1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện việt yên bắc giang, 2006 2008

135 931 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Việt Yên - Bắc Giang, 2006-2008
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Bảo
Người hướng dẫn GS.TS. Trịnh Quân Huấn, TS. Nguyễn Thị Lan Anh
Trường học Trường Đại Học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y học Công cộng
Thể loại Luận án tiến sĩ y học
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 5,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Đánh giá thực trạng thiếu dinh dưỡng của trẻ em tại cộng đồng luôn luôn là một đòi hỏi thiết yếu của các hoạt động can thiệp dinh dưỡng, giúp định hướng các hành động trong cá

Trang 1

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN : 1 GS.TS TRỊNH QUÂN HUẤN

2 TS NGUYỄN THỊ LAN ANH

NĂM, 2012

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đánh giá thực trạng thiếu dinh dưỡng của trẻ em tại cộng đồng luôn luôn là một đòi hỏi thiết yếu của các hoạt động can thiệp dinh dưỡng, giúp

định hướng các hành động trong các giai đoạn tiếp theo [11], [43]

Trong vòng hai thập kỷ qua, xu hướng chuyển dịch theo chiều hướng tích cực về phát triển cũng như tình trạng dinh dưỡng của trẻ em tại cộng

đồng ngày càng rõ rệt, đặc biệt ở các nước đang phát triển [12], [15]

Ở Việt Nam, từ những năm 80, các vấn đề dinh dưỡng đã được theo dõi qua các cuộc điều tra toàn quốc và cho thấy tỷ lệ thiếu dinh dưỡng trẻ em mặc

dù có giảm đi so với trước đây nhưng vẫn ở mức đáng lo ngại Suy dinh dưỡng (SDD) là một trong các chỉ tiêu nhạy, đáng tin cậy phản ánh tình trạng sức khỏe và phát triển ở trẻ em Suy dinh dưỡng gắn liền với vấn đề sinh thái, tình trạng phát triển kinh tế và mức độ nhận thức, hiểu biết và thực hành chăm sóc sức khỏe Suy dinh dưỡng ở trẻ em để lại những hậu quả nặng nề cả về

thể chất và tinh thần ở tuổi ấu thơ cũng như khi trưởng thành sau này [15],

[53]

Đánh giá thực trạng thiếu dinh dưỡng trẻ em giúp cung cấp các thông tin chính xác và cập nhật về thực trạng thiếu dinh dưỡng trẻ em, đồng thời

định hướng các chính sách của các Bộ ngành có liên quan [12]

Trẻ em suy dinh dưỡng thường xuyên bị mắc bệnh và có thời gian bị

ốm kéo dài… Thiếu dinh dưỡng thúc đẩy quá trình mắc bệnh tật, đặc biệt là bệnh sởi và một số bệnh ký sinh trùng Tỷ lệ trẻ em tử vong do SDD đóng góp tới: 61% trường hợp tử vong do bệnh tiêu chảy, 57% trường hợp tử vong

do bệnh sốt rét, 52% trường hợp tử vong do viêm phổi và 45% trường hợp tử vong do bệnh sởi (Black 2005, Bryce 2007) [6], [9] Ngược lại, suy dinh dưỡng cũng là hậu quả của bệnh tật, như tiêu chảy, viêm đường hô hấp cấp tính [45], [52]

Trang 3

Từ những năm đầu tiên của thập kỷ 90, các vấn đề về chăm sóc dinh dưỡng và sức khỏe đã và đang ngày càng được Nhà nước quan tâm Các chương trình chăm sóc sức khỏe trẻ em như tiêm chủng mở rộng, các can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng và thiếu vi chất như phòng chống thiếu vitamin A, thiếu sắt, thức ăn bổ sung, phát triển hệ sinh thái Vườn-Ao-Chuồng (VAC), giáo dục dinh dưỡng, tẩy giun v.v đã đóng góp một phần quan trọng vào việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe cho các đối tượng có nguy cơ cao như trẻ em và bà mẹ [43], [44]

Suy dinh dưỡng vẫn là một vấn đề sức khoẻ cộng đồng nghiêm trọng, đặc biệt ở các vùng nghèo, vùng khó khăn như tỉnh Bắc Giang

Trên thực tế, Bắc Giang là một trong những tỉnh có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao Qua đợt điều tra về tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi năm

2005 thì tỷ lệ suy dinh dưỡng của tỉnh là 25,7% Bên cạnh những thành tựu về kinh tế-xã hội cũng như công tác chăm sóc sức khoẻ, tỉnh Bắc Giang còn phải đương đầu với nhiều khó khăn trở ngại, đặc biệt là tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em

Để góp phần thiết thực xây dựng các giải pháp phòng chống SDD trẻ

em ở các vùng khó khăn trong giai đoạn tới, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

“Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Việt Yên - Bắc Giang, 2006-2008”

nhằm đánh giá thực trạng thiếu dinh dưỡng trẻ em tại một huyện miền núi, mô

tả mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng với khẩu phần ăn của trẻ và xác định mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng với khẩu phần ăn, nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở trẻ từ đó đề xuất các giải pháp thích hợp, góp phần thực sự vào công cuộc phòng chống SDD trẻ em ở nước ta

Trang 4

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng thiếu dinh dưỡng, khẩu phần ăn của trẻ; nhiễm ký sinh trùng đường ruột và một số bệnh nhiễm khuẩn thường gặp ở trẻ em

2 Mô tả mối liên quan giữa thực trạng thiếu dinh dưỡng với khẩu phần

ăn, nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở trẻ

3 Đánh giá hiệu quả can thiệp dinh dưỡng cộng đồng ở trẻ dưới 5 tuổi ở huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Khẩu phần ăn nghèo nàn gây ra tình trạng SDD cao và suy dinh dưỡng và thiếu máu dinh dưỡng có liên quan với tình trạng nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở trẻ em dưới 5 tuổi

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Thực trạng thiếu dinh dưỡng trẻ em

Hậu quả tất yếu của tình trạng thiếu ăn là suy dinh dưỡng [39] Tình

trạng thiếu ăn ảnh hưởng trước hết đến các đối tượng bị đe dọa nhất, đó là phụ

nữ có thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ em trước tuổi học đường Điều đó

được thể hiện qua các số đo nhân trắc của cơ thể [101] Trong điều kiện thực

địa người ta dựa chủ yếu vào các chỉ tiêu nhân trắc dinh dưỡng gồm cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều cao, vòng cánh tay để phân

lọai tình trạng suy dinh dưỡng [101], [121], [127]

Năm 1956, Gomez - một thầy thuốc người Mexico đã dựa vào cân nặng theo tuổi để phân loại tình trạng dinh dưỡng trẻ em Cách phân loại của Gomez đã xác định cân nặng của đối tượng theo phần trăm so với cân nặng chuẩn vào quần thể tham khảo Havard Trong một thời gian dài, cách phân loại này đã được sử dụng như là chỉ tiêu duy nhất phân loại suy dinh dưỡng ở

cộng đồng [22]

