Nguyễn Trần Thị Giáng Hương Trưởng Phòng Quản Lý Đào Tạo Đại Học trường Đại học Y Hà Nội, chủ nhiệm đề tài: “Nghiên cứu xây dựng quy trình và công cụ thu nhận phản hồi của sinh viên về
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban giám hiệu, các thày, cô giáo
Trường Đại học Y Hà Nội đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho em kiến thức
chuyên môn, hết lòng giúp đỡ em trong sáu năm học tập tại trường
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Trần Thị Giáng Hương
Trưởng Phòng Quản Lý Đào Tạo Đại Học trường Đại học Y Hà Nội, chủ
nhiệm đề tài: “Nghiên cứu xây dựng quy trình và công cụ thu nhận phản hồi
của sinh viên về hoạt động giảng dạy của giảng viên trường Đại học Y Hà Nội” đã cho phép em tham gia và sử dụng một phần số liệu của đề tài này để
thực hiện Khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn thày/cô ở Phòng Đào Tạo Đại Học Trường
Đại học Y Hà Nội đã giúp đỡ em trong quá trình làm Khóa luận
Em xin cảm ơn thày/cô Bộ môn Giáo Dục Sức Khỏe, Trường Đại học
Y Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, đóng góp những ý kiến quý báu cho
em thực hiện và hoàn thành Khóa luận này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS Lê Thị
Tài - Phó trưởng Bộ môn Giáo Dục Sức Khỏe đã tận tình hướng dẫn, chỉ
bảo, giúp đỡ cũng như động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn
thành Khóa luận tốt nghiệp như ngày hôm nay
Con luôn luôn ghi nhớ gia đình đã động viên, cổ vũ con trong cuộc
sống, trong học tập, trong quá trình thực hiện Khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đã giúp đỡ, chia sẻ cùng tôi những
khó khăn, kiến thức cũng như kinh nghiệm để hoàn thành Khóa luận này
Hà Nội, ngày 24 tháng 05 năm 2011
Nguyễn Thu Hà
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Đây là một phần số liệu của đề tài: “Nghiên cứu xây dựng quy trình và
công cụ thu nhận phản hồi của sinh viên về hoạt động giảng dạy của giảng
viên trường Đại học Y Hà Nội”, em đã được chủ nhiệm đề tài: PGS.TS
Nguyễn Trần Thị Giáng Hương cho phép sử dụng để thực hiện Khóa luận
Số liệu, kết quả nêu trong Khóa luận được tính toán trung thực, chính
xác và chưa được công bố trong công trình tài liệu nào
Người thực hiện khóa luận
Nguyễn Thu Hà
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Chất lượng giáo dục đại học 3
1.1.1.Khái niệm chất lượng giáo dục đại học 3
1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục 4
1.2 Quy trình thực hiện phản hồi hoạt động giảng dạy 6
1.2.1 Tại sao phải phản hồi hoạt động giảng dạy 6
1.2.2 Công cụ thực hiện lấy ý kiến phản hồi và tính giá trị
của nó
8
1.2.3 Tính giá trị của kết quả sinh viên phản hồi giảng dạy -
ưu điểm và nhược điểm
9
1.3 Thực trạng công tác lấy ý kiến phản hồi về hoạt động
giảng dạy giảng viên trong các trường Đại học ở nước ta
10
1.4 Thực trạng vấn đề lấy ý kiến phản hồi của sinh viên về
hoạt động giảng dạy của giảng viên tại trường Y Hà Nội
13
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
16
2.1 Địa điểm nghiên cứu 16
2.2 Đối tượng nghiên cứu 16
2.3 Thời gian thu thập số liệu 16
2.4 Phương pháp nghiên cứu 16
Trang 72.4.1 Thiết kế nghiên cứu 16
2.4.1 Mẫu nghiên cứu 16 2.5 Nội dung và chỉ số nghiên cứu 17
2.6 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 19
2.7 Xử lý số liệu 20 2.8 Một số sai số có thể gặp và cách khống chế sai số 20
2.9 Đạo đức nghiên cứu 20
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
3.1 Thông tin chung về các đối tượng nghiên cứu 21
3.2 Thông tin phản hồi của sinh viên về nội dung bài giảng 22
3.3 Thông tin phản hồi của sinh viên về phương pháp giảng
dạy của giảng viên
28
3.4 Thông tin phản hồi của sinh viên về tài liệu phục vụ
giảng dạy
35
3.5 Thông tin phản hồi của sinh viên về trách nhiệm và sự
nhiệt tình của giảng viên
38
3.6 Thông tin phản hồi của sinh viên về kiểm tra đánh giá
sinh viên
42
3.7 Thông tin phản hồi của giảng viên về tác phong sư phạm
của giảng viên
43
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 45
4.1 Thông tin phản hồi của sinh viên về nội dung bài giảng 45
Trang 84.2 Thông tin phản hồi của sinh viên về phương pháp giảng
dạy của giảng viên
48
4.3 Thông tin phản hồi của sinh viên về tài liệu phục vụ
giảng dạy
51
4.4 Thông tin phản hồi của sinh viên về trách nhiệm và sự
nhiệt tình của giảng viên
51
4.5 Thông tin phản hồi của sinh viên về kiểm tra đánh giá
sinh viên
52
4.6 Thông tin phản hồi của sinh viên về tác phong sư phạm
của giảng viên
Trang 9Bảng 3.4 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ phù hợp của nội
dung bài giảng với trình độ của sinh viên
25
Bảng 3.5 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ phù hợp của khối
lượng kiến thức với trình độ của SV
26
Bảng 3.6 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ phù hợp của bố
cục bài giảng được sắp xếp hợp lý
26
Bảng 3.7 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ phù hợp về việc
phân chia thời gian giảng cho từng nội dung trong bài
27
Bảng 3.8 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ phù hợp của các
ví dụ minh họa với nội dung bài giảng, giúp SV hiểu bài hơn
28
Bảng 3.9 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ tốc độ nói của
GV để SV nghe
29
Bảng 3.10 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ dễ nghe mà GV
nói to (hoặc dùng micro) để SV nghe rõ
30
Bảng 3.11 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ mức độ giảng dễ
hiểu của GV
30
Trang 10Bảng 3.12 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ tạo cơ hội để SV
đặt câu hỏi của GV
31
Bảng 3.13 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ giảng bài hấp
dẫn, sinh động, lôi cuốn của GV
32
Bảng 3.14 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ sử dụng thành
thạo các phương tiện dạy học (Overhead, projector, …) của GV
33
Bảng 3.15 Ý kiến của SV về mức độ thường xuyên sử dụng
nhiều cách để kiểm tra người học đã hiểu hết nội dung bài của
GV
34
Bảng 3.16 Ý kiến của SV về mức độ tạo cho người học niềm
đam mê học hỏi, tìm hiểu, nghiên cứu của GV
35
Bảng 3.17 Ý kiến SV về chữ viết mức độ rõ của các slide/giấy
trong/chữ viết trên bảng
36
Bảng 3.18 Ý kiến SV về mức độ phù hợp của các tài liệu được
phát với bài giảng
37
