1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện phú tân năm 2011

56 527 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 661 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề được đặt ra làngười dân khi bị ốm đau thường đến những loại cơ sở khám, chữa bệnh nào?Giữa các nhóm người dân có thu nhập khác nhau, trình độ học vấn khác nhau,thì việc sử dụng cá

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới và hội nhập quốc tế,Ngành y tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, sức khoẻ nhân dân đãđược cải thiện một cách rõ rệt và toàn diện Nhiều bệnh tật đã được khống chế

và đẩy lùi, hầu hết các chỉ tiêu sức khoẻ cơ bản đã đạt và vượt mức kế hoạch

đề ra[1] Hệ thống y tế được củng cố và mở rộng, nhằm mục tiêu thực hiệncông bằng, hiệu quả và phát triển, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhândân ngày một tăng về số lượng và chất lượng

Mặc dù đã đạt được những thành quả nhất định, nhưng trong thực tế, hiệuquả và chất lượng các hoạt động của ngành y tế nói chung và hoạt động khámchữa bệnh nói riêng, còn thấp, chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc đổimới[7] Xã hội hoá dịch vụ y tế có thể được nhìn nhận như một cách tiếp cậnđúng, song cả về mặt cơ chế lẫn kỹ thuật vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cầnđược khắc phục[24]

Thật vậy, theo báo cáo tại Hội thảo về đổi mới quản lý các dịch vụ khám,chữa bệnh, hệ thống y tế công tại Việt Nam có mạng lưới từ trung ương đến

xã, phường, đã có nhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên, ít chú trọng đến chấtlượng dịch vụ và sự hài lòng của người bệnh; quản lý chưa tốt dẫn đến kinhphí khám chữa bệnh không được sử dụng hiệu quả[24] Theo đề xuất củanhóm nghiên cứu thuộc Bộ Y tế, đổi mới quản lý dịch vụ khám chữa bệnh sẽbao gồm cả tăng cường hoạt động y tế công, phát triển y tế tư nhân song songvới phát triển hệ thống thanh tra, giám sát và khuyến khích y tế tư nhân thamgia các dịch vụ mà Nhà nước chưa thể đáp ứng được Vấn đề được đặt ra làngười dân khi bị ốm đau thường đến những loại cơ sở khám, chữa bệnh nào?Giữa các nhóm người dân có thu nhập khác nhau, trình độ học vấn khác nhau,thì việc sử dụng các dịch vụ khám, chữa bệnh cho họ như thế nào? Đây là vấn

Trang 2

đề luôn được ngành y tế quan tâm, nhất là những người làm công tác y tế côngcộng Đặc biệt, việc tiếp cận cơ sở khám, chữa bệnh của người dân huyện PhúTân hiện nay vẫn còn chưa được xem xét

Xuất phát từ những vấn đề quan tâm trên, chúng tôi tiến hành thực hiện

đề tài: “Nghiên cứu sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện Phú Tân năm 2011” với các mục tiêu sau:

- Xác định tỷ lệ tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của ngườidân huyện Phú Tân năm 2011

- Xác định một số yếu tố liên quan đến việc tiếp cận và sử dụng dịch vụkhám chữa bệnh của người dân

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Dịch vụ khám, chữa bệnh

1.1.1 Một số khái niệm

- Dịch vụ: là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người

cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động nội bộ của người cungcấp để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng[19]

- Khám bệnh: là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thựcthể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng

để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được côngnhận[22]

- Chữa bệnh: là việc sử dụng phương pháp chuyên môn, kỹ thuật đã đượccông nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc,phục hồi chức năng cho người bệnh[22]

- Người bệnh: là người có nhu cầu sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữabệnh[22]

- Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh: là người đã được cấp chứngchỉ hành nghề và thực hiện khám bệnh, chữa bệnh[22]

- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: là cơ sở cố định hoặc lưu động đã đượccấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh[22]

1.1.2 Dịch vụ khám, chữa bệnh trên thế giới

- Về hệ thống tổ chức: hiện nay, các nước trên thế giới nhà nước thống

nhất việc chăm lo sức khoẻ cho nhân dân Hầu hết các nước có hệ thống tổ

Trang 4

chức cơ sở khám, chữa bệnh từ trung ương đến địa phương, theo địa giới hànhchính hoặc cụm dân cư.

- Về nguồn lực và chi phí y tế: nguồn lực y tế của các nước hoàn toàn

khác nhau và phụ thuộc vào trình độ kinh tế, chính trị của từng nước Ở cácnước phát triển, nguồn lực kinh tế cho y tế lớn nên hệ thống y tế phát triển.Chi phí cho y tế của các nước phát triển rất cao như Mỹ, Anh, Nhật, trong đóđứng đầu là Mỹ Chi phí y tế bình quân theo đầu người của Mỹ hiện cao nhấtthế giới ( 5.267 USD/người/năm, cao hơn hai lần chi phí ở các nước châu Âu

và gấp đôi ở Anh quốc, Canada, Châu Úc và New Zealand[25] So với mứcthu nhập bình quân đầu người được chi cho y tế thì ba nước mới gia nhập châu

Âu là Estonia, Hungary và Ba Lan đã có một dịch vụ y tế cực kỳ tốt, trong đóEstonia thậm chí còn xếp trên Pháp, Anh, Ý và Tây Ban Nha[13]

Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động y tế không phải hoàn toàn phụ thuộc vàokhả năng tài chính và chất lượng khám, chữa bệnh không phải lúc nào cũng tỷ

lệ thuận với chi phí y tế

- Về chất lượng chăm sóc và điều trị: theo Tổ chức Y tế thế giới (1983):

chất lượng chăm sóc, điều trị bệnh nhân là phải đảm bảo mỗi bệnh nhân về cảhai mặt, về mặt sức khoẻ: bệnh nhân được thực hiện tất cả các thao tác kỹthuật cần thiết để chẩn đoán và điều trị nhằm đem lại kết quả sức khoẻ tốtnhất, về mặt thứ hai: phải thích ứng với sự phát triển khoa học y học, với giá

cả hợp lý nhất để cho ra kết quả tốt nhất

Một công ty y tế tư nhân của Thụy Điển (Health Consumer Powerhouse)vừa công bố kết quả khảo sát vào năm 2005, ở 12 nước theo 5 nhóm là: quyềnlợi và thông tin cung cấp cho bệnh nhân, thời gian chờ đợi cho mỗi lần khám,kết quả chăm sóc, sự ân cần với bệnh nhân và quá trình cấp thuốc Nhữngthông tin được lấy bằng cách nói chuyện với các chuyên gia và bệnh nhân rồi