Năm 1966, Jelliffe - người đã có công đưa ra khái niệm suy dinh dưỡng protein - năng lượng, tức là đã nhấn mạnh đến vai trò năng lượng ăn vào đối với bệnh sinh suy dinh dưỡng - cũng đã đưa ra cách phân loại dựa vào quần thể Havard Sau đó còn có các đóng góp của các tác giả khác như Welcome dựa vào triệu trứng lâm sàng bổ sung và của Waterlow đưa ra chỉ tiêu chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao nhằm phân biệt suy dinh

dưỡng cấp tính mới xảy ra hay đã trường diễn [213], [214], [216] Cách phân

loại của Waterlow dựa vào quần thể tham khảo NCHS Mặc dù quần thể tham khảo NCHS chưa thể được coi là lý tưởng nhưng để có được quần thể tham

khảo tốt không phải là dễ dàng [217] Vào thời điểm thập kỷ những năm 70,

Trang 6

80 của thế kỷ XX, quần thể tham khảo NCHS đáp ứng được các tiêu chuẩn cần thiết và được sử dụng rộng rãi trên thế giới nên rất thuận tiện cho việc so

sánh quốc tế [141] Năm 1980, Tổ chức Y tế thế giới khuyến nghị cách phân

loại tình trạng dinh dưỡng theo các điểm ngưỡng dưới hai độ lệch chuẩn 2SD) so với quần thể NCHS Đối với suy dinh dưỡng theo chỉ tiêu cân nặng theo tuổi có 3 mức độ: suy dinh dưỡng độ 1 (vừa), suy dinh dưỡng độ 2 (nặng), suy dinh dưỡng độ 3 (rất nặng) theo các mức tương ứng là từ -2SD đến -3SD, từ -3SD đến -4SD và dưới -4SD Đối với suy dinh dưỡng chiều cao theo tuổi (SDD kéo dài hoặc thuộc về quá khứ) thường lấy điểm ngưỡng dưới -2SD (thể vừa) và -3SD (thể nặng) so với quần thể NCHS Đối với SDD cân nặng theo chiều cao (thiếu dinh dưỡng hiện tại) thường lấy điểm ngưỡng dưới

( 2SD [141] Những biến đổi về phát triển nhân trắc dinh dưỡng xảy ra trong

một vài thập kỷ qua đã cho thấy quần thể tham khảo này không còn thích hợp cho việc theo dõi tình trạng dinh dưỡng của mọi nhóm dân tộc khác nhau

[161]

Đến năm 2005, nhận thấy quần thể NCHS chỉ gồm trẻ em Mỹ da trắng không đủ tính đại diện cao nên Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã tiến hành xây dựng Chuẩn WHO 2005 tập hợp số liệu của bảy quốc gia từ các châu lục khác nhau theo mức đại diện dân số với điều kiện trẻ được nuôi dưỡng hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và những trẻ này sống ở địa phương có độ cao dưới 1.500 m so với mặt nước biển, đồng thời môi trường sống không có khói thuốc lá và được nuôi dưỡng tốt WHO sau đó đã khuyến nghị toàn thể các nước thành viên sử dụng chuẩn WHO và Việt Nam cũng đã sử dụng chuẩn này Cách phân loại SDD tương tự như với chuẩn NCHS nhưng thay vì dùng

SD thì nay sử dụng Zscore-SD

Người ta coi những trẻ sinh đủ tháng có cân nặng lúc đẻ dưới 2.500g là những trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai (SDDBT) Về nguyên nhân, thường do

Trang 7

trong thời gian mang thai, người mẹ không được ăn uống đầy đủ, làm việc và nghỉ ngơi không hợp lý hoặc bị ốm đau bệnh tật Thường các bà mẹ có mức tăng cân ở cuối thai kì thấp, dưới 6kg, chắc chắn là bào thai đã bị SDD, khi sinh ra cân nặng của trẻ sẽ rất thấp

SDD bào thai là thể suy dinh dưỡng sớm nhất Ở những trẻ này, các cơ quan như da, cơ, xương, não, gan, thận đều bị ảnh hưởng mà điều dễ nhận thấy nhất là trẻ sinh ra nhẹ cân Hậu quả của tình trạng này tuỳ thuộc vào giai đoạn bào thai bị SDD, chế độ nuôi dưỡng trẻ sau khi chào đời SDD xảy ra ở

3 tháng cuối của thai kì làm cho bộ não chậm phát triển, sau này trẻ sẽ kém thông minh Trẻ bị SDD bào thai khi chào đời dễ bị hạ thân nhiệt, hạ đường máu gây rối loạn nhịp thở, hạ canxi máu gây co giật Nếu được nuôi dưỡng đúng, trẻ sẽ phát triển bình thường và đạt mức cân nặng như những trẻ khác sau 2-3 tháng Ngược lại, nuôi dưỡng không tốt, trẻ tiếp tục bị SDD, trẻ ốm đau, quặt quẹo, còi cọc, chậm phát triển trí tuệ, kém thông minh Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), có đến 1/3 số trẻ có cân nặng khi sinh dưới 2.500g

bị chết trong năm đầu đời

Trang 8

Hình 1.1: Dinh dưỡng theo chu kì vòng đời

1.2 Xu hướng về tỷ lệ thiếu dinh dưỡng trên thế giới

Theo Tổ chức Y tế thế giới, hiện nay trên phạm vi toàn thế giới có khoảng 165 triệu trẻ em dưới 5 tuổi - chủ yếu tập trung ở các nước đang phát triển - bị suy dinh dưỡng [227], [12] Đồng thời, người ta quan sát thấy hơn một nửa số trường hợp tử vong trẻ em có liên quan đến suy dinh dưỡng Bên cạnh đó, những hậu quả ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và tinh thần do

Trang 9

suy dinh dưỡng gây ra có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội của từng quốc gia [1]

Cũng theo tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới [227], hiện nay tỷ lệ suy

dinh dưỡng theo chỉ tiêu cân nặng theo tuổi ở trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển có xu hướng giảm đi Từ năm 1975 đến 1995, tỷ lệ này giảm

từ 42,6% xuống còn 34,6%, từ năm 1995 đến năm 2010 tỷ lệ giảm xuống còn khoảng 25% Suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm dần đi được quan sát thấy ở tất cả các vùng trên thế giới Mức giảm suy dinh dưỡng ở khu vực châu

Á mạnh hơn so với các vùng khác và có ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì tỷ lệ trẻ

em suy dinh dưỡng cao nhất cùng với số lượng dân số tập trung đông nhất Có

ít nhất 2/3 số trẻ em bị suy dinh dưỡng sống ở châu Á và dù tính theo chỉ tiêu cân nặng theo tuổi hoặc cân nặng theo chiều cao thì một nửa số trẻ em suy

dinh dưỡng trên thế giới sống ở 8 nước Nam Á [73], [132], [157]

Trang 10

Bảng 1.1 Tỷ lệ mắc suy dinh dưỡng theo chỉ tiêu cân nặng theo tuổi các

khu vực của các nước đang phát triển từ 1975-2010 [200]

% Triệu % Triệu % Triệu % Triệu Châu Phi

Châu Mỹ la tinh

Châu Á

30,4 15,6 47,8

22,9 7,5 164,6

27,3 11,5 41,3

31,6 6,4 154,6

27,0 10,8 40,0

34,8 6,0 158,6

28,5 8,0 24,0

24,8 5,4 88,3

Các nước chậm

phát triển

42,6 195,6 35,8 193,4 34,6 199,8 33,6 105,9

Tòan thế giới 34,6 198,6 31,3 195,8 - - 26,0 167,0

Mức giảm trong 5 năm về tỷ lệ SDD protein-năng

lượng ở các nước đang phát triển

% giảm trong 5 năm tới để đạt mục tiêu

1.3 Xu hướng của thực trạng SDD trẻ em ở Việt Nam

Tỷ lệ SDD trẻ em Việt Nam dưới 5 tuổi qua các cuộc điều tra quốc gia cho thấy [35], [42]:

Trang 11

Bảng 1.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam qua các

cuộc điều tra quốc gia [35], [42]

Biểu đồ 1.2 Xu hướng thực trạng SDD của trẻ em ở Việt Nam

Qua các số liệu trên cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em Việt Nam đang giảm đi

Trong thời gian gần đây, cùng với những thành tựu bước đầu của một nền kinh tế đang trên đà đổi mới và những nỗ lực của các chương trình dinh dưỡng và sức khỏe, nhiều nghiên cứu cắt ngang tại các thời điểm khác nhau

Trang 12

cho thấy mức giảm khá nhanh về tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em, đặc biệt các vùng thành phố và đồng bằng Tuy vậy, suy dinh dưỡng protein - năng lượng

