiễm môi trường, thiên tai như bão lụt, động đất, sóng thần, nóng lên của khí hậu,…
- Biết từ bỏ những nội dung mà chương trình buộc phải dạy theo các phương pháp truyền thống
- Lựa chọn các nội dung thích hợp và chỉnh sửa cho phù hợp với mục tiêu của dự án
Vấn đề thực tiễn xung quanh
và thế giới đang đối mặt
Loại bỏ những nội dung theo phương pháp truyền thống
Lựa chọn nội dung thích hợp với DHDA
Nội dung
bài học
Hình 1.5 Sơ đồ triển khai bài học thành dự án
b Xây dựng bộ câu hỏi định hướng bài dạy
Sử dụng bộ Câu hỏi định hướng bài dạy nhằm khuyến khích người học vận dụng các kỹ năng tư duy bậc cao, giúp họ hiểu rõ, hiểu bản chất vấn đề và hình thành được hệ thống kiến thức Những câu hỏi này còn đảm bảo các dự án của người học có tính hấp dẫn và thuyết phục, chú trọng đến các yêu cầu hơn là chỉ đơn giản trình bày lại các sự kiện Bộ Câu hỏi định hướng bài dạy bao gồm các câu hỏi Khái quát, câu hỏi Bài học, câu hỏi Nội dung
* Câu hỏi Khái quát
Câu hỏi khái quát là những câu hỏi mang tính mở, khơi dậy sự thích thú, sự quan tâm và có phạm vi rất rộng, là cầu nối giữa môn học và bài học Đó là những câu hỏi không thể trả lời thoả đáng bằng một mệnh đề
Trang 30Câu hỏi khái quát có những đặc điểm:
- Là yếu tố trọng tâm của DHDA: Những Câu hỏi khái quát có thể tìm thấy trong
rất nhiều vấn đề còn đang tranh cãi ở nhiều lĩnh vực nghiên cứu
- Lặp lại một cách tự nhiên thông qua người học và lịch sử của môn học: Những
câu hỏi quan trọng giống nhau được hỏi đi hỏi lại Các câu trả lời của chúng ta
có thể ngày càng trở nên phức tạp hơn và phản ánh nhiều sắc thái mới nhưng chúng ta vẫn còn và sẽ còn quay lại những câu hỏi đó
- Dẫn đến những câu hỏi quan trọng khác: Những câu hỏi đó sẽ mở rộng vấn đề,
mở rộng tính phức tạp và phong phú của chủ đề, gợi mở hướng nghiên cứu chứ không dẫn đến những kết luận sớm hay những câu trả lời mơ hồ
Ví dụ: Điện có vai trò như thế nào đối với sự phát triển của nhân loại?
Câu hỏi này có phạm vi rất rộng, không thể trả lời chỉ bằng một mệnh đề, có thể
sử dụng được trong các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, điện xâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,…
* Câu hỏi Bài học
Câu hỏi bài học là những câu hỏi bó hẹp trong một chủ đề hoặc bài học cụ thể, hỗ trợ và phát triển Câu hỏi khái quát
Câu hỏi bài học có các đặc điểm:
- Đưa ra các chỉ dẫn liên quan đến chủ đề và môn học cụ thể đối với các Câu
hỏi khái quát: Các Câu hỏi bài học định hướng một bộ các bài học cụ thể, chúng
được thiết kế để chỉ ra và khai thác những Câu hỏi khái quát thông qua chủ đề
- Các Câu hỏi bài học thường mở ra và gợi ý những hướng nghiên cứu, bàn
luận: Chúng khai thác các phương diện, tính phức tạp phong phú của vấn đề
Chúng được dùng để khởi đầu cho một sự tranh luận, hợp tác chứ chưa phải dẫn đến một câu trả lời rõ ràng mà GV mong muốn
- Được thiết kế nhằm khuyến khích và duy trì hứng thú của học sinh: Các Câu
hỏi bài học sẽ có hiệu quả cao hơn nếu như chúng được thiết kế với mục đích khuyến khích người học Những câu hỏi như thế thường thúc đẩy sự tranh luận
và làm phương tiện để duy trì sự khám phá của người học
Trang 31Ví dụ: Từ câu hỏi khái quát ở trên ta sẽ có một số câu hỏi bài học như:
- Trong sản xuất nông nghiệp, điện có vai trò như thế nào?
