1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV AIDS của phạm nhân trong trại giam k1 cái tàu, tỉnh cà mau năm 2009

91 776 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV AIDS của phạm nhân trong trại giam K1 Cái Tàu, tỉnh Cà Mau năm 2009
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y học công cộng, Phòng chống dịch bệnh
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2009
Thành phố Cà Mau
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi hiện nay, ngành y tế tỉnh Cà Mau chưa thể đánh giá chính xác có bao nhiêu phạm nhân nhiễm HIV trong trại giam cũng như có hành vi nguy cơ liên quan đến tệ nạn NCMT hay MD, mức

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đại dịch HIV/AIDS là căn bệnh nguy hiểm đang tiếp tục phát triển nhanh và lan rộng cả ở Việt Nam cũng như nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Nó không chỉ là mối đe doạ nghiêm trọng đến sức khoẻ, mà còn gây nguy hiểm cho tính mạng con người, nó làm phá vở cấu trúc gia đình và ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội cũng như an ninh chính trị của mỗi quốc gia [6], [12], [46], [54]

Dịch HIV/AIDS liên tục phát triển cả về không gian lẫn thời gian và nó trở thành một đại dịch gia tăng vượt quá sự kiểm soát của loài người [11]

Đã hơn 20 năm kể từ khi nhân loại phát hiện ra HIV, đại dịch HIV/AIDS

đã cướp đi sinh mạng của hơn 25 triệu người và trở thành một trong những vụ dịch tồi tệ nhất được ghi nhận trong lịch sử [18], [59]

Xu hướng phát triển đại dịch này đang bùng phát mạnh ở các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển, đặc biệt là những nước ở Châu Phi - vùng cận Sahara, tiếp đến là khu vực Caribê và vùng Nam Á và Đông Nam Á [21]

Qua hơn 20 năm đấu tranh với đại dịch, tuy đã có những thành công nhất định, nhưng đến nay trên toàn cầu vẫn chưa có khả năng ngăn chặn được tốc

độ lây nhiễm HIV/AIDS Sự nguy hiểm của HIV/AIDS là chưa có thuốc phòng ngừa và điều trị [15], [35], [54]

Theo Tổ chức Y tế giới và Chương trình Phối hợp của Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS đến 31/12/2007 toàn thế giới đã có khoảng 33,2 triệu người đang sống với HIV/AIDS Đồng thời trong năm 2007 số ca mới nhiễm HIV là 2,5 triệu người và số ca tử vong do AIDS là 2,1 triệu người [9], [37], [59], [71]

Ở Việt Nam, kể từ ca HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 12 năm

1990 tại TP Hồ Chí Minh thì đến 31/12/2009 toàn quốc đã phát hiện tổng số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 156.802, trong đó có 34.391 trường hợp bệnh nhân AIDS còn sống và đã có 44.232 người chết do AIDS [7]

Trang 2

Tại Cà Mau, luỹ tích từ đầu vụ dịch (1994) tính đến ngày 31/12/2009, trong tỉnh Cà Mau đã giám sát phát hiện được 2.629 cas nhiễm HIV, chuyển sang AIDS 262 cas, tử vong 72 cas Hiện đã có 9/9 huyện, thành phố, 85% xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh có người nhiễm HIV/AIDS [51], [48] Trong

đó chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi từ 20 - 39 tuổi (chiếm 83,5%) và tập trung ở nhóm đối tượng phạm nhân (5,32%), ma tuý (chiếm 7,48%), mãi dâm (3,7%), điều này cho thấy sự phát triển dịch HIV/AIDS ở nhóm đối tượng có nguy cơ cao chưa thể kiểm soát được là rất đáng lo ngại [50]

Cùng với sự phát triển của dịch HIV/AIDS trong cộng đồng, số trường hợp nhiễm HIV ngày càng tăng trong trại giam Trong khi hiện nay, ngành y tế tỉnh Cà Mau chưa thể đánh giá chính xác có bao nhiêu phạm nhân nhiễm HIV trong trại giam cũng như có hành vi nguy cơ liên quan đến tệ nạn NCMT hay

MD, mức độ thường xuyên của các hoạt động này trước khi vào trại như thế nào, hay mức độ hiểu biết các biện pháp mà họ đang sử dụng để tránh lây nhiễm chéo HIV giữa các phạm nhân trong trại với nhau

Trước nhu cầu có được những số liệu để làm căn cứ đánh giá những hiểu biết và khả năng phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS, đặc biệt là lây nhiễm chéo trong các nhóm phạm nhân với nhau sẽ góp phần xây dựng kế hoạch can thiệp giảm tác hại phù hợp với thực tế, nhằm giúp cho đối tượng phạm nhân khi còn trong trại cũng như về đoàn tụ gia đình sau này tránh được hiểm họa của đại dịch HIV/AIDS hiện nay

Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, chúng tôi tiến hành “Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV/AIDS của phạm nhân trong Trại giam K1 Cái Tàu, tỉnh

Cà Mau năm 2009”, nhằm 2 mục tiêu:

1 Xác định tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS ở phạm nhân trong Trại giam K1 Cái Tàu

2 Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm HIV

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM HIV/AIDS

1.1.1 Khái niệm về HIV

HIV là thuật ngữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh (Human Immunodeficiency Virus), để chỉ một loại virus gây suy giảm miễn dịch ở người [15], chính là

nguyên nhân gây bệnh AIDS thuộc họ Retrovirus Tất cả các Retrovirus đều thể hiện một loại đặc tính chung cho nhóm, đó là: có hai sợi ARN, có lớp vỏ bao phủ bên ngoài, sử dụng AND để tái sinh sản hay nhân lên và ẩn trong AND của tế bào chủ Các Retrovirus phải chuyển ARN của chúng thành AND

để có thể tái sinh sản hay nhân lên, quá trình này gọi là sao mã ngược Thông qua quá trình này, HIV gắn vật liệu di truyền của mình vào AND của tế bào chủ Nhờ đó, khi tế bào chủ tái tạo vật liệu di truyền của mình, nó đồng thời tái tạo vật liệu di truyền của virus Bằng cách này, virus sử dụng tế bào chủ như một nhà máy để sản xuất vật liệu di truyền cho nó, cho phép nó tạo ra nhiều virus hơn [2], [11], [37]

HIV là loại Retrovirus được Montagier và cộng sự phát hiện lần đầu tiên trên thế giới năm 1983 bằng kỹ thuật hiển vi điện tử, phát hiện enzym phiên

mã ngược trong nước nổi nuôi cấy tế bào, miễn dịch huỳnh quang và kết quả miễn dịch phóng xạ HIV gây nhiễm lựa chọn các tế bào lympho trong đó có CD4 (tế bào T hỗ trợ) gây suy giảm miễn dịch và dẫn đến các nhiễm trùng cơ hội, ung thư, tử vong HIV cũng gây nhiễm các đại thực bào, các tế bào khác của hệ thần kinh trung ương và có thể dẫn đến mất trí Mặt khác khi gắn vào AND của tế bào vật chủ, virus có thể tồn tại tìm tàng trong nhiều năm mà không biểu hiện lâm sàng hay triệu chứng nào[15]

Trang 4

1.1.2 Khái niệm về AIDS

AIDS (Acquired Immuno Deficiency Syndrom) là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, trên cơ sở phát hiện của Michael Gottlieb Trung tâm kiểm soát và phòng chống bệnh tật ở Atlanta của Mỹ được mô tả lần đầu tiên vào tháng 6 năm 1981 trên một số trường hợp nam thanh niên đồng tính luyến

ái bị viêm phổi không điển hình do pneumocystis carini [35], [15]

1.2 SƠ LƢỢC VỀ LỊCH PHÁT HIỆN HIV/AIDS

1.2.1 Phát hiện virus HIV

Phát hiện lâm sàng suy giảm miễn dịch mắc phải trước phát hiện mầm bệnh vì vậy quan sát lâm sàng là vô cùng quan trọng và cũng thường gặp trong lịch sử y học ví dụ điển hình là viêm gan B [36]

Trước đây vào thập kỷ 80 – 90 còn gọi là hội chứng miễn dịch mắc phải

do HIV vì có những hội chứng suy giảm miễn dịch bẩm sinh khác như hội

chứng teo tuyến ức bẩm sinh gây suy giảm miễn dịch qua trung gian tế bào do thiếu Lympho T gọi là hội chứng DiGeorge như hội chứng Bruton do suy giảm Lympho B nên trong máu không có gamma globulin hay kết hợp cả suy giảm miễn dịch tế bào và thể dịch điển hình là hội chứng Wiskott-Aldrich Từ

2000 trở đi thống nhất gọi là bệnh do nhiễm HIV (Virus gây suy giảm miễn dịch ở người) mã số phân loại quốc tế ICD-10 là B20, B24 Về gen thì HIV là một ARN virus, họ Retroviridae Dưới nhóm Lentivirus HIV là 1 nhóm gồm

2 týp HIV1 và HIV2 phân biệt trên đặc tính huyết thanh và trình tự phân tử của clone genome của virus [36]

1.2.2 Diễn biến phát hiện virus HIV

Tháng 6/1981 Trung tâm kiểm soát các bệnh truyền nhiễm ở Atlanta của (Mỹ) Bác sĩ Michael Gottlieb phát hiện năm người đồng tính luyến nam giới bị nhiễm trùng pneumocystis carini ở Los Angeles (Mỹ) do suy giảm miễn dịch

Trang 5

mắc phải đồng thời với BS Friedman Alvin phát hiện một bệnh nhân mắc sarcoma Kaposi vốn lành tính mà chết do suy giảm miễn dịch mắc phải Sau đó nhiều nơi cũng công bố lần lượt những ca đầu tiên trên những bệnh nhân ưa chảy máu đã phải truyền máu nhiều lần, tiêm chích ma tuý cũng có dấu hiệu suy giảm miễn dịch mắc phải Những trương hợp lâm sàng nói trên đã gợi ý tìm nguyên nhân hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải [35], [36]