ở trẻ em vẫn còn là một thách thức quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng và phát triển ở nước ta Từ sau năm 1990, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em ở nước ta

đã giảm đi rõ rệt, tốc độ giảm nhanh đáng ghi nhận Tuy nhiên, cho đến nay, suy dinh dưỡng vẫn còn cao, đặc biệt là tỷ lệ thấp còi và sự chênh lệch về tỷ

lệ suy dinh dưỡng theo địa lý là rất đáng kể [39] Bên cạnh đó, thiếu vitamin

A tiền lâm sàng, thiếu máu do thiếu sắt vẫn còn là thách thức dinh dưỡng lớn, nhất là ở các vùng nghèo, vùng khó khăn [43], [44]

1.4 Nguyên nhân của suy dinh dưỡng trẻ em

Suy dinh dưỡng protein - năng lượng (PEM) là kết quả của một quá trình thiếu hụt dinh dưỡng trong một thời gian dài dẫn đến thiếu hụt tổng lượng calo kèm theo thiếu hụt protein [48], [49], [62], nhất là thiếu hụt các axit amin thiết yếu Quá trình đó vừa tác động đến sự tăng trưởng thể lực của trẻ, vừa ảnh hưởng đến quá trình hoàn thiện các chức phận cấu tạo tế bào, mô cũng như chức năng sinh lý khác của trẻ

1.4.1 Suy dinh dưỡng protein năng lượng

Suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng được coi là vấn đề dinh dưỡng chủ yếu của các nước đang phát triển như châu Phi, châu Á, Nam Mỹ, khu vực Trung Đông [95] Trong đó, các nước thuộc châu Phi có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất Đó là những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh và thiên tai kéo dài, sản xuất đình trệ, nhất là sản xuất nông nghiệp kém phát triển Trình độ dân trí thấp và sinh đẻ thiếu kế hoạch là những nguyên nhân tiềm tàng dẫn đến tỷ lệ suy dinh dưỡng protein năng lượng cao Bảng 1.1 ở trên đã cho hình ảnh tổng quát về tỷ lệ mắc suy dinh dưỡng trẻ em theo chỉ tiêu cân nặng theo tuổi theo khu vực được UNICEF và WHO thống kê đến hết năm 2010

Trang 13

1.4.2 Khẩu phần và chất lượng bữa ăn không đảm bảo

Đặc điểm sinh lý học và nhu cầu năng lượng của trẻ em trong độ tuổi

Theo bảng Nhu cầu năng lượng của Viện Dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam, trong đó có nêu rõ khẩu phần cho trẻ em thì nhất thiết cần chú ý tỷ lệ hợp lý (tính bằng %) Protit/ Lipid/ Gluxit bước đầu là 12/18/70, tiến tới 14/20/66 [10] (Bảng 1.3)

Bảng 1.3 Giá trị năng lượng và nhu cầu Protein khuyến nghị cho trẻ em

* Trong đó Protein động vật phải chiếm từ 25-30%

Đối với nhu cầu chất khoáng và vitamin, tài liệu cũng đã tính toán và đưa ra mức nhu cầu khuyến nghị như sau (Bảng 1.4)

Trang 14

Bảng 1.4 Nhu cầu chất khoáng và vitamin khuyến nghị cho trẻ em [11]:

Có thể lấy lứa tuổi 6-12 tháng là những trẻ đã quen ăn bột, có nhu cầu năng lượng 820 Kcal/ngày làm đại diện cho nhóm trẻ ăn bột Đây cũng là nhóm trẻ vẫn tiếp tục bú mẹ và bắt đầu ăn sam để tiến tới độc lập với sữa mẹ Thử tính phần ăn sam cung cấp tương ứng 1/2 hoặc 2/3 nhu cầu nói trên, với giá trị năng lượng của bột gạo khoảng 350 Kcal/100g, thì mỗi ngày trẻ phải tiêu thụ từ 120 đến 170 gam bột khô Với những trẻ không bú sữa mẹ thì phải

ăn đến 240 gam bột khô mỗi ngày mới đủ nhu cầu năng lượng Quả là một khẩu phần quá lớn đối với một đứa trẻ còn nhỏ Đây cũng chính là một nguyên nhân quan trọng và phổ biến gây ra tỷ lệ suy dinh dưỡng protein - năng lượng cao ở lứa tuổi này

Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển, hệ thống nhà trẻ hoàn chỉnh ở giai đoạn phát triển kinh tế thị trường theo định hướng

xã hội chủ nghĩa thì không còn khó khăn cho hoạt động truyền thông giáo dục dinh dưỡng, nhu cầu thức ăn chế biến sẵn càng trở nên bức xúc

Trang 15

Việc giải đáp nhu cầu đó đòi hỏi những giải pháp cụ thể và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của từng đối tượng trong đó trẻ em nông thôn là một đối tượng phổ biến

Giải quyết nhu cầu năng lượng cho đối tượng này còn phải tính đến tiềm năng sẵn có trên địa bàn và khả năng kinh tế của từng hộ gia đình, đó là khả năng tự cung tự cấp từ mô hình VAC, mức thu nhập thấp của một bộ phận quan trọng các gia đình nông thôn thuộc nhóm hộ đói nghèo (chiếm tỷ lệ khoảng trên 30%)

1.4.3 An ninh lương thực hộ gia đình không đảm bảo

An ninh lương thực hộ gia đình không đảm bảo là yếu tố quan trọng dẫn đến thiếu lương thực về số lượng và chất lượng - bao gồm thiếu năng lượng, protein và vi chất dinh dưỡng [117], [94], [47]

Hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo đói ở các vùng sâu, vùng xa và vùng khó khăn còn cao Đó chính là nguyên nhân tiềm tàng đe dọa tình trạng thiếu dinh dưỡng cá thể Ngoài ra mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố phụ thuộc vào khả năng tiếp cận thực phẩm ở từng hộ gia đình mà cụ thể là phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức dinh dưỡng của từng cá thể, từng gia đình và phong tục tập quán kiêng khem của từng nhóm dân tộc

Nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng ngay ở khu vực đồng bằng Bắc bộ và Trung du cho thấy chưa xác lập được an ninh lương thực hộ gia đình Tình trạng thiếu ăn ở một số địa phương còn phổ biến: Vào lúc giáp hạt, năm 1996

có 97,2% số hộ gia đình ở tỉnh Quảng Bình thiếu ăn với số tháng thiếu ăn cao nhất là 8 tháng/năm [17] Tổng Điều tra Dinh dưỡng toàn quốc năm 2010 gần đây cũng cho thấy vẫn còn từ 10-25% số hộ thiếu đói lương thực vào thời điểm giáp hạt [26], [28]

Tình trạng mất an ninh thực phẩm theo mùa là một vấn đề rất đáng quan tâm Đây vẫn còn là một tồn tại khá phổ biến; ở những hộ nghèo, có

Trang 16

33% gia đình thiếu ăn trước thời vụ và 19% gia đình trong tình trạng thiếu ăn sau thu hoạch [28]

1.4.4 Thực hành dinh dưỡng kém

Thực hành dinh dưỡng kém liên quan đến sự mất cân đối trong bữa ăn

và sự lựa chọn ưu tiên hợp lý cho đối tượng là trẻ em và người mẹ mang thai [69], [80] Ngay cả khi một hộ gia đình đảm bảo được an ninh lương thực vẫn

có thể thiếu lương thực thực phẩm đối với cá thể, nhất là các cá thể có nguy

cơ cao như trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ mang thai… mà nguyên nhân chủ yếu

là do thực hành dinh dưỡng Hai yếu tố nhạy cảm nhất trong thực hành dinh dưỡng ở trẻ em là sữa mẹ và chế độ ăn bổ sung

a) Vấn đề sữa mẹ:

