Trong khuôn khổ chương trình phục hồi dinh dưỡng của Bộ môn Nhi chúng tôi nghiên cứu đánh giá cụ thể hiệu quả của vấn đề tham vấn, chúng tôi tiến hành đề tài: "Đánh giá hiệu quả vấn đề t
Trang 1KÝ HIỆU VIẾT TẮT
CĐ – ĐH : Cao đẳng - Đại học HFA : Height For Age ( Chiều cao theo tuổi) NCHS : National Center for Health Statistic
Trung Tâm Thống kê sức khỏe quốc gia
(Quần thể tham chiếu) QTTK : Quần thể tham khảo
SD : Độ lệch chuẩn SDD : Suy dinh dưỡng
TB : Trung bình TĐHV : Trình độ học vấn THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông TTDD : Tình trạng dinh dưỡng UNICEF : United Nations Children's Fund
Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc WFA : Weight For Age (Cân nặng theo tuổi) WFH : Weight For Height ( Cân nặng theo chiều cao) WHO : World Health Organization
Tổ chức y tế thế giới
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế thế giới công bố có 178 triệu trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng (SDD) thể thấp còi, chủ yếu ở vùng cận sa mạc Sahara châu Phi và Trung Nam Á [36] Trong số này có 160 triệu (90%) đang sinh sống tại 36 nước (trong đó có Việt Nam), chiếm khoảng gần một nửa (46%) tổng số trẻ em
ở các quốc gia này Trong khi tỷ lệ SDD gầy còm và tỷ lệ mắc mới SDD gầy còm cấp tính đang hạ thấp đáng kể ở Việt Nam thì tỷ lệ SDD thấp còi vẫn còn rất cao là một thách thức về dinh dưỡng đối với Việt Nam khi đất nước đang dần dần trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình [31],[33]
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ trong cải thiện sức khoẻ nhân dân đặc biệt là về tình trạng dinh dưỡng Tuy nhiên, vẫn còn nhiều việc phải làm trong việc giải quyết vấn đề thiếu dinh dưỡng ở bà mẹ và trẻ em
Với phương châm “Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai”, trẻ em là đối
tượng chính của suy dinh dưỡng, nếu không can thiệp kịp thời quãng thời gian phát triển nhanh nhất và quan trọng nhất sẽ trôi qua và các hậu quả của suy dinh dưỡng khó có cơ hội phục hồi Vì vậy, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ
em đã lấy phương châm dự phòng là chính, nghĩa là đảm bảo trẻ em sinh ra khỏe mạnh, được chăm sóc để trẻ không bị suy dưỡng Để làm được điều đó thì công tác vận động, truyền thông giáo dục đến từng hộ gia đình ở tuyến cơ sở để thực hiện đạt các nội dung phòng chống và phục hồi suy dinh dưỡng trẻ em là rất cần thiết
Tổ chức Y tế thế giới và UNICEF đã đưa ra mục tiêu phấn đấu giảm tỷ
lệ suy dinh dưỡng trẻ em xuống dưới 15% vào năm 2015 [34], [35]
Việc giải quyết vấn đề suy dinh dưỡng phổ biến tại các nước đang phát triển đòi hỏi cần xác định tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố nguy cơ của suy dinh dưỡng hiện tại của cộng đồng
Trang 3Phấn đấu để hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em là một việc làm cần thiết
và cấp bách vì con người là động lực của sự phát triển, trẻ em là tài sản quý giá nhất của tương lai Chính vì vậy nhà nước ta đã rất quan tâm đến vấn đề này bằng các chương trình dinh dưỡng quốc gia [29] Qua nhiều năm triển khai thực hiện, nước ta đã giảm được số trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống từ 36,7% (năm 1999) còn 19,6% (năm 2008), trung bình mỗi năm giảm 2%, vượt mức đề ra là giảm 1,5% năm [18], [19],[31], Ban chỉ đạo chương trình Quốc gia phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em của tỉnh Thừa Thien Huế xác định giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em đến năm 2010 xuống còn 20% là một trong những nhiệm vụ chiến lược của Tỉnh