Từ năm 1982 nhiều nơi lần lượt công bố căn bệnh tương tự gặp trên bệnh nhân ưa chảy máu, bệnh bệnh nhân phải truyền máu nhiều lần, những người nghiện chích ma tuý, những người mẹ và đứa con do họ đẻ ra… Điều này củng

cố thêm giả thuyết cho rằng căn nguyên gây bệnh có thể là một loại virus (giống virus viêm gan) lây truyền qua đường máu, đường tình dục và mẹ truyền sang con Cùng trong năm 1982 dựa trên 100 ca AIDS đầu tiên được thông báo, Trung tâm CDC đã đưa ra định nghĩa đầu tiên về các tiêu chuẩn lâm sàng chẩn đoán một ca AIDS, khi chưa có xét nghiệm tìm căn nguyên [35]

Năm 1983 Bare Sinoussi trong kíp nghiên cứu của Luc Mongtanier (Viện Pasteur Paris) lần đầu tiên do một nhóm các nhà khoa học Pháp phân lập từ máu của một bệnh nhân Họ gọi nó là virus có liên quan đến bệnh hạch nên đặt tên là LAV (Lymphadenopathy Associated Virus), virus gây viêm hạch bạch huyết [36], [37]

Năm 1984 Robert Gallo và các nhà khoa học Mỹ cũng phân lập được một virus ái tính với lympho T của người nên đặt tên là HTLV týp III (Human T-cell Lymphotropic Virus týp III hay HTL V-III) gây bệnh AIDS và gọi nó là virus hướng vào tế bào lympho T ở người Cùng năm Levy phân lập được một virus có liên quan đến hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải và đặt tên là

ARV (Aids related virus) [36], [37]

Cùng năm 1984, Levy phân lập được 1 virus, gọi là ARV (AIDS related virus), virus có liên quan với AIDS [35]

Trang 6

Năm 1985 Ba-Rin và cộng sự phân lập được một HIV thứ 2 đặt tên là HIV2 ở Tây Phi HIV2 có những đặc tính rất giống với virus gây suy giảm miễn dịch ở khỉ viết tắt là SIV [35], [36]

Năm 1986, các nhà khoa học Pháp lại phân lập một loại virus khác ở Tây Phi cũng gây suy giảm miễn dịch ở người gọi là HIV-2 HIV-2 có cấu trúc kháng nguyên khác với HIV-1 Trong đó HIV-1 phân bố trên khắp thế giới thì HIV-2 chỉ khu trú ở một số nước ở Tây Phi và Tây Ấn Độ So với HIV-1 thì HIV-2 có thời gian ủ bệnh dài hơn, nguy cơ lây truyền thấp hơn và cũng diễn

HIV có 2 týp 1 & 2 (HIV1) có mặt trên toàn thế giới [36]

1.2.3 Có thể đề xuất là HIV đã có từ thập kỷ 60 với những chứng cứ nhƣ sau

HIV1 đã dương tính với bệnh phẩm cất giữ từ 1959 tại Zaire và cũng phân lập được HIV1 từ bệnh phẩm cất giữ cũng tại Zaire năm 1976 Về HIV2 nghiên cứu dịch tễ học có thể có ở Tây Phi từ 1966 Sở dĩ phải làm sáng tỏ vấn đề này vì khi có dịch HIV xuất hiện đã có nghi vấn HIV là sản phẩm trong labo vì tính chất đặc biệt của HIV so với các vi sinh vật phát hiện được từ trước đến nay [36]

1.3 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CƠ BẢN CỦA VIRUS HIV

Trang 7

dài tự lặp lại (long terrminal repeat) nhờ vậy gắn được ổn định vào nhiễm sắc thể, ADN của tế bào và trở thành 1 tiền virus (provirus) Provirus này sẽ như một gen của tế bào nhiễm virus có thể tồn tại thầm lặng không phát triển và truyền sang cho thế hệ tế bào sau khi có phân bào, hoặc nhờ men ribonuclease của tế bào bị nhiễm đễ tạo ra ARN truyền tin giúp tạo các protein của virus để hình thành 1 virus hoàn chỉnh [36]

1.3.2 Cấu trúc hình dạng và genome của HIV Cấu trúc

HIV có đường kính 1/10.000 mm được chia thành 2 lớp chính như sau:

- Vỏ là màng lipid trên đó có các gai nhú glycoprotein (GP), đặc biệt

là GP 120 và GP 41 có tính kháng nguyên cao

- Lõi có chứa một số thành phần chính như protein lõi, men phiên

mã ngược (RT) và ARN vật liệu di truyền của HIV [11], [2], [37]

Kết hợp hình ảnh kính hiển vi điện tử của các thành phần virus với sinh hoá và miễn dịch phân tích các thành tố cấu thành của HIV có thể hình dung cấu trúc virus HIV hoàn chỉnh có hình cầu đường kính 80 -120nm Từ ngoài vào trong có 3 lớp [36]

Bao ngoài: Là một màng lipid kép lấy từ màng tế bào HIV thâm nhập lúc

trồi ra ngoài tế bào (budding) Bao ngoài những gai nhú (spike) khoảng 72 cái theo lý thuyết của Gelderblom Gai nhú là một glycoprotein có độ dài 8-10nm,

chiều rộng 14nm, trọng lượng 160 kilodaton (kDA) gồm hai thành phần

Vỏ trong (capside): Lớp ngoài hình cầu cấu tạo bởi phân tử protein có

trọng lượng phân tử là 18 kDA P18 Lớp trong hình trụ cấu tạo bởi phân tử protein có trọng lượng phân tử là 24 kDA P24

Nhân của virus HIV: Capsid bao bọc 2 sợi riêng rẽ HIV ARN mỗi sợi

có 9 gen Có khoảng 9.200 cặp ba-zơ

Trang 8

Nhóm gen cấu trúc: Gen gag, pol, env chứa thông tin để cấu trúc virus

mới Gen gag (group antigen) kháng nguyên đặc hiệu nhóm mã hoá cho các

protein lõi (P24 p7)

Nhóm gen điều hoà: Sáu gen điều hoà tat, nef, vif, vpr, vpu chứa thông

tin để điều hành khả năng HIV thâm nhập tế bào sản sinh virion HIV mới

Hình 1.1 Cấu trúc của virus HIV

1.3.3 Quá trình xâm nhập vào cơ thể người và nhân lên của virion HIV

Đường lây HIV đã xác định rất rõ

- Quan hệ tình dục nhất là quan hệ đồng giới nam

- Qua tiêm chích hoặc dụng cụ xuyên da đặc biệt là TCMT cùng chung BKT

- Qua truyền máu không sàng lọc loại máu nhiễm HIV cũng như sản phẩm thương mại từ máu mà không sàng lọc loại nhiễm HIV

- Từ mẹ sang con từ trong bào thai, trong khi đẻ và mẹ cho con bú nếu

mẹ nhiễm HIV

HIV có thể thâm nhập vào nhiều loại tế bào của cơ thể có cluster CD4 (cluster là phân tử có trên mặt tế bào để xác định độ trưởng thành của tế

Trang 9

bào) nhưng hàng đầu là lympho TCD4 có chức năng hỗ trợ kích hoạt hệ miễn dịch trên bề mặt có phân tử CD4 có trọng lượng 55kDA TCD4 cũng có vai trò lưu giữ HIV khi HIV ở dạng nằm yên trong TCD4 [36]

Hệ miễn dịch của cơ thể mà chủ yếu là các tế bào lympho giúp cho cơ thể chống lại mọi tác nhân gây bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể Trong đó,

tế bào lympho T4 đóng vai trò quan trọng trong hệ thống miễn dịch của cơ thể Virus có thể sống sót và tồn tại trong suốt cuộc đời của người bị nhiễm HIV và

họ có thể làm lan truyền sang người khác Virus có thể ở trong trạng thái ngũ trong nhiều tháng, thậm chí trong nhiều năm Nhưng nếu tế bào nhiễm HIV bị

hệ thống miễn dịch của cơ thể hoạt hóa để chống lại một bệnh khác, HIV sẽ bắt

tự nhân lên và tiếp tục gây nhiễm cho các tế bào khác [11], [37]

C, trong vòng 30 phút trong môi trường ẩm ướt virus dễ bị tiêu diệt [2], [37], [26]

1.4 CÁC PHƯƠNG THỨC LÂY TRUYỀN HIV

Bệnh nhân AIDS và người nhiễm HIV là nguồn truyền nhiễm duy nhất của nhiễm HIV Không có tổ chức nhiễm trùng tự nhiên ở động vật, tất cả mọi người nam hay nữ, người lớn hay trẻ em đều có khả năng cảm nhiễm với HIV Người

ta đã phân lập được HIV từ máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, nước bọt, nước mắt, sữa mẹ, nước tiểu và các dịch khác của cơ thể Mặc dù có sự phân bố rộng lớn như vậy của HIV trong cơ thể, nhiều nghiên cứu về dịch tễ học cho thấy rằng chỉ

có máu, tinh dịch và dịch tiết âm đạo đóng vai trò quan trọng trong việc làm lây truyền HIV Do đó, chỉ có 3 phương thức làm lây truyền HIV [37]

Trang 10

1.4.1 Lây truyền theo đường máu

HIV có mặt trong máu toàn phần và các thành phần của máu như hồng cầu, tiểu cầu, huyết tương và các yếu tố đông máu Do đó HIV có thể được truyền qua máu hay các sản phẩm của máu có nhiễm HIV Nguy cơ lây truyền qua đường truyền máu có tỷ lệ rất cao trên 90% HIV cũng có thể truyền qua việc sử dụng chung BKT bị nhiễm HIV mà không diệt trùng cẩn thận, đặc biệt ở những người NCMT theo đường tĩnh mạch Ngay cả khi chỉ có một lượng máu nhỏ còn sót lại trong BKT và được tiêm vào máu cũng làm lây truyền HIV Khi tiêm, người TCMT thường hút ít máu vào bơm tiêm trước khi tiêm Sau đó nếu BKT đó được dùng chung với một người khác thì máu

có nhiễm HIV sẽ đi thẳng vào máu của người đó Việc sử dụng các dụng cụ tiêm, chích, chữa răng, phẫu thuật, trong y tế mà không được tiệt trùng cẩn thận cũng có khả năng làm lây truyền HIV Cách lây truyền theo đường này cũng giống như đối với viêm gan B Trong khi chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS, HIV có trong máu và dịch tiết của họ có thể lây qua da bị tổn thương, xây xước, hay bị sơ ý làm kim tiêm có chứa máu nhiễm HIV đâm

phải [11], [1], [2], [37]