Trang 5

được kiểm tra bởi Tổ chức Y tế thế giới và Tổ chức vì sự cộng tác và pháttriển kinh tế Theo báo cáo này Hà Lan, Thụy Sĩ và Đức là ba nước có dịch vụ

y tế tốt nhất châu Âu[13] Pháp, quốc gia thường xuyên về nhất trong nhữngcuộc khảo sát như thế này đã xuống vị trí thứ 7 Trong khi đó thì Anh còn thấphơn, chỉ được xếp thứ 9 và chỉ hơn được Hungary, Ý và Ba Lan

Ở Đông Nam Á, Singapore là nơi có chất lượng dịch vụ y tế đứng đầukhu vực và hàng đầu thế giới[21] Chi phí chữa bệnh ở Singapore rẻ hơn sovới các nước phát triển khác

- Về nhu cầu sử dụng dịch vụ KCB: theo báo cáo tổng quan Ngành y tế

Việt Nam[2], số lần KCB ở các cơ sở y tế công/người/năm ở các nước châu Álần lượt là: Sri lanka 2,1 lần; Singapore 1,8; Trung Quốc 1,8; Pakistan 1,0; Ấn

Độ 0,8; Malaysia 0,7; và Campuchia 0,4 Trong đó Việt Nam 1,7 lần thấp hơn

so với Sri lanka, Singapore và trung Quốc

1.1.3 Dịch vụ khám, chữa bệnh tại Việt Nam

1.1.3.1 Tình hình KCB : hệ thống tổ chức và hoạt động

Hệ thống y tế Việt Nam được hình thành và phát triển qua các giai đoạnlịch sử, trong các bối cảnh khác nhau về kinh tế - xã hội và đã có những đónggóp to lớn vào sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân cũng như sựphát triển của ngành Y tế[21] Hệ thống khám bệnh, chữa bệnh của Việt Nambao gồm: cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước, tư nhân và cơ sở khámbệnh, chữa bệnh khác[22]

Trong những năm qua, với sự nổ lực và quyết tâm của toàn ngành , côngtác khám, chữa bệnh đã giành được nhiều thành tựu to lớn Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005, của Bộ chính trị nhận định: “ Trong hơn

10 năm qua, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở nước ta đạt

Trang 6

được nhiều thành tựu quan trọng” [5] Những thành tựu đó được thể hiện ởnhững điểm sau:

- Đã hình thành được một hệ thống khám, chữa bệnh đa dạng cả công và

tư, đa dạng về chuyên ngành và loại hình dịch vụ Hiện nay cả nước cókhoảng 13.500 cơ sở y tế công lập, bao gồm 166.500 giường bệnh của 961bệnh viện, 11.576 Trạm y tế[28] Bên cạnh đó còn có 7.793 cơ sở cung cấpdịch vụ khác như xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, và 6.414 phòng chẩn trị yhọc dân tộc[4]

- Nhiều kỹ thuật chẩn đoán, điều trị và chăm sóc đã được ứng dụng thànhcông như: phẫu thuật tim hở, thay van tim, bắc cầu mạch vành, nối chi, ghépthận, ghép gan, thụ tinh trong ống nghiệm…

1.1.3.2 Đánh giá thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân

- Nhu cầu CSSK của nhân dân càng cao về số lượng, chất lượng, loạihình và phạm vi cung cấp dịch vụ Tình trạng quá tải ở các bệnh viện tiếp tụcgia tăng Chất lượng dịch vụ kỹ thuật và chất lượng phục vụ tuy đã được cảitiến nhưng chưa đáp ứng nhu cầu của nhân dân Tình trạng lạm dụng kỹ thuậtcao, xét nghiệm, lạm dụng thuốc và tăng điều trị nội trú trong trường hợpkhông cần thiết vẫn tồn tại Trong khi đó, việc tổ chức thực hiện các chínhsách, chiến lược và kế hoạch y tế còn nhiều bất cập[27]

- Viện phí là nguyên nhân tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ một cách giả tạo.Khi quyền lợi của người thầy thuốc phụ thuộc vào sự chi trả trực tiếp của bệnhnhân, thầy thuốc có thể chỉ định những dịch vụ hoặc thuốc không thật sự cầnthiết cho người bệnh để tăng thu phí[11]

- Dựa quá nhiều vào việc tự điều trị và vào lời khuyên của người bánthuốc để chữa bệnh: trong khi hiện tượng bệnh nhân bỏ qua hệ thống y tế để tự

Trang 7

đến mua thuốc trực tiếp ở các hiệu thuốc và những người bán thuốc (nghĩa là

tự điều trị) không phải là hiếm ở nhiều nước đang phát triển thì ở Việt Namdường như người dân, đặc biệt là người nghèo, dựa quá nhiều vào các quầythuốc như là các cơ sở cung ứng DVYT Các cuộc điều tra gần đây cho thấy

số lần sử dụng tại quầy thuốc chiếm tới 2/3 tổng số lần sử dụng DVYT[2](không kể những lượt sử dụng dịch vụ chỉ để mua theo đơn kê của thầythuốc) Cả tự điều trị lẫn dựa vào lời khuyên của người bán thuốc đều nguyhiểm, và chắc chắn là tình trạng đó góp phần làm tăng sự đề kháng kháng sinhcủa các vi khuẩn ở Việt Nam

- Sử dụng thuốc không hợp lý và lạm dụng thuốc: sự sẵn có các loạithuốc và với giá cạnh tranh đã làm tăng thói quen tự điều trị Tự điều trị gắnliền với việc lạm dụng và sử dụng các loại kháng sinh bất hợp lý Ngay cả khithuốc đã được bác sĩ kê đơn, bệnh nhân cũng ít tuân thủ các hướng dẫn điều trịhợp lý Nhất là các bệnh nhân nghèo thường chỉ uống kháng sinh trong vòng 2ngày, bởi vì họ không đủ tiền để mua cả đợt điều trị[18]

- Lệ thuộc quá nhiều vào dịch vụ điều trị của các bệnh viện: hệ thống y tếcông ở Việt Nam khá tập trung vào mảng bệnh viện Tỷ lệ giường bệnh so vớidân số ở Việt Nam cao hơn cả ở Malaysia, Thái Lan và Philippine[2] Không

có gì đáng ngạc nhiên khi Việt Nam có tỷ lệ nhập viện vào loại cao nhất trongkhu vực châu Á – Thái Bình Dương Tất cả những điều này cho thấy so vớicác cơ sở CSSK ban đầu thì các bệnh viện, vốn không phải là các cơ sở điệutrị có hiệu quả nhất các bệnh thường gặp ở Việt Nam, lại được người dân sửdụng quá nhiều, đặc biệt là các nhóm giàu

- Tình trạng thiếu công bằng trong việc sử dụng bệnh viện công: mộttrong những vấn đề cơ bản gây khó khăn cho hệ thống y tế công của Việt Nam

là tình trạng thiếu công bằng trong sử dụng các bệnh viện công Vì thế, trong

Trang 8

những năm qua Nhà nước đã tiến hành nhiều chương trình nhằm giảm bớtnhững bất lợi cố hữu mà người nghèo phải đối mặt, như cấp thẻ KCB miễnphí và miễn giảm viện phí Tuy nhiên, thực tế chứng minh rằng các biện phápquan trọng này đã không cải thiện được bao nhiêu khả năng tiếp cận các bệnhviện công của người nghèo như dự kiến Đa số bệnh nhân sử dụng bệnh việnthuộc diện khá giả đã đặt ra một vấn đề bởi vì trên 3/4 chi ngân sách thườngxuyên của Nhà nước cho y tế được đầu tư cho hệ thống bệnh viện[2].

