1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nồng độ t3 t4 TSH trong máu, độ tập trung i131 và xạ hình tuyến giáp ở bệnh nhân basedow trước điều trị

73 1,7K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu nồng độ T3 T4 TSH Trong Máu, Độ Tập Trung I131 Và Xạ Hình Tuyến Giáp Ở Bệnh Nhân Basedow Trước Điều Trị
Tác giả Nguyễn Phụng
Người hướng dẫn Tiến sĩ Hoàng Khánh Hằng
Trường học Trường Đại Học Y Khoa Huế
Chuyên ngành Y Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Y Học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 921,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẩn đoán bệnh Basedow ngoài những biểu hiện lâm sàng đặc trưng, người ta còn dựa vào các xét nghiệm có sử dụng chất đồng vị phóng xạ ĐVPX để thăm dò chức năng, hình thể, định khu của tu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA

NGUYỄN PHỤNG

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ T3 - T4 - TSH TRONG MÁU,

ĐỘ TẬP TRUNG I131 VÀ XẠ HÌNH TUYẾN GIÁP

Trang 2

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Đặc điểm giải phẫu và sinh lý tuyến giáp 3

1.2 Tuyến giáp và bệnh Basedow 6

1.3 Phóng xạ y học 10

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Phương pháp nghiên cứu 22

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 30

3.2 Kết quả nồng độ T3, T4, TSH 32

3.3 Kết quả khảo sát độ tập trung I131 ở tuyến giáp 38

3.4 Kết quả khảo sát kích thước và trọng lượng tuyến giáp 42

3.5 Kết quả khảo sát tương quan 48

Chương 4: BÀN LUẬN 52

4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 52

4.2 Nồng độ T3, T4 và TSH 55

4.3 Độ tập trung I131 ở tuyến giáp 61

4.4 Kết quả xạ hình tuyến giáp 65

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tuyến giáp là một tuyến nội tiết có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình chuyển hóa và phát triển của cơ thể Các bệnh lý về tuyến giáp xuất hiện khá phổ biến Bệnh có thể gặp ở mọi nhóm tuổi với nhiều thể bệnh khác nhau như bướu cổ đơn thuần, viêm tuyến giáp, adenoma tuyến giáp, Basedow,

Bệnh Basedow (còn gọi là bệnh Parry, bệnh Graves) được Carl Von Basedow mô tả chi tiết vào năm 1840 là tình trạng bệnh lý biểu hiện bằng tăng sinh lan tỏa tổ chức tuyến giáp, cường chức năng, gây nhiễm độc giáp đới với các cơ quan và tổ chức, chứng lồi mắt, ứ phù niêm dịch khu trú

Thực ra bệnh đã có lịch sử từ lâu đời, những tài liệu y học cổ đại (2.000 đến 3.000 năm trước Công nguyên) của Trung Hoa và của Ấn Độ đã có đề cập và mô tả

về bệnh lý này [12] Về đặc điểm dịch tễ học thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới cho thấy, bệnh thường gặp ở nữ (chiếm khoảng 1,9%, còn ở nam giới ít hơn (chỉ chiếm 0,16%), tỷ lệ bệnh mới mắc ở nữ giới hằng năm từ 2 đến 3 trường hợp trên

1000 người [8], [18], [26] Tuổi phát bệnh trung bình từ 20-40 tuổi và có sự trùng hợp đáng kể giữa Basedow và các bệnh tự miễn khác như bệnh nhược cơ nặng (3%

có phối hợp với Basedow), bệnh thiếu máu huyết tán mắc phải, bệnh lupus ban đỏ rải rác, ban xuất huyết giảm tiểu cầu,

Ở Việt Nam, cho đến nay chưa có thống kê dịch tễ học diện rộng trong phạm

vi toàn quốc về bệnh, nhưng theo thống kê của Bệnh viện Bạch Mai-Hà Nội, thì bệnh Basedow chiếm tần suất khoảng 45,8% các bệnh nội tiết và chiếm khoảng 2,6% trong tổng số các bệnh nội khoa được điều trị [28], [29], [37], [52]

Basedow là một trong những bệnh lý cường giáp thường gặp trên lâm sàng với các biểu hiện chính: nhiễm độc giáp kèm bướu giáp lớn lan tỏa, lồi mắt Các triệu chứng của bệnh Basedow biểu hiện rất phong phú, chẩn đoán khó, điều trị phức tạp và có khả năng đưa đến các biến chứng cấp (cơn bão giáp) hoặc các biến

Trang 4

chứng tim mạch gây tử vong Khi được chẩn đoán sớm, điều trị đúng cách thì tiên lượng bệnh thường rất khả quan Ngược lại, bệnh có thể tiến triển xấu với nhiều biến chứng xảy ra khi chẩn đoán đã ở giai đoạn muộn [48]

Chẩn đoán bệnh Basedow ngoài những biểu hiện lâm sàng đặc trưng, người

ta còn dựa vào các xét nghiệm có sử dụng chất đồng vị phóng xạ (ĐVPX) để thăm

dò chức năng, hình thể, định khu của tuyến giáp Các xét nghiệm này rất có giá trị đối với các thể lâm sàng không điển hình hoặc trong giai đoạn sớm của bệnh Đặc biệt, chúng càng có giá trị trong theo dõi diễn tiến của bệnh, quyết định biện pháp điều trị thích hợp và đánh giá kết quả của các liệu pháp điều trị [15]

Ở Việt Nam, đã có khá nhiều nghiên cứu về bệnh Basedow của Mai Thế Trạch, Nguyễn Khánh Dư, Nguyễn Thy Khuê (Thành phố Hồ Chí Minh), Trần Đình Ngạn, Lê Huy Liệu, Thái Hồng Quang (Hà Nội) Ở Huế, cũng có nhiều nghiên cứu của Nguyễn Hải Thủy, Trần Hữu Dàng, chủ yếu là các nghiên cứu về lâm sàng và điều trị, ít đề cập đến các nghiên cứu cận lâm sàng ứng dụng trong chẩn đoán bệnh Basedow, nhất là các nghiên cứu về kỹ thuật phóng xạ lại càng ít

Do vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu nồng độ T 3 -T 4 -TSH trong máu, độ tập trung I 131 và xạ hình tuyến giáp ở bệnh nhân Basedow trước điều

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ TUYẾN GIÁP

1.1.1 Giải phẫu học tuyến giáp

Tuyến giáp là một tuyến nội tiết đơn, quan trọng và lớn nhất của cơ thể

Tuyến giáp bắt đầu hình thành ở bào thai từ tuần lễ thứ 3, hoàn chỉnh từ tuần thứ 7,

nằm ở giữa về phía trước - dưới cổ

Tuyến giáp gồm 2 thùy nối với nhau bằng một eo tuyến, mỗi thùy có hình

kim tự tháp Thùy phải thường lớn hơn thùy trái [38] Eo tuyến giáp nằm ở trước

sụn nhẫn, có trường hợp nằm thấp hơn, cực dưới xuống tới vòng sụn của khí quản

Thể tích và trọng lượng tuyến giáp có sự khác biệt giữa nam và nữ Trước

tuổi trưởng thành, thể tích và trọng lượng tuyến giáp tương quan thuận với tuổi Ở

người trưởng thành, tuyến giáp có chiều cao 2,5-4,0 cm, chiều rộng 1,5-2,0cm, bề

dày khoảng 1,5cm

Kích thước tuyến giáp có thể được xác định chính xác nhờ vào các kỹ thuật

như siêu âm, xạ hình, CT scanner, chụp cộng hưởng từ (MRI), [34], [55], [56]

Thể tích tuyến giáp khoảng 10-18cm3, trọng lượng vào khoảng15-18 gram [59],

[60], [63] Người ta nhận thấy thể tích và trọng lượng tuyến tăng dần theo nhóm

tuổi từ sơ sinh cho đến trưởng thành [9], [45], [57], [64]

Tuyến giáp có liên hệ mật thiết với các mạch máu, dây thần kinh quặt ngược,

tuyến cận giáp và bó mạch thần kinh cổ Tuyến giáp được tưới máu rất dồi dào, lưu

lượng máu đạt khoảng 4-6ml/phút/gram, cao hơn lưu lượng máu qua thận [51]