1.4.2 Lây truyền theo đường tình dục

Đây là phương thức lây quan trọng và phổ biến nhất trên thế giới HIV lây truyền qua giao hợp với người nhiễm HIV Sự lây truyền xảy ra qua tình dục khác giới giữa nam và nữ: giao hợp âm đạo - dương vật là lây truyền từ nam sang nữ và từ nữ sang nam HIV cũng có thể lây truyền QĐTD đồng giới nam theo đường giao hợp dương vật - hậu môn Nhiễm HIV có mối quan hệ chặt chẽ với các nhiễm khuẩn lây truyền theo đường tình dục đặc biệt là các bệnh viêm loét như hạ cam, giang mai Những bệnh này làm tăng cảm nhiễm với HIV và làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV có thể lên gấp 20 lần Những vết loét ở đường sinh dục cho phép virus xâm nhập vào máu Một số bệnh như

Trang 11

herpes simplex và giang mai làm giảm khả năng miễn dịch và có thể làm tăng tính cảm nhiễm với HIV Dịch tiết từ các vết loét và dịch tiết của tử cung và

âm đạo có chứa nhiều đại thực bào, bạch cầu đơn nhân và tế bào T bị nhiễm

HIV [11], [1], [2], [37]

1.4.3 Truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ chu sinh

Các nghiên cứu cho thấy rằng HIV đã được phân lập trong TB của bánh rau và máu của bào thai lúc 8 tuần tuổi và HIV được phân lập ở nhiều tuần sau

đó Một nghiên cứu nhiễm HIV ở trẻ sinh đôi cho thấy rằng trẻ sinh ra trước có nhiễm HIV cao hơn Điều này gợi ý khả năng lây truyền xảy ra từ mẹ sang con trong khi đẻ Lây truyền HIV có thể xảy ra trong lúc mang thai, trước, trong và một thời gian ngắn sau đẻ Nguy cơ lây truyền từ mẹ sang con khác nhau tùy từng nước, từ 13 – 32% ở các nước công nghiệp phát triển, 25 – 48% ở các nước đang phát triển Xếp theo thứ tự, nguy cơ lây nhiễm HIV giảm dần như sau: Nhận máu bị nhiễm HIV;Trẻ sinh ra từ mẹ bị nhiễm HIV; Dùng chung BKT với một người nhiễm HIV; Sinh hoạt tình dục theo đường hậu môn với bạn tình bị nhiễm HIV; Sinh hoạt tình dục theo đường âm đạo với bạn tình bị nhiễm HIV; Sinh hoạt tình dục theo đường miệng-bộ phận sinh dục với bạn tình bị nhiễm HIV; Tiếp xúc với các vật phẩm bị nhiễm HIV ở nhân viên

phòng thí nghiệm hay nhân viên y tế [11], [1], [2], [37]

Các nghiên cứu và kinh nghiệm cho thấy rằng HIV không lây truyền do tiếp xúc hàng ngày, do ôm hoặc hôn, qua thực phẩm hoặc qua nước, hoặc do muỗi và các côn trùng đốt (chích) khác [24]

Trang 12

1.6 CÁC PHƯƠNG PHÁP XÉT NGHIỆM HIV

1.6.1 Các xét nghiệm phát hiện kháng thể HIV

1.6.1.1 Các thử nghiệm sàng lọc

- Kỹ thuật ngưng kết hạt vi lượng SERODIA – HIV

- Kỹ thuật miễn dịch gắn men ELISA: Được dùng để chẩn đoán xác định HIV

* Kỹ thuật ELISA, phát hiện kháng thể IgG – HIV: Dễ thực hiện, đặc hiệu cao, được sử dụng thường qui

* Kỹ thuật ELISA phát hiện kháng thể IgA - HIV, tính đặc hiệu cao, nhưng độ nhạy hạn chế có giá trị chẩn đoán HIV ở trẻ dưới 1 tuổi

* Xét nghiệm kháng thể IgM – HIV độ nhạy thấp nên ít dùng

* Các kháng thể trong huyết thanh bệnh nhân phản ứng với kháng nguyên HIV trong ống nghiệm Nếu các kháng thể HIV tồn tại, phản ứng dẫn tới thay đổi màu, khi đó kết quả dương tính Độ nhạy và độ đặc hiệu đối với các phản ứng miễn dịch gắn men là trên 90%

* Các âm tính giả xuất hiện khi xét nghiệm được làm trong vài tuần đầu

vì kháng thể chưa thực sự hình thành ở giai đoạn này của bệnh

* Các kết quả dương tính giả thường phối hợp với các bệnh tự miễn dịch, bệnh thận, đa thai, bệnh gan, lọc máu và đã tiêm chủng phòng viêm gan

B, dại hay cúm

1.6.1.2 Các thử nghiệm khẳng định

- Thử nghiệm miễn dịch điện di Western Blot

- Thử nghiệm miễn dịch huỳnh quang (Immuno - Fluorescence Asay IFA)

- Kỹ thuật kết tủa phóng xạ (Radio - Immuno - Precipiation Assay RIPA)

- Thử nghiệm miễn dịch giả băng (Line Immunoasay - LIA)

Trang 13

Những protein tái tổ hợp và hay những peptit tổng hợp được tẩm vào những dải băng mẫu đặt trên những mảnh giá đỡ bằng plastic hay nitrocellulose và được tiến hành xét nghiệm theo một cách tương tự như thử

nghiệm miễn dịch thấm [2], [37]

1.7 TÌNH HÌNH NHIỄM HIV TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.7.1 Tình hình dịch HIV/AIDS trên thế giới

Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) và chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về phòng, chống HIV/AIDS (UNAIDS) đến 12/2007, toàn thế giới có khoảng 33,2 triệu người đang sống với HIV Trong

đó Châu Mỹ có khoảng 2,9 triệu trường hợp nhiễm HIV, Đông Âu và Trung Á 1,6 triệu, khu vực có người nhiễm HIV nhiều nhất là ở cận Sahara Châu Phi, hơn 22,5 triệu Nam Á có 4 triệu trường hợp chủ yếu là ở Ấn Độ và Thái Lan

Ở các khu vực khác, mức độ bị nhiễm là tương đối thấp Hàng ngày ước tính: Khoảng 5.700 người chết vì AIDS Khoảng 6.800 người mới bị nhiễm HIV, trong đó khoảng 95% ở các nước nghèo và trung bình Nam giới và nữ giới bị nhiễm bằng nhau và 50% là thanh thiếu niên từ 15 - 24 tuổi [37], [71]

Trong một phần tư thế kỷ kể từ khi những trường hợp nhiễm bệnh AIDS đầu tiên được biết đến tại Hoa kỳ, 25 triệu người đã chết vì căn bệnh này và ngày nay gần 35 triệu người trên khắp thế giới đang nhiễm virus HIV, một nửa trong số này là phụ nữ [11], [37]

Theo báo cáo của UNAIDS, Sahara Châu Phi là nơi có số người nhiễm HIV cao nhất trên thế giới, chiếm 2/3 (63%) tổng số người lớn và trẻ em đang sống với HIV trên toàn cầu [52], tiếp đến là Châu Á Thái Bình Dương với 8,3 triệu người nhiễm HIV Tuy nhiên, Đông Âu và Trung Á đang là khu vực có tốc độ lây nhiễm nhanh nhất thế giới Các dịch vụ tiếp tục gia tăng ở Đông

Âu, Trung Á và Đông Á [37], [58], [72]

Trang 14

Quốc gia bị ảnh hưởng nhất là nước Swaziland bé nhỏ nơi 1/3 người lớn

bị nhiễm HIV Tuy nhiên Kenya và Zimbabwe được báo cáo là con số nhiễm HIV tại đây đã có giảm bớt Nam Phi vẫn là nước có số người nhiễm HIV cao nhất tại Châu Phi: 5,5 triệu người lớn mang virus HIV Ấn Độ đã vượt qua Nam Phi để trở thành quốc gia có nhiều người sống chung với HIV cao nhất thế giới Số ca có HIV ở quốc gia đông dân thứ nhì hành tinh hiện chiếm 2/3 tổng số ca nhiễm loại virus chết người này trên toàn Châu Á Ước tính đến cuối năm 2005, có 5,7 triệu người Ấn Độ sống chung với HIV Tuy nhiên, tỷ

lệ số người lớn có HIV ở quốc gia Nam Á này là 0,9%, thấp hơn rất nhiều so với Nam Phi (18,8%) Campuchia và Thái Lan đã giảm tỉ lệ nhiễm bệnh nhưng UNAIDS cho biết Việt Nam, Indonesia và Papua New Guinea đang là điểm đáng lo ngại Việc sử dụng ma túy đang là nguyên nhân dẫn tới tình trạng gia tăng người nhiễm AIDS tại Nga và Ukraina [37], [71]

1.7.2 Tình hình dịch HIV/AIDS tại Việt Nam

1.7.2.1 Bối cảnh kinh tế - Xã hội ở Việt Nam

Tại thời điểm trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện, xã hội Việt Nam đang bắt đầu một quá trình biến đổi sâu sắc, mà cho đến ngày hôm nay hơn 10 năm sau sự kiện đó, chúng ta vẫn chưa thể đánh giá hết được những hệ luỵ của dịch HIV/AIDS Tất cả khởi đầu từ đường lối đổi mới kinh tế được khởi động vào cuối năm 1996 và bắt đầu phát huy ảnh hưởng từ 1989 - 1990 Với đường lối đó, có thể nhận thấy trước hết là sự thay đổi về chính sách cho phép nền kinh tế chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Với khẩu hiệu “cởi trói”, “bung ra”, các hoạt động kinh tế tư nhân dần dần được phép hoạt động, phát triển để đáp ứng tốt hơn những nhu cầu đa dạng và tăng của dân cư Đường lối mở cửa và làm bạn với tất cả các quốc gia cũng tạo điều kiện cho người Việt Nam có cơ hội lớn hơn trong việc tiếp xúc với thế giới bên ngoài Dưới tác động của những