- Khả năng tiếp cận DVYT về mặt địa lý thấp ở các vùng xa xôi hẻo lánh:trong khi khả năng tiếp cận (về mặt địa lý) tới các DVYT của người dân ViệtNam là tuyệt vời, thì việc tiếp cận về mặt địa lý ở một số vùng vẫn còn hạnchế Đó là khu vực Tây Nguyên và miền núi phía Bắc, nơi có 55 dân tộc thiểu

số đang sinh sống, ước tính có khoảng 11% dân số Ở những vùng này, mật độdân số thấp và địa hình khó khăn nên người dân mất rất nhiều thời gian để điđến một cơ sở CSSK ban đầu gần nhất – đôi khi mất cả ngày đường hoặc hơn.Ngoài ra, vì nghèo nên các vùng này khó có thể thu hút được cán bộ y tế đếnlàm việc, và vì thế khả năng tiếp cận các DVYT cả công lẫn tư đều rất thấp

- Qui chế đối với những người cung cấp dịch vụ: tuy đã có nhiều văn bảnqui định các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu và các qui trình kỹ thuật đối vớicác cơ sở cung cấp dịch vụ, song việc thực thi các qui định này thông quacông tác thanh tra thường xuyên các cơ sở y tế vẫn chưa đạt yêu cầu Mộtphần là số lượng các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế tăng nhanh, nhất là các cơ sởcung ứng dịch vụ và quầy thuốc tư nhân Sở Y tế, cơ quan chịu trách nhiệmtiến hành thanh tra thường xuyên, lại không có đủ cả nhân lực cũng như ngânsách để tiến hành các hoạt động này[2] Thêm vào đó, nhiều Sở Y tế không códanh sách đầy đủ các cơ sở dịch vụ tư nhân, vì thế chỉ có những cơ sở có đăng

ký mới bị kiểm tra, còn những cơ sở có chất lượng dịch vụ thực sự cần thanh

Trang 9

tra – những người hành nghề không có đăng ký – đôi khi lại nằm ngoài vòngkiểm tra Trong qui trình thanh tra hiện hành cũng còn tồn tại mâu thuẫn vềquyền lợi, vì thành viên của đoàn kiểm tra thường cũng lại là người cung cấpdịch vụ vừa làm cho nhà nước lại vừa có phòng khám tư

1.2 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và chính sách của Nhà nước về công tác khám bệnh, chữa bệnh

1.2.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng

Nghị quyết 46 của Bộ chính trị đã nêu rõ các quan điểm chỉ đạo về côngtác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân như sau[5]:

- Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội Bảo vệ,chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảođảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trongnhững chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước Đầu tư cho lĩnhvực này là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ

- Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả vàphát triển, nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ, chămsóc và nâng cao sức khoẻ với chất lượng ngày càng cao, phù hợp với sự pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước

Phát triển bảo hiểm y tế toàn dân, nhằm từng bước đạt tới công bằngtrong chăm sóc sức khỏe, thực hiện sự chia sẻ giữa người khỏe với người ốm,người giàu với người nghèo, người trong độ tuổi lao động với trẻ em, côngbằng trong đãi ngộ đối với cán bộ y tế

- Thực hiện chăm sóc sức khoẻ toàn diện: gắn phòng bệnh với chữa bệnh,phục hồi chức năng và tập luyện thể dục thể thao nâng cao sức khoẻ Pháttriển đồng thời y tế phổ cập và y tế chuyên sâu; kết hợp đông y và tây y

Trang 10

- Xã hội hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe gắn với tăng cường đầu tưcủa Nhà nước; thực hiện tốt việc trợ giúp cho các đối tượng chính sách vàngười nghèo trong chăm sóc và nâng cao sức khỏe

Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân,mỗi gia đình và cộng đồng, là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền,Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, trong đóngành y tế giữ vai trò nòng cốt về chuyên môn và kỹ thuật Khuyến khích cácthành phần kinh tế đầu tư phát triển các dịch vụ chăm sóc và nâng cao sứckhỏe

- Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng vàđãi ngộ đặc biệt Mỗi cán bộ, nhân viên y tế phải không ngừng nâng cao đạođức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn, xứng đáng với sự tin cậy và tônvinh của xã hội, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người thầythuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền”

1.2.2 Chính sách của Nhà nước về công tác khám bệnh, chữa bệnh

Luật khám bệnh, chữa bệnh đã nêu các chính sách của Nhà nước về côngtác khám bệnh, chữa bệnh như sau[22]:

- Ưu tiên bố trí ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cơbản của nhân dân Quan tâm dành ngân sách cho việc chăm sóc sức khoẻ đốivới người có công với cách mạng, trẻ em, người nghèo, nông dân, đồng bàodân tộc thiểu số, nhân dân ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn

- Tăng cường phát triển nguồn nhân lực y tế, đặc biệt là phát triển nguồnnhân lực y tế ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn Thực hiện chế độluân phiên có thời hạn đối với người hành nghề tại cở sở khám bệnh, chữabệnh từ tuyến trên xuống tuyến dưới, từ vùng có điều kiện kinh tế - xã hộikhông khó khăn đến vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn

Trang 11

- Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; khuyếnkhích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.

