ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm phổi là một bệnh nhiễm khuẩn thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi nhất là ở sơ sinh và cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới đặc biệt là ở các nước đang phát
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NGUYỄN PHƯƠNG HẠNH
NHẬN XÉT PHÂN BỐ VI KHUẨN GÂY VIÊM PHỔI SƠ SINH TẠI BỆNH VIỆN
SAINT PAUL HÀ NỘI
Chuyên ngành : Nhi Khoa
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NGUYỄN PHƯƠNG HẠNH
NHẬN XÉT PHÂN BỐ VI KHUẨN GÂY VIÊM PHỔI SƠ SINH TẠI BỆNH VIỆN
SAINT PAUL HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HÀ NỘI 2011
Trang 3TT Họ và tên Giới Ngày sinh Ngày vào Mã bệnh án
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm phổi là một bệnh nhiễm khuẩn thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi nhất là ở sơ sinh và cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới đặc biệt là ở các nước đang phát triển Trong đó, viêm phổi sơ sinh chiếm gần một nửa tử vong do viêm phổi nói chung và là một trong những nguyên nhân gây tử vong cao nhất trong giai đoạn chu sinh [8], [38]
Do đặc điểm giải phẫu và sinh lý ở đường hô hấp trẻ sơ sinh chưa phát triển đầy đủ so với trẻ lớn, nên viêm phổi ở trẻ sơ sinh có những đặc điểm riêng biệt như: triệu chứng lâm sàng thường không điển hình và viêm phổi thường diễn tiến nặng hơn Bên cạnh đó, do hệ thống miễn dịch chưa phát triển đầy đủ, khả năng tự bảo vệ của cơ thể còn hạn chế nên trẻ sơ sinh rất dễ
bị nhiễm khuẩn Đặc biệt là sự thiếu hụt các kháng thể đặc hiệu như IgM, IgA trong dịch tiết đường hô hấp, do đó làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, đặc biệt
vi khuẩn Gram (-), thường gặp là viêm phổi và dẫn đến tử vong [3]
Ở những nước đang phát triển, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính rằng gần 800.000 tử vong sơ sinh xảy ra mỗi năm từ nhiễm trùng hô hấp cấp tính, chủ yếu là viêm phổi [37] Do đó, viêm phổi ở trẻ sơ sinh cần được quan tâm hàng đầu vì mức độ phổ biến của nó và giảm được tỉ lệ tử vong do viêm phổi sơ sinh nghĩa là giảm được tỉ lệ tử vong do viêm phổi ở trẻ em nói chung
Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây viêm phổi như virus, vi khuẩn và nấm Tuy nhiên, theo nhiều nghiên cứu, tại những nước đang phát triển, căn nguyên chủ yếu vẫn là vi khuẩn Theo các nghiên cứu trong nước thì vi khuẩn thường gặp trong viêm phổi sơ sinh là vi khuẩn Gram âm: nghiên cứu của Tô Thanh Hương thì Klebsiella lại chiếm 52,4%, còn E.coli là 19% [19], còn
Trang 6trong nghiên cứu của tác giả Khu Thị Khánh Dung thấy Klebsiella chiếm tỷ lệ 47,9%, E.coli chiếm 19,1% [8]
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều loại kháng sinh mới ra đời đã giúp ích rất nhiều trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, trong đó có viêm phổi Tuy nhiên, cùng với đó là sợ đề kháng kháng sinh của
vi khuẩn cũng ngày càng gia tăng, đặc biệt các vi khuẩn Gram âm, vì vậy, tỉ lệ
tử vong do viêm phổi sơ sinh vẫn còn cao
Từ năm 2004, khoa sơ sinh Bệnh viện Saint Paul đã áp dụng các phương pháp điều trị mới, đặc biệt là thở CPAP, thở máy, thay máu Chính vì vậy, số bệnh nhân nặng được giữ lại điều trị tại khoa ngày càng tăng lên đồng nghĩa với tình trạng nhiễm trùng bệnh viện, bộ mặt vi khuẩn gây bệnh cũng đã thay đổi theo
Mặc dù, trên thế giới cũng như trong nước đã có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân của viêm phổi sơ sinh, tuy nhiên tại Bệnh viên Saint Paul thì vẫn chưa có nghiên cứu nào về viêm phổi sơ sinh Để góp phần nâng cao chất lượng công tác điều trị bệnh viêm phổi sơ sinh tại bệnh viên Saint Paul, biết được nguyên nhân viêm phổi phổ biến hiện nay có gì thay đổi so với 10 năm trước đây, chúng tôi quyết định tiến hành đề tài nghiên cứu:
“Nhận xét phân bố vi khuẩn gây viêm phổi sơ sinh tại bệnh viện Saint Paul – Hà Nội”
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 KHÁI NIỆM VỀ VIÊM PHỔI
Viêm phế quản phổi: là danh từ để chỉ bệnh viêm nhiễm các phế quản nhỏ, phế nang và tổ chức xung quanh phế nang Tổn thương viêm rải rác hai phổi làm rối loạn trao đổi khí dễ gây hô hấp, bệnh tiến triển nặng và dễ tử vong
Tổn thương dạng này thường gặp ở những trẻ dưới một tuổi, sơ sinh, trẻ suy dinh dưỡng [21]
1.2 DỊCH TỄ HỌC VIÊM PHỔI SƠ SINH