Bảng 3.19 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ hấp dẫn của tài
liệu mà GV chuẩn bị
38
Bảng 3.20 Ý kiến của SV về mức độ phù hợp của các mô hình/
dụng cụ/hình ảnh minh họa với nội dung bài giảng
38
Bảng 3.21 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ GV thường
xuyên giao tiếp, thân thiện, cởi mở khi giảng bài
39
Bảng 3.22 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ GV luôn khuyến
khích người học tham gia bài giảng
40
Bảng 3.23 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ thường xuyên
giải đáp thắc mắc một cách nhiệt tình, thỏa đáng của GV
40
Trang 11Bảng 3.24 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ sẵn sàng giúp
đỡ/ hướng dẫn cách học cụ thể, rõ ràng cho SV của GV
41
Bảng 3.25 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ cởi mở với
những quan điểm trái ngược nhau của GV
42
Bảng 3.26 Ý kiến phản hồi của SV về mức độ khuyến khích
lối tư duy độc lập của SV
42
Bảng 3.27 Ý kiến phản hồi của SV về kiểm tra, đánh giá SV 43 Bảng 3.28 Ý kiến phản hồi của SV về thời gian lên lớp của GV 44
Trang 12Biểu đồ 3.2 Ý kiến phản hồi của SV về vấn đề giới thiệu tài liệu
học tập tham khảo của GV
Biểu đồ 3.5 Ý kiến phản hồi của SV về việc thực hiện thời khóa
biểu, thông báo trước khi thay đổi lịchcủa GV
45
Biểu đồ 3.6 Ý kiến phản hồi của SV về thái độ thân thiện, tôn
trọng lẫn nhau, có sự hợp tác tốt giữa GV - SV
45
Trang 13TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu Tiếng Việt
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Công văn số 1276/BGD ĐT-NG, ngày
20/2/2008 về Hướng dẫn tổ chức lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên
2 Bộ giáo dục và Đào tạo (2010), Công văn số2754/BGDĐTNGCBQLGD
về việc hướng dẫn lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên
3. Nguyễn Đức Chính (2002), “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại
học”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.60, 489-490
4 Lê Đình (2008), Đánh giá giảng dạy – Một nhân tố quan trọng trong đảm
bảo và nâng cao chất lượng giáo dục đại học
bao-va-nang-cao-chat-luong-giao-duc-dai-hoc/711( 1/10/2010)
http://ussh.edu.vn/danh-gia-giang-day-mot-nhan-to-quan-trong-trong-dam-5 Phạm thị Minh Đức (1998), “Nghiên cứu thực trạng phương pháp dạy
học và lượng giá tại một số bộ môn của Trường Đại học Y Hà Nội”, Báo cáo
nghiên cứu
6 Phạm Thị Minh Đức và cs (1998), Dạy - học tích cực trong đào tạo y học,
Trường Đại học Y Hà Nội, Bộ môn Giáo Dục Y Học
7 Nguyễn Quang Giao (2009), “Đảm bảo chất lượng giáo dục và kinh
nghiệm của một số trường đại học trên thế giới”, Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 4(33), tr 125
8 Nguyễn Văn Hiến (2008), “Ý kiến phản hồi của sinh viên cử nhân khoa y
tế công cộng và sinh viên điều dưỡng về phương pháp học tập dựa trên vấn đề”, Y học thực hành, số 643, tr 171
Trang 149 Lê Thu Hòa, Nguyễn Đức Hinh, Lê Thị Tài (2010), “Khảo sát ý kiến
sinh viên về hoạt động dạy học môn đạo đức y học tại 8 trường đại học y của Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu Y học, tập 71, số 6, tr 124
10 TSKH Nguyễn Phụng Hoàng (2011), “Bàn về phiếu phản hồi của SV
đánh giá chất lượng giảng dạy ở ĐH”, Báo giáo dục và thời đại, truy cập ngày 03/03/2011
11 Trần Huỳnh (2011), Sinh viên đánh giá giảng viên mỗi trường một kiểu
Báo giáo dục Thành Phố Hồ Chí Minh, truy cập ngày 22/5/2011
12 Nguyễn Công Khanh (2008), “ Phong cách học của sinh viên", Đại học
sư phạm Hà Nội
13 Lê thị Tài (2007), Problem-based-learning in Health Education,
International conference on problem-based- learning, 2007
14 Châu Thanh và cs (2009), Sinh viên đánh giá giảng viên: Ngại nói thật,
Báo tin 180 cập nhật ngày 7/12/2009
15 Phạm Xuân Thanh (2005), “Đảm bảo chất lượng giáo dục Đại học: Sự
vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục số 115, kỳ 1, tháng
6 năm 2005
16 Thủ Tướng Chính Phủ (2006), Chỉ thị 33/2006/CT-TTg của Thủ tướng
Chính phủ về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục
17 Trường Đại học Đà Nẵng, Lấy ý kiến phản hồi từ người học,
http://www.udn.vn/Default.asp?news=192 (truy cập ngày 01/10/2010)
18 Trường Đại học Thăng Long, Phiếu nhận xét môn học
19 Trường Đại học Y Hà Nội , Đơn vị Đào tạo và Tư vấn Giáo dục Y học
(2008), “Thực trạng dạy học tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2008”, Dự án Việt Nam Hà Lan
20 Phạm Thị Phương Uyên, Sinh viên đánh giá giảng viên - đôi điều cần
bàn, Bài báo cáo, Trường ĐH Nha Trang
Trang 1521 Hoàng Ngọc Vinh và cs, “Hướng dẫn dạy và học trong giáo dục đại
học”, tr 265-271
Tài liệu Tiếng Anh
22 Abrami, P C, d’Apollonia, S., & Rosenfield, S (1997), The
dimensionality of student ratings of instruction: What we know and what we
do not, In R P Perry & J C Smart (Eds.), Effective teaching in higher
education: Research and practice (pp 321-367), New York: Agathon Press
23 Burrows, A & Harvey, L (1993), “ Defining quality in higher
education – the stakeholder approach”, In M Shaw & E Roper (Eds)
24 Caulk, N (1994), “Comparing teacher and student responses to written
work”, TESOL Quarterly, 28(1), pp.181-188
25 DeFina, A (1996) An effective alternative to faculty evaluation: The use
of the teaching portfolio, ERIC Document Reproduction Service No ED 394
- 561)
26 Forsythe, I Jolliffe, A & Stevens, D (1995), “Evaluating a Course:
Practical strategies for teachers, lecturers and trainers”, Kogan page, Londo
27 Germain, M L., & Scandura, T (2005), Grade inflation and student
individual differences as systematic bias in faculty evaluations, Journal of
Instructional Psychology, 32, pp.58-67
28 Griffin, B (2004), Grading leniency, grade discrepancy, and student
ratings of instruction Contemporary Educational Psychology, 29,
pp.410-425
29 Harvey và Green (1993), Quality in Education and Training, pp.44-50
30 Marsh, H W., & Roche, L A (1993), The use of students evaluations
and an individually structured intervention to enhance university teaching effectiveness, American Educational Research Journal, 30(1), pp.217-251
Trang 1631 Rollinson, P (1998), “Peer Response and Revision in an ESL Writing
Group”, A Case Study, Universidad Antonoma de Madrid
32 Stratton, R W, Myers, S C, & King, R H (1994), Faculty behavior,