- Khuyến khích việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trongkhám bệnh, chữa bệnh

- Kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền trong khám bệnh, chữa bệnh

1.3 Khả năng cung cấp dịch vụ khám, chữa bệnh

- Công tác khám, chữa bệnh Ngành y tế đã thực hiện nhiều giải pháp để

nâng cao chất lượng KCB, chống quá tải thông qua nâng cao chất lượng chẩnđoán, điều trị để rút ngắn thời gian điều trị, tăng giường bệnh, đầu tư xây dựngmới, nâng cấp cơ sở, tăng cường chỉ đạo tuyến

Hệ thống các bệnh viện công lập được củng cố và phát triển, bước đầukhắc phục được tình trạng xuống cấp, thiếu hụt giường bệnh Thiết bị chẩnđoán và điều trị cơ bản được bổ sung cho bệnh viện huyện và một số thiết bịhiện đại chuyên sâu được trang bị cho bệnh viện tỉnh, trung ương Tại cácbệnh viện tuyến trên, nhiều kỹ thuật cao và phức tạp đã được thực hiện thànhcông góp phần chữa trị và cứu sống được nhiều bệnh hiểm nghèo

- Hệ thống y tế tư nhân được quan tâm thúc đẩy phát triển Đến nay cả

nước có trên 100 bệnh viện tư nhân với hơn 6.000 giường bệnh, 35.000 phòngkhám và hàng chục vạn nhà thuốc tư nhân[28], trên 21.600 nhà thuốc tư nhân,

450 cơ sở sản xuất thuốc y học cổ truyền[4] Tuy nhiên, quy mô các CSYTngoài công lập nhìn chung còn nhỏ

- Mạng lưới y tế cơ sở phát triển rộng khắp với gần 100% số xã, phường,thị trấn trong cả nước có cán bộ y tế làm việc, khoảng 65% số xã có bác sĩ,93,3% số xã có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi, hơn 90% số thôn bản có nhânviên y tế hoạt động; khoảng 65% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã[28]

Trang 12

Mạng lưới y tế cơ sở đã tạo điều kiện tốt để người dân tiếp cận DVYT cơ bản

có chất lượng, đặc biệt là người nghèo và dân tộc thiểu số Ước tính có khoảng70% số trạm y tế xã, phường đã thực hiện KCB ban đầu cho người có thẻBHYT[4]

- BHYT tiếp tục được mở rộng Tính đến cuối năm 2007, cả nước có 36,5triệu người tham gia BHYT (khoảng 42% dân số)[30] Nhiều cơ sở y tế ngoàicông lập có đủ điều kiện theo quy định đã tham gia KCB cho người có thẻBHYT

1.4 Nhu cầu sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh

1.4.1 Mức độ sử dụng dịch vụ y tế

Một phương pháp thường được sử dụng để đánh giá tổng quát mức sửdụng DVYT là số lần sử dụng DVYT bình quân đầu người một năm Theo sốliệu điều tra năm 1998, số lần sử dụng DVYT công trung bình/ người/ năm là1,42 Và năm 1993 là 0,54 (bảng 1.1) Cũng qua số liệu này cho thấy giữa cácnhóm thu nhập có sự khác biệt lớn trong tổng số lần sử dụng DVYT Trongkhi số lần sử dụng DVYT/ người/ năm (không kể tự mua thuốc) ở nhómnghèo nhất là 2,4 thì số liệu tương ứng ở nhóm giàu nhất là 4,6[2]

Theo kết quả VNHS 2001 – 2002[1], mỗi năm bình quân một người sẽ có1,5 đợt ốm Như vậy, hàng năm sẽ có khoảng 123 triệu đợt ốm trong dân cưnước ta Sức khoẻ của các nhóm tuổi rất khác nhau Trẻ em hay mắc bệnh lâynhiễm, thanh thiếu niên hay bị tai nạn chấn thương, trong khi người cao tuổihay mắc các bệnh không lây nhiễm và bệnh mãn tính Trong vòng một tháng,khoảng 17% trẻ em dưới 5 tuổi sẽ mắc bệnh so với 7% của thanh niên 15 – 24tuổi Từ tuổi trung niên (49 – 50 tuổi) trở lên thì xu hướng bệnh tật tăng dầntheo nhóm tuổi Tuổi càng già tỷ lệ ốm càng cao Đến nhóm 85 tuổi trở lên cókhoảng 18,5% người khai có bệnh trong tháng qua[1]

Trang 13

Mức sống cũng ảnh hưởng đến nhu cầu CSSK, đối với người 15 tuổi trởlên, 22% người nghèo trả lời là sức khoẻ yếu so với 15,5% ở nhóm người cóthu nhập trung bình và 10% người giàu[1].

Với những sự khác nhau về mức độ và loại bệnh, về mức sống và nơi ở,

mô hình sử dụng DVYT đương nhiên rất khác nhau Đối tượng cần quan tâm

ở đây là những người có nhu cầu sử dụng DVYT nhưng không tới được CSYTđúng tuyến phù hợp để điều trị bệnh Vấn đề thứ hai cần được đặc biệt quantâm là khả năng chi trả DVYT của các hộ gia đình mà không dẫn đến nghèokhổ

Một vấn đề khác đang rất được quan tâm hiện nay là BHYT có thay đổihành vi tìm kiếm DVYT của người dân hay không ? Đối với người nghèo,BHYT có giúp tăng cường khả năng tiếp cận các DVYT hơn hay không ?Một nghiên cứu ở tỉnh Hải Phòng năm 2007[14] cho thấy: khi bị ốm,người dân đến TYT xã 44%, phòng khám đa khoa khu vực, trung tâm y tế 5%

Có 17,9% tự mua thuốc về điều trị Gia đình tự chi trả tiền KCB 78%, BHYTchi trả 15,9% Có 46,4% hộ gia đình có thuốc dự trữ trong nhà, có trên 10%

hộ gia đình mua thuốc tại các mẹt thuốc ngoài chợ

Trong khi đó, tình hình sử dụng DVYT chung của cả nước, theo Báo cáo

y tế Việt Nam 2006[1]: trung bình trong một năm, số lượt người dân được tiếpxúc với DVYT công lập là 280 lượt bình quân 100 người dân, tương đươngvới DVYT tư nhân là 287 lượt Nhìn chung, người dân sử dụng các CSYTkhác nhau, tuỳ thuộc theo điều kiện kinh tế, địa lý và các yếu tố ảnh hưởngkhác Vấn đề mà hệ thống y tế cần quan tâm tìm hiểu là khi bị bệnh người dân

đi khám chữa bệnh ở đâu, sử dụng DVYT có chất lượng cao hay thấp Cácphân tích trong nghiên này sẽ tập trung làm rõ các yếu tố kinh tế, địa lý,

Trang 14

BHYT…có liên quan đến việc lựa chọn CSYT, đồng nghĩa với việc lựa chọnchất lượng DVYT như thế nào.

Bảng 1.1: Số lần sử dụng DVYT/người/năm theo loại hình cơ sở dịch vụ và

nhóm chi tiêu đầu người, năm 1993 và 1998.