Mỗi năm, trên thế giới, có khoảng từ 750.000 đến 1,2 triệu tử vong sơ sinh có liên quan đến viêm phổi, và tử vong do viêm phổi sơ sinh chiếm khoảng 10% tử vong trẻ em nói chung [37]
Trong nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ trai nhiều hơn (theo Khu Thị Khánh Dung năm 2002 là: Nam/Nữ = 1,68 / 1, Tô Thị Thanh Hương là 1,87 / 1) [8], [19]
Viêm phổi sơ sinh gặp rải rác quanh năm, tuy nhiên gặp nhiều hơn vào các tháng 2, 3, 4, 5, 6 [8]
Trang 8viêm phổi chiếm tỷ lệ 17,2% tổng số sơ sinh nhập viện, đến năm 2002, tỷ lệ này là 22,7% [8], [18]
1.2.2 Tỷ lệ tử vong
Viêm phổi là một trong những nguyên nhân gây tử vong cao nhất trong giai đoạn chu sinh Tại Viện Nhi TW, trong 10 năm (1981 – 1990), tỷ lệ tử vong do viêm phổi sơ sinh là 29,5%, và đến năm 2002 tỷ lệ này đã giảm đáng
kể là 9,7% [8], [17]
Tương tự như vậy, nghiên cứu trên những trẻ sơ sinh viêm phổi điều trị tại bệnh viện Nhi đồng II năm 2007, tỷ lệ tử vong là 7,3% [2]
1.3 CƠ CHẾ BỆNH SINH CỦA VIÊM PHỔI DO VI KHUẨN
Quá trình bệnh lý gây viêm phổi sơ sinh xảy ra theo 4 giai đoạn:
- Nhiễm khuẩn: trẻ bị viêm phổi có thể do hít phải vi khuẩn gây bệnh trong không khí hoặc do vi khuẩn gây bệnh cư trú ở đường hô hấp trên tràn xuống
- Bám dính: vi khuẩn bám dính vào bề mặt tế bào biểu mô hô hấp nhờ cấu trúc đặc biệt bởi lông, bản chất là glycoprotein Nhưng việc bám dính không dễ dàng khi biểu mô còn nguyên vẹn nhờ lớp dịch nhày phế nang chứa một số enzyme thuỷ phân và IgA
- Xâm nhập: sau khi bám dính, các vi khuẩn vó thể bị thực bào hoặc bị tiêu diệt nhờ hệ thống bảo vệ tại chỗ của phổi Các IgA, lactoferin, interferon
và bổ thể sẽ phân giải một phần, vách tế bào hoặc một số enzyme của vi khuẩn Đại thực bào, tế bào NK và lympho Tc cũng đóng vai trò quan trọng chống lại vi khuẩn gây bệnh Nếu vi khuẩn chống đỡ được hệ thống đại thực bào, chúng sẽ không bị phân giải mà nhân lên gấp bội Sau đó, chúng tiết ra độc tố và enzyme để xâm nhập vào nhu mô phổi
Trang 9- Quá trình sinh độc tố: độc tố của vi khuẩn gồm có hai loại:
+ Ngoại độc tố: bản chất là polypeptide được mã hoá bởi gen nằm trên bề mặt plasmid Bạch hầu là vi khuẩn duy nhất sinh ngoại độc tố tác dụng trên biểu mô hô hấp
+ Nội độc tố: là những thành phần của vách vi khuẩn, bản chất là lipopolysaccharid (LPS) Chúng không trực tiếp gây độc mà thông qua các cytokine (interleukin, TNF) do đại thực bào được hoạt hoá bởi LPS sinh ra Chính TNF phát huy tác dụng của nội độc tố Chỉ vi khuẩn Gram (-) mới có khả năng này Vì thế, khả năng gây bệnh phụ thuộc số lượng, chủng loại vi khuẩn và khả năng chống đỡ của hệ miễn dịch của trẻ [17]
1.4 CHẨN ĐOÁN VIÊM PHỔI SƠ SINH
Việc chẩn đoán viêm phổi ở trẻ sơ sinh cũng như các trẻ khác là dựa trên các triệu chứng lâm sàng và Xquang phổi
1.4.1 Đặc điểm lâm sàng
Đặc điểm lâm sàng viêm phổi sơ sinh không điển hình, thường khó phân biệt với các bệnh nhiễm khuẩn sơ sinh khác
Theo Shaffer Avery, viêm phổi được chia làm 3 loại [61]:
- Viêm phổi trong tử cung
- Viêm phổi trong khi sinh
- Viêm phổi sau khi sinh
Viêm phổi trong tử cung:
Viêm phổi trong tử cung là do lây qua đường rau thai hoặc do nhiễm trùng bẩm sinh trong tử cung, thường kết hợp với đẻ ngạt Đây là viêm phổi sớm, dấu hiệu lâm sàng nặng nề, giống như nhiễm trùng huyết, có thể có các
Trang 10triệu chứng của ngạt trước sinh, suy hô hấp, ngừng thở và tử vong trong 24h đầu [6], [8] Đôi khi chỉ có dấu hiệu thở nhanh trong ngày đầu
Một số trường hợp có thể gặp: bụng chướng, hạ nhiệt độ hoặc sốt, toan chuyển hóa, vàng da kéo dài Có thể gặp chảy máu phổi hay rối loạn đông máu
Viêm phổi trong khi sinh:
Viêm phổi có thể xuất hiện một vài ngày sau đẻ, nhiễm khuẩn thường do
vi khuẩn khu trú tại đường sinh dục của mẹ Thường gặp ở trẻ có mẹ bị viêm nhiễm đường sinh dục hoặc ối vỡ sớm Viêm phổi hít thường gặp ở những trẻ ngạt trước trong hoặc sau đẻ Thường gặp ngạt là do hít phân xu, hít dịch ối (trong trường hợp đa ối), hoặc hít phải máu mẹ Trong các trường hợp hít phân xu sống, viêm phổi chiếm tỷ lệ 10 – 26% Trong những trường hợp này, trẻ bị viêm phổi rất nặng
Viêm phổi sau sinh:
Nguyên nhân thường do Pseudomonas aeruginosa, vi khuẩn gram âm, do lây nhiễm hoặc nhiễm trùng bệnh viện [42]
Viêm phổi sau sinh có thể là viêm phổi sớm hoặc muộn, thường có các biểu hiện nhiễm khuẩn toàn thân sớm: li bì, bú kém, sốt