Sữa mẹ là nguồn thức ăn tự nhiên của trẻ em Ngoài việc cung cấp chất dinh dưỡng hợp lý về số lượng, sữa mẹ được đảm bảo sự cân đối lý tưởng giữa các chất dinh dưỡng và là nguồn cung cấp các chất globulin miễn dịch từ thức ăn duy nhất của đứa trẻ (Hanson, Lars A.et.al) [64] Hàm lượng và tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong sữa mẹ của phụ nữ Việt Nam tương đương với các nước khác (Bùi Thị Nhu Thuận, [38]) Tuy nhiên, phần lớn trẻ em, đặc biệt là

ở các nước kém phát triển và đang phát triển, thời gian bú sữa mẹ chưa được đảm bảo, nhất là thời gian bú sữa mẹ hoàn toàn (De Zoysa, I., M.Rea and J.Martines, 1991)[54]

Trang 17

Bảng 1.5 Tình hình bú sữa mẹ ở các khu vực trên thế giới và Việt Nam

(Viện Dinh dưỡng) [93]

Năm Tỷ lệ nuôi con

bằng sữa mẹ

Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu Chung các nước

dinh dưỡng của

Viện Dinh dưỡng

-Bộ Y tế)

Rõ ràng tình hình nuôi con bằng sữa mẹ là vấn đề đang quan tâm vì có ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ, trong khi tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn ở nước ta vẫn còn quá thấp

Trang 18

b) Vấn đề số bữa ăn và chất lượng ăn bổ sung:

Chất lượng chế độ ăn bổ sung liên quan đến số bữa ăn và dạng thức ăn được sử dụng Các dạng thức ăn phổ biến ở nông thôn hiện nay là bột gạo, cháo, cơm nhai

+ Về số lượng bữa ăn, chế độ chăm sóc ưu tiên không được chú trọng dẫn

đến số bữa ăn không đảm bảo và không đúng bữa đang còn tồn tại phổ biến Hiện nay ở nông thôn, hệ thống nhà trẻ không còn nên việc chăm sóc trẻ được ủy thác cho người già hoặc trẻ vị thành niên Những người này hầu như hoàn toàn không có kiến thức dinh dưỡng Chính vì với chế độ chăm sóc như vậy nên dạng thức ăn được sử dụng cũng rất tùy tiện Có một bộ phận lớn (45%) trẻ dưới 8 tháng tuổi được cho ăn bằng cháo nấu một lần ăn cả ngày Đây là dạng thức ăn rất nghèo năng lượng nhưng lại rất phổ biến ở nông thôn [34] Nghiên cứu tại tỉnh Bắc Giang của Viện Dinh dưỡng cho thấy chỉ có 52% trẻ được ăn bột gạo, còn lại

là ăn cháo hoặc cơm nhai [39]

+ Về chất lượng bữa ăn, tập quán nuôi dạy trẻ tùy tiện vẫn còn tồn tại khá

phổ biến ở nhiều vùng miền và có ảnh hưởng quan trọng đến tỷ lệ suy dinh dưỡng chung trong cộng đồng Ngày nay, trình độ dân trí đã thay đổi đáng kể so với những thập niên trước, nhiều tập quán xấu đã được loại trừ nhưng vấn đề cân đối bữa ăn cũng đang là tồn tại khá phổ biến

+ Tần suất sử dụng thức ăn giầu năng lượng và giữ vai trò sinh học quan

trọng không cao; Số liệu giám sát tại tỉnh Bắc Giang của Viện Dinh dưỡng cho thấy có 28,6% không sử dụng protein động vật; 24,2% không sử dụng dầu mỡ; 22,5% không sử dụng rau xanh [24], [37]

+ Tập quán ăn kiêng, nguyên nhân đầu tiên là các bà mẹ không dám cho

trẻ nhỏ ăn thêm dầu mỡ, rau xanh vẫn còn tồn tại Bên cạnh đó, bà mẹ không có thời gian để chế biến cẩn thận từng bữa ăn cho trẻ Nguyên

Trang 19

nhân thứ ba là do nghèo đói, không có tiền để mua thực phẩm thường xuyên cho trẻ

1.4.5 Trình độ văn hóa thấp và thiếu kiến thức dinh dưỡng gây ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng nuôi trẻ

Nhiều tập quán ăn uống không có lợi như ăn kiêng (kiêng dầu mỡ, cá, rau xanh…) còn duy trì; không biết tận dụng nguồn thức ăn giầu dinh dưỡng sẵn có như đậu, vừng, lạc…bán trứng gà, hoa quả để mua thực phẩm chế biến sẵn; không cho ăn đủ bữa, không thực hành bữa ăn cân đối…

1.4.6 Thiếu vitamin và khoáng chất

Bên cạnh suy dinh dưỡng do thiếu Protein và năng lượng, khoa học ngày nay đã thừa nhận kết quả tăng trưởng nghèo nàn ở trẻ em còn có thể do mất cân đối các yếu tố vi lượng (như sắt, kẽm, iod- Mendoza, 1996 [82]), vitamin (như thiếu vitamin A) hoặc một số axit béo thiết yếu và một số loại khoáng chất khác (UNICEF, 1998), [12], [78], [73], [62]

Vi chất dinh dưỡng cần thiết cho mọi lứa tuổi, song nó ảnh hưởng rõ rệt trên những cơ thể đang phát triển nhanh như phụ nữ mang thai, trẻ sơ sinh và trẻ còn bú Hầu hết các vitamin (nhóm B, vitamin A, vitamin C ) được hấp thu chủ yếu qua thức ăn Chỉ có vitamin D được tổng hợp ở da dưới ánh nắng mặt trời trực tiếp

Từ nhiều năm trước đây, người ta đã nhận thấy vai trò của các vi chất dinh dưỡng và càng ngày người ta lại càng tập trung nghiên cứu về mối liên quan giữa thiếu vi chất dinh dưỡng đối với tình trạng suy dinh dưỡng Do đó, nhiều nghiên cứu tập trung vào việc xác định xem thiếu vi chất dinh dưỡng loại nào cản trở quá trình phát triển và quan trọng hơn là cần xác định suy dinh dưỡng xảy ra do thiếu một hay thiếu nhiều vi chất dinh dưỡng xảy ra đồng thời

Trang 20

Theo Engle, mô hình nguyên nhân SDD của Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã được phổ biến khá rộng rãi hoặc mô hình gần đây về Chăm sóc Ban đầu - Care Initiative đều tập trung vào vai trò chăm sóc dinh dưỡng sức khoẻ bà mẹ trẻ em Trong các mô hình trên người ta không rút ra được các yếu tố nguyên nhân của tình trạng suy dinh dưỡng [63], [64]

1.4.8 Dịch vụ y tế, nước sạch và vệ sinh môi trường liên quan đến bệnh tật

Một yếu tố quan trọng của nền y tế tốt là dịch vụ y tế phải đa dạng và chất lượng tốt Các điểm cung cấp dịch vụ phải gần với khu dân cư Theo đánh giá của UNDP, có tới 30-50% dân cư ở 35 quốc gia nghèo nhất không được cung cấp dịch vụ y tế Nước sạch và vệ sinh môi trường là những yếu tố liên quan đến các bệnh truyền nhiễm (UNDP, 1997 [100]) Năm 2000, chỉ có khoảng 3,2 tỷ người được cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường Ở nông thôn, chỉ có khoảng 18% dân cư được cung cấp nước sạch [101]

Từ năm 1990, Chiến lược dinh dưỡng của UNICEF đã phát triển quan niệm về cấu trúc của nguyên nhân gây rối loạn dinh dưỡng theo những nguyên lý trên Sự phân tích đó đã được ứng dụng ở mức độ quốc gia, vùng

và phân vùng để trợ giúp cho các kế hoạch hành động cải thiện dinh dưỡng đạt hiệu quả Nó phục vụ cho việc lượng giá và phân tích những nguyên nhân của vấn đề dinh dưỡng và hỗ trợ lựa chọn những vấn đề thích đáng nhất các hoạt động phòng, chống suy dinh dưỡng