Cơ sở cung cấp

DVYT

Tổng số

Nhóm chi tiêu bình quân đầu người

Nhómthấpnhất

Nhóm2

Nhóm3

Nhóm4

Nhómcaonhất

1993

Các CSYT công khác 0,03 0,02 0,03 0,02 0,04 0,07Phòng khám, bác sỹ tư 0,66 0,46 0,52 0,78 0,64 0,88

lệ sử dụng DVYT/ người/ năm ở Đông Nam Bộ cao gấp gần 2,5 lần so vớiTây nguyên Ngoài ra, tỷ lệ sử dụng dịch vụ theo cơ sở cung cấp dịch vụ cũngkhác nhau giữa các vùng Chẳng hạn, tỷ lệ sử dụng dịch vụ bệnh viện công làcao nhất ở vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng và thấp nhất là ở

Trang 15

miền núi phía Bắc và Tây nguyên Mặt khác, tỷ lệ sử dụng dịch vụ trạm y tế

xã bình quân đầu người là cao nhất ở các vùng đồng bằng sông Cửu Long,miền núi phía Bắc và Tây nguyên Tỷ lệ sử dụng dịch vụ tại các phòng khám

tư cao nhất ở vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long và thấp nhất ởmiền núi phía Bắc

Bảng 1.2: Số lần sử dụng dịch vụ/người/năm theo vùng, năm 1998

Cơ sở cung cấp

dịch vụ

Miền núi phía Bắc

ĐB sông Hồng

Bắc trung bộ

Duyên hải miền Trung

Tây Nguyên

Đông Nam Bộ

ĐB sông Cửu Long

Bệnh viện công 0,52 0,65 0,51 0,49 0,50 0,94 0,56

CSYT công khác 0,26 0,47 0,30 0,06 0,12 0,10 0,21

PK, bác sỹ tư 0,56 1,99 1,70 1,08 1,46 2,37 2,61Quầy thuốc 3,56 6,57 7,26 6,56 2,96 8,34 9,18

Ngoài ra, giữa các loại cơ sở cung cấp dịch vụ còn có những khác biệttheo vùng trong cung cấp DVYT So với các vùng khác thì ở khu vực miềnnúi phía Bắc, tỷ lệ sử dụng các cơ sở y tế công, đặc biệt là các trạm y tế xã,trong tổng số các loại hình dịch vụ cao hơn nhiều, trong khi đó tỷ lệ sử dụngdịch vụ tại các phòng khám và bác sĩ tư lại thấp hơn (bảng 1.3) Ở khu vựcTây Nguyên, mức sử dụng dịch vụ mua thuốc so với tổng mức sử dụng dịch

vụ là thấp nhất trong cả nước Những mô hình này dường như phản ánh mộtthực trạng là ở hai vùng trên có ít bác sĩ tư nhân và quầy thuốc hơn các vùngkhác

1.4.3 Xu hướng sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh của người dân

Một thực trạng rất phổ biến hiện nay trong hành vi tìm kiếm DVYT củangười dân là tình trạng tự điều trị Theo Bộ y tế[1], thì tỷ lệ các đợt ốm tự mua

Trang 16

thuốc về chữa chiếm đến khoảng 3/4 số đợt ốm (73%) Tỷ lệ này thấp hơn ởtrẻ em dưới 5 tuổi, nhưng vẫn chiếm 2/3 số đợt ốm (65,5%) Đối với người già

tỷ lệ này cũng khá cao khoảng 50 đến 70%

Bảng 1.3: Sự phân bổ số lần sử dụng dịch vụ theo cơ sở cung cấp dịch vụ và nhóm

chi tiêu bình quân đầu người, năm 1998

Cơ sở cung cấp

DVYT

Tổng số

Nhóm chi tiêu bình quân đầu người

Nhómthấpnhất

Nhóm2

Nhóm3

Nhóm4

Nhómcaonhất

Các CSYT công khác 2,42 2,05 1,79 2,13 3,14 2,89Tất cả CSYT công 13,82 12,59 12,38 13,67 15,98 14,16

PK, bác sỹ tư 17,02 14,93 14,46 17,38 16,00 21,38Quầy thuốc 65,66 69,29 69,68 66,56 64,81 59,37

1.4.4 Các yếu tố liên quan đến sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh

Tại sao ở Việt Nam tỷ lệ sử dụng DVYT ở nhóm người nghèo lại thấphơn so với những nhóm không nghèo? Tỷ lệ này chịu ảnh hưởng hàng loạt các

Trang 17

yếu tố: khoảng cách từ nơi cư trú (thiếu phương tiện) đến CSYT, phí dịch vụ,chất lượng dịch vụ, thu nhập gia đình, trình độ học vấn, tuổi, giới và mức độbao phủ của bảo hiểm y tế.

Kinh nghiệm ở một số nước đang phát triển cho thấy rằng yêu cầu vềdịch vụ y tế nói chung, dịch vụ bệnh viện hay dịch vụ y tế tư nhân nói riêngthường phụ thuộc nhiều vào thu nhập Với các yếu tố khác là tương đương,khi người dân có thu nhập cao hơn sẽ có khả năng sử dụng nhiều dịch vụCSSK hơn và có điều kiện sử dụng dịch vụ với giá cả cao hơn Mức thu nhậpcao đáp ứng dịch vụ y tế tuyến 2, tuyến 3 và các dịch vụ y tế tư nhân cũng cónghĩa là sự chênh lệnh trong sử dụng DVYT giữa các nhóm giàu và nhómnghèo sẽ gia tăng trong một hệ thống y tế định hướng thị trường

Một yếu tố chủ yếu khác quyết định yêu cầu sử dụng DVYT là giá cảdịch vụ Giá DVYT càng cao thì yêu cầu đối với dịch vụ đó càng thấp Điều

đó lý giải tại sao tỷ lệ sử dụng dịch vụ của người nghèo lại thấp hơn ngườigiàu – vì giá mà họ phải trả cho những dịch vụ là cao so với thu nhập Chấtlượng chấp nhận được của dịch vụ cũng phần nào ảnh hưởng đến yêu cầu.Cùng một giá cả dịch vụ, sự cải thiện về chất lượng dịch vụ sẽ giúp tăng việc

sử dụng dịch vụ Ngược lại, ở những CSYT có chất lượng dịch vụ bị ngườidân đánh giá là kém thì tỷ lệ sử dụng dịch vụ sẽ thấp Yếu tố này đi ngược lạilợi ích của người nghèo, vì ở hầu hết các nước, so với người giàu thì ngườinghèo chỉ có đủ điều kiện tiếp cận dịch vụ có chất lượng thấp hơn Điều đócũng có nghĩa là cần căn cứ vào chất lượng dịch vụ để định giá cho nhữngDVYT mà người nghèo sử dụng