Từ 1966 đến nay, Bộ môn Nhi đã can thiệp phục hồi dinh dưỡng cho các trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng ở xã Hương Hồ, phần nào mang lại hiệu quả giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở Hương Hồ nói riêng và tỷ lệ suy dinh dưỡng trong tỉnh nhà nói chung
Trong khuôn khổ chương trình phục hồi dinh dưỡng của Bộ môn Nhi chúng tôi nghiên cứu đánh giá cụ thể hiệu quả của vấn đề tham vấn, chúng tôi
tiến hành đề tài: "Đánh giá hiệu quả vấn đề tham vấn về giáo dục dinh dưỡng
cho các bà mẹ có con bị suy dinh dưỡng tại xã Hương Hồ năm 2009-2010"
Với 2 mục tiêu:
1 Đánh giá về sự hiểu biết của các bà mẹ trước và sau khi tham vấn giáo dục dinh dưỡng-suy dinh dưỡng cho các bà mẹ có con bị suy dinh dưỡng
2 Đánh giá hiệu quả can thiệp của vấn đề tham vấn dinh dưỡng tại xã Hương Hồ năm 2009-2010
Trang 4Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ SUY DINH DƯỠNG
Từ khi loài người xuất hiện thì vấn đề dinh dưỡng cũng được đặt ra Lúc đầu chỉ nhằm giải quyết chống lại cảm giác đói và sau đó người ta thấy ngoài việc thoả mãn nhu cầu, bữa ăn còn đem lại cho người ta niềm thích thú Ăn là một yếu tố của sự phát triển Tuy nhiên những người thầy thuốc qua quan sát người bệnh đã sớm thấy rõ được mối liên quan giữa chế độ ăn và sức khoẻ Tình trạng đói ăn hoặc cung cấp thức ăn không đầy đủ các chất dẫn đến giảm cân, gầy còm, hậu quả trẻ chậm phát triển đã được biết hàng thế kỷ nay Hầu hết các thầy thuốc đầu thế kỷ 20 đã công nhận rằng thiếu ăn gây ra sự chậm phát triển ở trẻ em, song ở dạng này của SDD thường không được mô tả như một hội chứng bệnh, trừ khi nó dẫn đến gầy còm trầm trọng [5],[9],30]
Năm 1908, Cotrea đã gọi suy dinh dưỡng là bệnh “rắn nhỏ” vì trẻ em mắc bệnh có thể nhỏ bé, da có lằn màu sẫm lẫn màu nhạt như da rắn [3],[7]
Đầu những năm 30, Cicely William đang làm việc tại Ganna đã dùng thuật ngữ “Kwashiorkor” sử dụng từ địa phương mà có nghĩa là “bệnh của những đứa trẻ bị bỏ rơi” [7 ], để mô tả một hội chứng mà trước đó thường lầm tưởng với bệnh “Pellagra”
Tổ chức y tế thế giới đã tổ chức nhiều đoàn khảo sát ở Châu Phi và bệnh suy dinh dưỡng protein năng lượng đã nhanh chóng được coi là bệnh dinh dưỡng quan trọng nhất trên thế giới [36 ]
Vào năm 1959, thuật ngữ “SDD protein - calo” được sử dụng để chỉ những
dạng thiếu protein, thiếu năng lượng và dạng trung gian của hai dạng trên [12]
Trang 5Năm 1966, Jellife đã đề nghị tên gọi “SDD protein - năng lượng” vì mối liên quan giữa thể phù và thể đét Từ đó thuật ngữ Suy dinh dưỡng Protein - năng lượng (Protein - Energy - Malnutrition) thay thế các thuật ngữ trước
Năm 1978, Tuyên ngôn Alma Ata của tổ chức y tế thế giới đã coi dinh dưỡng hợp lý và tạo thêm nguồn thực phẩm là một trong các hoạt động then chốt để đạt được mục tiêu sức khoẻ cho mọi người ở năm 2000
Năm 1992, Hội nghị cấp cao về dinh dưỡng toàn thế giới họp tại Roma
đã kêu gọi các quốc gia có kế hoạch hành động cụ thể nhằm xoá nạn đói và nâng cao hiểu biết về dinh dưỡng [4], [7], [9], [26]
1.2 TÌNH HÌNH SUY DINH DƯỠNG Ở MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ TRONG NƯỚC
1.2.1 Tình hình suy dinh dưỡng trên thế giới
Các hình thái lâm sàng của suy dinh dưỡng thay đổi theo vùng Ở Châu
Á và Nam Mỹ hay gặp thể gầy đét hơn thể phù còn ở Châu Phi, phía nam sa mặc Xahara thì lại hay gặp thể phù hơn
Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) về tình trạng SDD ở trẻ dưới 5 tuổi giai đoạn 1980-1992 cho thấy có hơn 1/3 trẻ em trên thế giới bị SDD Trong đó có 80% trẻ bị SDD sống ở Châu Á, 15% ở Châu Phi và 5% ở Châu