grades, and student evaluations, Journal of Economic Education, 25, p.5-15
33 Theall, Michael and Franklin, Jennifer, Eds (1990), Student
Ratings of Instruction: Issues for Improving Practice, New Directions in Teaching and Learning, No 43, Jossey-Bass Inc
34 Ulrich, T A (2005), The relationship of business major to pedagogical
strategies Journal of Education for Business, 80, p.269-274
35 Wachtel, H K (1998), Student evaluation of college teaching
effectiveness: A brief review, Assessment and Evaluation in Higher
Education, 23, p.191-211
36 Whitworth, J E., Price, B A., & Randall, C H (2002), Factors that
affect college of business student opinion of teaching and learning, Journal of
Education for Business, 77, p.282-289
37 York University (2000), Teaching Assessment and Evaluation Guide,
www.yorku.ca/secretariat/senate/committees
Trang 17PHỤ LỤC
Phụ lục 1
PHIẾU LẤY Ý KIẾN PHẢN HỒI CỦA SINH VIÊN VỀ HOẠT ĐỘNG GIẢNG
DẠY CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NĂM HỌC 2010- 2011
Để góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng dạy/học của Trường Đại học Y Hà Nội, đề nghị
bạn nêu ý kiến và đánh giá về một số nội dung liên quan đến hoạt động giảng dạy của
giảng viên mà bạn vừa được học Các thông tin bạn cung cấp sẽ được giữ bí mật và chỉ
phục vụ cho mục đích nâng cao chất lượng dạy/học của trường
THÔNG TIN CHUNG
1 Tên môn học………Học tại giảng đường:………
2 Tên bài giảng:………
3 Tên giảng viên: ………
4 Sinh viên khối Y……….Hệ đào tạo:………
5 Giảng viên đã giảng cho lớp của bạn bao nhiêu buổi trong môn học này? …buổi 6 Tính đến hôm nay, bạn đã nghe bao nhiêu buổi giảng của môn học này
buổi)
Bạn hãy khoanh tròn vào chữ số phù hợp với mức độ/câu trả lời mà bạn lựa chọn cho từng nội dung dưới đây:
1 VỀ NỘI DUNG BÀI GIẢNG
C.1.Giảng viên có trình bày mục tiêu bài giảng không? 1 C
ó
2 Không =>C3
C.2.Nếu có,
1 Mục tiêu có rõ ràng không? 1 C
ó
2 Không
2 Theo bạn, mục tiêu có khả năng thực hiện được không? 1 C
ó
2 Không
C.3.Cách mở bài của giảng viên có thu hút người học không? 1 C
ó
2 Không
C.4.Nội dung bài giảng:
1 Nội dung bài giảng có phù hợp với mục tiêu không? 1 Có 2
Không
3 Giảng viên không nêu mtiêu
2 Nội dung bài giảng có đáp ứng đầy đủ các mục tiêu không? 1 Có 2
Không
3 Giảng viên không nêu mtiêu
3 Nội dung bài giảng cập nhật, mở rộng kiến thức không? 1 Có 2 Không
4 Nội dung bài giảng có thú vị và hấp dẫn không? 1 Có 2 Không
Trang 18Các mức độ:
1.Rất phù hợp 2.Tương đối phù hợp 3 Không phù hợp (Khoanh vào mức độ tương ứng)
5 Nội dung bài giảng phù hợp với trình độ của sinh viên 1 2 3
6 Khối lượng kiến thức phù hợp với trình độ của sinh viên 1 2 3
7 Bố cục bài giảng được sắp xếp hợp lý 1 2 3
8.Phân chia thời gian giảng cho từng nội dung trong bài có phù
C.5.Giảng viên có giới thiệu tài liệu học tập và tài liệu tham khảo
(sách, web, ….) không? 1 Có 2 Không
2 VỀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN
C.6.Về phương pháp giảng dạy của giảng
viên
(Khoanh vào mức độ tương ứng)
1 Tốc độ nói của giảng viên có phù hợp để
sinh viên nghe không? 1 Quá nhanh 2 Nhanh 3 Vừa phải 4 Chậm 5 Rất chậm
2 Giảng viên có nói to (hoặc dùng micro)
để sinh viên nghe rõ không?
1 Rất dễ nghe
2 Khá dễ nghe
3 Vừa phải
3 Giảng viên giảng có dễ hiểu không? 1 Rất dễ
hiểu 2 Khá dễ hiểu 3 Vừa phải 4 Không
dễ hiểu
5
Không hiểu
4 Giảng viên có tạo cơ hội để sinh viên
đặt câu hỏi không? 1 Rất nhiều 2 Khá nhiều 3 Một vài lần 4 Rất ít 5 Hoàn toàn
không
5 Giảng viên giảng bài có hấp dẫn, sinh
động, lôi cuốn không? 1 Rất lôi cuốn 2 Khá lôi cuốn 3 Bình thường 4 Không lôi cuốn
lắm
5 Hoàn toàn không
6 Giảng viên có sử dụng thành thạo các
phương tiện dạy học (Overhead,
projector, …) không?
1 Rất thành thạo
2 Khá thành thạo
3 Bình thường
4 Không thành thạo
5 Không biết sử dụng
7 Giảng viên có áp dụng phương pháp
dạy học tích cực không ?
8 Giảng viên sử dụng nhiều cách để
kiểm tra người học đã hiểu hết nội
dung bài giảng
1 Luôn luôn 2 Thường
xuyên
3 Thỉnh thoảng 4 Hiếm khi 5 Hoàn toàn
không
9 Giảng viên tạo cho người học niềm
đam mê học hỏi, tìm hiểu, nghiên
cứu
1 Luôn luôn
2
Thường xuyên
3 Thỉnh thoảng
4 Hiếm khi
5 Hoàn toàn không
3 TÀI LIỆU PHỤC VỤ GIẢNG DẠY
C.7 Tài liệu phục vụ giảng dạy (Khoanh vào mức độ tương ứng)
1 Chữ viết của các slide/giấy
trong/chữ viết trên bảng đủ lớn để
nhìn rõ?
1 Rất rõ 2 Khá
rõ 3 Tương đối rõ 4 Khó nhìn 5 Không nhìn được
2 Giảng viên có phát tài liệu cho sinh
viên không? 1 Có 2 Không => chuyển C7.4
Trang 193 Các tài liệu được phát có phù hợp
với bài giảng không? 1 Rất phù hợp 2 Phù hợp 3 Khá phù hợp 4 Không phù hợp
lắm
5 Hoàn toàn không
4 Giảng viên chuẩn bị tài liệu có hấp
dẫn không?
1 Rất hấp dẫn
2 Khá hấp dẫn
3 Bình thường
4 Không hấp dẫn lắm
5 Hoàn toàn không
5 Các mô hình/dụng cụ/hình ảnh minh
họa phù hợp với nội dung bài giảng
1 Rất phù hợp
2 Phù hợp
3 Khá phù hợp
4 Không phù hợp lắm
5 Hoàn toàn không
4 TRÁCH NHIỆM VÀ SỰ NHIỆT TÌNH
CỦA GIẢNG VIÊN
(Khoanh vào mức độ tương ứng)
Các mức độ: 1 Luôn luôn 2 Thường xuyên 3 Thỉnh thoảng
4 Hầu như không 5 Hoàn toàn không
C.8 Giảng viên thường xuyên giao tiếp, thân thiện, cởi mở khi giảng bài 1 2 3 4 5
C.9 Giảng viên luôn khuyến khích người học tham gia bài giảng 1 2 3 4 5
C.10 Giảng viên giải đáp thắc mắc một cách nhiệt tình, thỏa đáng 1 2 3 4 5
C.11 Giảng viên sẵn sàng giúp đỡ/hướng dẫn cách học cụ thể, rõ ràng 1 2 3 4 5
C.12 Giảng viên cởi mở với những quan điểm trái ngược nhau 1 2 3 4 5
C.13 Giảng viên khuyến khích lối tư duy độc lập của sinh viên 1 2 3 4 5
5 VỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ SINH VIÊN
C.14 Giảng viên có kiểm tra, lượng giá cuối bài không? 1
C.17 Nội dung bài kiểm tra, lượng giá có phù hợp với nội dung bài giảng và
các tài liệu đã được trình bày trên lớp không? 1 Có 2 Không
6 TÁC PHONG SƯ PHẠM
2 Đến đúng giờ
3 Thỉnh thoảng đến muộn
4 Thường xuyên đến muộn 5 Đến rất muộn
C.19 Giảng viên thực hiện đúng thời khóa biểu, có thông báo trước khi thay
đổi lịch
1 Có 2 Không
C.20 Có thái độ thân thiện, tôn trọng lẫn nhau, có sự hợp tác tốt giữa GV- SV 1 Có 2 Không
C.21 Ý kiến đóng góp thêm về các hoạt động giảng dạy của giảng viên (nội dung bài
giảng, phương pháp giảng dạy, tài liệu dạy học,…)
………
………
………
Xin cảm ơn bạn đã có ý kiến!