Trang 15

đường hướng mới này, một số thay đổi cơ bản đã diễn ra tại Việt Nam Ngoài những ảnh hưởng tích cực, tất cả những yếu tố kể trên đều có một hệ luỵ không mong đợi và ở một số chừng mực nào đó các tệ nạn XH có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển Số lượng người nghiện hút tăng nhanh và cùng với nó là sự gia tăng các hoạt động liên quan tới việc buôn bán và vận chuyển ma tuý [3]

1.7.2.2 Đặc điểm dịch tể học của HIV/AIDS

Từ năm 1994, Hệ thống giám sát DTH đã cung cấp các số liệu thường kỳ

về HIV/AIDS ở Việt Nam Tính đến thời điểm cuối năm 2000, dịch HIV ở Việt Nam hiện tại vẫn đang trong giai đoạn tập trung, với tỉ lệ hiện nhiễm cao nhất được phát hiện trong các nhóm quần thể chính có nguy cơ cao, đó là những người TCMT, phụ nữ mại dâm (PNMD) và nam tình dục đồng giới (MSM) Tỷ lệ nhiễm HIV trong dân cư nói chung, ước tính khoảng 0,53% Số liệu từ Cục phòng chống HIV/AIDS đến tháng 12/2007 cho biết: “cả nước đã phát hiện 112.880 người nhiễm HIV/AIDS, trong đó 19.261 người đã chuyển sang AIDS và có 11.247 người tử vong do AIDS” Người nhiễm HIV xuất hiện ở tất cả các tỉnh, thành phố, 96% trong tổng số các quận/huyện và hơn 60% trong tổng số các xã/phường trên toàn quốc Trong số các ca nhiễm HIV được báo cáo có 83,16% ở độ tuổi từ 20 - 39 Nam giới chiếm 82,77% trong tổng số các trường hợp nhiễm HIV được phát hiện Số người trẻ nhiễm HIV ngày càng gia tăng và sự lây truyền QĐTD khác giới bắt đầu xuất hiện nhiều hơn Có sự khác biệt lớn về thời gian xuất hiện dịch HIV tại các địa phương của Việt Nam Dịch HIV xuất hiện đầu tiên ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam với dịch HIV đầu tiên trong nhóm những người NCMT lớn tuổi, nhiều người đã nghiện từ trước năm 1975 và chủ yếu sử dụng thuốc phiện Vụ dịch thứ hai trong nhóm những người NCMT được ghi nhân ở các tỉnh phía Bắc trong các năm 1996 - 2000 trong nhóm nam giới trẻ tuổi, sử dụng heroin Đến tháng 12/1998 dịch HIV đã được phát hiện ở tất cả các tỉnh thành trong

Trang 16

cả nước Theo báo cáo của Bộ Y tế cuối năm 2000, so sánh tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trên số dân thì số người nhiễm tại TP Hồ Chí Minh dẫn đầu, chiếm 15% Các Trung tâm Lao động, Giáo dục và Điều trị cho những người

sử dụng ma túy và mại dâm ngày càng trở nên quan trọng đối với tình hình dịch HIV ở Việt Nam Ước tính đến cuối năm 2006, có 42.000 người sử dụng

ma túy (chiếm khoảng ¼ tổng số người sử dụng ma túy được báo cáo) đang

sống tại 84 Trung tâm trên toàn quốc[11], [37]

1.7.3 Ƣớc tính và dự báo HIV/AIDS tại Việt Nam

Tính đến ngày 30/11/2006 luỹ tích các trường hợp nhiễm HIV được báo cáo trên toàn quốc là 116.240 người, trong đó có 20.151 trường hợp đã chuyển thành AIDS và 11.765 bệnh nhân đã tử vong do AIDS

Theo kết quả giám sát trọng điểm năm 2006, tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất trong nhóm người TCMT khoảng 22,27%, tỷ lệ nhiễm HIV trong GMD là 4,08%, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm thanh niên khám tuyển NVQS là 0,12%, PNMT là 0,32%

Ước tính có khoảng 220.000 người nhiễm HIV ở Việt Nam trong năm

2007 Chương trình điều trị ARV sẽ kéo dài thời gian sống của người nhiễm HIV, số lượng người nhiễm HIV ở Việt Nam được ước tính sẽ tăng lên 254.000 người (0,29%) vào năm 2010 và 280.000 người (9,31%) vào năm 2012 HIV sẽ tiếp tục lây nhiễm nhiều ở nam giới và phụ nữ trưởng thành Số lượng nam giới nhiễm HIV năm 2007 cao hơn 3 lần so với phụ nữ, mặc dù tỷ số này sẽ giảm xuống còn 2,6 lần vào năm 2010 do lây nhiễm HIV từ nam giới bị nhiễm HIV sang vợ và bạn tình của họ Trẻ em dưới 15 tuổi bị nhiễm HIV chỉ chiếm một số lượng khiêm tốn trong tổng số người bị nhiễm HIV với 3.750 trường hợp được phát hiện nhiễm HIV vào năm 2007 Tuy nhiên, với chiều hướng tăng lên của số lượng người nhiễm HIV, theo ước tính số trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm HIV sẽ là 5.700 trẻ vào năm 2012, điều này cũng đặt ra một yêu cầu cấp thiết cho các dịch

Trang 17

vụ chẩn đoán sớm trẻ bị nhiễm HIV, từ đó nhằm cung cấp cho chúng các dịch vụ chăm sóc và điều trị kịp thời Phòng lây truyền từ mẹ sang con cần thiết phải được mở rộng để ngăn ngừa việc có thêm nhiều trẻ em bị nhiễm HIV do việc tăng lên của số lượng phụ nữ mang thai nhiễm HIV, từ 4.100 trong năm 2007 lên 4.800 vào năm 2012 Trong năm 2007 chỉ có dưới 40% phụ nữ có thai nhiễm HIV nhận được điều trị ARV hoặc các chăm sóc, điều trị khác [11], [37]

Dự báo đến năm 2010, Việt Nam có khoảng 311.500 người nhiễm HIV

và có khoảng 72.970 bệnh nhân cần tiếp cận điều trị thuốc kháng HIV; trong

đó 93,5% bệnh nhân tiếp cận phác đồ bậc 1 và 6,5% bệnh nhân cần tiếp cận phác đồ bậc 2 [8]

Nhìn chung, Việt Nam vẫn đang còn trong giai đoạn dịch tập trung ở nhóm người có nguy cơ cao [1], [52] Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT được dự báo sẽ ổn định ở những tỉnh, thành phố đã bùng phát dịch bệnh sớm, bao gồm Cần Thơ, Tp.Hồ Chí Minh, 56% ở Quảng Ninh Tỷ lệ ổn định không có nghĩa là các chương trình dự phòng có thể được thu hẹp lại Nói cách khác, điều này chỉ ra rằng việc lây nhiễm HIV vẫn cần phải được kiểm soát bằng các chương trình dự phòng hiệu quả [11], [37]

1.7.4 Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Cà Mau

Tình hình nhiễm HIV/AIDS Luỹ tích từ đầu vụ dịch (1994) đến ngày 31/12/2009 trong tỉnh Cà Mau đã giám sát phát hiện được 2.629 cas nhiễm HIV, chuyển sang AIDS 262 cas, tử vong 72 cas

Nhiễm HIV/AIDS ở Cà Mau chủ yếu tập trung trong nhóm tuổi từ 20 - 29 tuổi (chiếm 54,8%) và có chiều hướng chuyển dịch từ nhóm tuổi 20 - 29 sang nhóm tuổi 30 - 39 tuổi (chiếm 28,3%) Phân bố người nhiễm HIV theo giới đã

có thay đổi, tỷ lệ nữ giới nhiễm HIV gia tăng qua các năm với tỷ lệ nam/nữ xấp xỉ 2/1, đặc biệt trong năm 2009 tỷ lệ nữ giới nhiễm HIV gần bằng nam giới với tỷ lệ nam/nữ là 53,4/46,6% Đường lây truyền HIV chủ yếu lây

Trang 18

truyền qua đường quan hệ tình dục không an toàn Hiện nay đã có 9/9 huyện, thành phố và 85% số xã và thị trấn trong toàn tỉnh có người nhiễm HIV/AIDS Đặc điểm nhiễm HIV ở Cà Mau không còn giới hạn ở đối tượng mại dâm, ma tuý, phạm nhân, mà nó còn lan ra cả đối tượng khác như: Cán bộ công nhân viên chức, láy xe, ngư phủ, lực lượng vũ trang, nông dân, phụ nữ mang thai…[8]

Kh«ng rá, 46.30%

§-êng t×nh dôc, 43.50%

MÑ truyÒn sang con, 1.20%

§-êng m¸u, 9.00%

Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ đường lây truyền dịch HIV/AIDS [54]

Tình hình dịch HIV/AIDS từ năm 2005 đến 2009 tại tỉnh Cà Mau:

- Năm 2005: Tổng số người nhiễm HIV được phát hiện trong năm 2005

là 281 cas, số tích lũy là 2.434, số bệnh nhân chuyển sang AIDS tích lũy từ đầu vụ dịch làn 209 cas, tử vong là 116 cas [39]

- Năm 2006: Tình hình dịch HIV/AIDS có xu thế tăng, trong năm 2006 phát hiện 383 người nhiễm HIV (2005 là 281 người), lũy tích toàn tỉnh là 2.743 người Trong đó: Người ở Cà Mau: 793, số người nhiễm HIV/AIDS ở

Cà Mau được quản lý, điều trị: 136 người [40]

- Năm 2007: Tổng số người nhiễm HIV mới 300, số luỹ tích 2.600 Trong đó: Người ở Cà Mau: 992 người Số người chuyển sang AIDS 10, lũy

Trang 19

tích 225, tại Cà Mau 52 người Số người tử vong do AIDS: 8, lũy tích 125 người [41]

- Năm 2008: Tổng số người nhiễm HIV mới: 252, số luỹ tích: 2.417 Trong đó: Người ở Cà Mau: 1.097 người Số người chuyển sang AIDS: 60, lũy tích: 205, người tại Cà Mau: 147 người Số người tử vong do AIDS: 2, lũy tích: 49 người, người tại Cà Mau: 40 [42]