Mỹ la Tinh
Các dữ liệu của TCYTTG năm 2000 cho thấy SDD thể còi cọc ở các nước đang phát triển đã giảm từ 47% năm 1980 xuống còn 33% và xu hướng sẽ tiếp tục giảm xuống còn khoảng 29% vào năm 2005 Điều này có nghĩa rằng vào năm 2000 có khoảng 182 triệu trẻ em bị SDD thể còi cọc ở các nước đang phát triển, ít hơn so với 20 năm trước 40 triệu trẻ Trong số 182 trẻ SDD thể còi
cọ có 70% sống ở Châu Á, 26% ở Châu Phi và 4% và Châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê [30 ], [33], [36]
Trang 61.2.2 Tình hình suy dinh dƣỡng ở Việt Nam
Trước khi có chương trình Quốc Gia về Dinh dưỡng, tỷ lệ SDD ở trẻ dưới 5 tuổi rất cao (>50%) Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề SDDPNL, với những tác hại và hậu quả quá nặng nề do SDD gây ra, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã có những chiến lược về dinh dưỡng Quốc gia:
Tháng 6/1980 Thủ Tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập viện Dinh Dưỡng Quốc Gia và năm 1983 chương trình phòng chống suy dinh dưỡng được áp dụng tại Việt Nam [18]
Ngày 16/09/1995 Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch hành động
về dinh dưỡng 1995 - 2000 Đây là văn kiện đầu tiên của nước ta về đường lối dinh dưỡng [19], [20]
Nhờ thực hiện tốt các đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, tỷ lệ SDD đã giảm nhiều, nếu tính từ giai đoạn 1985 đến 1995 tỷ lệ SDD đã giảm từ 51,5% xuống còn 44,9%: mỗi năm giảm trung bình 0,66% Chỉ sau 4 năm, từ năm 1995 bắt đầu kế hoạch Quốc gia về dinh dưỡng, đến năm 1999 tỷ lệ SDD
đã giảm xuống còn 36,4%; trung bình mỗi năm giảm xuống trên 2%, là tốc độ được Quốc tế công nhận là giảm mạnh Như vậy, mỗi năm đã đưa khoảng 200 ngàn trẻ dưới 5 tuổi thoát khỏi SDD [18]
Có sự khác biệt về phân bố tỷ lệ SDD giữa các vùng sinh thái: Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở Thành phố Hồ Chí Minh: 18,1%, Hà Nội 21%, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long: 32,3%; Vùng Đồng bằng Sông Hồng: 33,8%; vùng Duyên Hải Nam Trung bộ và vùng Bắc Trung bộ: 39,2%; vùng Đông bắc: 40,9%; vùng Tây vắc: 41,6%; cao nhất là vùng Tây nguyên: 49,1% [29], [31]
Nhóm tuổi bị ảnh hưởng nhiều nhất là 6-24 tháng Đây là nhóm tuổi bắt đầu chuyển từ chế độ bú sữa mẹ hoàn toàn sang chế độ ăn dặm; nếu chế độ ăn dặm không đúng cách sẽ tác động rất lớn đến TTDD ở nhóm tuổi này Theo số liệu công bố của viện dinh dưỡng năm 2002 thì SDD cân nặng theo tuổi của cả nước là 30,1%; trong đó tỷ lệ SDD độ I là 25,3%, độ II là 4,5% và độ III là 0,3%.[31]
Trang 7SDD cân nặng theo tuổi: 25,2%
SDD chiều cao theo tuổi: 29,6%
SDD cân nặng theo chiều cao: 7,5%
Như vậy, SDD tồn tại ở nước ta hiện nay chủ yếu ở thể nhẹ và vừa, SDD nặng còn ở mức thấp [29],[31]
1.2.3 Các nghiên cứu trong nước về tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi ở Việt Nam
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện Việt nam đã đạt được những thành tựu to lớn Đồng thời các hoạt động chăm sóc sức khỏe và phòng chống SDD đã và đang được đẩy mạnh, những cải thiện toàn diện đó cũng có tác động mạnh mẽ đến tiến triển của SDD trẻ em
TCYTTG nhận định Việt Nam nằm trong số các nước có tỷ lệ SDD trẻ
em đang giảm nhanh nhưng do điểm xuất phát của chúng ta thấp nên hiện nay
Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân hiện giảm từ 23,4% 18,9%, SDD thấp còi mức cao (31,9%) và SDD gầy còm mức trung bình (7,2 - 6,99%)
1.2.4 Tình hình suy dinh dưỡng ở Thừa Thiên Huế
Cùng với xu thể phát triển chung của đất nước, do sự cải thiện về kinh tế,