Trong một số trường hợp cường giáp, lưu lượng máu có thể tăng lên

500 -1000ml/gram tuyến/1phút

1.1.2 Mô học tuyến giáp

Tuyến giáp là một tuyến nội tiết có cấu tạo gồm những nang tuyến liên

kết với các mạch máu và mạch bạch huyết Lòng nang chứa một chất dạng keo, bắt

màu acid, có bản chất là một glycoprotein, trọng lượng phân tử 660.000 Chất keo

Trang 6

tuyến giáp đó gọi là thyroglobulin do tế bào nang (tế bào chính) tiết ra [23], [27], [29]

Mỗi nang tuyến là một khối hình cầu có đường kính 30-500µm, ở người có khoảng 3x106 túi nang tuyến Thành nang tuyến cấu tạo bởi các tế bào biểu mô gồm hai loại tế bào: tế bào nang và tế bào cận nang Các tế bào này nằm rải rác hoặc họp lại thành đám, xen kẽ giữa tế bào nang và màng đáy

Các tế bào nang tuyến giáp thường thay đổi, khi không hoạt động chế tiết thì lòng nang thường hẹp lại, tế bào có dạng dẹt hoặc hình khối vuông Ngược lại, khi tuyến đang hoạt động tổng hợp các sản phẩm chế tiết thì tế bào có dạng hình trụ Các sản phẩm chế tiết này được đưa ra khỏi nang nhờ vào các khe nhỏ (Lacumnae) [28], [29], [55]

1.1.3 Sinh lý học tuyến giáp

Hormon giáp là những acid amin có nhiều iod, tức là các iodothyronin: gồm thyroxine (T4) và tri-iodothyronin (T3) do các nang giáp tiết ra, tác dụng sinh học của T3 lại mạnh hơn T4 [20], [23]

Tuyến giáp chế tạo các iodothyronin từ nguồn iod ngoại lai và tái sử dụng iod nội sinh Tuyến giáp tiết ra khoảng 75µg iod hữu cơ mỗi ngày, đó là các hormon giáp chủ yếu là T4 và một lượng nhỏ T3 có vai trò về hình thể học và chuyển hóa

Các hormon giáp tác động trên toàn thể các tổ chức của cơ thể và các con đường chuyển hóa chính, chúng rất cần thiết cho sự tăng trưởng, đặc biệt là của bộ xương và của hệ thần kinh trung ương Sự thay đổi về hình thái cũng phần nào nói lên sự hoạt hoá về chức năng của trục dưới đồi -tuyến yên -vỏ thượng thận [19]

Hormon giáp làm tăng cung lượng tim, ảnh hưởng đến sự co bóp của ruột, điều khiển sự co cơ và chuyển hóa creatinin Hormon giáp còn tác động gián tiếp đến sự tạo hồng cầu và có vai trò chủ yếu trong quá trình sinh nhiệt lượng Hoạt động sinh lý của tuyến giáp phụ thuộc vào TSH (Thyroid stimulating hormon) của tuyến yên và TRH (Thyrotropin releasing hormon) của vùng dưới đồi theo cơ chế điều hòa ngược [47]

Quá trình sinh tổng hợp hormon giáp chia làm 3 giai đoạn:

Trang 7

- Giai đoạn bắt giữ iod: Giai đoạn đầu của quá trình tổng hợp hormon giáp

là iod từ thức ăn, nước uống được hấp thu vào máu dưới dạng iodur (I-) theo máu

đến tập trung ở tuyến giáp Iod từ máu vào tế bào tuyến giáp nhờ cơ chế “bơm iod”, đây là quá trình vận chuyển tích cực ngược gradient nồng độ Nhờ cơ chế “bơm iod” mà nồng độ iodur trong tuyến giáp có thể cao gấp 250-10.000 lần so với nồng

độ của chúng trong máu

- Giai đoạn oxy hoá iodur: Sau khi iod bị bắt giữ trong tế bào tuyến, nhờ

hoạt động của các enzym, iod nhanh chóng bị oxy hoá thành I0 hoặc I3- để có thể kết hợp trực tiếp với tyrosin Sự oxy hoá này được xúc tác bởi enzym peroxidase và hydrogen peroxide (H2O2) Ngay sau khi iod được oxy hoá nó gắn với tyrosin tạo thành monoiodotyrosine (MIT : T1) rồi diiodotyrosine (DIT : T2) Sau khi MIT và DIT được tạo ra, chúng sẽ được gắn vào phân tử thyroglobulin hoặc xảy ra phản ứng trùng hợp để tạo ra T3 và T4 như sau:

MIT + DIT → T3 (3’, 3,5 triiodothyronin hay Triiodothyronin)

DIT + DIT → T4 (3’, 5’, 3,5 tetraiodothyronin hay Thyroxin)

- Giai đoạn giải phóng hormon vào máu: Cả T3, T4, MIT, DIT sau khi được

hình thành đều được tích hợp lại trong chất keo thyroglobulin Các tế bào nang giáp thu nhận các giọt keo theo kiểu ẩm bào Trong tế bào, phần globulin được tách khỏi T3, T4, MIT, DIT nhờ men catheptase Sau đó iodothyrosin deiodinase tách iod khỏi MIT và DIT Iod được giải phóng một phần sẽ được sử dụng vào việc sinh tổng hợp hormon mới, một phần thoát ra khỏi tuyến giáp, còn T3, T4 được vận chuyển qua màng đáy vào máu Quá trình giải phóng T3, T4 bị kích thích bởi TSH

và bị ức chế bởi lượng iod được đưa vào máu với số lượng lớn [46]

1.2 TUYẾN GIÁP VÀ BỆNH BASEDOW

1.2.1 Sơ lƣợc lịch sử phát hiện bệnh Basedow

Bướu giáp là một bệnh lý có lịch sử lâu đời, bệnh đã từng được ghi chép trong các tài liệu y học cổ đại của Trung Hoa và Ấn Độ (khoảng 2.000-3.000 năm trước Công nguyên) [12]

Trang 8

Những mô tả đầu tiên về bướu giáp phối hợp với lồi mắt đã được y văn phương Tây đề cập đến từ thế kỷ XII, nhưng mãi cho đến thế kỷ XIX thì các biểu hiện này mới thực sự được xác định một cách rõ ràng

Năm 1825, người ta đã tìm thấy trong di cảo của một thầy thuốc người Anh tên là Caleb Parry những trang tài liệu mô tả về 5 triệu chứng của một bệnh lý đặc biệt gồm triệu chứng phì đại tuyến giáp, triệu chứng tim mạch, triệu chứng rối loạn thần kinh và kinh nguyệt, triệu chứng lồi mắt Mười năm sau, Robert Graves (1835)

mô tả lại bệnh lý đó với những dấu chứng tương tự tại bệnh viện Dublin

Năm 1840, Carl Von Basedow hệ thống hóa lại các triệu chứng đã mô tả và xếp chúng thành một bệnh lý kinh điển bao gồm các triệu chứng như bướu giáp, lồi mắt, nhịp tim nhanh, run tay, nên về sau tên của ông đã được sử dụng để đặt tên cho bệnh lý này Tuy nhiên cho đến thời điểm ấy, người ta vẫn chưa hiểu rõ được chức năng nội tiết của tuyến giáp Tình trạng bệnh lý chỉ có tính chất mô tả đơn thuần được Peter tóm tắt trong 6 từ "tim to, cổ to, mắt to" Chỉ sau khi quan sát các biến chứng hậu phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp, các nhà sinh lý học mới phát hiện được vai trò quan trọng của tuyến giáp

Vào những năm đầu của thế kỷ XX, dưới ảnh hưởng của nhà Sinh lý học Moebius, khái niệm về cường giáp mới được hình thành qua các công trình của Magnus Lévy, Charles Richet và của trường phái y học Mỹ dựa trên nền tảng sinh học của sự chuyển hóa cơ bản Bệnh Basedow được xem như một biểu hiện đầy đủ nhất của tình trạng cường giáp Marcel Labbé là người có công trong việc giúp chẩn đoán phân biệt giữa bệnh Basedow với các tình trạng cận Basedow (états parabasedowiens) biểu hiện với những rối loạn thần kinh thực vật nhưng không có những biểu hiện rối loạn chuyển hóa do tăng tiết hormon giáp [26] Năm 1912, Plummer phân biệt và mô tả một bướu tuyến giáp độc có những dấu hiệu nhiễm độc giáp nhưng không có lồi mắt Rawson, Jeantet, Astwood (1941-1943) đã phát minh

ra các chất kháng tuyến giáp tổng hợp Nhiều tiến bộ về lý sinh và hóa sinh giúp nhiều cho việc chẩn đoán và thăm dò chức năng tuyến giáp bằng cách sử dụng I131 (Hamilton, Soley, Gillbert-Dreyfus), chụp nhấp nháy tuyến giáp, các nghiệm pháp