Hà Nội, ngày tháng năm 2010
Điều tra viên
Trang 20ĐẶT VẤN ĐỀ
Cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của các cơ sở giáo dục trên thế giới Chất lượng đào tạo cao hay thấp là kết quả của nhiều quá trình, nhiều yếu tố khách quan và chủ quan tồn tại trong hệ thống giáo dục của một quốc gia nói chung và của các cơ sở giáo dục nói riêng Trong đó, quy trình đào tạo là một trong những khâu cơ bản quyết định chất lượng đào tạo
Quy trình đào tạo bao gồm: Chương trình giảng dạy, giáo trình và tài liệu
giảng dạy, phương pháp giảng dạy và học tập, kiểm tra và đánh giá [7]
Ở nước ta, thực hiện chỉ thị số 33/2006/CT-TTg ngày 08/09/2006 của Thủ tướng chính phủ về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục Từ năm học 2007-2008, các cơ sở giáo dục đại học đã thực hiện lộ trình xây dựng quy định về đánh giá, xếp loại giáo viên, giảng viên (GV) của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo [16]
Thực hiện theo thông báo số 2754/BGDĐT- NGCBQLGD ban hành ngày 20 tháng 5 năm 2010 của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo về việc lấy ý kiến phản hồi của sinh viên (SV) về phương pháp giảng dạy của GV Căn cứ kết quả triển khai thí điểm lấy ý kiến phản hồi từ SV về hoạt động giảng dạy của GV ở một
số trường đại học trong năm học 2008 - 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục hướng dẫn các trường đại học, học viện, cao đẳng tổ chức lấy ý kiến phản hồi từ SV, học viên cao học, nghiên cứu sinh về hoạt động giảng dạy của GV nhằm mục đích:
- Góp phần thực hiện quy chế dân chủ trong các cơ sở giáo dục đại học, xây dựng đội ngũ GV có phẩm chất đạo đức, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn cao, phương pháp và phong cách giảng dạy tiên tiến, hiện đại
Trang 21- Tạo thêm kênh thông tin giúp GV điều chỉnh hoạt động giảng dạy; nâng cao tinh thần trách nhiệm của GV trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của cơ sở giáo dục đại học
- Tăng cường tinh thần trách nhiệm của người học với quyền lợi, nghĩa vụ học tập, rèn luyện của bản thân; tạo điều kiện để người học được phản ánh tâm tư, nguyện vọng, được thể hiện chính kiến về hoạt động giảng dạy của
GV [2]
Trường Đại học Y Hà Nội là trường đại học có bề dày hơn 100 năm phát triển Đến nay nhà trường đã đào tạo trên 17.000 bác sĩ chính quy, khoảng 10.000 học viên sau đại học Với vai trò là trường trọng điểm quốc gia, trường Đại học Y Hà Nội đã không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Hiện nay có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo sinh viên y khoa, trong
đó vai trò của đội ngũ GV là đặc biệt quan trọng Kết quả nghiên cứu về:
“Thực trạng dạy học tại trường Đại học Y Hà Nội” năm 2008 cho thấy: Tỷ lệ
SV cho rằng GV thường xuyên giảng lý thuyết kết hợp với ví dụ, mô hình, tranh minh họa chiếm tỷ lệ 67%, nêu câu hỏi trong bài giảng lý thuyết (62,7%), các phương pháp dạy/học lý thuyết đang được áp dụng chủ yếu là thuyết trình đơn thuần (93,3)%, trình bày lý thuyết có mô hình tranh ảnh minh họa (92,3%) và trình bày lý thuyết có sử dụng bài tập (80,5%) (theo nhận định của SV) [19]
Trường Đại học Y Hà Nội đã có một số nghiên cứu [8], [13], về việc lấy ý kiến phản hồi của SV, tuy nhiên việc lấy ý kiến phản hồi mới chỉ thực hiện ở một số bộ môn mà chưa có tính đồng bộ, thường xuyên, hệ thống, theo quy trình và công cụ thống nhất Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “ Phản hồi của sinh viên về hoạt động giảng dạy của giảng viên
trường Đại học Y Hà Nội năm học 2010-2011” với mục tiêu:
Thu nhận và phân tích ý kiến phản hồi của SV về hoạt động giảng dạy của GV tại trường Đại học Y Hà Nội năm học 2010-2011
Trang 22CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Chất lượng giáo dục Đại học
Chất lượng giáo dục đại học được định nghĩa rất khác nhau tuỳ theo từng thời điểm và giữa những người quan tâm: SV, GV, người sử dụng lao động, các tổ
chức tài trợ và các cơ quan kiểm định (Theo Burrows và Harvey, 1993), trong
nhiều bối cảnh, nó còn phụ thuộc vào tình trạng phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước [23]
Trong các định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “chất lượng giáo dục đại học” của nhiều tác giả, định nghĩa của Harvey và Green (1993) có tính khái quát và
hệ thống hơn cả Họ đề cập đến năm khía cạnh chất lượng giáo dục đại học: Chất lượng là sự vượt trội ; chất lượng là sự hoàn hảo; chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu; chất lượng là sự đáng giá về đồng tiền và chất lượng là sự
chuyển đổi [29]
Trong “Khuôn khổ hợp tác khu vực về đảm bảo chất lượng giáo dục đại học”, SEAMEO (2003) đã sử dụng quan niệm “chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” trong việc khuyến khích các nước trong khu vực hợp tác với nhau.Tuy nhiên, sự phù hợp với mục tiêu được hiểu rất khác nhau giữa các quốc gia tuỳ theo đặc điểm văn hoá, hệ thống quản lý giáo dục và tình hình kinh tế xã hội của các nước Định nghĩa “chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” được coi là một định nghĩa phù hợp nhất đối với giáo dục đại học của nước ta Sự phù hợp với mục tiêu có thể bao gồm việc đáp ứng đòi hỏi của những người quan tâm như các nhà quản lý, nhà giáo hay các nhà nghiên cứu giáo dục đại học
Sự phù hợp với mục tiêu còn bao gồm cả sự đáp ứng hay vượt qua các chuẩn mực đã được đặt ra trong giáo dục và đào tạo Sự phù hợp với mục tiêu cũng
đề cập đến những yêu cầu về sự hoàn thiện của đầu ra, hiệu quả của đầu tư Mỗi một trường đại học cần xác định nội dung của sự phù hợp với mục tiêu trên cơ sở bối cảnh cụ thể của nhà trường tại thời điểm xác định mục tiêu đào
Trang 23tạo của mình Sau đó chất lượng là vấn đề làm sao để đạt được các mục tiêu
đó [15]
1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục Đại học