xã hội cũng như dưới sự tác động của Chiến lược Quốc Gia phòng chống SDD,
tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi ở Thừa Thiên Huế giảm đáng kể
Trang 8Bảng 1.3 Tình hình suy dinh dưỡng chung qua các năm của tỉnh Thừa
Thiên Huế (Nguồn: Prevelence of undernutriton by severity) [33]
SDD cân nặng/tuổi (nhẹ cân) 21,2 19,8 18,6 17,5 SDD chiều cao/tuổi (còi cọc) 28,8 30,1 29,6 28,2 SDD cân nặng/chiều cao(gầy còm) 8,8 8,0 7,6 7,3
Năm 1994, dự án “Phát triển cộng đồng” là chương trình hợp tác giữa chính quyền Emilia Anomangna, Ý và chính quyền 3 tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế điều tra trên 16 xã ở Thừa Thiên Huế Kết quả cho thấy tỷ
1.3 NGUYÊN NHÂN SUY DINH DƢỠNG Ở TRẺ EM
1.3.1 Nguyên nhân trực tiếp
Khẩu phần thiếu hụt và bệnh tật là những nguyên nhân trực tiếp nỗi trội nhất gây SDD [9]
Tình trạng bệnh lý như nhiễm khuẩn hô hấp cấp, ỉa chảy… gây kém ăn, tăng nhu cầu và giảm khả năng hấp thu Chức năng miễn dịch của trẻ em chưa được đầy đủ nên các thiếu sót về vệ sinh trong thời kỳ ăn sam, cai sữa đều có thể dẫn đến ỉa chảy Trong hầu hết các trường hợp, SDD là hậu quả của tác động kết hợp giữa thiếu ăn và nhiễm khuẩn [5], [9], [30]
Trang 9Sơ đồ 1.1 Nguyên nhân suy dinh dưỡng của UNICEF (2009) [34 ]
1.3.2 Nguyên nhân tiềm tàng
Sự thiếu hụt khẩu phần có thể xảy ra do thiếu thực phẩm hoặc người mẹ
có ít thời gian dành cho chế biến thức ăn hoặc cho trẻ ăn
Nhiễm khuẩn là hậu quả của dịch vụ y tế kém, thiếu nước sạch, vệ sinh kém, trẻ không được chăm sóc đầy đủ, được xếp 3 nhóm:
- Thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình
Nguyên
nhân
cơ bản
Các tổ chức nhà nước
và đoàn thể
Cấu trúc chính trị kinh tế - xã hội
Nguồn tiềm năng
An toàn thực phẩm hộ gia đình không đảm bảo
Dịch vụ y tế chưa đầy đủ,
vệ sinh môi trường kém
Chăm sóc bà
mẹ và trẻ em chưa được quan tâm
Nguyên nhân
tiềm tàng
Trang 101.3.3 Nguyên nhân cơ bản
Nguyên nhân cơ bản gồm những vấn đề liên quan đến cơ cấu kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa Đó là sự phân phối không công bằng các nguồn lực, thiếu những chính sách xã hội phù hợp, tập quán ăn uống sai lầm.[24]
1.4 ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƢỠNG Ở TRẺ EM
Có 3 loại chỉ số nói lên tình trạng dinh dưỡng (TTDD): Các dấu hiệu lâm sàng, các xét nghiệm hóa sinh, và các chỉ số nhân trắc
1.4.1 Biểu hiện lâm sàng
SDD là một quá trình, từ khi đứa trẻ bắt đầu chậm lớn cho đến khi có triệu chứng lâm sàng rõ rệt là SDD thể gầy đét hay thể phù
Ở các thể nhẹ, biểu hiện lâm sàng thường nghèo nàn, chẩn đoán chủ yếu dựa theo các chỉ số nhân trắc
SDD nặng thể gầy đét (marasmus): Do chế độ ăn thiếu cả năng lượng và protein, cai sữa quá sớm, thức ăn bổ sung không hợp lý
SDD thể phù (kwashiorkor) ít gặp hơn thể teo đét, thường là do chế độ
ăn quá nghèo protein mà lượng glucid tạm đủ
Ngoài ra còn có thể phối hợp marasmus - kwashiorkor khi trẻ có biểu hiện gầy đét nhưng có phù
Những dấu hiệu của trẻ bị suy dinh dưỡng
- Không lên cân hoặc giảm cân
- Teo mỡ ở cánh tay, thịt nhão, mất hết lớp mỡ dưới da bụng
- Da xanh, tóc thưa, rụng, dễ gãy, đổi màu
- Ăn kém, hay bị rối loạn tiêu hóa, ỉa phân sống, ỉa chảy hay gặp
- Thể nặng có phù hoặc teo đét, hiện nay rất hiếm gặp [5], [9], [27]
1.4.2 Các chỉ số nhân trắc
Việt nam hiện nay, để đánh giá TTDD trẻ em dưới 5 tuổi, các tác giả sử dụng quần thể tham khảo NCHS (National Center for Health Statistics) Quần thể NCHS được chọn bởi vì nó đáp ứng hầu hết các tiêu chuẩn đề nghị của hội khoa học dinh dưỡng quốc tế [ 13], [16]