Trang 9

động kích thích (Quérido) và kìm hãm tuyến giáp (Werner), đo phản xạ đồ gân gót (Lawson), định lượng iod, định lượng hormon giáp trong máu (Hamolsky),

Năm 1948, Purves và Griesbach chứng minh rằng khi tiêm huyết thanh của những bệnh nhân bị bệnh Basedow cho súc vật thí nghiệm thì sẽ gây quá sản các tế bào tuyến giáp của chúng Mười năm sau (1956-1958), Adams và Purves phát hiện trong máu người bệnh một yếu tố kích thích tuyến giáp kéo dài mà họ đặt tên là LATS (Long acting thyroid stimulator) vì yếu tố này kích thích sự tiết hormon giáp kéo dài đến 16 giờ so với tác dụng của TSH chỉ kéo dài 6-8 giờ Yếu tố LATS này

về sau được chứng minh là một immunoglobulin miễn dịch thuộc lớp IgG nhưng chỉ được tìm thấy ở 30-50% bệnh nhân bị bệnh Basedow mà thôi [8],[70]

Năm 1967, Adams và Kennedy phát hiện thêm yếu tố bảo vệ LATS.P (LATS-protector) cũng là một globuline miễn dịch đặc hiệu của tuyến giáp người

và có ở 90% bệnh nhân bị bệnh Basedow [54]

Vào thập niên 1970-1980, khi Rappaport, Kasagi cùng các cộng sự chứng minh rằng có thể sử dụng hiệu quả các lát cắt của mô tuyến giáp người, nuôi cấy trong môi trường đẳng trương hoặc nhược trương trong phòng thí nghiệm để phát hiện LATS thì đã có rất nhiều nhóm nghiên cứu phát hiện được nhiều tự kháng thể kháng tuyến giáp khác nhau trong bệnh Basedow [38]

1.2.2 Triệu chứng lâm sàng bệnh Basedow

1.2.2.1 Bướu giáp

Bướu giáp lớn, lan tỏa, mềm Bướu có tính chất của bướu mạch: rung miêu

khi sờ, tiếng thổi liên tục hoặc tâm thu nghe được ở cực trên của mỗi thùy [66]

1.2.2.2 Hội chứng nhiễm độc giáp

Thường tỷ lệ với nồng độ hormon giáp với nhiều cơ quan bị ảnh hưởng:

- Tim mạch: Hồi hộp, nhịp tim nhanh, loạn nhịp, khó thở khi gắng sức lẫn khi nghỉ Ở các động mạch lớn, mạch nhảy nhanh và nghe được tiếng thổi tâm thu Trường hợp nặng: suy tim, loạn nhịp, phù phổi,

- Thần kinh cơ: run tay kèm theo yếu cơ Bệnh nhân dễ mệt mỏi, dễ kích thích, thay đổi tính tình, nói nhiều, mất ngủ, bất an và khó tập trung tư tưởng [44]

Trang 10

- Dấu tăng chuyển hóa: tăng thân nhiệt, luôn có cảm giác nóng, gầy nhanh, uống nhiều nước Ngoài ra còn có biểu hiện rối loạn chuyển hóa calci gây tăng calci máu, loãng xương,

- Tiêu hóa: ăn nhiều, tiêu chảy, đau bụng, nôn mửa, vàng da

- Tiết niệu sinh dục: tiểu nhiều, giảm ham muốn tình dục, rối loạn kinh nguyệt, vô sinh, liệt dương và chứng vú to ở nam giới

- Da: ngứa, loạn sắc tố da, lông tóc khô, các móng tay chân dòn, dễ gãy

1.2.2.3 Các biểu hiện ở mắt

Cơ chế lồi mắt liên quan chặt chẽ tới quá trình tự miễn [34], [38], [40] Thường ở cả 2 mắt gồm các triệu chứng cơ năng như chói mắt, chảy nước mắt, nóng rát ở mắt, Triệu chứng thực thể gồm hở khe mi, mi nhắm không kín, mất đồng vận giữa nhãn cầu và mi trên, giữa nhãn cầu và cơ trán, đặc biệt là dấu lồi mắt, liệt cơ vận nhãn

1.2.2.4 Các biểu hiện khác

Phù niêm thường định vị ở trước cẳng chân, đầu gối, đối xứng To các đầu chi, đầu các ngón tay chân biến dạng hình dùi trống Suy vỏ thượng thận, suy cận giáp, đái đường, nhược cơ, Trong bệnh Basedow, bệnh cảnh lâm sàng rất phong phú nhưng để chẩn đoán chính xác cần làm thêm một số xét nghiệm cận lâm sàng

[34], [36], [37]

1.2.3 Triệu chứng cận lâm sàng bệnh Basedow

1.2.3.1 Xét nghiệm đánh giá chức năng cường giáp

Định lượng các hormon giáp trạng trong huyết thanh:

-T3 toàn phần tăng (nồng độ T3 toàn phần có thể tăng gấp 3-4 lần bình thường) -T4 toàn phần tăng (Trong 90% các trường hợp tăng năng giáp, giá trị này tăng lên đến những nồng độ gấp 2-3 lần bình thường.)

- TSH giảm đi rất rõ rệt và chiếm một tỷ lệ rất cao (90% trường hợp) kể cả trong cường giáp không điển hình [13], [28], [39] Hiện nay, người ta cho rằng có lẽ đây là test có giá trị hàng đầu để phát hiện cường giáp [28], [39]

- Độ tập trung I131tại tuyến giáp vào thời điểm 24 giờ tăng cao hơn bình thường

Trang 11

1.2.3.2 Xét nghiệm về hình ảnh và cấu trúc tuyến giáp

- Siêu âm tuyến giáp: hình ảnh tuyến giáp phì đại, eo tuyến dày, cấu trúc đồng nhất, giảm âm

- Xạ hình tuyến giáp: chất phóng xạ tập trung đồng đều trên 2 thùy, tuyến giáp phì đại Trong bệnh Basedow, nó giúp xác định trọng lượng tuyến giáp

Trang 12

1.3.1.2 Nguyên lý của phương pháp

Phương pháp định lượng miễn dịch phóng xạ dựa trên tính đặc hiệu của phản ứng miễn dịch, trong đó kháng nguyên được đánh dấu hạt nhân phóng xạ để làm chất chỉ thị (tracer) Kháng nguyên đánh dấu này (KN*) sẽ cùng với KN (không đánh dấu, chất cần định lượng) cạnh tranh nhau liên kết với kháng thể đặc hiệu để tạo thành các phức hợp KN*-KT và KN-KT Nếu KN có nồng độ càng cao thì nồng

độ dạng liên kết ( KN-KT) càng lớn và nồng độ dạng liên kết (KN*-KT) càng thấp Hoạt tính phóng xạ của phức hợp KN*-KT sẽ tỷ lệ nghịch với nồng độ của kháng nguyên cần định lượng Dựa vào đồ thị chuẩn ta tính được nồng độ kháng nguyên cần định lượng Trong mẫu định lượng theo nguyên lý của RIA thì bao giờ KN* cho vào cũng ở mức quá dư thừa, còn lượng KT ở mức giới hạn xác định vừa đủ tương đối Người ta gọi phương pháp này là phương pháp định lượng miễn dịch phóng xạ cạnh tranh Phản ứng miễn dịch phóng xạ cạnh tranh có thể biểu diễn như sau:

KT + KN* + KN ( KT - KN* ) + (KT - KN )

Phản ứng miễn dịch xảy ra như sau:

KN (?) + KT (giới hạn) (KN-KT) (B) + KN (F)

KN* (dư) (KN*-KT)(B) + KN* (F)

B (bound) là dạng liên kết; F (free) là dạng tự do

Khả năng phản ứng của KT với KN* và KN là như nhau Nếu lượng KN* bằng KN thì xác suất phản ứng của mỗi loại đều bằng 50% Như vậy khi ủ KN* với