Trang 21

dưỡng trẻ em

Khẩu phần của trẻ em

Tình trạng sức khỏe của trẻ em

Môi trường sức khỏe

Nguồn lực cho sức khỏe

- Cung cấp nước sạch

- Vệ sinh đầy đủ

- Có chăm sóc y

tế

- An toàn môi trường

- Kiểm soát nguồn lực

và tự quyết của người chăm sóc trẻ

- Tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thầncủa người chăm sóc trẻ

- Kiến thức và niềm tin của người chăm sóc

Môi trường văn hoá - xã hội

Các nguồn tiềm năng:

môi trường, công nghệ, con người

Nguyên nhân

cơ bản

Đ Ó I N G H È O

Nguồn: IFPRI: Overcoming Child Malnutrition in Developing Countries:

Past achievements and future choices; 2/2000, trang 5

Trang 22

Đối với nước ta, mức giảm SDD không đồng đều giữa các vùng Các vùng tập trung dân cư đông hiện nay tỷ lệ SDD còn cao: Đồng bằng sông Hồng 14,6%; Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung 19,8%; Đồng bằng sông

Cửu long 16,8% (Nguồn: Viện Dinh dưỡng - Tình hình dinh dưỡng Việt Nam

năm 2009-2010, tháng 4/2011) Cơ sở hạ tầng đảm bảo cho việc thực hiện có hiệu quả các hoạt động chăm sóc trẻ em và bà mẹ không đồng đều và khó có thể có những tiến bộ nhanh trong một thời gian ngắn Bên cạnh đó, những thách thức không nhỏ về tăng trưởng kinh tế trong 5 năm tới đã và đang đặt ra đồng thời khả năng có thể có những diễn biến bất lợi về thời tiết, thiên tai

Tóm lại: Nghèo đói chính là nguyên nhân cơ bản của suy dinh dưỡng

và mối quan hệ giữa nghèo đói và suy dinh dưỡng giống như một vòng tròn luẩn quẩn Tình trạng dinh dưỡng vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của các

cơ hội tìm kiếm thu nhập Bên cạnh nghèo đói, các yếu tố khác cũng quan trọng Những yếu tố này bao gồm chế độ ăn không cân đối, khẩu phần ăn thiếu về số lượng và mất cân đối về chất lượng, thực hành chế biến thực phẩm kém, mất an toàn thực phẩm và dinh dưỡng, không có hoặc thiếu khả năng tiếp cận nước sạch, điều kiện vệ sinh kém và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ không đầy đủ Suy dinh dưỡng trẻ em còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố quan trọng khác, đặc biệt là những yếu tố liên quan đến việc sử dụng nguồn lực trong hộ gia đình như thời gian và kiến thức của người chịu trách nhiệm chính trong việc chăm sóc trẻ - thường là người mẹ

1.4.9 Tình trạng nhiễm giun và tình trạng dinh dưỡng

Nhiễm ký sinh trùng đường ruột như giun đũa, giun tóc, giun móc là một vấn đề sức khỏe cộng đồng ở các nước đang phát triển do điều kiện vệ sinh môi trường không đảm bảo Nhiễm giun là nguyên nhân làm cho trẻ chán

ăn, giảm hấp thu các chất dinh dưỡng, thiếu máu, và gây ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ Nhiễm ký sinh trùng đường ruột với cường độ cao

Trang 23

và trong một thời gian dài có thể gây suy dinh dưỡng như thấp còi và nhẹ cân,

và ở những trường hợp nặng có thể gây tử vong (Stoltzfus, và CS, 1997; Hadidjaja, và CS, 1998; World Bank, 2003)

Theo một số nhà nghiên cứu cho rằng trẻ em bị nhiễm giun là một trong các nguyên nhân gây suy dinh dưỡng trẻ em, phòng chống nhiễm giun tốt sẽ góp phần phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ trong nhà trường cũng như tại cộng đồng ngày một tốt hơn làm giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng đến năm

2020 còn dưới 12,5%, trong nhà trường giảm 2 đến 3% so với đầu năm

a Tình hình nhiễm giun trên thế giới:

Hiện nay bệnh giun vẫn còn phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, nhất

là các nước ở các vùng nhiệt đới như Châu Phi, Châu Á và một số nước Châu

Âu Ở Việt Nam, bệnh giun lưu hành khá cao

Trên thế giới có khoảng 1,4 tỷ người đang bị nhiễm giun, trong đó trẻ

em dưới 5 tuổi là 69,5%, các nước phát triển tỷ lệ nhiễm giun ở trẻ em dưới 5 tuổi là 10%, các nước đang phát triển có nơi lên đến 90% Ở Châu Phi trẻ em

bị nhiễm giun 93,7%, Trung Quốc có số người bị nhiễm giun là 358 triệu trẻ

em dưới 5 tuổi chiếm tỷ lệ 37,8%, Ấn Độ với số người bị nhiễm giun là gần

319 triệu, trẻ em dưới 5 tuổi là 42,1% (theo Thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, 1995)

Nhiễm giun đường ruột rất phổ biến ở trẻ em tại các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước trong vùng nhiệt đới do khí hậu nóng ẩm, tập quán

ăn uống, vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường kém

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, điều kiện khí hậu, tập quán sinh hoạt cũng như vệ sinh môi trường rất thuận lợi cho sự phát triển và lây nhiễm giun Người dân chưa có thói quen rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh chiếm tỉ lệ trên 82%, người dân còn dùng phân tươi để bón rau nên tỉ lệ nhiễm giun ở trẻ em rất cao khoảng 80% (đặc biệt trẻ em vùng nông thôn) Tỉ lệ

Trang 24

nhiễm giun ở trẻ em khác nhau tuỳ từng vùng, từng khu vực, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế của xã hội Ở các nước phát triển, tỉ lệ nhiễm giun ở trẻ

em dưới 5 tuổi là 10%, trong khi đó ở các nước đang phát triển thì tỷ lệ này có nơi lên đến trên 90%

b Tình hình nhiễm giun ở Việt Nam

Theo số liệu của Bệnh viện Nhi Trung ương, trẻ em dưới 2 tuổi bị nhiễm giun rất thấp 17,6%, trẻ em từ 2 đến 5 tuổi tỉ lệ nhiễm giun đũa là 84,5%, giun kim 52,3%, giun móc 9,2% Trong thực tế trẻ em tuổi mầm non

bị nhiễm giun sẽ biếng ăn, mất ngủ, thiếu máu, suy dinh dưỡng Các nhà nghiên cứu đã cho thấy các biến chứng của bệnh giun như sau: viêm hoại tử ruột non, tiêu đàm máu, tiêu chảy cấp và mạn, xuất huyết tiêu hoá, giun chui ống mật, nhiễm trùng đường tiểu…làm ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em, sức khoẻ và sự phát triển về thể lực và phát triển trí tuệ của trẻ

Theo số liệu điều tra gần đây của Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương, bệnh giun truyền qua đất ở nước ta vẫn còn khá phổ biến

Tỷ lệ nhiễm giun đũa là 33,9 triệu người (chiếm khoảng 44,4%); giun tóc là 17,6 triệu người (chiếm khoảng 23,1%) và 21,8 triệu người nhiễm giun móc (28,6%)

Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất phân bố rộng rãi trên cả nước, với các

tỷ lệ nhiễm khác nhau Ở miền Bắc, nhiễm giun đũa từ 50-95%, giun tóc là 28-89%, giun móc từ 3-67%; Ở miền Trung tỷ lệ nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc tương ứng là 12,5-70,5%, 12,7-47% và 36,7-69%; nhưng ở miền Nam tỷ lệ nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc tương ứng là 10-60%, 0,5-1,7%

và 47-68%

Bên cạnh đó, tỷ lệ nhiễm giun ở học sinh tiểu học đã giảm nhưng tỷ lệ tái nhiễm tương đối cao Chẳng hạn, tại tỉnh Thừa Thiên Huế, tỷ lệ nhiễm

