Các Lộ 12: Lộ Thiên Trường, Lộ Quốc Oai, Lộ Hải Đông, Lộ Kiến Xương, Lộ Khoái, Lộ Hoàng Giang, Lộ Long Hưng, Lộ Bắc Giang, Lộ Trường Yên, Lộ Hồng, Lộ Thanh Hóa, Lộ Diễn Châu Các Ph
Trang 1PHÂN CẤP BỘ MÁY HÀNH CHÍNH QUA CÁC TRIỀU ĐẠI LỊCH SỬ
Là sự phân chia các đơn vị hành chính của Việt Nam thành từng tầng, cấp theo chiều dọc Theo đó cấp hành chính ở trên (cấp trên) sẽ có quyền quyết định cao hơn, bắt buộc đối với cấp hành chính ở dưới (hay cấp dưới)
Thông thường, nước được phân làm 3 cấp là: tỉnh và tương đương tỉnh, huyện và tương đương huyện, xã và tương đương xã
Thời nhà Đinh - Tiền Lê
Nhà Đinh chia cả nước ra làm 10 Đạo, dưới Đạo là Châu, Động
Thời nhà Lý
Đầu thời nhà Lý, chia cả nước ra thành 24 Lộ, (ngoài ra còn có Phủ,
Châu) dưới trung ương, nhưng các sách như Cương mục và Toàn thư chỉ chép ra 12 lộ, còn lại 12 lộ không rõ tên Toàn thư ghi các lộ, phủ,
châu như sau:
Trang 2 Các Lộ (12): Lộ Thiên Trường, Lộ Quốc Oai, Lộ Hải Đông, Lộ
Kiến Xương, Lộ Khoái, Lộ Hoàng Giang, Lộ Long Hưng, Lộ Bắc Giang, Lộ Trường Yên, Lộ Hồng, Lộ Thanh Hóa, Lộ Diễn Châu
Các Phủ (6): Phủ Đô Hộ, Phủ Ứng Thiên, Phủ Phú Lương, Phủ
Nghệ An, Phủ Thiên Đức, Phủ Trường Yên
Các Châu (6): Châu Chân Đăng hay Đạo Lâm Tây, Châu Lạng,
Châu Phong, sau có thêm Châu Bố Chính, Châu Lâm Bình, Châu Minh Linh
Châu Bố Chính, Lâm Bình, Minh Linh là 3 châu lấy được của Chiêm Thành năm 1069
Đạo Lâm Tây lấy được sau khi Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông đánh bại Đại Lý vào các năm 1014 và 1037
Về sau sáp nhập và đổi tên một số đơn vị hành chính như: phủ Nghệ
An thành trại Nghệ An, Châu Lâm Bình, Minh Linh, Bố Chính gộp lại thành trại Tân Bình, Châu Định Nguyên, Bình Nguyên gộp lại thành trại Quy Hóa
Thời nhà Trần
Nhà Trần chia các đơn vị hành chính dưới trung ương là: Lộ, Phủ, Trấn
Trang 3 Các Lộ: Lộ Đông Đô, lộ Bắc Giang, lộ Lạng Giang, lộ Lạng Sơn, lộ
Long Hưng, lộ Khoái Châu, lộ Hoàng Giang, lộ Hải Đông, lộ Tam Giang,
Các Phủ: phủ Kiến Xương, phủ Kiến Hưng, phủ Tân Hưng, phủ
Thiên Trường
Các Trấn: trấn Thiên Quan, trấn Quảng Oai, trấn Thiên Hưng,
trấn Thanh Đô, trấn Vọng Giang, trấn Tân Bình, trấn Thuận Hóa
trấn Thuận Hóa có được sau khi Chiêm Thành cắt dâng năm 1307 trấn Tân Bình là đổi tên từ trại Tân Bình thời Lý
Đơn vị hành chính dưới Lộ, Phủ, Trấn: là Châu, dưới Châu là Huyện
Thời nhà Hậu Lê
Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đã chia cả nước ban đầu thành 4 đạo, đến năm 1428 chia thành 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc (tương ứng với Bắc
Bộ ngày nay) và Hải Tây (từ Thanh Hóa vào đến Thuận Hóa) Dưới đạo là trấn, lộ, huyện, châu và cấp cơ sở là xã Năm 1466 vua Lê
Thánh Tông chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên, đổi trấn thành châu, đổi lộ thành phủ Các đơn vị hành chính trực thuộc dưới cấp trung ương (triều đình) là thừa tuyên rồi đổi thành xứ Quy mô và diện tích các thừa tuyên/xứ tương đương với 2,3 tỉnh hiện nay Ví dụ: xứ Sơn Nam tương ứng với (Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên), xứ
Trang 4Nghệ An tương ứng với (Nghệ An, Hà Tĩnh), xứ Thuận Hóa tương ứng với (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên), xứ Quảng Nam tương ứng với (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định
Các Thừa tuyên/xứ:
Trung Đô (năm 1469 đổi thành phủ Phụng Thiên)
thừa tuyên Thiên Trường (năm 1469 đổi thành Sơn Nam)
thừa tuyên Bắc Giang (năm 1469 đổi thành Kinh Bắc)
thừa tuyên Quốc Oai (năm 1469 đổi thành Sơn Tây)
thừa tuyên Nam Sách (năm 1469 đổi thành Hải Dương)
thừa tuyên An Bang hay Yên Bang
thừa tuyên Lạng Sơn
thừa tuyên Thái Nguyên (năm 1469 đổi thành Ninh Sóc)
thừa tuyên Tuyên Quang
thừa tuyên Hưng Hóa
thừa tuyên Thanh Hóa, còn gọi là Thanh Hoa (sau nhập thêm phần đất Thanh Hoa Ngoại, ngày nay là tỉnh Ninh Bình, từ xứ Sơn Nam vào)