- Năm 2009: Tổng số người nhiễm HIV mới: 249, người tại tỉnh Cà Mau: 214; số người nhiễm HIV luỹ tích: 2.660, người tại tỉnh Cà Mau: 1.340

Số người chuyển sang AIDS: 58, lũy tích: 263 Số người tử vong do AIDS:

1.7.5 Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại trại giam K1 Cái Tàu tỉnh Cà Mau

Công tác phòng, chống HIV/AIDS là một trong những chương trình y tế trọng tâm của y tế trại Tuy nhiên chương trình này luôn gặp khó khăn rất lớn

đó là kinh phí cho chương trình, mặc dầu vậy y tế trại đã tranh thủ sự giúp đỡ của y tế địa phương hổ trợ một phần kinh phí đáng kể trong các năm qua, giúp trại giải quyết một phần khó khăn của chương trình [49]

1.8 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ MA TÚY

1.8.1 Khái niệm

Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp Khi đã vào cơ thể con người nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của

Trang 20

người đó Nếu lạm dụng ma túy, con người sẽ bị lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng [37]

1.8.2 Phân loại chất ma túy

Có nhiều cách phân loại, sau đây là một số dạng phân loại cơ bản:

- Một là căn cứ vào nguồn gốc ma túy, ma túy được chia làm ba nhóm:

ma túy tự nhiên, ma túy bán tổng hợp, ma túy tổng hợp

- Ma túy tự nhiên là các chất có nguồn gốc tự nhiên như thuốc phiện và các sản phẩm của thuốc phiện như morphine, codein, coca và các hoạt chất của nhóm cocain, cần sa và các sản phẩm của cần sa

- Ma túy bán tổng hợp là các chất ma túy được điều chế từ các chất là sản phẩm tự nhiên bằng cách cho tác dụng với một số hóa chất để thu được chất ma túy có tác dụng mạnh hơn chất ma túy ban đầu Ví dụ: heroin

- Ma túy tổng hợp là các chất ma túy được điều chế bằng phương pháp tổng hợp hóa học toàn phần từ các hóa chất (được gọi là tiền chất)

Ví dụ: methadone (dolophin), dolargan

- Hai là căn cứ vào mức độ gây nghiện và khả năng lạm dụng, ma túy được chia ra hai nhóm: Ma túy có hiệu lực cao và ma túy có hiệu lực thấp Đó là các loại như amphetamin, methamphetamin, nhựa thuốc phiện, lá cây cần sa

- Ba là dựa vào tác dụng sinh lý trên cơ thể con người, ma túy được chia ra làm tám nhóm gồm: nhóm thuốc phiện và các chế phẩm, nhóm cần sa

và các sản phẩm của cần sa, nhóm coca và các sản phẩm của coca, nhóm thuốc ngủ, nhóm các chất an thần, nhóm các chất kích thích, nhóm các chất gây ảo giác điển hình, nhóm dung môi hữu cơ và thuốc xông

- Bốn là căn cứ vào nguồn gốc của ma túy và cơ chế tác động dược lý, các chuyên gia của Liên hợp quốc đã thống nhất phân chia ma túy thành 5 nhóm sau [37]:

Trang 21

 Nhóm 1: Ma túy là các chất từ cây thuốc phiện;

 Nhóm 2: Ma túy là các chất từ cây cần sa;

 Nhóm 3: Ma túy là các chất kích thích;

 Nhóm 4: Ma túy là các chất ức chế;

 Nhóm 5: Ma túy là các chất gây ảo giác

1.8.3 Các phương thức sử dụng ma túy

Có nhiều hình thức sử dụng ma túy như:

- Hút: Dùng bàn đèn hoặc tẩu để hút; Hình thức này thường dùng với các loại như thuốc phiện, cần sa

- Hít: Là hít trực tiếp các loại ma túy như heroin, cocain

- Tiêm chích ma túy: Dùng bơm kim tiêm (BKT) để tiêm chất ma túy vào cơ thể như tiêm tĩnh mạch, tiêm bắp hoặc dưới da

- Uống: Cách này thường dùng đối với các loại như hồng phiến, thuốc phiện sống hoặc các thuốc an thần

- Nhai: Nhai lá cây có chất ma túy như lá cây coca [37], [47]

1.9 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG MA TÚY

1.9.1 Tình hình sử dụng ma túy liên quan đến HIV trên thế giới

Vào những năm đầu thập kỷ 21, đại dịch HIV đã lây lan rất nhanh chóng trong nhóm người nghiện ma túy tại nhiều nước thuộc Nam, Trung và Đông Nam Á Sự kết hợp nhân tố đó đã làm gia tăng số lượng lớn những người dễ

bị tổn thương của nhiều nước thuộc khối Asean, nó đẩy nhanh sự lan truyền bệnh dịch HIV Một trong số đó là vùng có vị trí địa lý nằm giữa vùng Tam Giác Vàng (Myanmar, Lào, Thái Lan) và vùng Trăng Lưỡi Liềm (Afghanistan, Iran, Pakistan), với Afghanistan là nước sản xuất heroin đứng đầu thế giới Số lượng heroin buôn lậu từ Tam giác vàng phần lớn được chuyển đến các nước thuộc Bắc Mỹ, đầu tiên nó được đưa xuống phía Nam

Trang 22

thông qua thủ đô Bangkok của Thái Lan Vào năm 1980 một số lượng lớn heroin buôn lậu được vận chuyển theo đường mới là băng qua Trung Quốc,

Ấn Độ và Việt Nam Thêm vào đó, Colombia đã chuyển đổi sản xuất cocain sang heroin và cũng là nước đứng đầu về cung cấp ma túy Vì vậy các nước vùng Tam giác vàng nhân cơ hội đó có thêm một thị trường mới dể bán số lượng lớn heroin sản xuất ra Những sự thay đổi này xảy ra đồng thời với những sự đổi thay về kinh tế ở rất nhiều vùng thuộc Châu Á, thêm vào đó là

sự gia tăng một số lượng lớn dân di biến động, sự mở rộng xã hội, sự chênh lệch giàu nghèo và sự nổi lên của một bộ phận tầng lớp trung lưu mới có khả năng chi trả cho số lượng lớn hàng tiêu dùng kể cả ma túy Và hệ quả là nảy sinh thêm một số lượng lớn người liên quan đến các hoạt động buôn bán ma túy bất hợp pháp và cùng với nó là số lượng người sử dụng ma túy cũng gia tăng nhanh chóng Do những yếu tố về điều kiện địa lý và điều kiện kinh tế kết hợp là nguyên nhân làm gia tăng số lượng tội phạm có liên quan đến sử dụng ma túy tại châu Á, số lượng lớn người lây nhiễm HIV qua đường tình dục, nghèo đói, bất bình đẳng giới, và nhìn chung thiếu các dịch vụ phòng chống, chăm sóc và điều trị dự phòng cho người bị nhiễm HIV Và ở tại những vùng đó người dân thiếu kiến thức về phòng, chống lây truyền HIV do

đó càng làm tăng sự lây lan của đại dịch HIV/AIDS Tuy nhiên, không giống như ở Nam Phi, đại dịch HIV tập trung cao tại các nhóm nguy cơ cao như người nghiện chích ma túy, gái mại dâm và MSM Do đó, phòng lây nhiễm HIV và chiến lược phòng chống đại dịch này cần chú trọng ưu tiên cho các nhóm thuộc đối tượng có nguy cơ cao [62], [69] Ước tính đến cuối năm

2003, có khoảng 13,2 triệu người trên toàn thế giới tiêm chích ma túy, 78% trong số đó ở các nước đang phát triển Số người chích ma túy ở Nam và Đông Nam Á ước tính khoảng 3,3 – 5,6 triệu người [37], [73], [74], [64] Đông Nam Á ước tính khoảng 3,3 – 5,6 triệu người

Trang 23

Việc sử dụng thuốc phiện, cây gai dầu và cần sa là phổ biến và lâu đời tại Châu Á Phong trào sử dụng heroin phát triển rất mạnh vào năm 1980 Trải qua hai thập kỷ chúng ta lại phải chứng kiến việc sử dụng ma túy qua con đường tiêm chích trở nên rất phổ biến, không chỉ sử dụng heroin mà còn sử dụng cả những loại ma túy tổng hợp hay những chất gây nghiện khác [37]

Kể từ cuối những năm 1990, thuốc ATS trở thành một loại ma túy được người sử dụng ma túy lựa chọn tại các nước Thái Lan, Hàn Quốc, Philipine, Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản, Campuchia, Lào và Indonesia Việc sử dụng Ectasy (gồm Methylenedioxymethamphetamine viết tắt là MDMA), là một loại thuốc thuộc nhóm ATS, đã được dùng rất phổ biến tại các sàn nhảy ở Châu Á Nguồn cung cấp ATS tăng vào năm 2005 Theo báo cáo của Bộ Công An số lượng ma túy tổng hợp ATS bị bắt giữ đã tăng gấp năm lần (210.800 viên) vào năm 2005 so với số lượng 39.500 viên bị bắt vào năm

2004 Số lượng heroin bị bắt giữ vẫn không giảm trong cùng thời điểm Năm

2003 có khoảng 18.260 trường hợp vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy – theo báo cáo của Tổ chức Liên hiệp quốc về phòng chống tội phạm ma túy (UNODC) năm 2005 thì số vụ vi phạm về ma túy giảm khoảng 21% kể từ năm 2002 [37], [61]

Thuốc Polysybstance được sử dụng bằng cách pha chế vào các ly Cocktail, hoặc rượu mạnh “cocktailing” cũng được sử dụng tại những vùng này như một loại ma túy Việc góp tiền để mua ma túy và dùng chung BKT xảy ra rất phổ biến ở Châu Á Đã có sự gia tăng rõ rệt việc sử dụng ma túy với nhiều lý do khác nhau tại những vùng này của Châu Á, dĩ nhiên việc sử dụng

ma túy phổ biến và dễ dàng hơn việc tiếp cận điểm buôn bán ma túy, do ma túy bị truy bắt gắt gao cho nên giá thành của nó cũng trở nên đắt đỏ hơn Chính vì lẽ đó, những người sử dụng ma túy thường tìm đến loại thuốc dễ mua bán và sử dụng thay thế những loại thuốc truyền thống để thỏa mãn cơn nghiện [75], [67]