Trang 11Một số khái niệm
Bách phân vị (percentile)
Một bách phân vị tương ứng với vị trí của một giá trị kích thước đo được trong mối tương quan với tất cả các giá trị đo được (100%) của QTTK được phân ranh giới theo thứ tự và độ lớn
Độ lệch chuẩn (Standard Deviation - SD)
Đây là cách tính toán dựa theo luật phân phối chuẩn
Z-score
Việc sử dụng Z-score được khuyến cáo bởi Waterlow và cộng sự từ năm
1977 Đây là phương pháp tính điểm độ lệch của các kích thước nhân trắc đo được so với trung vị của QTTK [13]
1.4.3 Đánh giá tình trạng dinh dƣỡng bằng các chỉ số nhân trắc
Cân nặng theo tuổi (WFA= Weight For Age)
Là chỉ số cho phép xếp lớp SDD, xác định tỷ lệ hiện mắc SDD trong quần thể Trọng lượng là hình ảnh về TTDD đứa trẻ tại thời điểm cân, trẻ thiếu cân là bị SDD, nhưng không phân biệt được SDD cấp hay mãn, nó bị thay đổi khi bị tiêu chảy hoặc phù
Chiều cao theo tuổi (HFA= Hight For Age)
Chiều cao là thước đo rất trung thành sự phát triển của trẻ Khi thiếu ăn, nhất là thiếu năng lượng, và nếu như sự thiếu đó là thường xuyên thì tình trạng chậm phát triển chiều cao là rất rõ rệt Chiều cao theo tuổi là một chỉ số rất quan trọng trong việc đánh giá sự chậm phát triển (còi)
Cân nặng theo chiều cao (WFH= Weight For Height)
Đây là chỉ tiêu thích hợp nhất để đánh giá TTDD cấp tính, do đó nên sử dụng trong các đánh giá nhanh sau thiên tai, sau các can thiệp ngắn hạn
Ba chỉ số nêu trên có các giá trị khác nhau trong việc đánh giá TTDD của trẻ, muốn đánh giá đầy đủ phải phối hợp các chỉ số nêu trên [18]
Trang 121.4.4 Cách phân loại dựa vào độ lệch chuẩn (hoặc Z score)
Hiện nay, TCYTTG đề nghị lấy điểm ngưỡng dưới -2SD so với quần thể tham khảo NCHS để coi là SDD Dưới- 3SD và dưới -4SD được coi là SDD nặng
và rất nặng
Nếu dựa vào Z-score, điểm ngưỡng được chọn cũng là -2SD Những đứa trẻ có Z score dưới-2SD sẽ được coi là bị SDD [13 ]
1.5 PHỤC HỒI SUY DINH DƢỠNG Ở TRẺ EM DUY DINH DƢỠNG
Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và nâng cao sức khỏe con người Đối với lữa tuổi trẻ em dinh dưỡng lại đặc biệt quan trọng bởi
vì nhu cầu dinh dưỡng ở trẻ không những cần cho nhu cầu hoạt động bình thường mà con giúp trẻ lớn lên và phát triển [16]
Điều trị các tình trạng cấp: Mất nước hay phù toàn thân, rối loạn điện giải, suy tim cấp, nhiễm trùng, nhiễm ký sinh trùng
Bổ sung các dưỡng chất quan trọng với liều điều trị : vitamin A, sắt, axit folic, đa sinh tố
Dinh dưỡng điều trị tích cực: cho ăn càng sớm càng tốt và nhanh chóng nâng khẩu phần dinh dưỡng lên mức tối đa phù hợp với khả năng tiêu hoá hấp thu của trẻ, sử dụng các thực phẩm giàu năng lượng, các chế phẩm dinh dưỡng đặc biệt, nếu cần phải sử dụng thêm các loại men hỗ trợ tiêu hoá Trong trường hợp rất nặng cần đặt vấn đề nuôi ăn bằng các phương tiện hỗ trợ như nuôi ăn qua sonde dạ dày, nuôi ăn bằng đường tĩnh mạch một phần…[10], [16],[17]
1.5.1 Phục hồi suy dinh dƣỡng tại gia đình
Hướng dẫn bà mẹ cách lựa chọn thực phẩm, số lượng thực phẩm cần thiết cho trẻ trong ngày, cách nấu thức ăn cho trẻ và khuyến khích trẻ ăn đủ cho nhu cầu phục hồi dinh dưỡng và phát triển cơ thể
Tăng năng lượng khẩu phần cho bữa ăn hàng ngày nếu trẻ không thể ăn
đủ theo nhu cầu bằng cách:
- Cho ăn nhiều món trong cùng một bữa để trẻ ăn đến no căng dạ dày
- Tăng số lần ăn trong ngày nếu trẻ không thể ăn nhiều trong một lần
Trang 13- Cho ăn càng đặc càng tốt, sử dụng các loại bột mộng để làm lỏng thức
ăn đặc nhưng vẫn đảm bảo độ đậm đặc của thức ăn