Các biểu hiện của viêm phổi nặng có suy hô hấp thường gặp là: thở nhanh, thở rên, phập phồng cánh mũi, thở không đều, tím tái, co kéo cơ liên sườn hoặc hõm ức, có thể nghe thấy rals ẩm hoặc rì rào phế nang giảm [8] Trong một số trường hợp, khi viêm phổi rất nặng, có thể ngừng thở, shock và suy thở
Biểu hiện phản ứng màng phổi, tràn mủ, tràn khí màng phổi thường gặp trong viêm phổi do tụ cầu vàng, Klebsiella pneumoniae [14]
Trang 11Viêm phổi muộn thường gặp ở trẻ đẻ non và đủ tháng đặc biệt trên trẻ có can thiệp hô hấp hỗ trợ Bệnh nhân có đặt nội khí quản là yếu tố hàng đầu dẫn đến viêm phổi sơ sinh Nguy cơ viêm phổi ở nhóm này cao hơn nhóm không đặt nội khí quản gấp đến 4 lần [8]
Có thể nói, các triệu chứng lâm sàng của viêm phổi sơ sinh thường không đặc hiệu, không có tiêu chuẩn chẩn đoán rõ ràng
X-quang:
Hình ảnh X-quang của viêm phổi sớm do Streptococcus B thường khó phân biệt với bệnh màng trong Tuy nhiên, dựa vào kết quả điều trị tiến triển nhanh trên X-quang của bệnh màng trong, kết hợp lâm sàng, xét nghiệm thì
có thể phân biệt được hai bệnh này
Hình ảnh ứ khí ở nhánh phế quản thường gợi ý nhiễm trùng phổi do hít Trong một số trường hợp, hình ảnh X-quang trong ngày đầu có thể bình thường, nhưng có biến đổi sau một vài ngày, trường hợp này gợi ý trên lâm sàng là viêm phổi lây qua đường rau thai [55]
Hình ảnh nhiều ổ áp xe nhỏ và các bóng khí di chuyển chỗ, hình thành các ổ áp xe lớn, các túi khí, bóng khí, hay nốt mờ rải rác lan tỏa thường thấy trong viêm phổi do tụ cầu vàng Có thể gặp các biến chứng tràn dịch, tràn khí
Trang 12màng phổi, có thể có tràn khí trung thất hoặc tràn mủ màng tim Tuy nhiên,
hình ảnh này cũng có thể gặp trong viêm phổi do E.Coli và Klebsiella
pneumoniae [8], [52]
Hình ảnh X-quang có nốt mờ rải rác lan toả hai bên phổi, có thể kèm theo
tràn dịch hoặc ổ áp xe nhỏ thường gặp do Pseudomonas aeruginosa [53]
Xét nghiệm vi khuẩn:
Cấy dịch phế quản dương tính, hoặc tìm thấy tế bào viêm trong dịch khí quản là bằng chứng rất có giá trị của viêm phổi sơ sinh, đặc biệt là viêm phổi sớm
Vi khuẩn gây viêm phổi ở trẻ em mang tính đặc thù theo lứa tuổi:
Klebsiella, E.coli, S.aureas thường hay gây bệnh ở nhóm trẻ dưới 02 tháng
tuổi, trong khi Haemophilus Influenza, Streptococcus pneumoniae là tác nhân
quan trọng trong viêm phổi ở lứa tuổi lớn hơn [8], [56], [61]
Viêm phổi sơ sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau và khác với trẻ lớn
Strepttococcus B là vi khuẩn thường gặp nhất trong viêm phổi sớm Các
vi khuẩn gram âm E.coli, Klebsiella pneumoniae, Pseudomonass aeruginosa,
Serratia và thậm chí cả nấm candida gặp cả trong viêm phổi sớm và viêm
phổi muộn, gặp nhiều hơn ở trẻ đẻ non, thấp cân [35], [58]
Viêm phổi do vi khuẩn có thể lây thành dịch, qua các dụng cụ y tế (sonde hút, máy hút, máy thở, nhân viên y tế,…)
Nhiễm vi khuẩn qua rau thai ít gặp hơn virus, các vi khuẩn thường gặp là
Listeria, Mycobacterium tuberculosis, Treponema palladium
Trang 13Bảng 1.1: Các nguyên nhân gây bệnh viêm phổi sơ sinh:
Loại VP Virus Vi khuẩn Tác nhân khác
VP trong tử cung
VP trong khi sinh
VP sau sinh
Rubella Varicella – zoster HIV
CMV
CMV HSV
CMV HSV RSV (thường gặp trong cộng đồng)
L.monocytogenes M.tuberculosis T.pallidium
Streptococcus B C.trachomatis
VK Gram (-):
E.coli, Klebsiella, S.aureus
P.aeruginosa, H.Influenza Parainfluenza,
C.albicans
Vi khuẩn Proteus thường thấy ở đường sinh dục và cũng là nguyên nhân
cuả viêm phổi mạn tính ở trẻ sơ sinh
Những trẻ phải thở máy dài ngày, thở CPAP, thở oxy nằm lồng ấp thường có nguy cơ cao bị viêm phổi Vi khuẩn thường gặp chủ yếu là những
vi khuẩn thường trú trong bệnh viện và có khả năng đề kháng kháng snh cao
như: P.aeruginosa, Klebsiella pneumoniae, Serratia marcescens, S.aureus Tại cộng đồng, viêm phổi thường gặp do Haemophilus influenzae [9]
Trang 141.5 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VI KHUẨN GÂY BỆNH THƯỜNG GẶP
1.5.1 Klebsiella pneumoniae
Klebsiella thuộc họ vi khuẩn đường ruột, là một trong những loại vi
khuẩn gây bệnh thường gặp trong nhiễm trùng bệnh viện
Klebsiella có 4 loài gây bệnh: Klebsiella pneumoniae, Klebsiella.oxytoca, Klebsiella ozaenae và Klebsiella rhinoscleromatis, trong đó, Klebsiella pneumoniae được quan tâm nhiều nhất Klebsiella pneumoniae a là trực
khuẩn lớn, Gram (-), thường bắt màu ở 2 đầu, có vỏ dày Người ta đã tìm thấy
80 loại kháng nguyên vỏ khác nhau, trong đó type 1 và hay gây nhiễm khuẩn đường hô hấp.