Trang 24

Tỷ lệ phần trăm người sử dụng ma túy được cho là sử dụng theo con đường tiêm chích là trên 80% tại một số nước thuộc Đông Âu và Trung Á, đó

là vùng mà số người nhiễm HIV phát triển mạnh nhất [37], [65], [63]

Tại một số nước đang phát triển, việc TCMT có thể nhận thấy tại nhiều tầng lớp xã hội, tại thành thị, tại nông thôn, tại vùng ngoại ô, tại người ở giúp việc nhà và tại các bộ lạc sống trong miễn rừng núi Sự lan truyền việc TCMT kèm theo những tác hại về sức khỏe và hậu quả tệ hại của nó là việc lan truyền HIV trong nhóm người TCMT một cách nhanh chóng, theo báo cáo hiện nay thì tổng số 114 nước trên thế giới thì có tời 136 nước có người TCMT, HIV lây truyền sang bạn tình con cái của họ, nó làm gia tăng chi phí của gia đình và xã hội, nó làm mất tự do hoặc cuộc sống của những người sử dụng MT bằng những quy định khắt khe của luật hình sự, sự trừng phạt của pháp luật [37], [60]

1.9.2 Tình hình sử dụng ma túy tại Việt Nam

Theo số liệu của Bộ Công an, đến cuối năm 2006 số người sử dụng MT thống kê và quản lý được là 160.226 người và loại MT sử dụng nhiều nhất hiện nay ở Việt Nam là heroin Cho dù sử dụng MT tổng hợp ATS chưa phổ biến tại Việt Nam nhưng nó cũng đã gia tăng từ năm 2003 – 2004, theo báo cáo số người sử dụng MT chuyển sang sử dụng MT tổng hợp ATS đang gia tăng Tại các thành phố lớn đang xuất hiện thanh niên ở độ tuổi 20 sử dụng các loại ma túy tổng hợp có nguy cơ lây nhiễm HIV qua các hành vi tình dục không an toàn Tỷ lệ HIV trong nhóm NCMT là 22,5% vào năm 2006 [37], [53], [61]

1.10 CÁC CHƯƠNG TRÌNH DỰ PHÒNG HIV/AIDS CHO NHÓM NCMT

Khi HIV nhiễm vào nhóm NCMT thì nguy cơ truyền nhiễm cho những người dùng chung kim tiêm là hết sức lớn – cao hơn và ngay lập tức hơn bất cứ nhóm có hành vi nguy cơ nào khác Do HIV tăng nhanh chi phí cá nhân cho

Trang 25

việc dùng chung dụng cụ tiêm chích Vấn đề mua được các dụng cụ tiêm chích tiệt trùng có lẽ đặc biệt nghiêm trọng ở các nước phát triển do không tiếp cận được các dụng cụ đã tiệt trùng Khi được trang bị với kiến thức về rủi ro và tiếp cận hợp pháp với các dụng cụ tiêm chích tiệt trùng, những người TCMT trong nhiều hoàn cảnh đã nhanh chóng có những hành vi an toàn hơn Những chương trình giảm thiểu tác hại của TCMT đối với dịch HIV đã giữ cho tỷ lệ huyết thanh dương tính thấp đáng ngạc nhiên trong số những người tiêm chích [37], [21], [65], [63]

Một chương trình dự phòng HIV đa dạng và toàn diện có nhiều nội dung hoạt động bổ trợ cho nhau nhằm giúp đỡ người sử dụng MT phát huy những hành vi BVSK và giảm những hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS cũng như các bệnh LTQĐTD khác như viêm gan B, C và các bệnh lây truyền QĐTD [37], [38], [66]

Những nội dung hoạt động của một chương trình dự phòng HIV toàn diện gồm có: Dự phòng từ xa đối với việc sử dụng ma túy; Tiếp cận cộng đồng; Chương trình tiếp cận và hủy BKT; Chương trình điều trị lạm dụng ma tuý: Mục tiêu của chương trình là giảm sử dụng ma tuý, giảm TCMT, giảm hành vi nguy cơ liên quan đến lây truyền HIV qua đường tình dục và cơ hội chăm sóc về GDSK và y tế, hỗ trợ tinh thần và thể chất cho người sử dụng ma tuý [37], [75],[68],[69]

- Tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện: Tăng việc tiếp cận với tư vấn xét nghiệm HIV là yếu tố chính là giảm nguy cơ lây nhiễm HIV cho cộng đồng từ nhóm người nhiễm HIV NCMT [37], [77]

- Dự phòng lây nhiễm HIV qua đường tình dục

- Các dịch vụ trong hệ thống luật hình sự

- Các dịch vụ cho người tiêm chích ma tuý nhiễm HIV/AIDS: Các can thiệp dự phòng từ xa để thanh niên không sử dụng ma tuý và người nghiện ma

Trang 26

tuý không sử dụng ma tuý theo đường tiêm chích cũng giúp ngăn chặn nguy

cơ lây truyền HIV qua tiêm chích Tuy nhiên, những người sử dụng ma tuý không qua đường tiêm chích vẫn có nguy cơ lây nhiễm HIV do qua đường tình dục với người đã nhiễm HIV [37], [21], [67], [72]

1.11 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH PHÒNG LÂY NHIỄM HIV

Có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành phòng lây nhiễm HIV trên nhóm NCMT

Bùi Thiện Thuật, Lê Cự Linh (2007): Tỷ lệ hiện mắc HIV của người NCMT trong trại tạm giam Quảng Ninh là 56,07%, những yếu tố làm tăng khả năng nhiễm HIV ở người NCMT gồm các hành vi dùng chung BKT, dùng lại BKT của bạn nghiện, TCMT hàng ngày và thời gian nghiện chích kéo dài [37], [10]

Lê Anh Tuấn, Phan Hoàng Nga, Nguyễn Thành Quang và cộng sự (2005) nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HIV chung của học viên trung tâm 05-06 là 40 – 50%, chỉ hơn 50% số học viên nắm vững các đường lây và phòng cơ bản [37], [16]

Lưu Minh Châu, Trần Như Nguyên, Mai Thu Hiền (2005): Tỷ lệ nhiễm HIV trên nhóm đối tượng TCMT tại Hải Phòng là 67% và Hà Nội là 63%, khoảng 2,4% tại Hải Phòng và 2,5% tại Hà Nội đã từng dùng chung BKT, tỷ

lệ sử dụng BCS trong nhóm đối tượng này thấp (tại Hải Phòng là 5,4% và Hà Nội là 7,4%) [37], [17]

Nguyễn Anh Tuấn, Roger Detels, Hoàng Thủy Long và CS (2002): nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc HIV trong nhóm NCMT dưới 30 tuổi tại Hải Phòng là 74%, kiến thức cơ bản về HIV và AIDS của những đối tượng trong nghiên cứu là khá cao, nhưng hiểu biết về HIV/AIDS và nhận thức nguy cơ lây nhiễm HIV không phù hợp với hành vi mà những người nghiện chích thực hiện 69% đối tượng tham gia nghiên cứu sử dụng BKT chung, tỷ lệ sử dụng BCS khi QHTD với gái mại dâm thấp (33%) [37], [22]

Trang 27

Theo Hà Đình Như, Nguyễn Đăng Ngoạn, Hồ Bá Do và cộng sự (2005): tỷ

lệ nhiễm HIV ở phạm nhân NCMT tại 5 trại giam ở Thanh Hóa là 15,7%, các yếu tố làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV trong các trại giam là: Xăm mình, phẩu thuật lấy bi và kiếm dương vật, sử dụng loại BKT nhiều lần, quy trình sử dụng BKT không đúng và thời gian sử dụng ma túy là trên 12 tháng [37], [45]

Theo Nguyễn Anh Quang (2007) nghiên cứu trên 731 người NCMT tại Tỉnh Điện Biên và Đồng Tháp cho thấy: Tỷ lệ hiểu biết đúng các đường lây truyền HIV từ 71,5% đến 81,3%, hiểu biết đúng về các biện pháp phòng chống HIV từ 65% đến 79,9% Có 98% đối tượng có thái độ sẵn sàng chăm sóc người thân nhiễm HIV, tỷ lệ đối tượng có thái độ giữ các mối quan hệ bình thường với người nhiễm HIV từ 71,4% đến 96,7% [37], [30]

Theo Nguyễn Thanh Long (2008) nghiên cứu tỷ lệ hiện nhiễm HIV và yếu tố hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm NCMT tại thị xã Lai Châu

và 3 huyện của tỉnh Lai Châu được tiến hành năm 2007 trên 330 đối tượng NCMT cho thấy có 40,3% người NCMT có kết quả xét nghiệm HIV (+) Có tới 87,27% không bao giờ dùng lại BKT Trong tổng số 43 người có sử dụng BKT thì chỉ có 27,91% là luôn luôn làm sạch BKT [37], [23]

Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Việt Hưng (2006): Nghiên cứu 387 đối tượng NCMT tại Trung tâm GDXH số 6 Tp.Hà Nội năm 2005 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV ở đối tượng NCMT là 58,6% Có 27,9% có kiến thức phòng chống HIV ở mức độ và chỉ 25,3% học viên có thực hành đúng [29], [37]

Trang 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Quần thể nghiên cứu là phạm nhân trong trại giam K1 Cái Tàu xã Khánh

An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tại thời điểm nghiên cứu

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang (Cross Sectional Study) [13]

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Tại trại giam Cái Tàu - xã Khánh An, huyện U Minh, Tỉnh Cà Mau

2.2.3 Mẫu nghiên cứu

2.2.3.1 Cỡ mẫu

Điều tra toàn bộ phạm nhân trong trại giam K1 Cái Tàu có mặt tại Trại thời điểm điều tra vào tháng 8 năm 2009 Với số mẫu điều tra được là 1.197 mẫu