KT đặc hiệu và KN (có trong dung dịch chuẩn đã biết, hay trong mẫu cần định lượng), phức hợp tạo thành sẽ cho chỉ số hoạt tính cao hay thấp, dựa vào đồ thị chuẩn có thể xác định được nồng độ chất cần định lượng

Nếu lượng KN nhiều hơn lượng KN*, thì lượng các phân tử KN liên kết với

KT sẽ nhiều hơn lượng phân tử KN* Các phân tử KN* ở dạng tự do sẽ nhiều lên

Từ đó ta tính được phần trăm tự do hay dạng liên kết của KN Trường hợp lượng

KN ít hơn lượng KN* thì ngược lại Dựa vào đồ thị chuẩn xây dựng với những

Trang 13

nồng độ KN xác định không đánh dấu, ta tính được lượng KN có trong huyết thanh bệnh nhân cần định lượng

Hình 1.1 Tương tác của chất gắn với cơ chất phóng xạ và không phóng xạ

1.3.1.3 Ưu nhược điểm của phương pháp

RIA có độ nhạy cao, do đó có thể định lượng được các chất có nồng độ thấp trong mẫu cần định lượng Bình thường RIA có thể phát hiện được nồng độ ở mức nanogram (10-9g), thậm chí tới mức picogam (10-12g) RIA còn có độ đặc hiệu và tính chính xác cao, được sản xuất theo kit có bán sẵn trên thị trường, các mẫu định lượng nhỏ, việc tự động hoá rất dễ Các máy đo đếm đều đã được thiết kế làm việc

Trang 14

1.3.2 Iod phóng xạ và độ tập trung tại tuyến giáp

1.3.2.1 Lịch sử phát triển

Tuyến giáp là cơ quan đầu tiên được nghiên cứu bằng đồng vị phóng xạ Sau những công trình nghiên cứu đầu tiên của Hertz và Roberts công bố năm 1938, đến nay người ta đã có hàng chục phương pháp khác nhau để thăm dò chức năng tuyến giáp bằng iod phóng xạ, có thể nói đây là một trong những ứng dụng sớm nhất của đồng vị phóng xạ trong y học và nó đã đem lại nhiều kết quả rất tốt đẹp

Phương pháp đồng vị phóng xạ trên thực tế hiện nay đã trở thành một yếu tố không thể thiếu được trong chẩn đoán các bệnh tuyến giáp, cũng như trong nghiên cứu về sinh lý của tuyến giáp [15]

1.3.2.2 Nguyên lý nghiệm pháp đo độ tập trung

Tuyến giáp có thể “bắt” và cô đặc iod ngược gradient nồng độ vượt 100:1 Trong tế bào tuyến giáp, iod được hữu cơ hoá, tổng hợp thành các hormon giáp (T3, T4) và dự trữ trong khuôn thyroglobulin Dựa vào khả năng đó, ta có thể dùng iod phóng xạ (thường dùng iod-131) để đo độ tập trung iod phóng xạ ở tuyến giáp, qua

đó đánh giá được hoạt động chức năng của tuyến [7]

Do lượng iod I131 đưa vào cơ thể là rất ít so với tổng lượng iod có trong cơ thể nên tỷ lệ phần trăm iod I131 tập trung tại tuyến giáp phản ảnh chính xác lượng iod mà tuyến giáp cô đặc được trong thời gian làm nghiệm pháp

Nghiệm pháp đo độ tập trung iod được chỉ định trong trường hợp cần đánh giá hoạt động chức năng của tuyến giáp, đánh giá tình trạng háo iod, tính liều cho bệnh nhân điều trị bằng iod I131 và theo dõi bệnh nhân sau điều trị [31], [41]

Ở bệnh nhân Basedow, đường cong biểu diễn độ tập trung của iod phóng xạ thoạt đầu lên cao gần như thẳng đứng và đạt cực đại ở giờ thứ 6 hoặc thứ 8 (vào khoảng từ 50-80%) Trong đa số trường hợp, đường cong hạ xuống sớm, nhanh và tạo góc thoát (angle de fuite) Như vậy, độ tập trung lên cao, xảy ra sớm

và có góc thoát là hai dấu hiệu cơ bản của tăng năng tuyến giáp trạng Cần chú ý là

độ tập trung iod I131 nói lên nhu cầu iod của tuyến giáp, nhưng không bắt buộc phản ảnh sự sản xuất hormon cũng như nồng độ hormon giáp trong máu Tuy nhiên

nó vẫn là một xét nghiệm có giá trị, ít khi nhầm [24]

Trang 15

1.3.2.3 Dược chất phóng xạ, liều lượng, các thời điểm đo

- Về dược chất: Dược chất phóng xạ được dùng phổ biến nhất hiện nay là iod-131( I131) ngoài ra người ta còn dùng Techneti (99mTc ) [30]

- Về liều lượng, bệnh nhân được uống một lượng chất phóng xạ NaI131 dạng dung dịch có hoạt độ phóng xạ từ 3-5µCi ( Dược chất phóng xạ của Viện nguyên tử hạt nhân Đà Lạt )

- Về thời điểm đo, hiện nay các tác giả thống nhất là thời gian giúp ích nhiều nhất cho chẩn đoán là 24 giờ sau khi uống thuốc; ngoài ra, phải đo thêm ít nhất là một trong ba thời điểm sớm hơn : 2, 4, 6 giờ

1.3.2.4 Giá trị của nghiệm pháp

Các nghiệm pháp thăm dò chức năng tuyến giáp in vivo có giá trị rất lớn, giúp tìm hiểu được hoạt động của tuyến giáp về nhiều mặt

Vignalou và Bouchon đã so sánh độ chính xác của nghiệm pháp đo độ tập trung I131 với các nghiệm pháp khác và rút ra kết luận cho rằng nghiệm pháp đo độ tập trung I131 là nghiệm pháp đáng tin cậy nhất [15]

Bảng 1.1 So sánh độ chính xác của các nghiệm pháp thăm dò

Trang 16

1.3.3 Xạ hình tuyến giáp (Scintigraphy)

1.3.3.1 Lịch sử phát triển

Việc thể hiện bằng hình ảnh (ghi hình) bức xạ phát ra từ các mô, phủ tạng và tổn thương trong cơ thể bệnh nhân để đánh giá các dược chất phóng xạ đánh dấu là một đòi hỏi bức thiết Phương pháp ghi hình ngày càng hoàn thiện nhờ vào các tiến

bộ trong lĩnh vực cơ học, điện tử và tin học Năm 1951, lần đầu tiên B Cassen và cs [64], [65] chế tạo ra máy ghi hình cơ học (rectilinear scintigraphe) Năm 1952, H Allen và W Goodwin là những người đầu tiên dùng đồng vị phóng xạ để ghi hình tuyến giáp [26] Sau đó, người ta đã cải tiến các cách thể hiện trên giấy bản đồ phân

bổ phóng xạ bằng mật độ nét gạch, con số, màu sắc hoặc độ sáng tối khác nhau trên phim ảnh (1956) Trong máy ghi hình thẳng được gọi là chụp nhấp nháy (scintigraphy), người ta cho các đầu dò (detector) di chuyển theo một trật tự nhất định theo kiểu quét (to scan) Năm 1962, tại Mỹ đã sản xuất được đầu dò lớn đầu tiên với đường kính tinh thể nhấp nháy natri iodua hoạt hoá bởi thali NaI (TI) đến hơn 20cm Từ đó người ta có thêm phương tiện ghi hình thuận lợi gọi là Planar Gamma Camera Về sau, phương pháp này ngày được hoàn thiện và áp dụng rộng rãi trong lâm sàng

1.3.3.2 Nguyên lý chung

Xạ hình là phương pháp ghi hình ảnh sự phân bố của phóng xạ ở bên trong các phủ tạng bằng cách đo hoạt tính phóng xạ của chúng từ bên ngoài cơ thể Trước khi đo phải đưa vào cơ thể người bệnh một lượng chất phóng xạ dưới dạng dược chất bằng các đường tiêu hóa (uống), đường máu (tiêm), đường hô hấp ( hít )