Hình 1.1: Vi khuẩn Klebsiella pneumoniae trên tiêu bản nhuộm
Một số kháng nguyên vỏ của Klebsiella có liên quan đến kháng nguyên
A của E.coli Ngoài ra, người ta còn tìm thấy có sự chuyển giao các gen đề
kháng giữa 2 loại vi khuẩn này qua các plasmid, các gen nhảy và sự biến đổi các chất liệu di truyền Đây chính là cơ chế kháng kháng sinh của vi khuẩn này Bên cạnh đó, kháng nguyên vỏ còn có khả năng chống lại hiện tượng thực bào do ngăn cản quá trình opsonin hoá
Trang 15Klebsiella pneumoniae có thể phân lập được từ đường tiêu hoá hoặc
đường hô hấp trên ở khoảng 5 % dân số Vì vậy, trong nhiễm khuẩn tiên phát đường vào chủ yếu là do hít dịch tiết ở đường hô hấp hoặc tiêu hoá [1], [14]
Từ những năm 1970, Klebsiella pneumoniae đã gây nên những đợt bùng
phát nhiễm khuẩn tại các NICU, và thời gian gần đây những chủng kháng beta-lactamase phổ rộng (ESBL) đã được xác định và chúng kháng cả với các kháng sinh Cephalosporin thế hệ ba [56]
1.5.2 Escherichia coli (E.coli)
Escherichia do Escherich phát hiện đầu tiên năm 1885, trong đó E.coli
có vai trò quan trọng nhất
E coli thuộc họ Entero bacteriaceac, có hình que thẳng, hai đầu tròn,
kích thước dài ngắn khác nhau từ 2 – 3 µm, rộng 0,5µm E.coli là trực khuẩn Gram (-), rất ít chủng E.coli có vỏ, nhưng hầu hết có lông E.coli phát triển dễ
dàng trên các môi trường nuôi cấy thông thường, hiếu kị khí tuỳ tiện
Cấu tạo kháng nguyên của E.coli là kháng nguyên vỏ khá phức tạp Có
đủ 3 loại kháng nguyên O, H, K.: kháng nguyên O gồm gần 160 yếu tố, kháng nguyên H có hơn 50 yếu tố, kháng nguyên K chia làm ba loại A, B và L Dựa vào cấu trúc kháng nguyên, E.coli được chia thành các type huyết thanh, mỗi type được ký hiệu bằng kháng nguyên O và K
Hầu hết E.coli gây nhiễm cơ hội ở thận, bàng quang, phổi, não,… là nguyên nhân của nhiễm trùng máu Khoảng 40% nhiễm E.coli ở trẻ sơ sinh là
do các chủng có kháng nguyên vỏ K1
Dấu hiệu lâm sàng thường không đặc hiệu, trẻ thường li bì, bú kém kèm theo có suy hô hấp Phổi tổn thương không đặc hiệu, tổn thương viêm từ các tiểu phế quản tận lan ra nhu mô phổi kề cận trong tiểu thuỳ phổi Các phế nang viêm ở giai đoạn tiến triển khác nhau rải rác ở hai phổi, vùng giữa các ổ
Trang 16viêm này là nhu mô phổi bình thường Xuất tiết nhiều dịch mủ ở các tiểu phế quản, ở các phế nang bị viêm, trung tâm các ổ đông đặc tiểu thuỳ hoại tử và hình thành ổ áp xe nhỏ Những ổ áp xe này có thể tạo thành ổ lớn hơn vỡ vào màng phổi gây tràn khí tràn dịch màng phổi [1], [8], [14]
1.5.3 Pseudomonas aeruginosa (trực khuẩn mủ xanh)
Pseudomonas aeruginosa, trước đây gọi là Bacterium aeruginosa do
Shroeter mô tả năm 1872
Năm 1882, vi khuẩn này được G.Gessard phân lập được từ mủ màu xanh của một vết thương Hiện tượng này là do vi khuẩn đã tiết ra một loại sắc tố
có màu xanh là pyoxyanin và sắc tố vàng lục pyovecdin Vì vậy, người ta còn
gọi vi khuẩn này là trực khuẩn mủ xanh
Năm 1900, Migula chuyển chúng sang giống Pseudomonas, từ đó, vi khuẩn mang tên Pseudomonas aeruginosa
Pseudomonas aeruginosa là trực khuẩn Gram (-), thẳng hoặc hơi cong
nhưng không xoắn, hai đầu tròn, rất di động với một lông ở một đầu, thường
không có vỏ Kích thước của Pseudomonas aeruginosa từ 0,5 – 1 µm x 1,5 - 5
µm Đây là vi khuẩn ái khí, có một kháng nguyên lông H, kháng nguyên O Trong đó, kháng nguyên O mang một nội độc tố lipopolysacarit (LPS) tương
tự nội độc tố vi khuẩn đường ruột
Hình 1.2: Trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa)
Trang 17Trong số các yếu tố độc lực của Pseudomonas aeruginosa, phospholipase C,
độc tố tan huyết làm cho surfactant mất hoạt tính dẫn đến xẹp phổi Do đó,
trẻ sơ sinh non yếu bị viêm phổi do Pseudomonas aeruginosa thường nặng
hơn trẻ đủ tháng
Pseudomonas aeruginosa được tìm thấy ở da, đường tiêu hoá của khoảng 3
% dân số, tuy nhiên, tỉ lệ này ở bệnh viện thường cao hơn nhiểu, khoảng 20%
Pseudomonas aeruginosa là một trong những vi khuẩn cơ hội, thường do
lây chéo giữa các bệnh nhân có sức đề kháng giảm, nó có khả năng tồn tại ở môi trường ẩm ướt, đặc biệt các dụng cụ y tế (máy thở, máy khí dung, máy hút) vì khả năng đề kháng của nó rất cao Tuy nhiên, trong môi trường khô, nóng, nó bị tiêu diệt dẽ dàng [1], [8], [14], [19]
Pseudomonas aeruginosa là nguyên nhân của các trường hợp nhiễm khuẩn
huyết, viêm phổi, viêm kết mạc, nhiễm khuẩn tiết niệu, với tỷ lệ tử vong cao Hiện, nó đã kháng với nhiều kháng sinh thông thường, và bắt đầu có kháng cả những kháng sinh thế hệ mới như Imipenem, Ticarcillin [1], [14], [56]