Chất lượng đào tạo thể hiện chính qua năng lực của người được đào tạo sau khi hoàn thành chương trình đào tạo gồm: khối lượng nội dung và trình độ kiến thức được đào tạo, kỹ năng thực hành được đào tạo, năng lực nhận thức
và năng lực tư duy được đào tạo, phẩm chất nhân văn được đào tạo [3]
Chất lượng giáo dục của một trường đại học phản ánh năng lực và uy tín của trường đại học đó, nó phụ thuộc vào 3 yếu tố: Cơ sở vật chất, tổ chức quản lý
và chất lượng của giảng viên Chất lượng của đội ngũ giảng viên đóng vai trò quan trọng quyết định chất lượng đào tạo [20]
Trong các trường đại học có thể nói rằng SV là nòng cốt của mọi việc liên quan đến giáo dục đại học Vì vậy các SV cần được tham gia các hoạt động trong việc đánh giá, đổi mới chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy Trong đó có việc đánh giá hoạt động giảng dạy của GV thông qua việc lấy ý kiến phản hồi Cho đến nay có rất nhiều nghiên cứu về việc sử dụng ý kiến phản hồi từ người học Caulk(1994) và Rollinson(1998) đã đúc kết từ kinh nghiệm thực tế của mình rằng 80% ý kiến phản hồi từ người học là có ích [24], [31]
Tại Úc trong các nội dung đánh giá chất lượng giáo dục đại học có mục viết nghiên cứu mức độ thỏa mãn của SV về chương trình đào tạo Để đánh giá được mức độ thỏa mãn của SV đối với khóa học của mình trên những khía cạnh khác nhau, bộ câu hỏi khảo sát ý kiến sinh viên về khóa học được sử dụng trong phạm vi cả nước trong 7 năm qua Bộ câu hỏi gồm 25 câu hỏi trên nhiều khía cạnh khác nhau: Phương pháp giảng dạy, mục tiêu và tiêu chuẩn khóa học đặt ra, khối lượng công việc, phương pháp đánh giá, những kỹ năng tối thiểu cần đạt, một câu hỏi riêng về độ thỏa mãn chung của SV Chúng trở thành một bộ phận cấu thành của công tác đánh giá số liệu trong phạm vi một
Trang 24trường hoặc liên trường Ngoài ra, số liệu thu thập được còn trở thành một phần nội dung những chỉ dẫn dành cho SV Các trường đại học ngày càng sử dụng kết quả trên nhiều hơn cho mục đích maketing cho trường mình [3] Nhiều người luôn luôn không thừa nhận tính hiệu lực và độ tin cậy của việc phản hồi GV thông qua những SV của chính họ Người ta cho rằng các SV không đủ khả năng để đưa ra những nhận xét có giá trị và xác đáng về nội dung của môn học Có điều phải thừa nhận rằng những ý kiến của SV là rất
có ích để GV biết được những điểm mạnh điểm yếu trong giảng dạy của họ cũng như về các phương pháp và biện pháp thực hiện mà GV đã áp dụng Việc đánh giá hoạt động giảng dạy của GV thông qua các SV của chính họ có thể xem như một dấu hiệu cảnh báo và một tín hiệu về chất lượng sư phạm của những phương pháp giảng dạy của GV và mối quan hệ tương tác giữa GV
đó với SV [21]
Chất lượng giáo dục Đại học ở Việt Nam hiện nay còn nhiều vấn đề để bàn luận tuy nhiên phong cách học tập của SV cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục Đại học Nhìn chung SV ở các trường Đại học nói chung còn mang tính thụ động Theo một nghiên cứu [12] kết quả cho thấy:
- Hơn 50% SV được khảo sát không thật tự tin vào các năng lực, khả năng học của mình
- Hơn 40% SV cho rằng mình không có năng lực tự học
- Gần 70% SV cho rằng mình không có năng lực tự nghiên cứu
- Gần 55% SV được hỏi cho rằng mình không thực sự hứng thú học tập
Trang 251.2 Quy trình thực hiện phản hồi hoạt động giảng dạy
1.2.1 Tại sao phải phản hồi hoạt động giảng dạy
Theo Tiến sỹ khoa học: Nguyễn Phụng Hoàng [10] đưa ra quy trình hoạt động giảng dạy như sau:
Với việc quan tâm đến mục đích đào tạo, chất lượng và nhận xét các bài giảng, thông tin phản hồi về các bài giảng đó, việc đánh giá có thể giúp GV hoàn thiện được bài giảng của họ do vậy sẽ nâng cao được chất lượng giảng dạy, nó cũng giúp tìm hiểu chắc chắn xem những mục đích của môn học hay một chương trình học tập đã đạt được hay chưa, hoặc giúp phát hiện ra những
sự bất cập giữa mong muốn của SV, dự định của người thầy và những yêu
cầu của môn học
Có nhiều lí do để thu thập thông tin về các hoạt động giảng dạy của GV GV muốn được biết việc giảng dạy của mình có hiệu quả hay không Cán bộ quản
lí muốn biết các môn học có thu hút được nhiều SV không Hiệu trưởng, trưởng khoa muốn có những minh chứng cụ thể trong việc đánh giá cán bộ của mình Các dữ liệu từ đánh giá giảng dạy sẽ giúp cho GV điều chỉnh và cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy hay nói cách khác là: “Tự điều chỉnh hoạt động giảng dạy” [1] Tạo nên một môi trường học tập tốt hơn cho SV
Trang 26Về mặt truyền thống, có thể phân biệt hai loại đánh giá giảng dạy đó là [26]:
Đánh giá hình thành và đánh giá tổng kết Đánh giá hình thành tập trung vào
việc thu thập và sử dụng thông tin nhằm cải tiến hoạt động dạy và học Loại đánh giá này nhằm vào việc xác định những lĩnh vực cần phải cải tiến chứ không phải đánh giá những gì đã làm được hoặc khuyếch trương các thành tích giảng dạy Loại đánh giá này chủ yếu được thực hiện bởi GV ở bất kì thời điểm nào trong học kì, có thể tại lớp hoặc tại các địa điểm khác (mạng internet, phòng thí nghiệm, địa điểm đi thực tế, thực địa…) Thông tin phản hồi có thể thu được từ các nguồn khác nhau như: GV tự đánh giá, SV đánh giá, đánh giá qua đồng nghiệp và người hướng dẫn (đối với GV trẻ và GV tập
sự) Công cụ sử dụng có thể là phiếu điều tra (bằng giấy hoặc online) Đánh
giá tổng kết được tiến hành với mục đích xem xét về hiệu quả của hoạt động
giảng dạy của GV Kết quả của đánh giá tổng kết được dùng để bổ nhiệm các chức danh GV hoặc sử dụng cho việc đề bạt, khen thưởng hoặc tăng lương Lãnh đạo khoa và trường cũng có thể sử dụng kết quả này để quyết định thay đổi nội dung, chương trình đào tạo hoặc môn dạy của GV Đánh giá này thường được tiến hành sau khi kết thúc môn học hoặc vào một thời điểm nhất định trong quá trình công tác của GV Để đảm bảo tính toàn diện và tiêu biểu, việc đánh giá này được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau như:
- Thư góp ý của SV về tính hiệu quả của hoạt động giảng dạy của GV, chất lượng của những kiến thức mà SV thu được và tác dụng của chúng lên quá trình tiến bộ của SV