- Tăng thức ăn giàu năng lượng : thêm dầu mỡ vào thức ăn của trẻ, dùng các loại thực phẩm cao năng lượng
- Cho ăn tăng cường sau bệnh : Tăng bữa, tăng thức ăn, cho trẻ ăn bất cứ thứ gì trẻ lựa chọn
- Cho bú mẹ kéo dài sau 12 tháng
- Tái khám thường xuyên để theo dõi sức khoẻ và mức độ phục hồi dinh dưỡng của trẻ
Giáo dục cho các bà mẹ cho trẻ ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng với các loại thực phẩm sẳn có ở địa phương theo ô vuông thức ăn sau[10], [12], [14], [25]
Hình 1.2 Biểu đồ ô vuông [5]
1.5.2 Phòng chống suy dinh dƣỡng trẻ em tại cộng đồng
Cung ứng lương thực thực phẩm đầy đủ cho trẻ : Vấn đề này không được đặt lên hàng đầu trong giai đoạn hiện nay ở các thành phố lớn Tuy nhiên tại
Trang 14các vùng ngọai thành, vùng ven và nông thôn đây vẫn còn là vấn đề nghiêm trọng đe dọa đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em
- Cho trẻ bú mẹ ngay sau sinh và kéo dài 18-24 tháng : Sữa mẹ luôn là thức ăn đầu đời hoàn hảo nhất cho trẻ sơ sinh và là thức ăn tốt, đựoc trẻ chấp nhận trong giai đọan sau Sữa mẹ, ngoài cung cấp chất dinh dưỡng còn cung cấp các yếu tố chống lại bệnh tật, bảo vệ trẻ khỏi các bệnh lý nhiễm trùng
- Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ bằng bữa ăn hợp lý : Tập cho trẻ ăn dặm khi bắt đầu 4-6 tháng tuổi Cho trẻ ăn đầy đủ 4 nhóm chất dinh dưỡng (bột đường, đạm, béo), không kiêng khem, và duy trì sữa mẹ trong thời gian dưới 2 tuổi Nếu không có sữa mẹ đủ, lựa chọn loại sữa thay thế phù hợp
- Vệ sinh an toàn thực phẩm : Là vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc bảo vệ trẻ tránh các bệnh nhiễm trùng đường ruột, giun sán Chọn lựa thực phẩm tươi cho trẻ, tránh bảo quản dài ngày trừ trường hợp có tủ cấp đông đúng quy cách, hạn chế cho trẻ dùng các thực phẩm chế biến sẵn, đóng hộp, nấu nướng thức ăn chín kỹ
- Theo dõi biểu đồ tăng trưởng cho trẻ hàng tháng : Nhằm phát hiện sớm tình trạng suy dinh dưỡng hoặc các nguy cơ nếu có và can thiệp sớm
- Ngừa và trị bệnh : Điều trị triệt để các bệnh lý nhiễm trùng hô hấp, tiêu chảy không cần lạm dụng kháng sinh mà chỉ dùng KS đủ liều, đủ thời gian, chăm sóc dinh duỡng tích cực trong thời gian bệnh và phục hồi dinh dưỡng sau thời gian bệnh
- Xổ giun định kỳ mỗi 6 tháng cho trẻ trên 2 tuổi [9], [10]
Trang 15Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng
Đối tượng được phỏng vấn là các bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng đang sinh sống tại xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Xã Hương Hồ:
Hương Hồ là một xã nằm ở phía nam huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, có địa bàn đa dạng, mang nét đặc trưng của vùng bán sơn địa, nằm cách thành phố Huế 15 km về phía Tây Bắc, với chiều dài 7 km chạy dọc Sông Hương Diện tích tự nhiên 33,75 Ha
và cán bộ Xã có 2 chợ chỉ họp vào buổi sáng
+ Tình hình y tế: Mạng lưới y tế hoạt động khá tốt, biên chế Trạm có 7 người: 1 bác sỹ trưởng trạm, 3 y sỹ đa khoa, 1 y sỹ đông y và 1 nữ hộ sinh và 1 cộng tác viên dân số Phần lớn các chương trình y tế được triển khai hoạt động, trạm còn có 9 cộng tác viên làm công tác tuyên truyền, hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh và phối hợp hoạt động với các chương trình của Bộ môn Nhi- Trường Đại học Y dược Huế
Trang 16Trước đây toàn xã được Bộ môn Nhi phối hợp hoạt động với Trạm Y tế
xã tổ chức 12 điểm phục hồi dinh dưỡng Từ năm 2007 chỉ còn 6 điểm phục hồi dinh dưỡng, hầu hết các bà mẹ có con < 5 tuổi bị suy dinh dưỡng Hiện nay
2010 chỉ còn 4 điểm