1.5.4 Staphylococcus aureus (tụ cầu vàng)[1], [7], [14]
Staphylococcus aureus là những cầu khuẩn Gram (+), có đường kính từ
0,8 – 1,0 µm và đứng thành hình chùm nho, không có lông, không nha bào, thường không có vỏ
Staphylococcus aureus có khả năng đề kháng với nhiệt độ và hoá chất
cao hơn các vi khuẩn không có nha bào khác, nó có thể gây bệnh sau một thời gian dài tồn tại ở môi trường
Trang 18Staphylococcus aureus được Pasteur tìm thấy năm 1880 Vi khuẩn này
có khả năng sinh nhiều loại độc tố, và nó cũng là tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện thường gặp
Hình 1.3: Staphylococcus aureus (Tụ cầu vàng)
Độc tố của Staphylococcus aureus gồm :
Hemolysin miễn dịch : gồm có dung huyết tố α (là một ngoại độc
tố, gây phá huỷ lysosome, nhiễm độc bạch cầu đơn nhân, lympho bào và đại thực bào), dung huyết tố β (có tác dụng lên sphingomyelin của màng hồng cầu, không tác dụng lên bạch cầu), dung huyết tố (có khả năng gây tan máu độc với các bạch cầu), ngoài ra còn có dung huyết tố , có tác dụng như dung huyết tố α
Độc tố diệt BC : chỉ có tác dụng độc với bạch cầu đa nhân và các
đại thực bào làm cho các bạch cầu mất khả năng di động rồi phá huỷ tế bào Cùng với dung huyết tố α, β chúng tấn công vào tế bào miễn dịch, hàng rào bảo vệ của phổi, gây tổn thương màng tế bào, ức chế khả năng thực bào của các đại thực bào, bạch cầu đa nhân, lympho bào
Trang 19Cytotoxin : gắn vào các đại thực bào và tăng khả năng của các tế
bào này, khởi động quá trình giải phóng các cytokin, đóng vai trò quan trọng
trong cơ chế shock nhiễm khuẩn do Staphylococcus aureus
Độc tố ruột : có ở 90% các chủng Staphylococcus aureus
Các enzym ngoại bào : Coagulase, Fibrinolyzin, Deoxy-ribonuclease,
Hyaluronidase, Penicillinase, và các protein bề mặt Trong đó, penicillinase (được sản xuất nhờ gen của R – plasmid) làm cho kháng sinh Penicillin mất tác dụng, đó là cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn này
Cơ chế gây bệnh của Staphylococcus aureus là tiết ra các độc tố và
enzym phá huỷ nhu mô phổi, gây hoại tử, tạo thành các ổ abces nhỏ Ngoài ra,
nó còn gây tắc các tiểu phế quản tận, làm cho thành phế nang mỏng đi, hình thành những ổ khí nhỏ rải rác trong phổi Những ổ khí và abces này có thể vỡ
ra màng phổi gây tràn khí, tàn mủ màng phổi
Staphylococcus aureus ký sinh ở da và niêm mạc mũi, họng Nó là vi
khuẩn gây bệnh thường gặp và gây nhiều loại bệnh khác nhau
Viêm phổi do Staphylococcus aureus thường ít gặp, có thể là viêm phổi
nguyên phát do vi khuẩn xâm nhập từ đường hô hấp trên xuống, hoặc thứ phát sau nhiễm khuẩn da, viêm cơ, viêm động mạch, tĩnh mạch,
1.5.5 Streptococcus pyogenes
Liên cầu (streptococci) được Billroth mô tả đầu tiên vào năm 1874 từ mủ của các tổn thương viêm quầng và các vết thương bị nhiễm trùng Năm 1880, Pasteur phân lập được liên cầu ở máu bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết
Năm 1919, Brown đã xếp loại liên cầu theo những hình thái tan máu khác nhau khi chúng phát triển trên môi trường thạch máu
Trang 20Năm 1930, Lancefield dựa vào kháng nguyên C của vách tế bào vi khuẩn
Streptococcus pyogenes có 7 enzym và độc tố, trong đó DPNase là enzym có khả năng diệt bạch cầu và độc tố gây phát ban Nó là nguyên nhân của các nhiễm khuẩn tại chỗ như, viêm họng, chốc lở, nhiễm trùng vết thương, viêm phổi ; hoặc là nguyên nhân các nhiễm trung thứ phát, bệnh tinh hồng nhiệt, hay thấp tim, viêm cầu thận, [1]
1.6 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Viêm phổi sơ sinh là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, đặc biệt ở các nước đang phát triển Vì thế, trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu về viêm phổi sơ sinh, đặc biệt từ những năm 1990 trở lại đây
1.6.1 Trên thế giới
Nghiên cứu của tác giả Webber trong 41 tháng (từ 5/1984 – 9/1987): viêm phổi sớm chiếm 35 trường hợp, trong đó 20 trường hợp (57%) là do Streptococci nhóm B Viêm phổi muộn có 39 trường hợp, trong đó 36 trường hợp là sơ sinh non yếu và 34 trường hợp phải thở máy (chiếm 10% tổng số bệnh nhân thở máy) Trong nhóm viêm phổi sớm có 10 trường hợp tử vong (chiếm 29%), và tất cả đều là sơ sinh non yếu, trong khi đó, chỉ có 1 trường hợp viêm phổi muộn tử vong [61]
Trang 21Theo Avery (1990), tỷ lệ viêm phổi ở khoa điều trị tích cực sơ sinh là 20%, và tỷ lệ tử vong do bệnh này cũng chiếm 20% sơ sinh vào viện [29] Berman S (1990), nghiên cứu trên 90 bệnh nhân (từ 2 tuần đến 3 tháng tuổi) bị nhiễm trùng đường hô hấp cấp thấy: 25/84 trường hợp RSV (+), 16/82 trường hợp test nhanh Chlamydia (+) [30]