- Trong công nghiệp, điện có vai trò như thế nào?
- Trong nghiên cứu khoa học, điện có vai trò như thế nào?
* Câu hỏi Nội dung
Câu hỏi nội dung là những câu hỏi hỗ trợ trực tiếp về nội dung và mục tiêu bài học Đó là những câu hỏi yêu cầu người học trả lời dựa trên thực tế bài học Các
Câu hỏi nội dung hầu hết chú trọng vào sự kiện hơn là giải thích sự kiện đó và thường có câu trả lời rõ ràng
Ví dụ: Với Câu hỏi khái quát và Câu hỏi bài học ở trên, ta có một số câu hỏi nội dung như:
- Trong nghề trồng cây ăn quả, điện có hữu ích gì?
- Trong ngành công nghiệp may mặc, điện được dùng như thế nào để nâng cao hiệu suất công việc?
- Trong thí nghiệm Ơxtec, dòng điện có vai trò như thế nào?
Hình 1.6 Đặc điểm của bộ câu hỏi định hướng
Bộ câu hỏi định hướng
- mang tính mở, phạm vi rất rộng
- không thể trả lời thỏa đáng bằng một mệnh đề
- dẫn đến những câu hỏi quan trọng khác
Câu hỏi khái quát
- bó hẹp trong một chủ đề, bài học cụ thể
- khuyến khích và duy trì hứng thú người học
- Gợi ý hướng nghiên cứu, bàn luận Câu hỏi bài
Trang 32+ Đưa ra dự án (người học đóng vai là các nhà lập dự án) gồm: Mục tiêu của
dự án, giải pháp thực hiện dự án, công việc chính cần thực hiện (thực hiện giải pháp), địa điểm thực hiện dự án, kết quả dự án thu được
Từ ý tưởng dự án và nội dung kiến thức cần học (cần vận dụng), người học thiết kế 3 bài tập gồm: bài trình diễn đa phương tiện, một áp phích hay tờ rơi, một trang web để làm sao cho khi thực hiện xong một dự án như thế thì chắc chắn người học trả lời tốt bộ câu hỏi định hướng
d Thiết kế tài liệu hỗ trợ GV và người học
GV chuẩn bị những hỗ trợ cần thiết cho người học trong quá trình thực hiện các bài tập được giao, như:
- Các bài tập mẫu, nội dung bài học, các nguồn tài liệu tham khảo khác, các mẫu phiếu phân công công việc trong nhóm, các mẫu phiếu đánh giá từng sản phẩm,…
- Chuẩn bị tài liệu hỗ trợ GV: Để đảm bảo cho sự định hướng đạt hiệu quả, đòi hỏi GV phải dự kiến trước được quá trình thực hiện, kết quả đạt được,
nghĩa là phải thiết kế được sơ đồ tiến trình hình thành kiến thức của dự
án
e Chuẩn bị các điều kiện thực hiện dự án
- Để tạo điều kiện tốt nhất cho việc thực hiện dự án cần có sự tuyên truyền, thông báo rộng rãi để tập hợp mọi người tham dự, đồng thời phải chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất, kinh phí
Trang 33- GV cần có buổi tập huấn cho sinh viên biết cách thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu
1.3.2.1.2 Kế hoạch của người học
Bước lập kế hoạch quan trọng với tất cả các thành viên trong nhóm: biết được hoạt động cần hướng tới, nhiệm vụ phải làm gì, khi nào hoàn thành, và cách hoàn thành dự án đúng thời hạn
b Xây dựng tiểu chủ đề
Một ý tưởng hoặc chủ đề ban đầu cần được mở rộng bằng cách bao
hàm nhiều tiểu chủ đề để thực hiện tìm hiểu thông tin Sử dụng mạng sơ đồ
tư duy là phương pháp hữu hiệu nhất trong công việc này, nó cho phép tập
hợp các ý kiến của các thành viên trong nhóm, kết hợp các ý tưởng, xây dựng cấu trúc kiến thức, xác định quy mô tìm hiểu và xác định các nhiệm vụ học tập
Trang 34Hình 1.7 Sơ đồ mô tả các bước lập sơ đồ tư duy
Để thuận lợi khi xây dựng ý tưởng mới, ta sử dụng kỹ thuật đặt câu hỏi 5W1H
Trong đó, câu hỏi tại sao và như thế nào là quan trọng nhất
Hình 1.8 Kỹ thuật đặt câu hỏi 5W1H để xây dựng ý tưởng
How (như thế nào)
Why (tại sao)
When (khi nào)