Yếu tố thứ tư là khoảng cách địa lý từ nơi cư trú đến CSYT Ở Việt Nam,khoảng cách địa lý đến cơ sở y tế dường như không phải là một yêu tố quantrọng quyết định tỷ lệ sử dụng DVYT vì đất nước ta có mạng CSYT công rộng

Trang 18

khắp Tuy nhiên, ở vùng núi và vùng sâu thì việc tiếp cận CSYT là khó khăn

vì mật độ dân cư thấp và đường sá khó đi Vì những người nghèo nhất lại sống

ở những vùng như vậy, nên khoảng cách trung bình từ nhà đến CSYT đối vớingười nghèo là lớn hơn so với người không nghèo Khoảng cách xa hơn làmtăng thêm chi phí cơ hội khi phải đến cơ sở cung cấp dịch vụ, vì vậy nó cũng

là yếu tố làm giảm tỷ lệ sử dụng DVYT

Yếu tố nữa có ảnh hưởng quan trọng đến việc sử dụng DVYT là trình độhọc vấn Bằng chứng thực tế cho thấy những người có học vấn cao hơn thì sửdụng DVYT nhiều hơn so với những người học vấn kém Điều này đặc biệtđúng đối với việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trẻ em; những đứa trẻ mà mẹ cóhọc vấn cao hơn thì khi ốm đau thường có điều kiện để điều trị hơn những trẻ

mà mẹ học vấn thấp hoặc không có học vấn Người nghèo điển hình là cótrình độ học vấn thấp hơn và thực tế này giúp giải thích tại sao họ có mức sửdụng DVYT thấp hơn người giàu

Hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế: phần lớn những cuộc điều tra nhóm cótrọng tâm cho thấy dân nghèo nông thôn coi việc phải sử dụng những DVYT

là bất đắc dĩ Họ tin vào sức khoẻ của mình và tin rằng bệnh tật sẽ tự khỏi.Nhận thức và quan niệm của người nghèo ở miền Bắc và miền Nam dườngnhư còn có sự khác biệt Ở miền Bắc, nhìn chung ngay cả dân nghèo nôngthôn cũng có nhận thức tốt hơn về các vấn đề sức khoẻ thông thường nhờ cótrình độ học vấn cao hơn và các chương trình y tế cho tuyến cơ sở được triểnkhai ở miền Bắc sớm hơn ở miền Nam Ngoài ra, những cuộc điều tra địnhtính khẳng định thêm kết quả từ cuộc điều tra hộ gia đình về tình trạng tự muathuốc điều trị phổ biến ở vùng nông thôn Thái độ xử lý của người dân khi họ

bị ốm có sự giống nhau đến ngạc nhiên giữa các nhóm thu nhập và giữa cácvùng[2]

Trang 19

Một yếu tố quan trọng nữa là khả năng tiếp cận trạm y tế xã, đặc biệt ởvùng núi, vùng xa Ở những vùng này, người dân rất ngại xa xôi, nhất là khiđường sá đi lại khó khăn, nên hầu như họ đều đến khám chữa bệnh tại cơ sởgần nhất, bất kể đó là cơ sở loại gì.

1.5 Vài nét về huyện Phú Tân tỉnh Cà Mau

1.5.1 Điều kiện tự nhiên

Huyện Phú Tân được tái thành lập vào đầu năm 2004[8], là một huyệnven biển, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Cà Mau Phú Tân có hệ thống sôngngòi chằng chịt, giao thông đi lại còn khó khăn, đời sống của người dân chủyếu là nuôi trồng thuỷ sản và nông nghiệp Huyện có 8 xã và 1 thị trấn Thịtrấn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của huyện, nhưng nằm venbiển nên các xã còn lại có khoảng cách ngày càng xa trung tâm huyện lỵ Do

đó với điều kiện địa lý có thể phân chia huyện thành 3 vùng: vùng xa trungtâm huyện (gồm Việt Thắng, Phú Thuận, Phú Mỹ, Phú Tân); vùng gần trungtâm huyện (gồm Việt Khái, Tân Hưng Tây, Rạch Chèo, Tân Hải) và vùngtrung tâm huyện (thị trấn Cái Đôi Vàm)

+ Diện tích tự nhiên: 44.595 ha, chiếm 8,6% diện tích toàn tỉnh Cà Mau + Dân số: 113.267 người, bằng 9,2% dân số toàn tỉnh Cà Mau

có 8 Trạm y tế, 1 Phòng khám đa khoa khu vực và có 75/ 75 tổ y tế ấp, khóm

Về lĩnh vực y tế tư nhân hoạt động cũng khá phong phú, đa dạng toàn huyện

Trang 20

có tất cả 65 cơ sở hành nghề y, dược tư nhân và DVYT[20] Công tác quản lý

y, dược tư nhân chưa thật sự chặt chẽ, bên cạnh đó do trình độ dân trí còn giớihạn, điều kiện đi lại còn khó khăn nên sự chọn lựa các dịch vụ y tế của ngườidân còn hạn chế Nhất là đối tượng nghèo, thiếu hiểu biết, họ không có nhiềulựa chọn, mà chỉ đến những cơ sở y tế nào thuận lợi nhất, mà không biết đếnchất lượng, kể cả những cơ sở chưa đủ điều kiện hành nghề Một đặc điểm kháphổ biến trong những năm gần đây mà chưa được khắc phục, là tình trạng cácghe bán hàng – bán khắp các nẽo đường, kênh rạch trong địa bàn- và các tiệmtạp hoá thường kèm theo bán các loại thuốc điều trị bệnh, mà người dân vẫnchấp nhận sử dụng vì họ cho rằng thuận tiện, mà không nghỉ đến việc lợi bấtcập hại của việc tự điều trị này Theo báo cáo của Trung tâm y tế[23], trongnăm 2009 toàn huyện có 120 giường bệnh; tổng số lần khám, kê đơn là260.534; tổng số bệnh nhân điều trị nội trú 7.527; tổng số bệnh nhân điều trịngoại trú 928 Về bảo hiểm y tế: toàn huyện có khoảng 31.205 người tham gia,chiếm 27,54% dân số

Trang 21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Dân số mẫu: hộ gia đình và cán bộ ngành y tế huyện Phú Tân

- Đối tượng nghiên cứu: chủ hộ gia đình hoặc người thay thế (> 18 tuổi).Cán bộ lãnh đạo ngành y tế tuyến huyện, tuyến xã

Tiêu chuẩn chọn đối tượng:

- Hộ gia đình phải có hộ khẩu thường trú tại địa phương từ 1 năm trở lên

- Các cán bộ lãnh đạo ngành y tế đương nhiệm

- Chấp nhận tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Hộ gia đình trong thời gian tạm trú