Theo Gotoff SP (1997), 15 – 10% phụ nữ có Streptococci B ở đường sinh dục và truyền cho con trước hoặc trong khi sinh [42] Đây là một trong những nguyên nhân gây viêm phổi sơ sinh sớm
Trong các nghiên cứu về biểu hiện lâm sàng của bệnh: Campell H (1996)
đã nhận xét rằng nếu bệnh nhân viêm phổi có sốt ≥ 38,5oC, kết hợp hình ảnh tổn thương nhu mô phổi thì giá trị dự đoán dương tính là 70% [32] Berman S thì thấy rằng triệu chứng co rút lồng ngực có độ nhạy là 75%, độ đặc hiệu là 71%, nhưng không tương ứng với tần số thở [30]
Theo công bố năm 2001 của J L Yu, nghiên cứu trong 12 năm tại Singapo về nguyên nhân gây nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh, nguyên nhân gây viêm phổi chủ yếu là do vi khuẩn Gram (-) với tỷ lệ 56,6 % (hàng đầu là
E.coli chiếm 20,6 %, sau đó là Klebsiella chiếm 14,5 %) [46]
Mathur NB (2002), nghiên cứu trên trẻ sơ sinh tại India thấy rằng: triệu chứng ho có độ nhạy khá thấp 13,5% nhưng độ đặc hiệu lại đạt 100%, còn bỏ
bú, thở nhanh > 60 l/ph có độ nhạy cao 88,3%, nhưng độ đặc hiệu lại rất thấp (4,2% và 6,3% Ông cũng thấy rằng 44,6% hình ảnh X-quang phổi là hình nốt
mờ rải rác ở phế trường, 17,4% có hình ảnh đông đặc dưới phân thuỳ phổi, còn mờ lan toả chiếm 11,6% [48]
Trang 22Trong một nghiên cứu tại Ấn Độ năm 2002, Aggarwal và cộng sự cũng
cho rằng vi khuẩn thường gặp nhất gây viêm phổi sơ sinh là Klebsiella
pneumoniae và Staphylococcus aureus [58]
1.6.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, Tô Thanh Hương và cộng sự nghiên cứu trong 10 năm (1981 – 1990), tại khoa sơ sinh Viện Nhi thấy tỷ lệ viêm phổi chiếm 17,6, triệu chứng ban đầu của viêm phổi sơ sinh thường gặp là bú kém 95%, khò khè 58,8%, còn ho chỉ gặp 51,1% [19]
Trần Văn Nam (1988) nhận xét rằng viêm phổi sơ sinh hầu hết không có sốt, nhịp thở nhanh chỉ chiếm 5% [20] Vũ Ngọc Duyên lại nhận xét có 70% bệnh nhân có suy hô hấp khi vào viện, 33,3% có hạ thân nhiệt [11]
Theo Ngô Thị Thi (1989), nguyên nhân gây viêm phổi sơ sinh gặp nhiều
nhất là Klebsiella pneumonia chiếm 51%, E.coli 16,5%, P.aeruginosa 14,5%,
S.aureus 12,3% [23]
Theo Khu Thị Khánh Dung, nghiên cứu năm 1993 thấy tỷ lệ tử vong chung của viêm phổi sơ sinh là 11,8%, trong đó nhóm đẻ non cao gấp 3 lần nhóm đủ tháng [7] Tác giả cũng nghiên cứu trên 134 trẻ sơ sinh viêm phổi năm 2003, thấy rằng các triệu chứng phổ biến thường gặp là ral ẩm (66,4%),
bỏ bú (58,2%), thở nhanh , thở rên (54,5%), tím liên tục (50,7%),…[8] Theo nghiên cứu của tác giả thì vi khuẩn gây bệnh đứng đầu là trực khuẩn Gram (-)
chiếm tỷ lệ 92,6% (trong đó Klebsiella gặp nhiều nhất 47,9%), đồng thời vi
khuẩn đã kháng mạnh với các thuốc kháng sinh thông thường, còn nhạy với kháng sinh Cephalosporin thế hệ thứ 3,4, Amikacin và Tienam [8]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Anh năm 2007 tại Bệnh viện Nhi đồng
2 cho thấy tuổi vào viện 73,7 % là trên 7 ngày tuổi, giới nam chiếm ưu thế, 19
Trang 23% trẻ sơ sinh viêm phổi có yếu tố nguy cơ từ mẹ (nhƣ nhiễm khuẩn ối, ối vỡ sớm, chuyển dạ kéo dài,…) và có lien quan đến viêm phổi sớm [2]
Tác giả Thái Bằng Giang nghiên cứu về nhiễm khuẩn bệnh viện năm
2009 tại khoa sơ sinh Bệnh viện Xanh Pôn thấy rằng trong các nhiễm khuẩn bệnh viện, viêm phổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 76 %, trong đó tác nhân hàng
đầu là Streptococcus pyogenes, sau đó là Klebsiella pneumoniae [13] Trong
đó, Streptococcus pyogenes đã kháng với hầu hết với các kháng sinh
Cephalosporin thế hệ 3, chỉ còn nhạy cảm với Van comycin, kháng sinh thế
hệ mới và nhóm Quinolone [13]
Nhƣ vậy, có thể nói, vi khuẩn gây viêm phổi sơ sinh ngày một đa dạng,
và ngày càng gia tăng đề kháng với nhiều loại kháng sinh Đây là vấn đề hết sức nan giải đối với các thầy thuốc lâm sàng trong vấn đề điều trị, đặc biệt tại các đơn vị hồi sức sơ sinh
Trang 24Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện tại khoa sơ sinh – bệnh viện Saint Paul
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 30 tháng 9 năm 2011
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Gồm 33 trẻ sơ sinh 28 ngày tuổi được chẩn đoán viêm phổi (viêm phổi cộng đồng và viêm phổi bệnh viện), điều trị tại khoa sơ sinh bệnh viện Saint Paul trong thời gian nghiên cứu và có kết quả cấy dịch phế quản dương tính Chẩn đoán viêm phổi dựa vào các triệu chứng lâm sàng và hình ảnh Xquang phổi