2.2.3.2 Phương pháp chọn lựa đối tượng điều tra

Đây là điều tra cắt ngang, tại thời điểm nghiên cứu tiến hành điều tra toàn bộ phạm nhân có mặt tại Trại giam K1 Cái Tàu tỉnh Cà Mau

2.2.4 Các thông tin cần thu thập

2.2.4.1 Thu thập thông tin

Phỏng vấn trực tiếp đối tượng bằng Bộ câu hỏi soạn sẵn (dựa vào mẫu điều tra KABP của UBQGPC AIDS) do cán bộ Trung tâm phòng chống HIV/AIDS

đã được tập huấn kỹ năng và phương pháp phỏng vấn thực hiện

Trang 29

2.2.4.2 Về bệnh

Có nhiễm hoặc không nhiễm HIV/AIDS

Phạm nhân được xem là nhiễm HIV khi đã được xét nghiệm bằng phương cách III (những mẫu huyết thanh dương tính với cả 3 lần xét nghiệm bằng 3 thử nghiệm có chế phẩm kháng nguyên khác nhau, được coi là nhiễm HIV [35]

2.2.4.3 Về các yếu tố liên quan (các đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu)

- Giới: Chia 2 nhóm (nam, nữ)

- Tuổi: Được chia thành 2 nhóm tuổi

+ Dưới 30 tuổi

+ Từ 30 tuổi trở lên

Tuổi ở đây được qui ước là tuổi tròn của đối tượng được tính là: Năm hiện tại trừ cho năm sinh

Ví dụ: Đối tượng sinh năm 1980

Tuổi của đối tượng sẽ là 2009 - 1980 = 29 tuổi

Trang 30

- Tôn giáo: Được xếp thành 2 nhóm

+ Kinh doanh buôn bán

+ Lao động phổ thông và không nghề nghiệp

- Nơi cư trú: Được xếp thành 2 nhóm

+ Trong tỉnh

+ Ngoài tỉnh

- Tình trạng hôn nhân: Được xếp thành 2 nhóm

+ Đang có vợ, chồng

+ Độc thân, ly dị, ly thân, goá

- Làm ăn xa gia đình trên một tháng: Có 2 giá trị (có, không)

- Vào trại lần thứ mấy: Có 2 giá trị

+ Vào trại lần 1,

+ Vào trại lần 2 trở lên

Số lần vào trại được tính nếu như đối tượng nghiên cứu mới chỉ vào Trại lần đầu thì tính là 1 lần và đã vào trước đó 1 hay nhiều lần thì được tính từ lần

2 trở lên

Trang 31

- Nghiện chích ma túy trước khi vào trại: Có 2 giá trị (có, không)

- Thời gian nghiện chích ma túy: Có 3 giá trị

- Dùng chung Bơm kim tiêm của người khác: Có 2 giá trị (có, không)

- Cho người khác dùng chung BKT mới dùng xong: Có 2 giá trị (có, không)

2.2.5 Các biến số nghiên cứu

2.2.5.1 Các biến số liên quan đến kiến thức

- Đã nghe nói về HIV/AIDS: Gồm 2 giá trị (có, không)

- Mức hiểu biết về khả năng có thể phòng tránh HIV: gồm 2 giá (có, không)

- Hiểu biết chung về HIV/AIDS

+ Mức hiểu biết về đường lây truyền HIV: Gồm 4 giá trị

 Mức hiểu biết Tốt: Là trả lời đầy đủ 3 đường lây truyền HIV

 Quan hệ tình dục

 Qua đường máu

 Mẹ truyền sang con

 Cả 3 đường lây truyền

Trang 32

 Mức hiểu biết không tốt: Là trả lời không đầy đủ 3 đường lây truyền HIV

+ Mức hiểu biết về các biện pháp phòng lây nhiễm HIV: Gồm 10 giá trị

 Dùng bao cao su khi quan hệ tình dục

 Có ít bạn tình hơn

 Chung thủy một bạn tình

 Không quan hệ tình dục bừa bãi

 Tránh hoàn toàn không quan hệ tình dục

 Không dùng chung bơm kim tiêm

 Không dùng chung nhà vệ sinh

 Không tiếp xúc với người mắc AIDS

 Tránh để muỗi đốt

Người phỏng vấn không đọc mà chỉ gặng hỏi còn lý do nào khác không

và khoanh những câu trả lời thích hợp có hoặc không trong các biến số nghiên cứu

 Mức hiểu biết tốt: Là trả lời đầy đủ các biện pháp phòng lây nhiễm HIV

 Mức hiểu biết không tốt: Là trả lời không đầy đủ các biện pháp phòng lây nhiễm HIV

Người phỏng vấn hỏi từng ý và đối tượng nghiên cứu có thể trả lời (có, không) trong trường hợp đối tượng không trả lời thì người phỏng vấn sẽ khoanh vào ô không

Các giá trị nghiên cứu được đánh giá đúng khi các giá trị được trả lời có: + Dùng bao cao su mỗi khi quan hệ tình dục;

+ Chung thủy với một bạn tình;

Trang 33

+ Hạn chế quan hệ tình dục bừa bãi;

+ Đảm bảo chắc chắn mọi tiêm chích phải được thực hiện bằng bơm kim tiêm sạch

Các giá trị nghiên cứu được đánh giá đúng khi các giá trị được trả lời không:

+ Không dùng nhà vệ sinh công cộng;

+ Có ít bạn tình hơn;

+ Tránh không tiếp xúc với người mắc AIDS;

+ Tránh không ăn chung với người mắc AIDS;

+ Tránh không bị muỗi đốt

- Mức hiểu biết về cách đối xử với người nhiễm HIV: Gồm 3 giá trị

 Mức hiểu biết tốt: Là trả lời không phân biệt đối xử với người nhiễm HIV

2.2.5.2 Các biến số liên quan đến nhận thức

- Đánh giá về nguy cơ nhiễm HIV của bản thân: Có 2 giá trị

+ Có nguy cơ nhiễm

+ Không có nguy cơ nhiễm

- Lý do nghĩ rằng bản thân không có nguy cơ bị nhiễm HIV: Gồm 4 giá trị

+ Dùng bao cao su

Trang 34

- Lý do nghĩ rằng bản thân có nguy cơ nhiễm HIV gồm 5 giá trị

2.2.5.3 Các biến số liên quan đến thực hành phòng lây nhiễm HIV

Các thông tin này được hỏi về quá khứ trước khi vào Trại giam

- Tiêm chích ma tuý trước khi vào trại giam (có, không, không nhớ)

- Thời gian nghiện chích ma túy: Có 3 giá trị (< 5 năm, 5-10 năm, >10 năm)

- Số năm sử dụng ma túy và số năm chích ma túy: được tính bằng năm hiện tại trừ đi năm bắt đầu sử dụng ma túy

- Dùng chung bơm kim tiêm của người khác: Có 2 giá trị (có, không) Đây là câu hỏi có một lựa chọn, đối tượng phỏng vấn chọn 1 lựa chọn (có, không)

- Đưa cho người khác dùng bơm kim tiêm của mình mới dùng xong:

Có 2 giá trị (có, không)

Trang 35

Đây là câu hỏi có một lựa chọn, đối tượng phỏng vấn chọn 1 lựa chọn (có, không)

- Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục: Có 2 giá trị (có, không)

- Tiền sử mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục: Có 2 giá trị (có, không)

- Hành vi xăm mình: Có 2 giá trị (có, không)

Đây là câu hỏi có một lựa chọn, đối tượng phỏng vấn chọn 1 lựa chọn (có, không)

2.2.5.4 Hành vi tiếp cận với các can thiệp dự phòng HIV

- Giới thiệu kham chữa STI

Đây là câu hỏi có nhiều lựa chọn, đối tượng nghiên cứu nêu giá trị nào thì người phỏng vấn khoanh tròn vào giá trị đó

2.2.6 Công cụ thu thập số liệu

2.2.6.1 Phiếu điều tra

Sử dụng Phiếu phỏng vấn (bộ câu hỏi chuẩn) được Bộ y tế sử dụng trong giám sát hành vi cho nhóm đối tượng nghiện chích ma túy Trong quá trình tập huấn và điều tra thử, Phiếu phỏng vấn đã được hiệu chỉnh về mặt ngôn từ cho phù hợp và dễ hiểu đối với địa phương và trại giam

Trang 36

Phiếu phỏng vấn có 59 câu và cần 20 – 30 phút để hoàn thành cuộc phỏng vấn

Bố cục của Phiếu phỏng vấn gồm:

- Các thông tin chung:

+ Thông tin về hôn nhân và bạn tình

+ Thông tin về quan hệ tình dục, số và các loại bạn tình (vợ, chồng, người yêu, gái mại dâm)

+ Thông tin liên quan tới tình hình nghiện chích ma túy

+ Thông tin liên quan tới hành vi dùng chung bơm kim tiêm

+ Thông tin về hành vi phòng, chống HIV

Khi kết thúc phỏng vấn, đối tượng được mời sang phòng lấy bệnh phẩm Tại đây họ sẽ được tư vấn xét nghiệm HIV và kỹ thuật viên sẽ lấy mẫu máu

để xét nghiệm HIV nếu đồng ý xét nghiệm

2.2.6.2 Kết quả xét nghiệm HIV

Xét nghiệm HIV được thực hiện tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Cà Mau và được thực hiện theo phương cách III với các sinh phẩm xét nghiệm là Determin, Genscreen HIV ½ version 2, Vironostika Uniform II Ag/Ab

- Các trang thiết bị xét nghiệm: Dàn ELISA bao gồm

+ 01 máy lắc Degasa (hãng Sarste Gruppe – Đức)

+ 01 máy ủ IPS (hãng Sanofi – Pháp)

+ 01 máy rửa PW 40 (hãng Sanofi – Pháp)

+ 01 máy đọc quang phổ kế PR 2100 (Mỹ)

+ 01 máy in HP Desk 5ET 610 C (Spain)

Trang 37

+ 01 máy ly tâm Kobuta 5200 (Nhật)

- Sinh phẩm

+ Genscreen HIV ½ Version 2 lô 8G178 hạn sử dụng 15/1/2010

+ Vironostika HIV Uniform II Ag/Ab lô A59KK, hạn sử dụng 9/2009 + Determin HIV ½ lô 70935 U100 hạn sử dụng 29/11/2009