Where (ở đâu)
Who (Ai)
What (cái gì)
5W1H
Trang 35c Lập kế hoạch các nhiệm vụ học tập
Hoạt động này nhằm giúp cho các thành viên trong nhóm biết được ai sẽ làm
nhiệm vụ gì và thời hạn hoàn thành Đây là hoạt động hợp tác giữa các thành viên,
đòi hỏi mỗi thành viên phải ý thức phối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau để hoàn
thành dự án
1.3.2.2 Thực hiện dự án
Trong pha này, dự án đã được hình thành Người học bằng cách nghiên cứu, biến
đổi hoặc tạo ra thông tin mới trong sự hợp tác để đi đến kết quả chung
1.3.2.2.1 Thu thập thông tin, thực hiện điều tra, thảo luận với các thành viên
khác
Sinh viên thu thập dữ liệu từ sách, báo, tạp chí, internet… tiến hành các thí
nghiệm, gặp gỡ các nhân vật cần thiết, phân tích, so sánh, tranh luận, tổng hợp
Máy tính cung cấp dữ liệu cập nhật về một số lớn các thông tin và các vấn đề thực
tế, tạo thuận lợi cho sự hợp tác giữa các thành viên của cùng lớp học hoặc với các
lớp học khác
1.3.2.2.2 Tham vấn giáo viên hướng dẫn
Trong quá trình thực hiện dự án, người học liên hệ và tham vấn chặt chẽ với
GV hướng dẫn để đảm bảo dự án đi đúng hướng
Giáo viên tôn trọng kế hoạch đã xây dựng và sự hợp tác giữa các cá nhân người học
nhằm tạo ra một công đồng trong đó trung tâm là việc học tập
- Giáo viên cần tạo thuận lợi cho sự trao đổi thường xuyên và cởi mở giữa
các thành viên, tạo sự tìm kiếm thông tin từ các nguồn tài liệu có sẵn bên cạnh sự
chịu trách nhiệm về những nhiệm vụ, mời các nhóm thường xuyên đánh giá sự tiến
Trang 36triển của công việc và tận dụng dịp này để động viên, kích thích và chỉnh sửa để nhằm đến đích
- Những chiến lược người học sử dụng cần phải trở thành đối tượng của sự quan sát liên tục của giáo viên Việc định hướng thay đổi tuỳ theo khả năng người học và bản chất của loại hoạt động
Tuy nhiên, tác động của giáo viên cần mang đến một không khí cởi mở Những câu hỏi về các hoạt động của nhóm, về sự chịu trách nhiệm, về phương pháp nghiên cứu, về sự phân biệt giữa cái đúng và cái sai… sẽ dẫn đến những đề nghị
dấp dẫn đối với các dự án tương lai
1.3.2.3 Tổng hợp kết quả và khai thác dự án
1.3.2.3.1 Tổng hợp các kết quả và xây dựng sản phẩm
Tổng hợp những đóng góp là một hoạt động cần thiết của việc thực hiện dự
án Hoạt động này thường thể hiện ở hai mặt: một mặt giới thiệu cho toàn lớp những đóng góp của nhóm nhỏ, mặt khác là dịp để thành viên này hay thành viên khác điều chỉnh bởi chính họ để có sản phẩm của tập thể, của cả lớp Những đóng góp khác nhau sẽ được giới thiệu và mỗi đóng góp nhằm theo đuổi một câu hỏi để mang đến những sản phẩm chung
1.3.2.3.2 Khai thác dự án
Việc làm chủ kiến thức, kỹ năng và thái độ được tạo nên trong quá trình liên tục thực hiện dự án Tuy nhiên, cần phải trả lời các câu hỏi sau:
- Dự án đã thực hiện có mang lại một sự học tập đích thực hay không?
- Trong tương lai, dự án có thể thực hiện khác được không?
- Dự án tiếp theo có thể là gì?
a) Xem xét lại dự án
- Việc trở lại dự án cho phép các thành viên của lớp xem lại cách mà họ (cá nhân hay tập thể) đã cam kết theo đuổi trong dự án: họ đã thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi như thế nào? Đứng trước một tình huống họ đã thực hiện các chiến lược nào? Các phương pháp nào đã được sử dụng để có thể đi đến
Trang 37kết quả? Họ đã đánh giá thường xuyên công việc như thế nào? Họ đã kiên nhẫn ra sao?