Các chất đồng vị phóng xạ đó sau khi vào cơ thể sẽ tập trung tại những mô,

cơ quan đặc hiệu mà ta định nghiên cứu và được giữ lại tại đó trong một thời gian vừa đủ cho việc phát hiện chúng Chúng sẽ là nguồn phát các bức xạ gamma và nhiệm vụ của các máy ghi hình là ghi lại hình ảnh sự tập trung đồng vị phóng xạ với các hoạt độ khác nhau Các nghiệm pháp ghi hình nhấp nháy không cho hình ảnh không gian ba chiều của vật thể mà phản ảnh hoạt độ phóng xạ lên một mặt phẳng Hình ảnh này được gọi là xạ hình đồ (scintigram) [1], [13], [35], [49], [52]

Trang 17

Phương pháp xạ hình tuyến giáp là một phương pháp đã được áp dụng từ những thập niên cuối thế kỷ XX, cho đến nay xạ hình vẫn còn được ứng dụng rộng rãi trong chẩn đoán các bệnh lý tuyến giáp Ưu điểm của xạ hình tuyến giáp là phương pháp này vừa cho ta biết về cấu trúc bên trong tuyến, vừa cho ta hình ảnh

về chức năng của tuyến Phương pháp này dựa trên khả năng bắt giữ iod của tuyến giáp với nồng độ cao và giữ được lại ở tuyến trong một thời gian tương đối lâu Ta

có thể ghi hình được tuyến giáp nếu trước đó đã đưa vào cơ thể bệnh nhân một lượng iod phóng xạ (thường dùng là I131, I123) Các hình ảnh nhấp nháy cho phép

ta biết được một số thông tin về tuyến giáp như: vị trí, độ lớn, hình thể và một phần chức năng của tuyến Qua đó, biết được các biểu hiện bất thường như u, viêm, nhờ vào sự so sánh mật độ tập trung phóng xạ nhiều hay ít hơn tổ chức bình thường

Nguyên lý hoạt động của các thiết bị thu hình như sau: đầu phát hiện với sự giúp đỡ của các moteur thực hiện các chuyển động quét lên tổ chức cần kiểm tra Trong thời gian dịch chuyển, đầu phát hiện thu được các tín hiệu do bức xạ gamma phát ra trên diện tích nó đi qua Các tín hiệu thu được tạo ra các xung điện và được chuyển đến bộ phận xử lý, bộ phận ghi hình Bộ phận ghi hình có thể là các bút gõ xuống giấy, tùy theo tổ chức to hay nhỏ mà sử dụng các loại bút khác nhau cho tương thích Mật độ của các điểm được gõ nói lên sự tập trung của các chất đồng vị phóng xạ trong tổ chức Để tăng độ phân giải, người ta còn dùng các băng nhiều màu để bút gõ lên Hình màu trên giấy cũng nói lên mật độ của đồng vị phóng xạ ở

tổ chức thăm dò Ngoài ra cũng có thể dùng phim đen trắng hoặc màu để thu các hình ảnh của các tổ chức trong máy xạ hình Hình nhấp nháy ghi được có tỷ lệ 1:1,

do đó ta dễ so sánh với cơ quan đó về mặt giải phẫu học [1], [2], [4], [17]

1.3.3.3 Đánh giá hình ảnh tuyến giáp qua xạ hình

Bình thường, tuyến giáp qua xạ hình có hình ảnh như một con bướm, chu vi

rõ nét, hai cánh (thùy trái và thùy phải), một thân (eo) ở giữa Đôi khi có bộ phận thứ tư gọi là thùy tháp (pyramid) nằm giữa hai thùy trên Kích thước tuyến giáp nói

Trang 18

chung và của từng bộ phận tuyến giáp nói riêng thay đổi rất nhiều theo từng nhóm tuổi Thường thì kích thước thùy phải thường to hơn thùy trái một ít

Tuyến giáp bình thường có diện tích nhỏ hơn hoặc bằng 20cm2, trẻ em 10 tuổi: 10cm2, trẻ 14 tuổi: 14cm2 Ở Việt Nam, Phan Văn Duyệt (1987) và cộng sự

đã tiến hành xác định các kích thước tuyến giáp trên xạ hình của người bình thường trưởng thành

Khi tuyến giáp bị bệnh, tùy theo tình trạng bệnh lý, trên xạ hình đồ sẽ có những hình dạng đặc biệt, kích thước to hoặc nhỏ hơn bình thường, đường viền có thể không rõ rệt, vị trí có thể bất thường, xuất hiện các nhân đậm hay loãng xạ, mật

độ phóng xạ đậm nhạt không đều hoặc bị khuyết xạ,

Có thể chia ba loại nhân tuyến giáp theo xạ hình đồ như sau:

- Nhân nóng (hot nodule): là những nhân hấp thụ rất nhiều iod phóng xạ, còn các tổ chức tuyến giáp chung quanh không hoặc hầu như không có phóng xạ Đa số

đó là những nhân độc lập thường sản xuất ra nhiều hormon giáp và do đó ức chế tuyến yên tiết TSH Vì vậy, tổ chức lành của tuyến giáp quanh nhân không hấp thụ iod, trong khi đó tổ chức bị bệnh ở trong nhân vẫn hấp thu nhiều iod mặc dù không

- Nhân lạnh (cold nodule): là những nhân tuyến giáp mà tế bào của nó không bắt hoặc bắt rất ít iod so với tổ chức tuyến giáp chung quanh Nguồn gốc tạo ra nhân lạnh thường là các túi nang, tổ chức hoại tử viêm, adenoma thoái hoá hoặc do ung thư tuyến giáp Có thể phát hiện được tuyến giáp lạc chỗ, với vùng bắt HTPX giảm rõ rệt hoặc TG có kích thước nhỏ hơn bình thường [9], [10], [11], [25], [45]

Trang 19

1.3.3.4 Ưu và nhược điểm của phương pháp

Xạ hình có ích trong việc xác định vị trí, hình dáng, kích thước và giải phẫu bệnh bên trong của tuyến Trong đánh giá nhân tuyến giáp, việc xác định tình trạng chức năng của nhân có ý nghĩa quyết định mà phương pháp xạ hình tuyến giáp là phương pháp duy nhất Tuy nhiên, xạ hình chỉ giúp xác định một cách tương đối về chức năng giáp Ví dụ một vùng hoạt động giảm có thể bị nhầm là không hoạt động trên scintigram [17]

1.3.4 Tình hình ứng dụng kỹ thuật phóng xạ trên thế giới và Việt Nam

Việc ứng dụng bức xạ ion hoá vào y sinh học đã có từ lâu và từng được gọi

là y học phóng xạ Thuật ngữ y học hạt nhân (Nuclear Medicine) được Marsall Brucer ở Oak Ridge (USA) lần đầu tiên dùng đến năm 1951 và trở thành phổ biến sau đó

Ngày nay y học hạt nhân là một chuyên ngành mới của y học bao gồm việc

sử dụng các đồng vị phóng xạ, đặc biệt là các nguồn phóng xạ hở để chẩn đoán, điều trị bệnh và nghiên cứu y học [33] Sự ra đời và phát triển của y học hạt nhân gắn liền với những thành tựu và tiến bộ khoa học trong nhiều lĩnh vực mà đặc biệt nhất là những tiến bộ của ngành vật lý hạt nhân, kỹ thuật điện tử, tin học và hoá dược phóng xạ

Đầu tiên, y học hạt nhân chỉ có các hợp chất vô cơ để sử dụng Sự tiến bộ của các kỹ thuật sinh hoá, hoá dược làm xuất hiện nhiều khả năng gắn các đồng vị phóng xạ vào các hợp chất hữu cơ phức tạp và ngày càng phát triển cao hơn, rộng rãi hơn, kể các các kỹ thuật sinh tổng hợp (biosynthese)

Hiện nay, người ta đã có rất nhiều các hợp chất hữu cơ với các đồng vị phóng xạ mong muốn để ghi hình và điều trị, trong đó phải kể đến các enzym, các kháng nguyên, các kháng thể đặc hiệu,