- Đánh giá bởi đồng nghiệp dựa trên hình thức dự giờ tại lớp
- Hồ sơ giảng dạy của GV
Điều cần lưu ý là hai loại đánh giá trên phải tách biệt nhau Đánh giá hình thành hướng đến tương lai, nghĩa là làm cho GV phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu đã có trong hoạt động giảng dạy của mình Ngược lại, đánh giá tổng kết hướng về quá khứ, nghĩa là nhằm mục đích đánh giá các
Trang 27thành tích cụ thể mà GV đã thu được Thông thường, GV sẽ tìm cách che dấu nhược điểm của mình nếu họ biết rằng kết quả của đánh giá hình thành được
sử dụng để thực hiện các quyết định nào đó liên quan đến sự nghiệp của họ Nếu trong trường hợp các quyết định này cần được thực hiện thì những dữ liệu thu được phải độc lập với quá trình đánh giá hình thành Vì vậy, các thông tin thu được trong đánh giá hình thành không nên sử dụng cho đánh giá tổng kết trừ khi được GV tự nguyện đồng ý và những người tham gia vào đánh giá hình thành không nên cung cấp thông tin cho việc đánh giá tổng kết [37] Như vậy việc lấy ý kiến phản hồi của SV là đánh giá hình thành
1.2.2 Công cụ thực hiện lấy ý kiến phản hồi và tính giá trị của nó
Để thực hiện được việc phản hồi của SV về công tác giảng dạy, các trường cần phải thống nhất câu hỏi trong phiếu phản hồi của SV Phiếu phản hồi của
SV về công tác giảng dạy cũng là một công cụ đo lường, do đó cũng phải có hai tính chất cơ bản là tính giá trị và độ tin cậy Trong đó tính giá trị là tính chất có thể đo được cái chúng ta cần đo Độ tin cậy cho biết mức độ chính xác
hay không chính xác đến đâu của công cụ đo lường [10]
Ngoài giá trị nội dung nghĩa là các câu hỏi trong phiếu phản hồi của SV, phải phản ảnh những khía cạnh chúng ta cho là quan trọng nhất trong công tác giảng dạy, cần phải chú ý đến một số yếu tố khác có thể ảnh hưởng hay chi phối tính giá trị của bộ câu hỏi Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới, nhất là ở Hoa kỳ, về vấn đề này từ khi việc dùng phiếu phản hồi để theo dõi giờ giảng trong những năm 1960 (Theo Marsh & Roche, 1993; Abrami, d’Apollonia, & Rosenfield, 1997) [22], [30]
Theo DeFina (1996), việc kết hợp ba phương pháp đánh giá (từ phiếu phản hồi của SV, học sinh, từ đồng nghiệp hay cấp quản lý giáo dục và tự đánh giá của GV) sẽ cho một kết quả đánh giá có tính giá trị cao hơn khi chỉ dùng phiếu phản hồi của SV, học sinh [25] Việc phản hồi của học sinh, SV qua phiếu câu hỏi cũng không thực sự phản ánh tính hiệu quả trong công tác
Trang 28giảng dạy (Theo Stratton, Myers, & King, 1994) [32]; kết quả dùng phiếu phản hồi để đánh giá hoạt động giảng dạy của GV có thể chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, như ngành học của SV, tính phái của người điền phiếu câu hỏi,
và SV cấp cử nhân hay cao học (Ulrich, 2005; Whitworth và đồng sự (2002)[34], [36] Một số GV cho rằng kết quả đánh giá của phiếu phản hồi của SV
có tương quan với điểm GV chấm bài và hạ chuẩn khi chấm điểm (Theo Germain & Scandura, 2005; Griffin, 2004; Wachtel, 1998)[27], [28], [35]
1.2.3 Tính giá trị của kết quả sinh viên phản hồi giảng dạy, ưu điểm và nhược điểm [4], [33]
Đối với GV của các trường Đại học kết quả phản hồi của SV có thể được sử dụng vào các mục đích khác nhau Dữ liệu được cung cấp sẽ được tích luỹ dần trong hồ sơ GV để làm minh chứng cho sự tiến bộ trong giảng dạy Thông tin thu được từ SV có thể được GV sử dụng để cải tiến công tác giảng dạy, để tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu trong quá trình giảng dạy những môn khác nhau và những lớp khác nhau Thông tin thu được từ SV sau một vài năm cũng sẽ hữu ích cho việc bổ sung, cập nhật nội dung các môn học Bằng việc sử dụng các bộ câu hỏi giống nhau, việc đánh giá giảng dạy bởi SV
có ưu điểm là đánh giá tất cả GV theo một chuẩn chung và dễ dàng đưa ra sự
so sánh giữa các môn học và giữa các ngành học Dữ liệu thu được cũng được dùng để kiểm tra lại mục tiêu đào tạo của khoa/bộ môn Các bộ câu hỏi có cấu trúc thường được sử dụng đối với trường hợp số SV lớn và đối với các môn học có mục tiêu và phương pháp giảng dạy tương tự Đối với những lớp
có số lượng SV ít nên có một vài câu hỏi mở để thu thập các thông tin trực tiếp hơn về GV và môn học
Việc đánh giá dựa vào SV có những hạn chế sau:
* Có một số lĩnh vực cụ thể về chất lượng giảng dạy mà SV không thể có đánh giá chính xác, chẳng hạn như là mục tiêu, nội dung môn học, đánh giá hoạt động học tập của SV Vì vậy để giảm thiểu điều này, cần phải sử dụng
Trang 29nhiều loại kĩ thuật thu thập ý kiến khác nhau ngoài phiếu điều tra thông thường
* Có một số yếu tố khó kiểm soát như động cơ học tập của SV, tính phức tạp của tài liệu, mức độ khó dễ của môn học Vì vậy, khi phân tích kết quả thu được cần dựa trên nhiều nguồn dữ liệu khác nhau và sự so sánh giữa các môn học khác nhau
* GV thường có những khả năng, giải pháp và mục tiêu giảng dạy khác nhau
mà một bộ câu hỏi sẵn có không thể đánh giá một cách phù hợp các hoạt động giảng dạy của họ
1.3 Thực trạng công tác lấy ý kiến phản hồi về hoạt động giảng dạy
giảng viên trong các trường Đại học ở nước ta
Từ năm học 2007 - 2008 Bộ Giáo Dục ban hành công văn số 1276/BGDDT [1] về việc lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của GV Rất nhiều trường đại học, cao đẳng trong cả nước đã thực hiện công tác lấy ý
kiến phản hồi của SV về hoạt động giảng dạy của GV
Có thể nói việc việc lấy ý kiến phản hồi của SV là một công việc khá mới mẻ đối với giáo dục Đại học nước ta Hiện nay việc lấy ý kiến phản hồi đang được hiểu và thực hiện theo nhiều cách khác nhau ở các trường đại học
Một số ví dụ về công tác lấy ý kiến phản hồi của SV ở một số trường Đại học (ĐH) như sau:
Trường ĐH Thăng Long, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trường đã thực hiện phát phiếu nhận xét môn học cho SV Phần đánh giá môn học bao gồm 9 câu hỏi, SV có 5 lựa chọn rất không đồng ý, không đồng ý, bình