Hình ảnh Xquang để chẩn đoán viêm phổi được chia thành hai loại chính:
- Có hình ảnh tăng đậm ở xung quanh rốn phổi và phế quản phổi
- Có hình ảnh nốt mờ rải rác lan toả ở phổi
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm phổi bệnh viện: dựa vào tiêu chuẩn của CDC rút gọn:
- Suy hô hấp: thở nhanh (>60lần/phút), co rút lồng ngực, tím tái, ngừng thở
- Xquang phổi có hình ảnh tổn thương viêm phổi
Cấy dịch phế quản có vi khuẩn gây bệnh
Trang 252.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Là nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu tiện lợi
2.3.3 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
2.3.3.1 Tuổi thai
Là biến liên tục, đơn vị tính là tuần
Tuổi thai được đánh giá dựa vào khai thác bệnh sử, siêu âm thai và đánh giá theo Bảng đánh giá tuổi thai (Phụ lục)
Tuổi thai được chia làm 4 nhóm : (≤ 28 tuần), (29 – 32 tuần), ( 33 – 36 tuần)
và (≥ 37 tuần)
2.3.3.2 Cân nặng lúc đẻ và cân nặng lúc nhập viện
Là biến liên tục, đơn vị tính là grams
Cân nặng được đánh giá tại 2 thời điểm : lúc đẻ và lúc vào viện được chia làm 4 nhóm: (< 1000g), (1000 – 1499g), (1500 - < 2500g) và (≥ 2500g)
2.3.3.3 Giới
Là biến nhị phân, chia làm 2 nhóm : nam, nữ
2.3.3.4 Tuổi mắc bệnh
Là biến liên tục, tính theo đơn vị ngày
Xác định ngày mắc viêm phổi theo tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Trang 26Có / không
Nhiệt độ tính bằng độ C:
< 36oC / 36-37oC / ≥38oC Nhịp thở tính bằng lần/phút:
< 40 l/p / 40-60 l/p / > 60 l/p
Trang 27< 5,0 / 5,0-19,0 / ≥ 20,0 Tính bằng đơn vị (%) CRP máu Liên tục Tính bằng đơn vị (mg/dl)
* Tiêu chuẩn đánh giá một số triệu chứng lâm sàng
+ Nhịp thở: Theo Tiêu chuẩn đánh giá, phân loại và điều trị cho trẻ bị bệnh từ 1 tuần đến 2 tháng tuổi
Thở nhanh: ≥ 60 lần/phút
Thở chậm: < 40 lần/phút
+ Co rút lồng ngực: là phần dưới của lồng ngực lõm vào khi trẻ hít vào + Cơn ngừng thở: ở trẻ đẻ non, cơn ngừng thở thường do hoạt động não chưa hoàn chỉnh, cơn ngừng thở < 15s trong một chu kỳ thở được coi là bình thường
+ Thân nhiệt: Khi cặp nhiệt độ hậu môn của trẻ
Sốt: ≥ 38oC
Hạ nhiệt độ: < 36oC
+ Thở rên: là tiếng do khí lùa vào phổi ở cuối thì thở ra
Trang 28+ Bú: chủ yếu dựa vào đánh giá chủ quan của người mẹ
Bú kém: khi cữ bú giảm từ 50%
Bỏ bú: khi trẻ bỏ một cữ bú
+ Ngủ lịm: bình thường trẻ sơ sinh ngủ nhiều hơn các lứa tuổi khác, tuy nhiên khi kích thích đau trẻ sẽ tỉnh lại Ngủ lịm là khi trẻ ngủ li bì, khó đánh thức
2.3.3.8 Vi khuẩn gây bệnh
Là biến danh mục
Dựa vào kết quả nuôi cấy để xác định vi khuẩn gây bệnh
2.3.3.9 Đáp ứng của vi khuẩn với kháng sinh
Là biến thứ hạng
Dựa vào kết quả KSĐ, chia 3 nhóm: nhạy cảm, trung gian, và kháng
2.3.4 Công cụ thu thập số liệu
Mỗi bệnh nhi có một mẫu phiếu nghiên cứu (phụ lục) để hỏi bệnh, khám
và đánh giá
2.3.5 Quy trình thu thập dữ liệu
- Hỏi bệnh trực tiếp bố mẹ bệnh nhân hoặc nhân viên y tế chuyển viện
Trang 29Cấy dịch nội khí quản
Các xét nghiệm được làm tại khoa Huyết học, khoa Sinh hoá, khoa Vi sinh và khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện đa khoa Saint Paul
2.3.6 Xác định căn nguyên vi khuẩn gây bệnh và sự nhạy cảm kháng sinh
Các bệnh nhân được chẩn đoán viêm phổi sẽ được cấy dịch nội khí quản tìm vi khuẩn ngay khi vào viện để tìm hiểu căn nguyên gây bệnh và mức độ nhạy cảm kháng sinh của từng loại vi khuẩn
Nghiên cứu vi sinh được tiến hành tại Khoa vi sinh bệnh viện Saint Paul
2.3.6.1 Kỹ thuật cấy dịch phế quản
Đặt nội khí quản cho bệnh nhân, sau đó dùng sonde vô trùng cỡ nhỏ (cỡ 6) nối với một bơm tiêm 5 ml vô khuẩn luồn qua ống nội khí quản tới khi không luồn được sau đó hút dịch ra, cho dịch hút vào ống vô trùng và đưa ngay về phòng xét nghiệm vi sinh
2.3.6.2 Phương pháp chẩn đoán vi khuẩn gây bệnh
Nuôi cấy phân lập và xác định vi khuẩn theo đúng quy trình nuôi cấy của khoa Vi sinh Bệnh phẩm được nuôi cấy vào các môi trường khác nhau và theo dõi sự phát triển của các khuẩn lạc Dựa vào kích thước, hình dạng, tính chất của khuẩn lạc, nhuộm Gram soi dưới kính hiển vi, làm các phản ứng sinh vật hoá học để định danh các vi khuẩn Nếu là dịch phế quản thì nếu lượng vi khuẩn là 103
VK/ml trở lên thì đó chính là vi khuẩn gây bệnh Trong trường hợp nếu có từ 2 loại vi khuẩn trở lên mà cả 2 loại vi khuẩn đều có số lượng tiêu chuẩn (trên 103
VK/ml) thì lúc đó cả hai loại vi khuẩn này đều được coi là
vi khuẩn gây bệnh
Trang 302.3.6.3 Thử nghiệm tính nhạy cảm kháng sinh