- Việc trở lại dự án cần thực hiện sao cho phù hợp với người học và với đặc trưng của dự án đã thực hiện, có nhiều cách để thực hiện: thảo luận với cả lớp hoặc với nhóm nhỏ, điều tra tiếp theo để bình luận về kết quả, những áp dụng trong bối cảnh khác,
Sự trở lại dự án dẫn đến việc hỏi về cái đã học và về cái đã thực hiện Nó có thể xoay quanh câu hỏi như: mục đích học tập đã đạt được hay chưa? Trong quá trình thực hiện dự án, mối liên hệ nào đã thực hiện với sự học tập trước đó? Những câu hỏi nào chưa có câu trả lời hay chỉ mới nhận được sự trả lời chưa thoả đáng…
b) Tiếp theo của dự án
Tiếp theo của dự án tạo cơ hội cho các nhóm quan tâm đến việc bổ sung thông tin liên quan đến phương diện đặc biệt của dự án Dự án đã thực hiện kích thích mong muốn tiếp tục thực hiện dự án khác
1.3.3 Các loại dự án
Dự án nghiên cứu sâu về các chủ đề thực tế và các vấn đề mà người học thực
sự muốn tìm hiểu Các dự án sẽ kết hợp được các yếu tố như hoạt động đóng vai một cách sáng tạo, thiết kế, công nghệ, cộng đồng với các chủ đề đa dạng trong chương trình nhằm giúp người học tìm hiểu về nội dung và thể hiện được những điều mà họ biết Dưới đây là một số loại dự án
- Học thông qua việc phục vụ cộng đồng: Những dự án này thường gắn với cộng
đồng địa phương và cho phép người học áp dụng bài học trong lớp học vào tình huống thực tế Xây dựng kế hoạch để làm sạch kênh thủy lợi ở địa phương hay thiết
kế một sân chơi cho công viên ở địa phương là một số ví dụ của kiểu dự án này
- Mô phỏng, đóng vai: Những dự án này được thiết kế nhằm cung cấp cho người
học một kinh nghiệm thực tế đầu tay Người học sẽ vào vai một người khác, sống trong một tình huống mô phỏng tái tạo lại thời gian và không gian nhất định Mô phỏng và đóng vai là cách rất hữu hiệu để phản ánh lịch sử, mang lại nhiều hiệu quả hay tạo được sự thấu cảm tốt
Trang 38- Xây dựng và thiết kế: Những dự án này dựa trên nhu cầu thực tế hay có thể được
tạo nên bởi chuỗi sự kiện đáng tin cậy Các dự án này đòi hỏi người học phải xây dựng được mô hình thực sự hay lập kế hoạch đề xuất giải pháp cho các vấn đề thực
tế
- Giải quyết vấn đề: Có một số dự án yêu cầu người học đề xuất giải pháp cho các
vấn đề thực tế Các dự án này có thể gồm các chuỗi sự kiện đáng tin cậy hay những vấn đề đang tranh cãi trên thực tế Có thể là những vấn đề của lớp học hay trong nhà trường như thiết kế sân chơi, vấn đề của cộng đồng như bảo tồn đầm lầy, hay vấn
đề lớn hơn như sự nóng lên của trái đất
- Hợp tác trực tuyến: Những dự án này là các nhiệm vụ giáo dục thực hiện trực
tuyến Các dự án cung cấp kinh nghiệm học tập thực tế khi hợp tác trực tuyến với các lớp khác, các chuyên gia hay cả cộng đồng
- Tra cứu web: Đây là các hoạt động yêu cầu định hướng trong đó một số hay tất
cả các thông tin mà người học sử dụng được lấy từ nguồn Internet Các dự án này được thiết kế nhắm đến việc lĩnh hội và tích hợp kiến thức
1.3.4 Các dạng sản phẩm và thực hiện nhiệm vụ
Thực hiện các nhiệm vụ hoạt động là một yêu cầu của đánh giá, đòi hỏi kiến thức và kĩ năng của người học trong thao tác hay tạo ra các sản phẩm thể hiện sự hiểu biết của họ Trong cuốn “Chiếm lĩnh tri thức thông qua thiết kế bài tập phát triển chuyên môn” (2004), Jay McTighe and Grant Wiggin định nghĩa các tiêu chuẩn của việc thực hiện nhiệm vụ hoạt động như sau:
Sử dụng các dữ kiện thực tế hay mô phỏng mang tính cấp thiết, bối cảnh nền, vật, sự khích lệ và các cơ hội mà người lớn có thể tìm thấy trong tình huống tương tự
Đòi hỏi người học chú tâm vào người nghe
Được dựa trên mục đích cụ thể, có liên quan đến người nghe
Cho phép người học có cơ hội tốt hơn để xác định nhiệm vụ cho mỗi cá nhân
Không có gì là đảm bảo chắc chắn; nhiệm vụ, tiêu chuẩn và các hướng dẫn hoạt động được cung cấp trước cho người học
Trang 39Sản phẩm và Thực hiện nhiệm vụ
Sản phẩm Các ví dụ
Báo cáo Nghiên cứu lịch sử, khoa học, các bài báo, các gợi ý
chính sách
Thiết kế xây dựng Bài mẫu, máy móc, triển lãm, mô hình
Bài tiểu luận Những lá thư gửi đến biên tập viên, mục bạn đọc đối với
tờ báo địa phương hay ấn bản cộng đồng, bài phê bình sách và phim, tác phẩm truyện
Bản thiết kế Thiết kế nhà cửa, bản thiết kế tòa nhà, trường học,
phương tiện vận chuyển khác nhau
Trình bày nghệ thuật Đồ gốm, điêu khắc, thơ ca, mỹ thuật, bảng quảng cáo,
hoạt hình, bích họa, nghệ thuật cắt dán ảnh, hội họa, sọan nhạc, kịch bản
Ấn phẩm
Đa phương tiện
Hướng dẫn đường đi tự nhiên, tự dẫn đường thông qua lịch sử cộng đồng, thông báo các dịch vụ công cộng, vở đóng tập, hình về biểu đồ, tài liệu điều tra, sách tài chính, đào tạo, sản xuất phim hoạt hình
Kiosk thông tin, băng video, tập san ảnh, các trang trình diễn đa phương tiện, sách số
Bài trình diễn Các ví dụ
Bài thuyết trình Kiến nghị có sức thuyết phục, bài thuyết trình, tranh
luận truyền cảm, bài diễn thuyết có nhiều thông tin, phân tích nghiên cứu và kết luận, bản tin trên đài
Kĩ năng trình bày Các quá trình và việc xây dựng trong phòng thí nghiệm
Trang 40khoa học, các kĩ năng thể thao cụ thể, dạy học và cố vấn cho các em học sinh nhỏ hơn
1.3.5 Vai trò của người học khi thực hiện dự án
- Phải tham gia tích cực ở cả ba giai đoạn học tập: nhập dữ liệu, xử lý dữ liệu và xuất dữ liệu Giai đoạn thứ ba là giai đoạn hoạt động quan trọng, thể hiện kết quả của hai giai đoạn trước và là giai đoạn người học được phát huy khả năng sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề của mình
- Người học đóng vai là những chuyên gia thuộc những ngành nghề khác nhau trong xã hội, hoàn thành vai trò của mình dựa trên những kiến thức và kỹ năng nhất định (người học chủ động trong việc tiếp nhận kiến thức )
- Người học được giao những nhiệm vụ cụ thể, có thật trong cuộc sống bằng những kiến thức theo sát chương trình học, có phạm vi liên môn và bằng những kỹ năng sống của người lớn, thông qua đó người học được rèn luyện kỹ năng sống như: kỹ năng hợp tác làm việc, kỹ năng đưa ra những quyết định chín chắn, kỹ năng lập kế hoạch và phân chia nhiệm vụ, chủ động giải quyết các vấn đề phức tạp,
- Người học tự quyết định cách tiếp cận vấn đề và các hoạt động
- Người học phải hoàn thành dự án và trình bày qua các sản phẩm (chú trọng sự tích hợp công nghệ cơ bản trong sản phẩm, cũng là cách giải quyết công việc của tất
cả mọi người trong thế kỷ XXI), cụ thể như: bài trình diễn đa phương tiện, ấn phẩm,
trang web,…
1.3.6 Vai trò định hướng của giáo viên trong dạy học dự án
- Thúc đẩy vai trò tự chủ của người học và làm sao để gắn sự chủ động của người
học trong việc giải quyết nội dung bài học