+ Nguồn nước sinh hoạt: nước máy, nước giếng khoan và giếng đào + Tình hình văn hoá xã hội: Hiện tại ngành giáo dục của xã đã phổ cập xong tiểu học, tiến hành phổ cập THCS
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 4 năm 2009 đến tháng 4 năm 2010
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu can thiệp tại cộng đồng
p) p(1 Z
Trang 17Chúng tôi tiến hành tham vấn cho 106 bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng.( danh sách do trạm y tế xã cung cấp )
Dùng phiếu điều tra (phỏng vấn) để thu thấp thông tin các biến số (xem phụ lục)
2.2.4 Phương pháp tiến hành
- Phiếu phỏng vấn được soạn sẵn đảm bảo nguyên tắc
- Bộ câu hỏi thiết kế theo mẫu chung cho các đối tượng
- Câu hỏi đơn giản, cụ thể, dễ sử dụng
- Câu hỏi được bố trí hợp lý, thu nhập số liệu nhanh và tổng hợp số liệu
dễ dàng
2.3 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin
+ Gặp, phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng i tại hộ gia đình của xã dựa vào bộ câu hỏi in sẵn
Tiểu học; Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, Cao đẳng-Đại học
+ Kinh tế gia đình: Đủ ăn, thiếu ăn + Số con trong gia đình: 1-2 con; 3 con; >3 con
- Thông tin về con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại xã Hương Hồ
+ Tuổi của trẻ (tháng): ≤ 24 tháng, 25-26 tháng, 37-48 tháng và
>48 tháng
+ Trọng lượng của trẻ lúc sinh: < 2500 gr; ≥ 2500 gr
Trang 18- Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại
xã Hương Hồ
+ Trẻ có bú sữa mẹ: Có, không + Thời gian cho trẻ bú sữa mẹ: 30‟ đầu sinh; sau 30-2 giờ; > 2 giờ + Cách thức cho trẻ bú: Thời gian nhất định, theo nhu cầu
+ Thời gian trẻ ăn bổ sung : < 4 tháng; 4-6 tháng;> 6 tháng
+ Thời gian cai sữa cho trẻ
- < 12 tháng; > 12-18 tháng; > 18 tháng
- Kiến thức của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Hương Hồ
+ Chế độ ăn của bà mẹ trong thời gian cho con bú:
Ăn kiêng; ăn như bình thường; tăng các chất bổ dưỡng
+ Chế độ lao động của bà mẹ trong thời gian cho con bú:
Lao động nặng; làm việc như bình thường; nghỉ ngơi; khác
+ Truyền thông về nuôi con bằng sữa mẹ: Có; không + Nguồn thông tin: Tivi; sách báo; nhân viên y tế, khác + Hình thức tuyên truyền: Cuộc họp; nói chuyện; trao đổi tại nhà;
tư vấn tại trạm; qua hệ thống truyền thanh công cộng
+ Nguồn thông tin cho bà mẹ gặp bất thường khi cho con bú: Từ
những người có kinh nghiệm nuôi con; nhân viên y tế; phương tiện truyền thông công cộng
+ Thời gian trẻ ăn bổ sung: < 4 tháng; 4-6 tháng; > 6 tháng + Xử trí khi trẻ bị ốm: cho trẻ ăn ít lại; cho trẻ ăn nhiều hơn; cho
trẻ ăn như bình thường
+ Nơi khám khi trẻ bị ốm: đến Trạm y tế; đến BS tư; tự điều trị + Theo dõi tiêm chủng: Có; không
- Hiểu biết về thực hành dinh của các bà mẹ co con dưới 5 tuổi tại xã Hương Hồ
+ Các bà mẹ được hướng dẫn thực hành dinh dưỡng: có; không
Trang 19+ Người hướng dẫn thực hành: Cộng tác viên y tế; cán bộ y tế + Cách chế biến thức ăn: Băm nhỏ nghiền nát; thay đổi các nhóm
thực phẩm hằng ngày; thêm dầu mỡ vào thức ăn; có phối hợp các nhóm thực phẩm
+ Cách cho trẻ ăn bổ sung: Rửa tay trước khi cho trẻ ăn; rửa sạch
các dụng cụ chế biến và đựng thức ăn; chế biến xong cho trẻ ăn liền
+ Hiểu biết về nhóm thức ăn đủ: Bột; thịt+ cá; rau; dầu; cả 4 nhóm trên + Số bữa ăn, chính phụ trong ngày: 2 bữa, 3 bữa, > 3 bữa
+ Hiểu biết về tô màu bát bột: Biết; không biết
* Mối liên quan giữa đặc điểm chung và sự hiểu biết thực hành dinh dưỡng của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Hương Hồ
2.3.3 Các bước tiến hành