Trang 25

giun trước khi can thiệp là 70%, sau can thiệp 2 tuần là hơn 24% và sau 6 tháng thì đã gần như trở lại với tỷ lệ ban đầu

Tỷ lệ nhiễm giun tại các tỉnh như Yên Bái, Sơn La, Thanh Hóa…đều

ở mức trên 50% Tại Hà Nội, tỷ lệ này cũng lên đến gần 20%

c Mối liên quan giữa nhiễm giun và tình trạng thiếu máu

Trẻ em dưới 60 tháng tuổi bị thiếu máu có nhiều nguyên nhân, trong

đó nhiễm giun đường ruột là một nguyên nhân cần được quan tâm Nhiễm giun gây nên chán ăn, hấp thu kém, tiêu hóa kém, viêm mạn tính ống tiêu hóa, cạnh tranh sử dụng và làm tăng mất các chất dinh dưỡng: protein, lipid, vitamin A Lâu dài, giun làm thiếu máu Thiếu máu nặng sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển cả về thể chất và sự phát triển tinh thần của trẻ [24], [37]

Với phụ nữ trưởng thành và phụ nữ ở độ tuổi sinh sản, nhiễm giun ảnh hưởng tới thời kỳ mang thai, gây thiếu máu ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con cái họ, có thể gây đẻ non, trẻ thiếu cân, tử vong mẹ và tử vong sơ sinh Trẻ bị nhiễm giun sẽ bị rối loạn tiêu hóa, cản trở quá trình hấp thu chất dinh dưỡng Lâu ngày có thể khiến trẻ bị thiếu máu, sức đề kháng kém, dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn

Thiếu máu là một trong những vấn đề mang ý nghĩa sức khỏe cộng đồng phổ biến nhất ở các nước đang phát triển Các đối tượng có nguy cơ bị thiếu máu cao nhất là trẻ em và phụ nữ có thai Thiếu máu gây ảnh hưởng đến

sự phát triển trí tuệ, sự tăng trưởng, nó làm giảm khả năng họat động thể lực

và tăng nguy cơ mắc bệnh (Nestel và Davidsson, 2002) Thiếu máu có thể do nguyên nhân như: thiếu dinh dưỡng, mắc các bệnh nhiễm trùng và do mất máu Thiếu sắt là nguyên nhân chính của gần 50% các trường hợp thiếu máu (Staubli, và CS, 2001) Thiếu một số các vi chất dinh dưỡng khác như vitamin

A, một số vitamin nhóm B (B6, B12, riboflavin, và acid folic) cũng có thể gây thiếu máu (Allen, 2002) Nguy cơ thiếu máu cũng tăng ở những đối tượng

Trang 26

mắc các bệnh ký sinh trùng như sốt rét, ký sinh trùng đường ruột (Brooker, và

CS, 1999)

Nhiễm giun là nguyên nhân quan trọng gây thiếu máu (Stoltzfus, và

CS, 1997) Nhiễm ký sinh trùng đường ruột là bệnh thường gặp ở trẻ em tại các nước đang phát triển Một nghiên cứu triển vọng trên trẻ em ở Bangladesh cho thấy tiêu chảy ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao và tăng cân, mặc dù nhiễm khuẩn hô hấp không gây ảnh hưởng tương tự (Torres AM, và CS, 2000)

1.5 Các số đo nhân trắc trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Nhân trắc học dinh dưỡng là đo các kích thước và cấu trúc cơ thể để đánh giá tình trạng dinh dưỡng (TTDD) Phương pháp nhân trắc học có những ưu điểm là đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫu lớn Trang thiết bị không đắt, dễ vận chuyển Có thể khai thác đánh giá được các dấu hiệu về TTDD trong quá khứ và xác định được mức độ suy dinh dưỡng Tuy nhiên phương pháp nhân trắc học cũng có một nhược điểm như: không đánh giá được sự thay đổi về TTDD trong giai đoạn ngắn hoặc không nhạy để xác định các thiếu hụt dinh dưỡng đặc hiệu

Quá trình phát triển là kết quả tổng hợp của các yếu tố di truyền và môi trường bên ngoài, trong đó yếu tố dinh dưỡng có vai trò rất quan trọng Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy dinh dưỡng hầu như giữ vai trò chi phối chính trong sự phát triển của trẻ em, ít nhất đến 5 tuổi Vì vậy, thu thập các kích thước nhân trắc là rất quan trọng trong các cuộc điều tra dinh dưỡng Có thể chia ra nhóm kích thước nhân trắc sau đây:

a) Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng

b) Các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều dài nằm, chiều cao đứng c) Cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các mô mềm bề mặt: Lớp mỡ dưới da và cơ

Trang 27

Một số kích thước sau đây thường được dùng trong các cuộc điều tra dinh dưỡng tại cộng đồng hiện nay:

Chiều dài nằm

Từ 1 đến dưới 5 tuổi Cân nặng

Chiều dài nằm (dưới 24 tháng) Chiều cao đứng (từ 24 tháng trở lên)

Đo bề dày nếp gấp da Vòng cánh tay

1.5.1 Các số đo nhân trắc

a) Cân nặng: là số đo thường dùng nhất Cân phải được đặt ở vị trí ổn định

và bằng phẳng, chỉnh cân về vị trí cân bằng ở số 0 Hàng ngày phải kiểm tra cân 2 lần bằng cách dùng quả cân chuẩn (hoặc vật tương đương, ví dụ một can nước 5 kg) để kiểm soát độ chính xác và độ nhạy của cân Kiểm tra thăng bằng của cân

Nên cân vào buổi sáng, khi đối tượng mới ngủ dậy, sau khi đã đi đại, tiểu tiện và chưa ăn uống gì Hoặc cân vào những giờ thống nhất trong những điều kiện tương tự (trước bữa ăn, trước giờ lao động) Với người lớn: nam giới khi cân chỉ mặc quần đùi, cởi trần, không đi giày dép, nữ giới mặc quần

áo gọn nhất và phải trừ bớt cân nặng trung bình của quần áo khi tính kết quả Với trẻ em: mặc quần áo tối thiểu, mùa đông thì cởi áo khoác, áo len và trừ cân nặng của quần áo Trường hợp trẻ quấy khóc, khó thực hiện thì có thể cân mẹ của trẻ rồi cân mẹ bế cả con, sau đó trừ ngay để lấy cân nặng thực

tế của trẻ

Trang 28

Đối tượng đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng dồn đều vào hai chân Kết quả cân được ghi theo đơn vị kilogam (kg) với 1 số lẻ (0,0 kg) hoặc 2 số lẻ (0,00 kg) tùy theo loại cân có độ nhạy 10g hoặc 100g

b) Chiều cao

Đo chiều dài nằm: là kỹ thuật được thực hiện khi trẻ dưới 24 tháng

tuổi Để thước nằm trên mặt phẳng nằm ngang Đặt trẻ nằm ngửa, người phụ

đo giữ đầu trẻ, để mắt trẻ nhìn thẳng lên trần nhà Mảnh gỗ chỉ số 0 của thước

áp sát đỉnh đầu Người đo ấn thẳng đầu gối và đưa mảnh gỗ di động áp sát gót, khi gót chân sát mặt phẳng nằm ngang và bàn chân thẳng đứng thì đọc kết quả Kết quả được ghi theo đơn vị cm với 1 số lẻ (0,0cm)