- Không chấp nhận tham gia nghiên cứu

- Vắng mặt trong thời gian điều tra

- Đang bị bệnh không tham gia nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang cóphân tích: kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính

- Nghiên cứu định lượng: phỏng vấn các chủ hộ gia đình

- Nghiên cứu định tính: sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung vàphỏng vấn sâu bán cấu trúc để thu thập thông tin

Trang 22

2.2.2 Tính cỡ mẫu nghiên cứu[17],[29]

2.2.2.1 Nghiên cứu định lượng

Áp dụng công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể:

( 

Trong đó:

- n : là số mẫu nghiên cứu

- Z: là ước lượng khoảng tin cậy của kết quả nghiên cứu; với mức tin cậy

mong muốn là 95% thì Z = 1,96

- p: là tỷ lệ người dân tiếp cận cơ sở y tế Theo một nghiên cứu tại Hải

Phòng năm 2007[14], cho thấy tỉ lệ sử dụng DVYT công là 44%, chúng tôichọn p là 0,44

- C: là sai số cho phép, trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn C = 5%,

tức C = 0,05

Thay số vào công thức trên, ta có n= 380 Cỡ mẫu được nhân với hiệu lựcthiết kế mẫu (DE) là 2[14]: n x 2= 760 Vậy cỡ mẫu sau khi làm tròn là 800 hộgia đình

2.2.2.2 Nghiên cứu định tính

- Thảo luận nhóm tập trung: bao gồm 10 lãnh đạo các đơn vị y tế tuyếnhuyện: Phòng y tế, Trung tâm Y tế, Bệnh viện Đa khoa và Trung tâm Dân số –

kế hoạch hóa gia đình

- Phỏng vấn sâu bán cấu trúc: phỏng vấn tất cả 9 Trưởng trạm y tế

Trang 23

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu

Để thu thập số liệu chúng tôi tiến hành chọn mẫu nhiều giai đoạn[15],[17]

2.2.3.1 Giai đoạn 1: chọn xã, thị trấn nghiên cứu bằng phương pháp

phân tầng và ngẫu nhiên

Toàn huyện có 8 xã và thị trấn Cái Đôi Vàm Do thị trấn có tính đặc thùriêng nên là đơn vị được phân tầng đầu tiên để chọn vào mẫu 8 xã còn lạiđược phân làm 2 vùng theo điều kiện địa lý: vùng xa trung tâm huyện (có 4xã: Phú Mỹ, Phú Tân, Phú Thuận, Việt Thắng); vùng gần trung tâm huyện (có

4 xã: Việt Khái, Rạch Chèo, Tân Hưng Tây, Tân Hải), mỗi vùng bốc thămchọn ngẫu nhiên 1 xã

2.2.3.2 Giai đoạn 2: chọn ấp nghiên cứu bằng phương pháp ngẫu nhiên

Mỗi xã/thị trấn đã được chọn, bốc thăm ngẫu nhiên lấy 3 ấp/khóm Vậy,

có tất cả 9 ấp/khóm đưa vào mẫu nghiên cứu

2.2.3.3 Giai đoạn 3: chọn đối tượng bằng phương pháp ngẫu nhiên hệ

thống Cách tiến hành:

- Đến địa phương lập danh sách hộ gia đình theo từng ấp/khóm

- Phương pháp chọn hộ gia đình: qui ước hộ đầu tiên điều tra là hộ khivừa đến địa phận của ấp/khóm đó Các hộ tiếp theo chọn theo hệ số k (tức làkhoảng cách nhà điều tra, cụ thể: k = tổng số hộ từng ấp (khóm)/số hộ cầnđiều tra) cho đến khi đủ số hộ của từng ấp/khóm

Trang 24

Sơ đồ chọn mẫu nghiên cứu

Dân số của huyện Phú Tân ( 01 thị trấn, 08 xã )Giai đoạn 1 (chọn

phương pháp

phân tầng và ngẫu

nhiên)

- 01 thị trấn Cái Đôi Vàm

- 02 xã

- Chọn 3 khóm/ấp của thị trấn Cái Đôi vàm-Chọn 6 ấp của 2 xã được chọn

Chọn đối tượng nghiên cứu

Trang 25

2.2.4 Các biến số cần nghiên cứu

2.2.4.1 Nhóm biến số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

- Giới tính: nam, nữ

- Tuổi: phân làm 4 nhóm

+ Nhóm tuổi từ: 18 - 30 + Nhóm tuổi từ: 31- 45

+ Nhóm tuổi từ: 46 - 60 + Nhóm tuổi: > 60

- Dân tộc: Kinh, Khmer, Hoa, khác

- Nghề nghiệp: nông dân, cán bộ/viên chức, nghề thủ công, nghề tự do

- Trình độ học vấn:

+ Mù chữ + Tiểu học

+ THCS + THPT

+ CĐ/ĐH

- Vùng địa lý: trung tâm huyện, gần trung tâm huyện, xa trung tâm huyện

2.2.4.2 Nhóm biến số về sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ KCB của người dân

- Nhu cầu sử dụng DV KCB của người dân (đợt ốm/người/năm): tínhtheo giới, tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, trình độ học vấn và vùng địa lý

- Sử dụng dịch vụ KCB trung bình/người/năm

- Số lần sử dụng dịch vụ KCB:

+ 1- 3 lần

+ > 3 lần

- Loại hình cơ sở y tế người dân tiếp cận:

+ KCB công : trạm y tế, BVH, bệnh viện tỉnh/trung ương

+ KCB tư nhân: y tư nhân, dược tư nhân, YHDT tư nhân

- Sử dụng DV KCB/người/năm theo loại hình cơ sở dịch vụ và giới

- Sử dụng DV KCB/người/năm theo loại hình cơ sở dịch vụ và nhóm tuổi

Trang 26

- Sử dụng DV KCB/người/năm theo loại hình cơ sở dịch vụ và dân tộc

- Sử dụng DV KCB/người/năm theo loại hình cơ sở dịch vụ và nghềnghiệp

- Sử dụng DV KCB/người/năm theo loại hình cơ sở dịch vụ và trình độhọc vấn

- Sử dụng DV KCB/người/năm theo loại hình cơ sở dịch vụ và vùng địalý

- Sử dụng DV KCB/người/năm theo loại hình cơ sở dịch vụ và kinh tế hộgia đình

- Lượt KCB theo nhóm mức sống

- Lượt KCB theo BHYT

- Lượt KCB theo cách chi trả tiền khi KCB

- Lượt KCB theo khoảng cách từ nhà đến CSYT gần nhất

2.2.4.3 Nhóm biến số về yếu tố liên quan đến sử dụng DV KCB của người dân

+ Liên quan giữa số lần KCB với kinh tế gia đình

+ Liên quan giữa việc sử dụng loại hình DV KCB của người dân vớikinh tế hộ gia đình