- Quy trình thực hiện xét nghiệm

+ Mỗi đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ lấy được 2ml máu tĩnh mạch cho vào ống nghiệm và quay ly tâm với 2000 vòng/phút, lấy huyết tương và tiến hành xét nghiệm với Genscreen HIV ½ Version 2

+ Mẫu cho kết quả xét nghiệm dương tính với kít Gengreen HIV ½ Version 2 sẽ được tiếp tục xét nghiệm với Determin HIV ½ và Vironostika HIV Uniform II Ag/Ab trên máy ELISA Biorad

- Quy trình thực hiện xét nghiệm

 Quy trình kỹ thuật kít ELISA Genscreen HIV ½ version 2

- Nguyên lý kỹ thuật

Genscreen HIV ½ version 2 là một kỹ thuật ELISA (thế hệ III) sandwich hai bước nhằm phát hiện kháng thể HIV-1 và HIV-2 trong huyết thanh hoặc huyết tương Thành phần kháng nguyên sử dụng ở pha rắn là kháng nguyên tinh khiết (Protein tái tổ hợp gp160, p25 của HIV-1 và protein vỏ của HIV-2) Thành phần cộng hợp là kháng nguyên glycoprotein tái tổ hợp và protein của HIV-1 và HIV-2 có gắn men peroxidase

- Các phản ứng diễn ra như sau

Mẫu thử và huyết thanh chứng được cho vào giếng

Trang 38

Kháng thể HIV-1 hoặc HIV-2 trong mẫu thử nếu có và trong huyết thanh chứng sẽ gắn vào kháng nguyên ở pha rắn

Sau khi ủ để phản ứng hoàn thành, khay nhựa được rửa bỏ những thành phần không phản ứng

Kháng nguyên gắn enzym trong cộng hợp cho vào sau đó sẽ gắn với kháng thể IgG, IgM, IgA đã được tóm tắt trên pha rắn tạo thành phức hợp KN-KT-KN gắn enzym

Sau khi ủ để phản ứng hoàn chỉnh, khay nhựa được rửa bỏ những thành phần không phản ứng, giai đoạn ủ tối tiếp theo với cơ chất, sự hiện diện của phức hợp miễn dịch sẽ biểu hiện bằng một sự thay đổi màu được đọc ở máy quang phổ kế

 Quy trình kỹ thuật kít ELISA Vironostika HIV Uniform II Ag/Ab

- Nguyên lý kỹ thuật

Vironostika HIV Uniform II Ag/Ab là một kỹ thuật ELISA (thế hệ III) sandwich một bước nhằm phát hiện kháng thể HIV-1 và HIV-2 trong huyết tương hoặc huyết thanh người

Thành phần kháng nguyên sử dụng ở pha rắn là kháng nguyên tinh khiết (HIV-1 gp160, HIV-1 p24, HIV-1, HIV-1 Peptid ANT70 và HIV-2 envpeptid)

Thành phần cộng hợp là hạt chứa kháng nguyên giống pha rắn và gắn với enzym

- Các phản ứng diễn ra như sau

Dung dịch pha loãng được cho vào giếng sẽ hoà tan hạt cộng hợp Sau

đó mẫu thử và huyết thanh được cho vào giếng Kháng thể HIV-1 hoặc (và)

Trang 39

HIV-2 trong mẫu thử nếu có và trong huyết thanh chứng sẽ tạo thành phức hợp miễn dịch KN-KT-KN gắn enzym

Sau khi ủ để phản ứng hoàn chỉnh, khay nhựa được rửa bỏ thành những phần không phản ứng, giai đoạn ủ tối tiếp theo với cơ chất, sự hiện diện của phức hợp miễn dịch sẽ biểu hiện bằng một sự thay đổi màu được đọc ở máy quang phổ kế

 Quy trình kỹ thuật kít Determin HIV 1

Hỗn hợp các chất tiếp tục di chuyển lên phía trên mang theo các cộng hợp

có gắn kháng nguyên và cho phản ứng với các kháng thể đơn dòng kháng HIV

½ được cố định sẵn ở vị trí kiểm chứng và tạo thành một vạch đỏ ở vùng này Như vậy, trong trường hợp mẫu thử dương tính sẽ xuất hiện hai vạch màu đỏ ở vị trí kiểm chứng và phản ứng

Trang 40

+ Cán bộ trực tiếp khảo sát điều tra: có 10 y bác sỹ

- Tổ chức tập huấn cho tất cả cán bộ giám sát và điều tra viên về cách chọn mẫu và thu thập số liệu

- Sau khi được tập huấn các điều tra viên sẽ tiến hành phỏng vấn các đối tượng tham gia nghiên cứu

- Các kỹ thuật viên xét nghiệm sẽ tiến hành lấy mẫu máu bảo quản theo đúng quy định và đưa về Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS để xét nghiệm

- Xét nghiệm HIV được tiến hành sử dụng một test xét nghiệm nhanh (rapid test) và hai test miễn dịch huỳnh quang ngưng kết men (ELISA) nhằm sàng lọc và khẳng định các kết quả dương tính

- Nhập và phân tích số liệu

- Phân tích số liệu thứ cấp (bộ câu hỏi được làm sạch)

- Viết báo cáo kết quả nghiên cứu

2.4 MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI

- Có thể gặp sai số nhớ lại từ đối tượng phỏng vấn

- Các thông tin về hành vi được khai thác trong nghiên cứu là nhạy cảm nên có thể đối tượng trả lời theo hướng tích cực, xu hướng che dấu hành vi nguy cơ như quan hệ tình dục không an toàn và sử dụng chung bơm kim tiêm của đối tượng tham gia nghiên cứu nên ảnh hưởng đến chất lượng thông tin

- Kỹ năng khai thác thông tin của cán bộ phỏng vấn không đồng đều có thể ảnh hưởng đến kết quả thu thập thông tin

- Một số thông tin khai thác có thể bị ảnh hưởng theo chủ quan của người phỏng vấn

Ngày đăng: 25/07/2014, 03:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi - Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV AIDS của phạm nhân trong trại giam k1 cái tàu, tỉnh cà mau năm 2009
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi (Trang 42)
Bảng 3.14. Phân bố tỷ lệ đã nghe nói về HIV - Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV AIDS của phạm nhân trong trại giam k1 cái tàu, tỉnh cà mau năm 2009
Bảng 3.14. Phân bố tỷ lệ đã nghe nói về HIV (Trang 48)
Bảng 3.15. Phân bố tỷ lệ hiểu đúng về đường lây truyền HIV - Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV AIDS của phạm nhân trong trại giam k1 cái tàu, tỉnh cà mau năm 2009
Bảng 3.15. Phân bố tỷ lệ hiểu đúng về đường lây truyền HIV (Trang 49)
Bảng 3.17. Phân bố tỷ lệ phạm nhân tự đánh giá hành vi - Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV AIDS của phạm nhân trong trại giam k1 cái tàu, tỉnh cà mau năm 2009
Bảng 3.17. Phân bố tỷ lệ phạm nhân tự đánh giá hành vi (Trang 50)
Bảng  3.18. Hành vi đã từng sử dụng ma túy - Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV AIDS của phạm nhân trong trại giam k1 cái tàu, tỉnh cà mau năm 2009
ng 3.18. Hành vi đã từng sử dụng ma túy (Trang 51)
Bảng 3.19. Kết quả  xét nghiệm HIV trước khi vào trại - Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV AIDS của phạm nhân trong trại giam k1 cái tàu, tỉnh cà mau năm 2009
Bảng 3.19. Kết quả xét nghiệm HIV trước khi vào trại (Trang 53)
Bảng 3.20. Kết quả  xét nghiệm HIV  trong đợt nghiên cứu - Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV AIDS của phạm nhân trong trại giam k1 cái tàu, tỉnh cà mau năm 2009
Bảng 3.20. Kết quả xét nghiệm HIV trong đợt nghiên cứu (Trang 53)
Bảng 3.23. Phân bố tỷ  lệ nhiễm HIV theo tuổi - Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV AIDS của phạm nhân trong trại giam k1 cái tàu, tỉnh cà mau năm 2009
Bảng 3.23. Phân bố tỷ lệ nhiễm HIV theo tuổi (Trang 54)
Bảng 3.24. Phân bố tỷ lệ nhiễm HIV theo dân tộc - Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV AIDS của phạm nhân trong trại giam k1 cái tàu, tỉnh cà mau năm 2009
Bảng 3.24. Phân bố tỷ lệ nhiễm HIV theo dân tộc (Trang 55)
Bảng 3.25. Phân bố tỷ  lệ nhiễm HIV theo Tôn giáo - Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV AIDS của phạm nhân trong trại giam k1 cái tàu, tỉnh cà mau năm 2009
Bảng 3.25. Phân bố tỷ lệ nhiễm HIV theo Tôn giáo (Trang 55)
Bảng 3.26. Phân bố tỷ  lệ nhiễm HIV theo trình độ học vấn - Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV AIDS của phạm nhân trong trại giam k1 cái tàu, tỉnh cà mau năm 2009
Bảng 3.26. Phân bố tỷ lệ nhiễm HIV theo trình độ học vấn (Trang 56)
Bảng 3.27. Phân bố tỷ  lệ nhiễm HIV theo nghề nghiệp - Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV AIDS của phạm nhân trong trại giam k1 cái tàu, tỉnh cà mau năm 2009
Bảng 3.27. Phân bố tỷ lệ nhiễm HIV theo nghề nghiệp (Trang 56)
Bảng 3.29. Phân bố tỷ  lệ nhiễm HIV theo tình trạng làm ăn xa nhà - Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV AIDS của phạm nhân trong trại giam k1 cái tàu, tỉnh cà mau năm 2009
Bảng 3.29. Phân bố tỷ lệ nhiễm HIV theo tình trạng làm ăn xa nhà (Trang 57)
Bảng 3.28. Phân bố tỷ lệ nhiễm HIV theo tình trạng hôn nhân - Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV AIDS của phạm nhân trong trại giam k1 cái tàu, tỉnh cà mau năm 2009
Bảng 3.28. Phân bố tỷ lệ nhiễm HIV theo tình trạng hôn nhân (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w