Đo chiều cao đứng: đối với trẻ từ 24 tháng tuổi trở lên và người lớn Đối tượng bỏ guốc dép, đi chân không, đứng quay lưng vào thước đo Lưu ý

cố định thước đo theo chiều thẳng đứng Gót chân, mông, vai và đầu theo một đường thẳng áp sát vào thước đo đứng, mắt nhìn thẳng ra phía trước theo đường thẳng nằm ngang, hai tay bỏ thõng theo hai bên mình Dùng ê-ke hoặc mảnh gỗ có góc vuông áp sát một cạnh vào đỉnh đầu đối tượng và một cạnh vào thước đo Kết quả được ghi theo đơn vị xen-ti-met (cm) với 1 số lẻ (0,0cm)

c) Đo chu vi vòng cánh tay (MUAC):

Sự phát triển kém hoặc suy mòn các cơ là những biểu hiện chính của suy dinh dưỡng thiếu protein - năng lượng, nhất là trẻ bé Ở người lớn và người trưởng thành, khối lượng cơ lại tỷ lệ với sự tăng vận động của một nhóm cơ nào đó Trong thực hành dinh dưỡng, đánh giá khối lượng cơ thường được thông qua vòng đo trực tiếp các chi

Vòng đo thường dùng nhất là vòng đo cánh tay trái, tư thế bỏ thõng tự nhiên Dùng thước mềm, không chun giãn với độ chính xác 0,1cm Vòng đo

Trang 29

đi qua điểm giữa cánh tay tính từ mỏm cùng xương vai đến mỏm trên lồi cầu xương cánh tay Xác định điểm giữa cánh tay, trước hết cần xác định mỏm cùng vai, sau đó gập khủyu tay vuông góc, xác định mỏm trên lồi cầu xương cánh tay Đặt vị trí số 0 của thước đo vào mỏm cùng xương vai, kéo thẳng thước đo đến mỏm trên lồi cầu xương cánh tay, đánh dấu điểm giữa cánh tay Duỗi thẳng cánh tay của đối tượng, vòng thước đo quanh điểm giữa cánh tay, mặt số của thước đo hướng lên trên, áp sát thước đo vào cánh tay của đối tượng, đảm bảo sao cho thước đo có độ căng vừa phải không quá chặt, hoặc quá lỏng, đọc kết quả chính xác đến 0,1cm

d) Nếp gấp da (Bề dày lớp mỡ dưới da):

Người ta thường chọn nơi đo ở những chỗ có nhiều mỡ nhất như mặt sau cánh tay, mạng sườn trên mào chậu, góc dưới xương vai, cạnh rốn… Chỗ

đo hay dùng nhất ở mặt sau cánh tay hay còn gọi là nếp gấp da trên cơ tam đầu: đo ở tay trái, tư thế thõng tự nhiên, véo da ở mặt điểm giữa sau cánh tay cho sát tới lớp cân cơ nông và dùng compa đặc hiệu đo ở bề dày của lớp da véo lên Như vậy, kết quả đo được bằng hai lần bề dày lớp da và lớp mỡ dưới

da vùng đó Kết quả được đọc với đơn vị mi-li-met (mm) Khi đo, bề mặt của compa song song với trục cánh tay

Khi đo nếp gấp da dưới xương vai, người kỹ thuật viên cần lần theo cột sống để xác định bờ xương vai và góc dưới Ở người béo, nên quặt tay nhẹ ra phía sau sẽ xác định dễ dàng hơn

Loại compa hay sử dụng nhất là loại compa Harpenden, hai đầu compa

là hai mặt phẳng, tiết diện 1cm2 Có một áp lực kế gắn vào compa, đảm bảo khi compa kẹp vào da bao giờ cũng có một áp lực không đổi khoảng 10 – 20g/mm2

e) Vòng bụng, vòng thắt lưng, vòng mông:

Trang 30

Đối tượng đứng thẳng, tư thế thoải mái, tay buông thõng, thở bình thường, đo lúc đói Vòng bụng thường đo qua rốn, thước đo ở trên mặt phẳng ngang Vòng thắt lưng là vòng bé nhất ở bụng đi qua điểm giữa bờ dưới xương sườn và đỉnh mào chậu trên mặt phẳng nằm ngang Vòng mông là vòng lớn nhất đi qua mông Đối tượng ở tư thế trên, mặc quần lót, vòng đo ở mặt phẳng nằm ngang Đo ở mức chính xác 0,1cm Người ta tính tỷ số vòng thắt lưng và vòng mông để đánh giá mức phân bố tổ chức mỡ dưới da và mỡ trong ổ bụng, tỷ số này tăng theo tuổi và tình trạng thừa cân

Muốn nhận định các kết quả về nhân trắc, cần phải chọn một quần thể tham chiếu (reference population) để so sánh Không nên coi quần thể tham chiếu là chuẩn (standard) nghĩa là mục tiêu mong muốn, mà chỉ là cơ sở đưa

ra các nhận định thuận tiện cho các so sánh trong nước và quốc tế Do nhận thấy ở trẻ em dưới 5 tuổi được nuôi dưỡng hợp lý và điều kiện sống hợp vệ sinh thì khả năng lớn không khác nhau theo chủng tộc, Tổ chức Y tế thế giới năm 1985 đã chọn Quần thể tham khảo NCHS của Hoa Kỳ làm quần thể tham chiếu để so sánh đánh giá TTDD của trẻ em Từ 1997, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xây dựng một quần thể tham chiếu mới với các số liệu được tổng hợp từ các châu lục khác nhau Tiêu chuẩn mới này của WHO đã được áp dụng ở Việt Nam từ năm 2006

Người ta sử dụng các giới hạn ‘ngưỡng’ (cut - off point) theo các cách như sau :

Trang 31

- Theo phân bố thống kê, thường lấy -2SD của số trung bình làm giới hạn ngưỡng Từ đó người ta tính được tỷ lệ ở dưới hoặc trên các ngưỡng đó

- Theo độ lệch chuẩn (Zscore hay SDscore):

Kích thước đo được - Số trung bình của quần thể

tham chiếu Zscore hay SDscore =

Độ lệch chuẩn của quần thể tham chiếu

Cách biểu hiện theo tỷ lệ % dưới giới hạn ngưỡng cho một kết luận tổng quát nhưng để so sánh hiệu quả các can thiệp thì cách so sánh số trung bình (± SD) hoặc số trung bình của Zscore tỏ ra thích hợp hơn

- Theo Xentin : Nhiều khi người ta sắp xếp các kích thước nhân trắc theo xentin so với quần thể tham chiếu Ở mốc 3 xentin (nghĩa là có 3% số trẻ dưới mốc này) gần tương đương với -2SD (chính xác là -1,881SD), nên dưới mốc này có thể xếp vào loại thiếu dinh dưỡng Thường các bảng xentin lấy mốc 3 và 97 xentin để phân loại tình trạng dinh dưỡng

Khi áp dụng các chỉ tiêu nhân trắc để nhận định tình trạng dinh dưỡng, cần chú ý rằng chỉ tiêu thích hợp nhất để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cấp tính là cân nặng theo chiều cao, do đó nên sử dụng trong các đánh giá nhanh sau thiên tai, các can thiệp ngắn hạn Chiều cao theo tuổi lại là chỉ tiêu thích hợp nhất để đánh giá tác động dài hạn, nghĩa là để theo dõi ảnh hưởng của các thay đổi về điều kiện kinh tế xã hội

Chỉ tiêu cân nặng theo tuổi là một chỉ tiêu chung không mang giá trị đặc hiệu như hai chỉ tiêu trên Người ta không phủ nhận giá trị tương đối của

nó, nhưng trong các cuộc điều tra dinh dưỡng, việc thu thập cả cân nặng, chiều cao và tuổi là cần thiết để tính ra các chỉ tiêu trên Đồng thời, bên cạnh tính các tỷ lệ dưới một ‘ngưỡng’ nào đó, nên tính số trung bình (hoặc trung

Trang 32

bình Zscore) cùng với độ lệch chuẩn để các nhận định được toàn diện hơn, nhất là khi có ý định so sánh