Các kỹ thuật ghi hình bức xạ phát ra từ các mô, phủ tạng và tổn thương trong

cơ thể bệnh nhân để đánh giá sự phân bổ của các dược chất phóng xạ đánh dấu cũng ngày càng tốt hơn Từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, việc ghi hình phóng xạ đã chiếm 60-70% khối lượng công việc chẩn đoán bằng kỹ thuật y học hạt nhân ở các

cơ sở tiên tiến

Trang 20

Chúng ta biết rằng sự thay đổi về chức năng thường xảy ra sớm hơn các thay đổi về cấu trúc Đó là ưu điểm của việc phát hiện bệnh bằng kỹ thuật ghi hình phóng

xạ

Bức xạ gamma và tia X đã được ứng dụng vào ngành Y tế nước ta từ lâu khi hình thành ngành Quang tuyến Y học và thành lập Viện Radium ở Hà Nội Các nguồn đồng vị phóng xạ hở được đưa vào sử dụng ở nước ta từ những năm 1970 với các cơ sở ở Hà Nội và Sài Gòn cũ Từ đó đến nay, chuyên ngành Y học hạt nhân được phát triển khá nhanh Cho đến nay, nước ta có hơn 20 cơ sở Y học hạt nhân với các quy mô khác nhau Tuy chưa được trang bị đầy đủ nhưng cũng đã góp phần chẩn đoán và điều trị được chính xác hơn với 4 nội dung chủ yếu:

- Thăm dò các chức năng của tế bào, mô, cơ quan của cơ thể bao gồm cả hấp thụ, đào thải, chuyển hoá,

- Định vị và ghi hình phóng xạ

- Định lượng các hợp chất sinh học theo nguyên lý miễn dịch phóng xạ

- Điều trị bệnh bằng các nguồn phóng xạ hở [3]

Trang 21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1 Chọn bệnh

Đối tượng nghiên cứu chính gồm 106 bệnh nhân được chọn trong số các bệnh nhân đến khám tại khoa Y học hạt nhân Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 4 năm 2004 đến tháng 4 năm 2005, được chẩn đoán xác định là Basedow, trên 10 tuổi, không phân biệt giới tính và chưa được điều trị

2.1.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh

Căn cứ vào phương tiện kỹ thuật hiện có của bệnh viện, áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán xác định Basedow để chọn bệnh [47]

- Lâm sàng: Bướu giáp, hội chứng cường giáp, có hoặc không có triệu chứng

ở mắt (xem thêm phương pháp khám lâm sàng)

- Cận lâm sàng: Nồng độ hormon giáp (T3, T4) tăng, nồng độ TSH giảm trong máu Độ tập trung iod phóng xạ tại tuyến giáp sau 24h lớn hơn 50% Xạ hình tuyến giáp phì đại, hiện tượng phóng xạ phân phối đồng đều cả 2 thùy

2.1.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Chúng tôi không chọn nghiên cứu các trường hợp sau:

- U tuyến giáp độc: Cường giáp không kèm biểu hiện ở mắt và ngoại biên,

khám thấy nhân giáp một bên, nồng độ TSH giảm, T3 và T4 tăng vừa phải, xạ hình giáp có hình ảnh nhân giáp bắt xạ (nhân nóng), siêu âm giáp có hình ảnh giảm âm, phần nhân giáp và có giới hạn rõ

- Bướu giáp độc đa nhân: Bệnh nhân lớn tuổi, tiền sử có bướu giáp đa nhân,

cường giáp không có biểu hiện ở mắt, khám thấy bướu giáp có nhiều nhân lớn, TSH giảm, T3 và T4 tăng vừa phải, xạ hình giáp cho thấy I131 tập trung không đều xen

kẽ nhân nóng và vùng không bắt màu

Trang 22

- Viêm tuyến giáp bán cấp hoặc mạn: Cường giáp thường xảy ra trong một

thời gian ngắn, T3 và T4 tăng nhẹ, độ tập trung I131 tại tuyến giáp giảm (cường giáp thoái triển tự phát)

- Bệnh Hashimoto: Cường giáp xảy ra trong một thời gian ngắn hoặc kéo dài, T3, T4 và TSH thay đổi tùy giai đoạn, độ tập trung iod phóng xạ không đồng

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu theo phương pháp quan sát mô tả, cắt ngang, tiến cứu [43]

2.2.1 Phương pháp khám lâm sàng

2.2.1.1 Xác định bướu giáp

Bướu giáp lớn, lan tỏa, đều, mềm, có thể có bướu mạch Thăm khám trực tiếp để xác định Phân độ bướu dựa theo phân độ của Tổ chức Y tế Thế giới [10], [49]

Có thể xác định hoặc kiểm định lại độ lớn, tính chất của bướu qua kết quả xạ hình tuyến giáp và siêu âm Xác định tăng sinh mạch tại bướu qua doppler

2.2.1.2 Xác định cường giáp trên lâm sàng

Dùng phương pháp hỏi bệnh, phương pháp tiến cứu, phương pháp thăm khám trực tiếp để ghi nhận và phân tích các dấu cường giáp kinh điển của các tác giả J Hazard và L Perlemuter gồm các triệu chứng sau:

- Tăng chuyển hóa (suy nhược, gầy sút, sợ nóng, đổ mồ hôi, khát nước, ăn nhiều, giảm cân)

- Tim (nhịp tim nhanh, hồi hộp, khó thở, rung nhĩ)

- Tiêu hóa (tăng tốc độ tiêu hóa, tiêu chảy)

Trang 23

- Dấu thần kinh và cơ (thần kinh kích thích, run tay, nhược cơ)

- Triệu chứng khác (phù niêm trước xương chày, lách lớn, ngứa)

2.2.2 Thăm dò cận lâm sàng

2.2.2.1 Thăm dò chức năng tuyến giáp

- Định lượng nồng độ Triiodothyronine toàn phần (T3):

+ Nguyên lý : Test RIA-gnost T3 Test này dựa trên nguyên lý phân tích cạnh tranh protein mang Với sự hiện diện của thuốc thử 8-anilino-1-acid sulfonic, T3 ( đóng vai trò kháng nguyên ) cần định lượng, được tách ra khỏi protein mang và cạnh tranh với T3 có gắn I 125 ( là kháng nguyên có đánh dấu phóng xạ ) để giành lấy các vị trí gắn trên kháng thể, T3 kháng thể này chỉ có số lượng nhất định Lượng T3 có phóng xạ tỉ lệ nghịch với nồng độ T3 có trong mẫu thử hay mẫu chuẩn Các ống nghiệm đã được phủ một lớp kháng thể, cho mẫu chuẩn ( hoặc mẫu thử ) và chất phóng xạ vào ống nghiệm trên sau đó đem ủ ở nhiệt

độ thích hợp Bằng cách đo hoạt tính phóng xạ của T3 được đánh dấu với I125 gắn với kháng thể, vẽ đồ thị chuẩn theo các mẫu chuẩn đo được ta có thể tính được nồng

độ của mẫu thử cần biết

Nhờ I125 phát tia gamma nên ta có thể phát hiện chúng qua máy đếm hoạt tính phóng xạ Khoa Y học hạt nhân sử dụng hệ thống gamma phổ kế 2 kênh có chuyển mẫu, chương trình đo và xử lý tự động của hãng Oakfiel (Anh quốc) với đầu

dò tinh thể hình giếng Nal (TI) [42]

- Định lượng nồng độ Thyroxine toàn phần (T4):

+ Nguyên lý : Dựa trên kỹ thuật cạnh tranh tương tự test định lượng T3 Với

kỹ thuật định lượng này, giá trị bình thường của T4 từ 45 đến 110 ng/ml tức từ 58 -

142 nmol/l [68]

Trang 24

Bảng 2.1 Nồng độ T3, T4 tương ứng với các tình trạng của tuyến giáp

- Định lượng nồng độ Thyroid stimulating hormon (TSH ):

+ Nguyên lý :Test RIA - gnost hTSH Test này dựa trên nguyên lý phân tích sandwich một bước Một phức hợp pha rắn kháng thể kháng TSH ( kháng thể đơn dòng của chuột ) được tạo thành trong quá trình phản ứng Phần phóng xạ còn thừa ( không gắn ) sau khi phản ứng kết thúc sẽ được loại bỏ Bằng cách đo hoạt tính phóng xạ của phức hợp KT-KN-KT*, vẽ đồ thị chuẩn theo mẫu chuẩn đo được ta có thể tính được nồng độ của mẫu thử cần biết

Nhờ vào một biểu đồ được vẽ từ kết quả đo với 6 mẫu chuẩn trong cùng một điều kiện mà ta có thể suy ra được nồng độ TSH của mẫu thử Kết quả:[69]