Áp dụng phương pháp can thiệp tại cộng đồng Mỗi tuần vào chiều thứ sáu chúng tôi tiến hành tham vấn giáo dục dinh dưỡng cho những bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại xã Hương Hồ, Hương Trà với sự phối hợp giữa Bộ môn Nhi -Trạm Y tế, y tế thôn và cộng tác viên dinh dưỡng
Bước 1 Tiến hành tham vấn cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy
dinh dưỡng với nội dung:
- Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng
- Kiến thức về dinh dưỡng của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng
- Thực hành về dinh dưỡng của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng
Bước 2 Đánh giá hiệu quả trước và sau khi tham vấn cho các bà mẹ có
con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng
2.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH XỬ LÝ SỐ LIỆU [10]
- Xử lý số liệu với phương pháp thống kê y học thông thường Sử dụng phần mềm SPSS 15.0 và Epi-Info 6.04
Trang 20- Kết quả các biến số được trình bày dưới dạng bảng và biểu đồ
- Dùng text 2 để điểm định mối liên quan giữa 2 biến số Các công thức toán thống kê được sử dụng:
- Giá trị trung bình của tuổi được tính
n
Xn X
X1 2
=
n Xi
SD
1
2
) (
1
1
Công thức tính Z, p
ny nx
Y X Z
y x
Khi p < 0,05 thì sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Khi p > 0,05 thì sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Trang 21Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1.1 Tỷ lệ trẻ em < 5 tuổi bị SDD tại xã Hương Hồ
Bảng 3.1 Tỷ lệ trẻ em < 5 tuổi bị SDD tại xã Hương Hồ
3.1.2 Đối tượng mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại xã Hương Hồ
3.1.2.1 Phân bố theo tuổi mẹ có con < 5 tuổi bị SDD tại Hương Hồ
54,7(n=58))
33,0 (n=35)
12,3(n=13))
0 10 20 30 40 50
Trong 106 bà mẹ được phỏng vấn có 58 bà mẹ ở nhóm 20-30 tuổi chiếm
tỷ lệ cao nhất (54,7 %) Bà mẹ có độ tuổi > 40 chiếm 12,3% Tuổi trung bình 31,16 ± 5,72
Trang 223.1.2.2 Trình độ học vấn của bà mẹ có con < 5 tuổi bị SDD tại Hương Hồ
51,9
37,7
3,8 6,6 0
10 20 30 40 50 60
Tỷ lệ %
Tiểu học THCS THPT >THPT TĐHV
Biểu đồ 3.2 Trình độ học vấn
Nhận xét: Có 51,9% bà mẹ có trình độ văn hóa là tiểu học Có 10,4% bà
mẹ có trình độ vă hóa từ cấp 3 trở lên
3.1.2.3 Hoàn cảnh kinh tế gia đình của bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại xã Hương Hồ
Bảng 3.2 Hoàn cảnh kinh tế gia đình của bà mẹ có con < 5 tuổi bị SDD
Đa số gia đình ( 85,5%) đủ ăn; chỉ có 14,2% thuộc diện thiếu ăn
3.1.3 Đối tượng con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại xã Hương Hồ
3.1.3.1 Đặc điểm dịch tễ của trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại xã Hương Hồ
Bảng 3.3 Phân bố theo giới tính trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng
Trang 23Bảng 3.4 Nhóm tuổi của con 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại xã Hương Hồ
3.1.3.2 Mức độ suy dinh dưỡng của trẻ < 5 tuổi bị SDD tại Hương Hồ trước khi tham vấn theo NCHS
Bảng 3.5 Mức độ suy dinh dưỡng của trẻ < 5 tuổi bị SDD tại trước khi
tham vấn
SDD
Cân nặng /chiều cao
Cân nặng /tuổi
Chiều cao /tuổi
Trang 243.2 ĐÁNH GIÁ SỰ HIỂU BIẾT CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI BỊ SUY DINH DƯỠNG TRƯỚC VÀ SAU THAM THAM VẤN 3.2.1 Kiến thức chăm sóc bà mẹ lúc mang thai trước và sau tham vấn:
Bảng 3.6 Kiến thức chăm sóc bà mẹ lúc mang thai trước và sau tham vấn
Lần khảo sát Chăm sóc
3.2 2 Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ
3.2.2.1 Hiếu biết về sữa mẹ của các bà mẹ có con dưói 5 tuổi bị SDD
Bảng 3.7 Sự hiếu biết về sữa mẹ trước và sau khi tham vấn
Lần khảo sát Thực hành bú mẹ
Trước tham vấn Sau tham vấn