thừa tuyên Nghệ An
thừa tuyên Thuận Hóa
Trang 5 thừa tuyên Quảng Nam (lập năm 1472, sau khi đánh bại Chiêm Thành)
Trung Đô là khu vực kinh đô của triều đình, còn có tên gọi là Đông Kinh, nay là Hà Nội
Thời nhà Nguyễn
Vua Gia Long chia cả nước thành 23 trấn, 4 doanh (dinh)
Bắc Thành (Bắc Bộ ngày nay) gồm 11 trấn, hợp thành tổng
trấn:
o Ngũ nội trấn: Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương
o Lục ngoại trấn: Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên, Thái Nguyên
Miền Trung gồm 7 trấn và 4 doanh:
o Đất Kinh Kỳ đặt 4 doanh (dinh) trực lệ (Trực lệ tứ doanh): Quảng Đức (tức vùng Thừa Thiên), Quảng Trị, Quảng
Bình, Quảng Nam Dinh Quảng Nam năm 1808 đổi thành trấn Quảng Nam, dinh Quảng Đức năm 1821 đổi thành phủ Thừa Thiên
Trang 6o 7 trấn: Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Nghĩa, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận
Sau này, Quảng Nghĩa do kỵ húy Nguyễn Phúc Toản nên đổi thành Quảng Ngãi
Gia Định Thành (Nam Bộ ngày nay), bao gồm 5 trấn, hợp thành tổng trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (sau chia ra Vĩnh Long và An Giang), Vĩnh Tường (sau này là Định Tường) và Hà Tiên
Từ năm 1831-1832, vua Minh Mạng lần đầu tiên chia thành 31 đơn
vị hành chính cấp tỉnh gồm 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên, trực tiếp dưới cấp trung ương (triều đình) Dưới tỉnh là phủ, huyện
Bắc Kỳ gồm 13 tỉnh (1831)(Bắc Kỳ thập tam tỉnh): Bắc Ninh, Cao Bằng, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Hóa, Hưng Yên, Lạng Sơn, Nam Định, Ninh Bình, Quảng Yên, Sơn Tây, Thái Nguyên, Tuyên Quang
Miền Trung gồm 11 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị (5 tỉnh này lập ra năm 1831, các tỉnh còn lại lập ra năm 1832), Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Thuận Ngoài ra vẫn tồn tại phủ Thừa Thiên ngang cấp tỉnh, trực thuộc kinh sư Thời kỳ 1853-1876, tỉnh Quảng Trị đổi thành đạo Quảng Trị, thuộc phủ Thừa Thiên Từ
Trang 7ngày 6 tháng 6 năm 1884, miền Trung có 12 tỉnh, trong đó hai tỉnh mới là Thừa Thiên và Quảng Trị
Nam Kỳ gồm 6 tỉnh (1832)(Nam Kỳ lục tỉnh): Phiên An (năm
1836 đổi thành Gia Định), Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên
Những tỉnh tồn tại thời vua Minh Mạng, nhưng sau Pháp chia tách:
tỉnh Gia Định, sau Pháp chia ra 3 tỉnh: Chợ Lớn, Tân An, Tây Ninh
tỉnh Biên Hòa, sau Pháp chia ra 3 tỉnh: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một
tỉnh Định Tường, sau Pháp chia ra 3 tỉnh: Mỹ Tho, Gò Công, Sa Đéc
tỉnh Vĩnh Long, sau Pháp chia ra 3 tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre
tỉnh An Giang, sau Pháp chia ra 3 tỉnh: Châu Đốc, Cần Thơ, Sóc Trăng
tỉnh Hà Tiên, sau Pháp chia ra 4 tỉnh: Hà Tiên, Rạch Giá, Long Xuyên, Bạc Liêu
Như vậy, vùng đất Nam kỳ lục tỉnh người Pháp chia ra làm 19 tỉnh có
vị trí gần tương tự như ngày nay
Trang 8Thời Pháp thuộc
Người Pháp chia cả nước ra làm 3 kỳ (tương đương với 3 quốc gia cùng với Campuchia, Lào gồm 5 xứ trực thuộc vùng Đông Pháp)
Tonkin (Bắc kỳ): từ Ninh Bình ra bắc
Annam (Trung kỳ): từ Thanh Hóa vào Bình Thuận
Cochinchine (Nam Kỳ): từ Đồng Nai vào Hà Tiên
Trị sự các kỳ gồm có Thống Đốc ở Nam kỳ, Thống Sứ ở Bắc kỳ, Khâm
Sứ ở Trung kỳ tương đương với "thủ tướng" Dưới các kỳ là các tỉnh với một viên Công sứ tương đương với "tỉnh trưởng/chủ tịch tỉnh" người Pháp đứng đầu Quy mô và vị trí các tỉnh tương tự các tỉnh ngày nay
Các tỉnh mới ở Bắc kỳ
Ở Bắc kỳ thành lập mới các tỉnh:
tỉnh Chợ Bờ (tỉnh Mường), năm 1886 (sau là tỉnh Hòa Bình), từ các khu vực người Mường của các tỉnh: Hưng Hóa, Sơn Tây, Ninh Bình và Hà Nội cũ
tỉnh Lào Cai (1886-1891, tái lập 1907) từ Đạo quan binh thứ IV (một phần của tỉnh Hưng Hóa cũ)