thường, đồng ý, rất đồng ý [18]
ĐH Khoa học Tự nhiên (Hà Nội) thiết kế phiếu với 30 câu hỏi về phương pháp giảng dạy của GV và sự quan tâm của GV tới lớp học Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội thiết kế phiếu đánh giá gồm 7 - 8 câu hỏi, tập trung vào 3 nội dung chính: Giảng dạy có phong phú không, có mở rộng vấn
Trang 30đề khỏi giáo trình hay không; phương pháp truyền thụ có gợi mở, hấp dẫn
không; trong quá trình lên lớp GV có bao quát lớp không [14]
Tuy nhiên, phiếu điều tra do các trường tự thiết kế cũng khác nhau Trường
ĐH Sư phạm (ĐH Huế) đã sử dụng phiếu điều tra gồm có 3 nội dung [4]:
- Phần A gồm 20 câu, được chia thành 5 nhóm: Liên quan đến kiến thức (5 câu); liên quan đến phương pháp giảng dạy (5 câu); liên quan đến việc sử dụng phương tiện - tài liệu học tập (3 câu); liên quan đến kiểm tra, đánh giá
SV (3 câu); liên quan đến quan hệ, giao tiếp giữa GV và SV (4 câu) Yêu cầu trả lời ở phần này là SV chọn những mức độ: 1 Hoàn toàn không đồng ý 2 Không đồng ý, 3 Đồng ý, 4 Hoàn toàn đồng ý
- Phần B gồm 5 câu hỏi trắc nghiệm đa lựa chọn Mỗi câu có 4 phương án lựa chọn khác nhau về các phương pháp mà các GV thường sử dụng trong giảng dạy và kiểm tra, đánh giá
- Phần C gồm 2 câu hỏi mở, đây là phần dành cho SV ghi nhận xét và đề xuất đối với GV đang được đánh giá
Phiếu điều tra của ĐH Đà Nẵng bao gồm 14 câu với hai mức trả lời là có và không Khi trả lời không, SV chọn tiếp một trong 3 tùy chọn khác, phiếu cũng
có phần mở để SV ghi lời nhắn cho GV được đánh giá [14]
Một số trường ĐH ở Thành Phố Hồ Chí Minh đã tiến hành lấy ý kiến phản hồi từ năm học 2007 – 2008 [11]:
Trường ĐH Bách Khoa (ĐH Quốc gia TPHCM) lấy ý kiến SV về GV theo chuẩn đầu ra mà nhà trường xây dựng; Trường Đại học Khoa học Tự nhiên chỉ lấy ý kiến SV qua mạng về khảo sát môn học, khóa học để đánh giá chất lượng đào tạo
ĐH Kỹ thuật công nghệ TPHCM chỉ chọn 20 SV/lớp/học phần tham gia khảo sát về hiệu quả môn học Các SV này là cán bộ lớp, cán bộ Đoàn - Hội hoặc
SV học tập tích cực, chuyên cần Khi GV dạy xong học phần, phòng khảo thí
Trang 31và kiểm định chất lượng trường phối hợp với các khoa phát phiếu cho SV để khảo sát hoạt động giảng dạy của GV
Việc xử lý kết quả khảo sát hiện là vấn đề khiến nhiều trường lúng túng nhất Sau đợt khảo sát, mỗi GV Trường ĐH KHXH&NV (ĐH Quốc gia TPHCM) được nhận một CD kết quả dữ liệu của mình Những GV bị đánh giá thấp, ban giám hiệu sẽ gửi thư yêu cầu họ tự điều chỉnh hoạt động giảng dạy Còn
ĐH Kỹ thuật công nghệ TPHCM sau khi xử lý kết quả khảo sát đã đăng tải toàn bộ lên mạng nội bộ của từng khoa
Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TPHCM) đã triển khai “khảo sát môn học” trong SV chính quy từ cuối học kỳ 2 năm học trước Theo đó, việc khảo sát này được thực hiện qua mạng lấy ý kiến đánh giá của SV Ngoài
ra, trường còn phát “phiếu khảo sát khóa học” lấy ý kiến SV vừa tốt nghiệp Tuy nhiên, việc khảo sát này không ghi tên GV mà SV chỉ đánh giá các môn học
ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TPHCM) lần lượt khảo sát 30% tổng số môn học (chọn ngẫu nhiên) vào cuối mỗi học kỳ bằng cách phát
“phiếu khảo sát môn học” đến tất cả SV hệ chính quy theo học các môn đó Đến nay, tất cả GV của ĐH Kinh tế TP.HCM đều đã được khảo sát ít nhất một lần Phòng khảo thí - đảm bảo chất lượng trường triển khai phát “phiếu đánh giá môn học” lấy ý kiến SV chính quy trong sáu tuần cuối ngay sau khi kết thúc học phần
Đối với trường ĐH Khoa học tự nhiên TPHCM thì việc lấy ý kiến phản hồi của SV về hoạt động giảng dạy của GV chỉ mang tính tham khảo Kết quả khảo sát là thông tin nội bộ của ban giám hiệu, phòng công tác SV và phòng đào tạo Trường chưa sử dụng kết quả trên vào việc đánh giá GV”
ĐH Sư phạm kỹ thuật TPHCM là một trong số rất ít trường thực hiện khá bài bản và hiệu quả việc lấy ý kiến phản hồi từ người học Ngay từ đầu, ĐH Sư phạm kỹ thuật đã thành lập ban chỉ đạo và xây dựng quy định về công việc
Trang 32phản hồi từ SV, công bố rõ đến từng GV Trường còn quy định rõ việc sử dụng thông tin phản hồi, trách nhiệm thực hiện của mỗi người và cả chế độ lưu trữ Cách tổ chức và việc xây dựng tiêu chí rõ ràng nên được hầu hết GV ủng hộ Trường xây dựng hai loại phiếu lấy ý kiến về hoạt động giảng dạy lý thuyết và hướng dẫn thực hành của GV riêng biệt, SV dễ dàng đánh giá Sau khi xử lý, kết quả khảo sát được giao cho trưởng khoa và gửi đến từng GV Các GV có quyền đưa ra ý kiến phản hồi của mình và phải nêu ra minh chứng cần thiết cho trưởng khoa về ý kiến phản hồi của SV Đồng thời có trách nhiệm thảo luận và đăng ký với trưởng khoa về kế hoạch khắc phục ý kiến phản hồi chưa tốt, nâng cao chất lượng hoạt động giảng dạy
Có thể thấy mỗi trường tổ chức đánh giá theo mỗi kiểu khác nhau.Theo thông tin từ các trường chất lượng đánh giá các câu hỏi của SV là điều đáng bàn và
do đó kết quả đánh giá này cũng chỉ là một kênh thông tin để các trường tham khảo Một số vấn đề bất cập trong việc trả lời các câu hỏi của SV [20]:
- Chỉ trả lời một đáp án cho tất cả các câu với một trong hai thái cực là rất đồng ý hoặc rất không đồng ý
- Không hiểu hoàn toàn hàm ý của các câu hỏi do một số câu hỏi mơ hồ hoặc khó định lượng
- SV đánh giá không công bằng, thầy nào nghiêm khắc sẽ bị trò ghét và đánh giá
1.4 Thực trạng vấn đề lấy ý kiến phản hồi của sinh viên về hoạt động giảng dạy của giảng viên tại trường ĐH Y Hà Nội
Từ trước đến nay việc tổ chức lấy ý kiến phản hồi của SV về các hoạt động giảng dạy của giảng viên mới chỉ thực hiện ở một số bộ môn mà chưa có tính đồng bộ, thường xuyên, hệ thống, theo quy trình và công cụ thống nhất Ví dụ
theo một nghiên cứu của Nguyên Văn Hiến và cộng sự về ý kiến phản hồi
của Cử Nhân khoa Y Tế Cộng Cộng về phương pháp học tập dựa trên vấn đề (PBL), kết quả cho thấy SV phản hồi muốn được học theo phương pháp PBL