Bảng 2.2 Nồng độ TSH tương ứng với các tình trạng của tuyến giáp

Cường giáp < 0,25 UI/ml Bình giáp 0,25 - 4 UI/ml Suy giáp  5 UI/ml

2.2.2.2 Đo độ tập trung I 131 ở tuyến giáp

Đo độ tập trung iod ở tuyến giáp vào các thời điểm 2 giờ và 24 giờ sau khi

uống một liều thăm dò 5 micro Curi I131 ( 5(Ci ) dưới dạng hợp chất iodua Natri hòa tan trong nước

Nguyên lý kỹ thuật: Trong điều kiện bình thường, hàng ngày tuyến giáp thu nhận từ thức ăn, nước uống và không khí khoảng 100-150 (g iod và thải ra ngoài theo

Trang 25

đường bài tiết một lượng tương tự Số lượng iod tối thiểu đối với người lớn khỏe mạnh cần khoảng 75 (g/ngày Số lượng iod này đủ để tổng hợp khoảng 300(g thyroxin và đủ

để bảo đảm hoạt động bình thường của cơ thể

Tuyến giáp có thể bắt và cô đặc iod trong huyết tương ngược với gradient nồng độ vượt 100:1 Trong tuyến, iod được hữu cơ hóa tổng hợp thành các hormon giáp và được dự trữ trong thyroglobulin Ta có thể dùng iod phóng xạ thường là I131 để quan sát độ tập trung iod vào tuyến giáp và qua đó đánh giá chức năng của tuyến

Vì lượng iod đưa vào cơ thể rất ít so với tổng lượng iod trong cơ thể, do đó

tỷ lệ phần trăm I131 tập trung tại tuyến giáp phản ánh chính xác lượng iod mà tuyến giáp đã cô đặc được trong thời gian quan sát của nghiệm pháp

Sử dụng hệ thống đếm in vivo 2 kênh (two channel in vivo gamma measurement system) type-362 của hãng Gamma Muvek (Hungari), đầu dò hình trụ, tinh thể nhấp nháy Nal (TI), đường kính 5cm [42]

Xạ hình là phương pháp ghi hình ảnh sự phân bố của phóng xạ ở bên trong các phủ tạng bằng cách đo hoạt tính phóng xạ của chúng từ bên ngoài cơ thể Trước khi đo ta phải đưa vào cơ thể người bệnh một lượng phóng xạ dưới dạng dược chất bằng đường uống hay tiêm

Chất phóng xạ sẽ tập trung vào mô, cơ quan đặc hiệu mà ta định nghiên cứu

và được giữ lại đó trong một thời gian thích hợp Chúng là nguồn phát các bức xạ

Trang 26

gamma và nhiệm vụ của các máy ghi hình là ghi lại hình ảnh tập trung của đồng vị phóng xạ với các mức độ đậm nhạt khác nhau tùy thuộc vào sự phân bố của hoạt tính phóng xạ Các xét nghiệm ghi hình nhấp nháy không cho hình ảnh không gian

ba chiều của vật thể mà phản ánh hoạt độ phóng xạ trên một mặt phẳng Hình ảnh này gọi là xạ hình đồ ghi [12], [16]

Phương pháp ghi hình tuyến giáp dựa trên khả năng bắt iod với nồng độ cao

và giữ lâu dài ở tuyến giáp Ta có thể ghi hình được tuyến giáp nếu trước đó ta đưa vào cơ thể bệnh nhân một lượng iod phóng xạ (thường dùng là I131, I123) ngoài ra

ta có thể dùng 99 mTc nhưng cũng không thay thế được hoàn toàn I131 trong ghi hình tuyến giáp Các hình ảnh nhấp nháy cho phép ta biết được một số thông tin như sau: Vị trí tổ chức cần kiểm tra, độ lớn, hình thể và một phần chức năng của cơ quan, qua đó ta biết được phần tổ chức bất thường do u hay viêm nhờ việc so sánh mật độ phóng xạ tập trung nhiều hay ít hơn tổ chức bình thường

+ Ghi hình tuyến giáp với máy Scanner ( MB 8100 do Hungary sản xuất)

* Bệnh nhân cần được ngừng các chế phẩm có iod ít nhất là 2 tuần

* Dược chất phóng xạ là I131, liều uống khoảng 50 (Ci - 70 (Ci dưới dạng Iodua Natri, không có chất mang, nghĩa là không lẫn iod đồng vị bền ( I127 )

* Ghi hình 24 giờ sau khi uống I131

* Máy Scanner với bao định hướng năng lượng trung bình

* Ghi ở mặt trước, bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa, cổ hơi ưỡn (kê một gối nhỏ dưới cổ )

* Ghi hình bắt đầu từ hỏm trên xương ức đến cằm (theo chiều dọc) và từ phía phải bên này sang bên kia cổ (theo chiều ngang)

+ Mô tả các kết quả sau:

* Vị trí giải phẫu của tuyến giáp

* Khả năng bắt và phân bố hoạt tính phóng xạ

* Hình ảnh và kích thước của tuyến giáp

- Phương pháp xác định trọng lượng tuyến giáp qua xạ hình

Xác định trọng lượng tuyến giáp theo công thức của Okubo [62]:

Trang 27

M = 0.23 S L M: trọng lượng tuyến giáp (gram)

S: diện tích tuyến giáp trên xạ hình 0.23: hệ số điều chỉnh

L = Ġ a: chiều dài thùy phải b: chiều dài thùy trái S: là diện tích tuyến giáp, được tính trên giấy kẻ ô chuyên dụng (kích thước 1 ô = 0.5cm x 0.5cm)

2.3 XỬ LÝ SỐ LIỆU

Thống kê và xử lý số liệu qua phần mềm EPI INFO 6 của Trung tâm kiểm

soát và phòng chống bệnh tật (CDC) USA Version 6.04/1996 [43]

- Trung bình cộng:

Để tính trung bình cộng các dữ kiện chúng tôi tính theo công thức:

- Độ lệch chuẩn tính theo công thức:

- So sánh sự khác biệt giữa 2 tỷ lệ % của 2 mẫu nghiên cứu:

Dựa vào công thức :

PA tỷ lệ % của mẫu nghiên cứu nA

PB tỷ lệ % của mẫu nghiên cứu nB

xi n n

X X

X X

)(

1

x x n S

pq

P P

Trang 28

Trong đó p và q là 2 tỷ lệ của mẫu nghiên cứu được ước lượng dựa trên 2 mẫu như sau:

B A n n

X X p

B B

A A

B A

n

S n

S

X X

t

2 2

)(

)(

))(

(

Y Y X

X

Y Y X X r

B A

B A

n

S n S

X X t

2 2

B B A A n n

S n S

n S

Trang 29

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu phân theo tuổi và giới

Bảng 3.1 Tuổi, giới của nhóm bình thường và nhóm Basedow

21-30 24 22,6 29 27,4 3 14,3 17 20,0 31-40 17 16,0 17 16,0 5 23,8 19 22,4 41-50 16 15,1 14 13,2 6 28,6 21 24,7 51-60 19 17,9 18 17,0 3 14,3 11 12,9

Nhóm Basedow có 106 người gồm 21 nam (19,8%) và 85 nữ (80,2%), tỷ lệ

nữ trên nam bệnh nhân là 4:1 Tuổi nhỏ nhất 11 tuổi, lớn nhất 67 tuổi, tuổi trung bình 38,37 ( 13,92 tuổi Nhóm tuổi bị bệnh nhiều nhất là 21-55 tuổi 66,7% (nam) và 67,1% (nữ)

Nhóm bình thường có 212 người gồm 106 nam và 106 nữ, tuổi nhỏ nhất là

10 tuổi, lớn nhất là 75 tuổi, tuổi trung bình 41,87 ( 17,04 tuổi

Trang 30

3.1.2 Đối tƣợng nghiên cứu phân theo nghề nghiệp

Bảng 3.2 Nghề nghiệp của nhóm bình thường và nhóm Basedow

Biểu đồ 3.1 Phân bố nghề nghiệp của nhóm Basedow

Nhóm Basedow có 61,3% là người nội trợ, 12,3% là học sinh-sinh viên,

11,3% là nông dân và có 9,4% là cán bộ công chức

Nghề nghiệp ở nhóm bình thường chủ yếu là cán bộ công chức (22,2%) và nội trợ

(21,7%), còn học sinh sinh viên chiếm tỷ lệ thấp (12,3%) và làm nông nghiệp (14,1%)