- BHYT:

+ Có BHYT

+ Không có BHYT

Trang 27

+ Liên quan giữa số lần KCB với BHYT

+ Liên quan giữa việc sử dụng loại hình DV KCB của người dân vớiBHYT

- Cách chi trả tiền khi KCB:

+ Tự chi trả tiền KCB

+ Được miễn, giảm chi trả tiền khi KCB (miễn phí, giảm phí)

+ Liên quan giữa việc sử dụng loại hình DV KCB của người dân vớicách chi trả tiền khi KCB

- Điều kiện địa lý: là khoảng cách từ nhà đến CSYT gần nhất[3]

+ Gần CSYT: ≤ 5 km

+ Xa CSYT: > 5 km

+ Liên quan giữa việc sử dụng loại hình DV KCB của người dân vớikhoảng cách địa lý

- Quan niệm về khám chữa bệnh của người dân:

+ Tự mua thuốc về điều trị

+ Đến CSYT

+ Đến thầy lang (không đến DVYT cả công lẫn tư)

2.2.4.4 Các chủ đề hướng dẫn thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu

- Nhận định về tình hình y tế cở sở hiện nay nói chung và huyện Phú Tânnói riêng?

- Nhận xét chung về tình hình tiếp cận và sử dụng DV KCB của ngườidân

- Làm thế nào để người dân dễ tiếp cận với DV KCB

- Để có sự công bằng và nâng cao hiệu quả sử dụng DV KCB của ngườidân cần có giải pháp gì ?

Trang 28

- Thực trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế tuyến huyện, tuyến xã.

- Thực trạng và giải pháp nâng cao nguồn nhân lực y tế: độ bao phủ vàtrình độ chuyên môn

- Vấn đề làm ảnh hưởng đến sự sử dụng và tiếp cận dịch vụ y tế hiệnnay của người dân

2.2.5 Dụng cụ nghiên cứu

- Dùng phiếu điều tra chuẩn bị sẵn

- Danh sách hộ gia đình của ấp/khóm được chọn

- Bộ danh mục chủ đề thảo luận nhóm và bộ danh mục câu hỏi phỏng vấnsâu

- Máy ghi âm, sổ sách để ghi chép trong buổi thảo luận

2.2.6 Phương pháp thu thập số liệu

- Phỏng vấn chủ hộ hoặc người đại diện gia đình theo bộ câu hỏi soạnsẵn

- Mời tất cả lãnh đạo ngành y tế tuyến huyện để thảo luận nhóm và phỏngvấn sâu các trưởng trạm y tế

2.2.7 Cách tiến hành thu thập số liệu

2.2.7.1 Nghiên cứu định lượng

- Có 3 nhóm điều tra, mỗi nhóm có 2 thành viên gồm: điều tra viên củatrung tâm y tế huyện và cán bộ chuyên trách của trạm y tế xã

- Thời gian điều tra: trong tháng 01 năm 2012

- Hướng dẫn người thu thập số liệu: Điều tra viên được tập huấn thôngsuốt về nội dung biểu mẫu cũng như mục đích, yêu cầu của cuộc điều tra,

Ngày đăng: 25/07/2014, 03:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Số lần sử dụng dịch vụ/người/năm theo vùng, năm 1998 - Nghiên cứu sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện phú tân năm 2011
Bảng 1.2 Số lần sử dụng dịch vụ/người/năm theo vùng, năm 1998 (Trang 15)
Bảng 1.3: Sự phân bổ số lần sử dụng dịch vụ theo cơ sở cung cấp dịch vụ - Nghiên cứu sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện phú tân năm 2011
Bảng 1.3 Sự phân bổ số lần sử dụng dịch vụ theo cơ sở cung cấp dịch vụ (Trang 16)
Sơ đồ chọn mẫu nghiên cứu - Nghiên cứu sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện phú tân năm 2011
Sơ đồ ch ọn mẫu nghiên cứu (Trang 24)
Bảng 3.1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu - Nghiên cứu sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện phú tân năm 2011
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu (Trang 31)
Bảng   3.2:  Tỷ   lệ   nhu   cầu   sử   dụng   DV   KCB   của   người   dân   (đợt - Nghiên cứu sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện phú tân năm 2011
ng 3.2: Tỷ lệ nhu cầu sử dụng DV KCB của người dân (đợt (Trang 32)
Bảng 3.4: Tỷ lệ người dân mắc các loại bệnh đã điều trị - Nghiên cứu sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện phú tân năm 2011
Bảng 3.4 Tỷ lệ người dân mắc các loại bệnh đã điều trị (Trang 34)
Bảng 3.3: Tỷ lệ người dân đến CSYT để KCB - Nghiên cứu sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện phú tân năm 2011
Bảng 3.3 Tỷ lệ người dân đến CSYT để KCB (Trang 34)
Bảng 3.7: Tỷ lệ sử dụng loại hình DV KCB - Nghiên cứu sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện phú tân năm 2011
Bảng 3.7 Tỷ lệ sử dụng loại hình DV KCB (Trang 35)
Bảng 3.5: Tỷ lệ số lần sử dụng DV KCB - Nghiên cứu sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện phú tân năm 2011
Bảng 3.5 Tỷ lệ số lần sử dụng DV KCB (Trang 35)
Bảng 3.6: Tỷ lệ chung sử dụng DV KCB - Nghiên cứu sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện phú tân năm 2011
Bảng 3.6 Tỷ lệ chung sử dụng DV KCB (Trang 35)
Bảng 3.8: Số lần sử dụng dịch vụ KCB trung bình/người/năm - Nghiên cứu sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện phú tân năm 2011
Bảng 3.8 Số lần sử dụng dịch vụ KCB trung bình/người/năm (Trang 36)
Bảng 3.10: Số lần sử dụng DV KCB/người/năm theo loại hình cơ sở dịch - Nghiên cứu sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện phú tân năm 2011
Bảng 3.10 Số lần sử dụng DV KCB/người/năm theo loại hình cơ sở dịch (Trang 36)
Bảng 3.11: Số lần sử dụng DV KCB/người/năm theo loại hình cơ sở dịch - Nghiên cứu sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện phú tân năm 2011
Bảng 3.11 Số lần sử dụng DV KCB/người/năm theo loại hình cơ sở dịch (Trang 37)
Bảng 3.14: Số lần sử dụng DV KCB/người/năm theo loại hình cơ sở dịch - Nghiên cứu sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện phú tân năm 2011
Bảng 3.14 Số lần sử dụng DV KCB/người/năm theo loại hình cơ sở dịch (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w