Trang 33thể hiện qua nhận thức và cho điểm của SV về môi trường học tập theo phương pháp PBL cao hơn so với phương pháp dạy học khác Trong phương pháp PBL điểm trung bình của một số nội dung SV đánh giá khá cao, ví dụ như các nội dung về: Dạy học lấy SV làm trung tâm số điểm trung bình tới 3,4/5 điểm, SV được khuyến khích tham gia quá trình học tập điểm trung bình 3,2/5 Đồng thời đánh giá cao vai trò của giảng viên hướng dẫn, trình độ hiểu biết, kỹ năng hướng dẫn và đưa phản hồi của GV [8]
Nghiên cứu đánh giá của sinh viên Y Tế Công Cộng theo phương pháp PBL cho kết quả như sau (mức điểm từ 1 - 5) [13]:
Kết quả phản hồi về giảng viên của SV
1 Thái độ của GV (cởi mở, quan tâm, nhiệt tình)
2 GV thực hiện theo 7 bước
3 GV hỗ trợ nhóm trưởng và thư ký
4 GV khuyến khích SV tham gia vào quá trình quan sát
5 GV đưa ra các câu hỏi mở để SV thảo luận đúng hướng
6 GV khuyến khích các nhóm thảo luận vấn đề theo chiều sâu
7 GV đưa ra thông tin vào đúng thời điểm
8 GV khuyến khích SV liên kết những kết quả của cuộc thảo luận nhóm
Trang 349 GV lựa chọn đúng thời điểm để cho ý kiến xử lý các cuộc thảo luận nhóm Theo kết quả của nghiên cứu: “Thực trạng dạy học tại trường Y Hà Nội” [19] cho thấy:
Có 85,9% GV trả lời là có yêu cầu SV đóng góp ý kiến phản hồi cho bài giảng Có 88.8% GV từng nhận được các ý kiến phản hồi của SV Giảng viên
có học vị cao hơn có xu hướng được SV phản hồi nhiều hơn Tỷ lệ này ở nhóm các GV có học vị Tiến sỹ/ Bác sỹ chuyên khoa 2 là 91,0%, Thạc sỹ/ Bác sỹ chuyên khoa 1 là 87,0% và Bác sỹ/Cử nhân là 86,2 % Các GV LS trả lời được SV chủ động phản hồi ý kiến 91,4 % nhiều hơn các GV YHCS và y
tế công cộng Trong đó nội dung học tập (70,3%) được SV phản hồi nhiều hơn phương pháp dạy học (25,5 %)
Mức độ phản hồi của SV với thày/cô về nội dung và phương pháp giảng cho thấy nhìn chung SV còn ít phản hồi ý kiến của mình với thày/cô, 36,9% ít khi phản hồi và 22,3% không bao giờ phản hồi
Phương pháp giảng dạy tích cực đang được áp dụng ngày càng phổ biến trong các trường Đại học, theo một nghiên cứu khảo sát ý kiến SV về hoạt động dạy học môn Đạo Đức Y Học tại 8 trường Đại Học Y của Việt Nam cho thấy phương pháp dạy học tích cực chiếm tỷ lệ cao, còn 49,6% SV vẫn còn nghe những bài giảng theo phương pháp truyền thống [9]
Trang 35CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại trường Đại Học Y Hà Nội
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Sinh viên Y2, Y3, Y4, Y6 của trường Đại học Y Hà Nội năm học
2010-2011
- Các cán bộ giảng dạy của một số bộ môn khoa học cơ bản (KHCB), y học
cơ sở (YHCS) và lâm sàng (LS) của trường Đại học Y Hà Nội
2.3 Thời gian thu thập số liệu
Thu thập số liệu từ tháng 4/2010 đến tháng 12/2010
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang: Được tiến hành để lấy ý kiến phản hồi của sinh viên về hoạt động giảng dạy của giảng viên năm học 2010 - 2011
2.4.2 Mẫu nghiên cứu
n: Cỡ mẫu tối thiểu
p: Ước tính là 0,5
q = 1 - p = 0,5
d: Khoảng sai lệch của p mẫu nghiên cứu với quần thể, lấy d = 5% = 0,05
Z1-α/2: Là giá trị tương ứng của hệ số giới hạn tin cậy, với độ tin cậy là 95% tra bảng Z1-α/2 = 1,96
Trang 36Từ các dữ kiện trên tính được cỡ mẫu là 385 sinh viên
Chọn mẫu
- Chọn giảng viên: Chọn ngẫu nhiên 2 môn học KHCB, 2 môn học YHCS và
2 môn học LS để SV cho ý kiến phản hồi về các hoạt động giảng dạy của
GV ở các môn học đó
- Chọn sinh viên: Trong 6 môn học được chọn, mỗi buổi giảng chọn ngẫu nhiên 03 tổ SV đồng ý tham gia trả lời bộ câu hỏi nghiên cứu để thu nhận phản hồi
2.5 Nội dung và chỉ số nghiên cứu
2.5.1 Các thông tin cần thu thập: Theo công cụ đã phát triển
- Nội dung bài giảng
- Phương pháp giảng dạy của GV
- Tài liệu phục vụ giảng dạy
- Trách nhiệm và sự nhiệt tình của giảng viên đối với người học
- Khuyến khích sáng tạo và tôn trọng tư duy độc lập của người học trong học tập
- Về kiểm tra, đánh giá SV
- Tác phong sư phạm của GV
2.5.2 Các chỉ số nghiên cứu
Nội dung 1: Nội dung bài giảng
- Tỷ lệ SV trả lời GV có trình bày mục tiêu bài giảng
- Tỷ lệ SV trả lời cách mở bài của GV có thu hút người học
- Tỷ lệ SV trả lời các tiêu chí của nội dung bài giảng
- Tỷ lệ SV trả lời về các mức độ phù hợp của nội dung bài giảng với trình độ của SV
- Tỷ lệ SV trả lời về các mức độ phù hợp của khối lượng kiến thức với trình
độ của SV
- Tỷ lệ SV trả lời về các mức độ phù hợp của bố cục bài giảng được sắp xếp hợp lý
Trang 37- Tỷ lệ SV trả lời về các mức độ phù hợp của phân chia thời gian giảng cho từng nội dung trong bài
- Tỷ lệ SV trả lời về các mức độ phù hợp của các ví dụ minh họa với nội dung, giúp SV hiểu bài hơn
- Tỷ lệ SV trả lời GV có giới thiệu tài liệu học tập tham khảo
Nội dung 2: Phương pháp giảng dạy của GV
- Tỷ lệ SV trả lời về các mức độ tốc độ nói của GV để sinh viên nghe
- Tỷ lệ SV trả lời về các mức độ nói to (hoặc dùng micro) của GV để SV nghe
rõ
- Tỷ lệ SV trả lời về mức độ giảng dễ hiểu của GV
- Tỷ lệ SV trả lời về mức độ tạo cơ hội để SV đặt câu hỏi của GV
- Tỷ lệ SV trả lời về mức độ giảng bài hấp dẫn, sinh động, lôi cuốn của GV
- Tỷ lệ SV trả lời về mức độ sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học (Overhead, projector, …) của GV
- Tỷ lệ SV trả lời GV có áp dụng phương pháp dạy học tích cực
- Tỷ lệ SV trả lời về mức độ sử dụng nhiều cách để kiểm tra người học đã hiểu hết nội dung bài của GV
- Tỷ lệ SV lời về mức độ tạo cho người học niềm đam mê học hỏi, tìm hiểu, nghiên cứu của GV
Nội dung 3: Tài liệu phục vụ giảng dạy
- Tỷ lệ SV trả lời về mức độ rõ của chữ viết các slide/giấy trong/chữ viết trên bảng
- Tỷ lệ SV trả lời GV có phát tài liệu cho SV
- Tỷ lệ SV trả lời về mức độ phù hợp của các tài liệu được phát với bài giảng
- Tỷ lệ SV trả lời về mức độ hấp dẫn của tài liệu GV chuẩn bị
- Tỷ lệ SV trả lời về mức độ phù hợp của các mô hình/dụng cụ/hình ảnh minh họa với nội dung bài giảng