Trang 31

Nồng độ T3 của nhóm bình thường giảm dần khi tuổi càng lớn, không có

sự khác biệt giữa các nhóm tuổi và giữa nam và nữ, với p>0,05

Bảng 3.4 Nồng độ T3 của nhóm Basedow theo tuổi và giới

61-75 5 4,06  0,55 2 4,05  1,06 > 0,05

Ở nhóm Basedow: Nồng độ T3 ở nữ có xu hướng giảm dần khi tuổi càng lớn, ở nam sự biến đổi không rõ ràng, giữa các nhóm tuổi của nam và nữ sự khác biệt không rõ ràng (p>0,05)

Ở nhóm tuổi 51-60, nhóm Basedow nam có nồng độ T3 cao hơn hẳn so với

nữ (p<0,05 )

Trang 32

Bảng 3.5 Nồng độ T3 của nhóm bình thường và nhóm Basedow chung cho cả 2

Nhóm Basedow có nồng độ T3 trong máu rất cao, gấp 4,02 lần so với nồng độ

trung bình của nhóm bình thường, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0.01) giữa

các nhóm tuổi không có sự khác biệt nhiều

1,29 1,34

1,34 1,34

1,41 1,41

4,05

5,49 5,39

6,42 5,13

(ng/ml)

Trang 33

Nồng độ T4 của nhóm bình thường tăng dần và đạt cao nhất ở nhóm tuổi 21-30 sau đó giảm dần và thấp nhất ở nhóm tuổi trên 60 Không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi giữa nam và nữ (với p>0,05)

Bảng3.7 Nồng độ T4 của nhóm Basedow theo tuổi và giới

Nồng độ T4 của nhóm Basedow có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi giữa nam và nữ nhưng chưa có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Trang 34

Bảng 3.8 Nồng độ T4 của nhóm bình thường và nhóm Basedow chung cho cả 2 giới

81,41 81,58

82,55 82,54

82,56

280 263,85 281,52

252,25 257,82

T4

(ng/ml)

Trang 35

Nhóm Basedow có nồng độ TSH rất thấp so với nhóm bình thường sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (p<0,01)

Trang 36

Bảng 3.11 Nồng độ TSH của nhóm bình thường và nhóm Basedow chung cho cả 2 giới

2,25

0,11

2,18 2,05

2,05 2,01

2,12

0,1 0,1

0,11 0,11

0,1 0

TSH

(  UI/ml) 

Ngày đăng: 25/07/2014, 05:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Tương tác của chất gắn với cơ chất phóng xạ và không phóng xạ  1.3.1.3. Ưu nhược điểm của phương pháp - Nghiên cứu nồng độ t3 t4 TSH trong máu, độ tập trung i131 và xạ hình tuyến giáp ở bệnh nhân basedow trước điều trị
Hình 1.1. Tương tác của chất gắn với cơ chất phóng xạ và không phóng xạ 1.3.1.3. Ưu nhược điểm của phương pháp (Trang 13)
Bảng 1.1. So sánh độ chính xác của các nghiệm pháp thăm dò - Nghiên cứu nồng độ t3 t4 TSH trong máu, độ tập trung i131 và xạ hình tuyến giáp ở bệnh nhân basedow trước điều trị
Bảng 1.1. So sánh độ chính xác của các nghiệm pháp thăm dò (Trang 15)
Bảng 2.1. Nồng độ T3, T4 tương ứng với các tình trạng của tuyến giáp - Nghiên cứu nồng độ t3 t4 TSH trong máu, độ tập trung i131 và xạ hình tuyến giáp ở bệnh nhân basedow trước điều trị
Bảng 2.1. Nồng độ T3, T4 tương ứng với các tình trạng của tuyến giáp (Trang 24)
Bảng 2.2. Nồng độ TSH tương ứng với các tình trạng của tuyến giáp - Nghiên cứu nồng độ t3 t4 TSH trong máu, độ tập trung i131 và xạ hình tuyến giáp ở bệnh nhân basedow trước điều trị
Bảng 2.2. Nồng độ TSH tương ứng với các tình trạng của tuyến giáp (Trang 24)
Bảng 3.1. Tuổi, giới của  nhóm bình thường và nhóm Basedow - Nghiên cứu nồng độ t3 t4 TSH trong máu, độ tập trung i131 và xạ hình tuyến giáp ở bệnh nhân basedow trước điều trị
Bảng 3.1. Tuổi, giới của nhóm bình thường và nhóm Basedow (Trang 29)
Bảng 3.2. Nghề nghiệp của nhóm bình thường và nhóm Basedow - Nghiên cứu nồng độ t3 t4 TSH trong máu, độ tập trung i131 và xạ hình tuyến giáp ở bệnh nhân basedow trước điều trị
Bảng 3.2. Nghề nghiệp của nhóm bình thường và nhóm Basedow (Trang 30)
Bảng 3.3. Nồng độ T3 của nhóm bình thường theo tuổi và giới - Nghiên cứu nồng độ t3 t4 TSH trong máu, độ tập trung i131 và xạ hình tuyến giáp ở bệnh nhân basedow trước điều trị
Bảng 3.3. Nồng độ T3 của nhóm bình thường theo tuổi và giới (Trang 31)
Bảng 3.6. Nồng độ T4 của nhóm bình thường theo tuổi và giới - Nghiên cứu nồng độ t3 t4 TSH trong máu, độ tập trung i131 và xạ hình tuyến giáp ở bệnh nhân basedow trước điều trị
Bảng 3.6. Nồng độ T4 của nhóm bình thường theo tuổi và giới (Trang 33)
Bảng 3.8. Nồng độ T4 của nhóm bình thường và nhóm Basedow chung cho cả 2  giới - Nghiên cứu nồng độ t3 t4 TSH trong máu, độ tập trung i131 và xạ hình tuyến giáp ở bệnh nhân basedow trước điều trị
Bảng 3.8. Nồng độ T4 của nhóm bình thường và nhóm Basedow chung cho cả 2 giới (Trang 34)
Bảng 3.10. Nồng độ TSH của nhóm Basedow theo tuổi và giới - Nghiên cứu nồng độ t3 t4 TSH trong máu, độ tập trung i131 và xạ hình tuyến giáp ở bệnh nhân basedow trước điều trị
Bảng 3.10. Nồng độ TSH của nhóm Basedow theo tuổi và giới (Trang 35)
Bảng 3.9. Nồng độ TSH của nhóm bình thường theo tuổi và giới - Nghiên cứu nồng độ t3 t4 TSH trong máu, độ tập trung i131 và xạ hình tuyến giáp ở bệnh nhân basedow trước điều trị
Bảng 3.9. Nồng độ TSH của nhóm bình thường theo tuổi và giới (Trang 35)
Bảng 3.11. Nồng độ TSH của nhóm bình thường và nhóm Basedow  chung cho cả 2 giới - Nghiên cứu nồng độ t3 t4 TSH trong máu, độ tập trung i131 và xạ hình tuyến giáp ở bệnh nhân basedow trước điều trị
Bảng 3.11. Nồng độ TSH của nhóm bình thường và nhóm Basedow chung cho cả 2 giới (Trang 36)
Bảng 3.12. Độ tập trung I131 ở tuyến giáp vào thời điểm 2h và của nam và  nữ - Nghiên cứu nồng độ t3 t4 TSH trong máu, độ tập trung i131 và xạ hình tuyến giáp ở bệnh nhân basedow trước điều trị
Bảng 3.12. Độ tập trung I131 ở tuyến giáp vào thời điểm 2h và của nam và nữ (Trang 37)
Bảng 3.13. ĐTT I131ở TG thời điểm 2h chung của nhóm bình thường (Nhóm  BT) và nhóm Basedow - Nghiên cứu nồng độ t3 t4 TSH trong máu, độ tập trung i131 và xạ hình tuyến giáp ở bệnh nhân basedow trước điều trị
Bảng 3.13. ĐTT I131ở TG thời điểm 2h chung của nhóm bình thường (Nhóm BT) và nhóm Basedow (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w