Sau khi đã định danh được vi khuẩn gây bệnh thì sẽ tiến hành làm kháng sinh đồ theo phương pháp Kirby – Bauer (khoanh giáy kháng sinh khuếch tán trên thạch)
Đánh giá kết quả dựa vào bảng giới hạn đường kích vùng ức chế cho từng loại kháng sinh, từ đó, phân loại các mức độ nhạy cảm Có 3 mức độ: nhạy cảm (sensitive –S), trung gian (intermediate – I), kháng (resitant – R)
2.3.7 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu này chỉ nhằm nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân, không nhằm một mục đích nào khác Có sự tư vấn về vấn đề nghiên cứu và có phản hồi kết quả cho đối tượng nghiên cứu
2.3.8 Xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập đầy đủ các thông tin sẽ được làm sạch trước khi nhập vào máy tính và được xử lý theo phương pháp thống kê y học bằng phần mềm SPSS 16
Trang 31Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian nghiên cứu từ ngày 1 tháng 4 đến ngày 30 tháng 9 năm
2011, có 33 trẻ sơ sinh đạt tiêu chuẩn lựa chọn đối tương nghiên cứu: được chẩn đoán viêm phổi và cấy dịch phế quản có kết quả dương tính Trong 33 trường hợp, có 10 trường hợp là viêm phổi cộng đồng, 23 trường hợp viêm phổi bệnh viện
3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU
3.1.1 Giới
36,4
63,6
Nam Nữ
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ nam, nữ
Nhận xét: Có 12 trẻ nữ chiếm 36,4 %, và 21 trẻ nam chiếm 63,6 % Tỷ lệ
nam/nữ là 1,7/1
Trang 323.1.3 Tuổi thai khi sinh
Bảng 3.2: Phân bố bệnh nhân theo tuổi thai
Trang 33Nhận xét: Trong nghiên cứu, trẻ mắc viêm phổi sơ sinh chủ yếu ở lứa
tuổi > 7 ngày, chiếm tỷ lệ 69,7%
Bảng 3.4: Thời gian bị bệnh trước khi vào viện
Nhận xét: 75,8 % trẻ mắc bệnh đƣợc đƣa vào viện trong < 3 ngày, chỉ cỏ
1 trẻ vào viện sau 13 ngày bệnh, chiếm 3,0 %
Trang 34Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân nghiên cứu theo tháng
Nhận xét: Trong thời gian nghiên cứu, các bệnh nhân viêm phổi vào viện
phân bố tương đối đồng đều trong các tháng, không có mối liên hệ với thời tiết Tuy nhiên, trong 33 bệnh nhân nghiên cứu thì lại tập trung nhiều ở các tháng 4, 7, 8
Số bệnh nhân
Trang 353.1.6 Đặc điểm lâm sàng
Bảng 3.5: Triệu chứng lâm sàng khi vào viện:
Triệu chứng
Đủ tháng (n = 20)
Đẻ non (n = 13)
Trang 36Nhận xét: Hầu hết trẻ sơ sinh viêm phổi được nghiên cứu đều không có
Biểu đồ 3.3: Hình ảnh Xquang phổi
Nhận xét: Hình ảnh Xquang phổi có tổn thương viêm lan toả là 16 bệnh
nhân, chiếm 48,5%, tổn thương tập trung rốn phổi là 13 bệnh nhân, chiếm 39,4% bệnh nhân
Trang 373.1.7.2 Đặc điểm xét nghiệm huyết học
Nhận xét: Số lượng bạch cầu bình thường chiếm tỷ lệ cao ở cả hai nhóm
đẻ non (76,9%) và đẻ đủ tháng (90,0%), chỉ có 1 trường hợp có ≥ 20.000BC/mm3, chiếm 3,0%
Bảng 3.7: Số lượng bạch cầu đa nhân trung tính
≥ 5.000 17 51,5 11 55,0 6 46,1
Tổng 33 100 20 100 13 100
Nhận xét: Số lượng bạch cầu đa nhân trung tính trong giới hạn bình
thường của cả hai nhóm chiếm 13 trường hợp, chiếm 39,4%, có 3 trường hợp bạch cầu đa nhân trung tính thấp, chiếm tỷ lệ 9,1%
Trang 38Nhận xét: 72,7 % viêm phổi sơ sinh có chỉ số CRP ≤ 10 mg/l, sự khác
biệt giữa hai nhóm là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
3.2 KẾT QUẢ VỀ VI KHUẨN GÂY BỆNH
3.2.1 Phân bố tác nhân gây bệnh
Trong số 33 trẻ sơ sinh được nghiên cứu, có tổng số vi sinh vật cấy dương tính là 48 vi sinh vật (trong đó có 2 trường hợp nhiễm nấm, chiếm 4,2%): nhiều trường hợp dương tính với 2, 3 loại vi khuẩn gây bệnh
Bảng 3.9: Phân bố vi khuẩn gây bệnh phân lập được
Trang 39Nhận xét: Hầu hết vi khuẩn phân lập được là Gram (-) chiếm 34/46
trường hợp Gặp nhiều nhất là Klebsiella pneumoniae với 21/46 , chiếm 45,6%, đứng thứ hai là Streptococcus pyogenes chiếm tỷ lệ 15,2 %
3.2.2 Tỷ lệ vi khuẩn Gram (-) và Gram (+) chung
26,1
73,9
Gram (-)Gram (+)
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ vi khuẩn Gram (+) và Gram (-) chung
Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi, vi khuẩn Gram (-) là tác nhân
gây viêm phổi sơ sinh chủ yếu, chiếm tỷ lệ 73,9 % Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Trang 403.2.3 Vi khuẩn gây viêm phổi cộng đồng và viêm phổi bệnh viện
Biểu đồ 3.5 Vi khuẩn gây viêm phổi bệnh viện và viêm phổi cộng đồng Chú thích:
A: Klebsiella pneumoniae E : Acinobacter
B: Streptococcus pyogenes F : Pseudomonas aeruginosa
C: E.coli G: Streptococcus B
D: Staphylococcus aureus H: Ste maltophilia
Nhận xét : Tác nhân gây viêm phổi cộng đồng và bệnh viện chủ yếu là Klebsiella pneumoniae, Streptococcus pyogenes