Cân nặng theo tuổi: đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất Cân

nặng của trẻ được so sánh với cân nặng của trẻ cùng tuổi, cùng giới của chuẩn WHO, lấy điểm ngưỡng dưới 2Zscores được coi là SDD thể thiếu cân Cụ thể thang phân loại TTDD như sau:

Từ dưới -2 Zscores đến -3 Zscores: Suy dinh dưỡng vừa (độ I)

Từ dưới -3 Zscores đến -4 Zscores: Suy dinh dưỡng nặng (độ II)

Từ dưới -4 Zscores: Suy dinh dưỡng rất nặng (độ III)

Từ -2 Zscores đến +2 Zscores: Bình thường

Trên +2 Zscores: Thừa cân Đây là ngưỡng để sàng lọc Còn để xác định béo phì cần phải đo bề dày lớp mỡ dưới da và sử dụng chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao

Phân loại TTDD bằng chỉ tiêu cân nặng theo tuổi có nhược điểm là không phân biệt được suy dinh dưỡng cấp hay mạn tính

Chiều cao theo tuổi: Chiều cao của trẻ được so sánh với trẻ cùng tuổi,

cùng giới của chuẩn WHO Thang phân loại như sau:

Từ -2 Zscores trở lên: Bình thường

Từ dưới -2 Zscores đến -3 Zscores: Suy dinh dưỡng độ I (thấp còi

độ I)

Dưới -3 Zscores: Suy dinh dưỡng độ II (thấp còi độ II)

Chỉ tiêu chiều cao/tuổi thấp (dưới -2Zscores) phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc SDD trong quá khứ làm đứa trẻ bị SDD thể thấp còi (thấp hơn so với chiều cao có thể đạt được của trẻ cùng tuổi cùng giới)

Cân nặng theo chiều cao: Cân nặng/chiều cao thấp so với điểm

ngưỡng là dưới -2 Zscores theo chuẩn WHO phản ánh SDD ở thời điểm hiện

Trang 33

tại, mới xảy ra làm đứa trẻ ngừng lên cân hay tụt cân bị SDD thể gầy còm (SDD cấp tính) Các điểm ngưỡng giống 2 chỉ tiêu trên:

Từ -2 Zscores đến dưới +2 Zscores: Bình thường

Từ dưới -2 Zscores đến -3 Zscores: Suy dinh dưỡng cấp vừa (gầy còm độ I)

Dưới -3 Zscores: Suy dinh dưỡng cấp nặng (gầy còm độ II)

Trên +2 Zscores là trẻ có biểu hiện thừa cân Để chẩn đoán béo phì

ở nhóm tuổi này cần kết hợp với đo dự trữ mỡ

Khi cả hai chỉ tiêu chiều cao/tuổi và cân nặng/chiều cao đều thấp hơn điểm ngưỡng (-2 Zscores) đề nghị thì đứa trẻ đó bị SDD thể phối hợp (mạn tính và cấp tính), vừa gầy còm vừa thấp còi

MUAC: theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2006, chủ

yếu dùng để làm sàng lọc tìm SDD cấp tính trên cộng đồng vì phương pháp đơn giản và có chung một điểm ngưỡng mà không phụ thuộc vào tuổi của trẻ Trẻ được coi là suy dinh dưỡng cấp tính nặng khi MUAC <11,5cm (tương đương < -3 Zscores Cân nặng/chiều cao với quần thể tham khảo của WHO) Trẻ được coi là suy dinh dưỡng cấp tính vừa khi MUAC ≥11,5cm - <12,5cm (tương đương ≥-3 Zscores -< -2 Zscores cân nặng/chiều cao với chuẩn của WHO)

1.6 Các can thiệp dinh dưỡng tại cộng đồng

1.6.1 Những nguyên tắc cơ bản của xây dựng chương trình can thiệp dinh dưỡng cộng đồng

Hỗ trợ và khuyến khích tham gia của cộng đồng và xã hội

Cộng đồng tham gia tích cực vào chương trình can thiệp sẽ tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề về dinh dưỡng và sức khoẻ khác còn tồn tại trong cộng đồng Quá trình đó còn đảm bảo cho chương trình áp dụng những biện pháp, những kỹ thuật phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của cộng đồng

Trang 34

và tạo điều kiện để người dân ở nhóm có nguy cơ tiếp cận được với dịch vụ

và hoạt động của chương trình can thiệp

Lồng ghép chương trình can thiệp dinh dưỡng với phát triển cộng đồng

Đã có nhiều bằng chứng chỉ ra suy dinh dưỡng gây ra bởi nhiều nguyên nhân và các nguyên nhân đó phối hợp với nhau như thiếu thực phẩm, thiếu kiến thức chăm sóc dinh dưỡng và sức khoẻ, thiếu dịch vụ chăm sóc y tế, và giáo dục, sản xuất nông nghiệp kém, vệ sinh môi trường, phụ nữ lao động nặng và thu nhập thấp

Chính vì vậy những chương trình can thiệp dinh dưỡng thành công cần phải có sự tham gia của nhiều ngành Các chương trình can thiệp dinh dưỡng không chỉ tập trung vào giải quyết tình trạng thiếu dinh dưỡng ở phụ nữ mà cùng với nó phải giải quyết cả lao động, việc làm và chăm sóc y tế cho đối tượng này Chính vì vậy những chương trình can thiệp theo hướng lồng ghép

ở nhiều nước đã có những thành công nhất định

1.6.2 Các bước tiến hành xây dựng chương trình can thiệp dinh dưỡng

Xác định những vấn đề dinh dưỡng và những yếu tố liên quan

Cần mô tả được hoàn cảnh thực tế và các điều kiện và các yếu tố liên quan với vấn đề dinh dưỡng Phân tích từ những nguyên nhân trực tiếp của vấn đề dinh dưỡng và sau đó lần lượt tới những nguyên nhân tiếp theo để xây dựng mô hình nguyên nhân Từ đó tìm ra mối tương tác giữa các yếu tố, tìm

ra những cụm nguyên nhân dẫn đến tình trạng các vấn đề dinh dưỡng ở cộng đồng

Xây dựng mục tiêu của chương trình can thiệp dinh dưỡng

Mục tiêu của chương trình dinh dưỡng là kết quả cần đạt được để cải thiện vấn đề dinh dưỡng trong từng giai đoạn hoạt động Dựa trên vấn đề còn tồn tại và tình hình thực tế của địa phương, cũng như căn cứ vào những hiểu

Trang 35

biết về giá thành hiệu quả của các chương trình can thiệp mà người lập kế hoạch có thể đưa ra mục tiêu chương trình can thiệp

Lựa chọn các can thiệp dinh dưỡng

Những vấn đề dinh dưỡng được xác định rõ ràng, những mục tiêu được đưa ra chính xác và các biện pháp can thiệp được phân tích cân nhắc đầy đủ

để xây dựng chương trình can thiệp hiệu quả cao nhất

Những quyết định cần cân nhắc những điểm sau:

- Xem xét những thay đổi nào có thể xảy ra khi tiến hành can thiệp

- Lựa chọn những thay đổi

- Những kết quả nào có thể đạt được trong thời gian trước mắt, thời gian trung hạn và thời gian lâu dài

Để lựa chọn biện pháp can thiệp thích hợp thì những tiêu chuẩn sau đây cần được xem xét và cân nhắc:

Tính hợp lý: chúng ta cần cân nhắc biện pháp can thiệp đã hợp lý với

vấn đề dinh dưỡng của cộng đồng không, có thích hợp với mức độ của vấn

đề, với sự cấp bách của tình hình, có thích hợp với các điều kiện của cộng đồng kể cả điều kiện quản lý chương trình, trình độ của người dân

Tính đặc hiệu: can thiệp dinh dưỡng cần đặc hiệu Đặc hiệu cho vấn đề

dinh dưỡng và đối tượng can thiệp nhằm đạt được kết quả cao nhất Những giải pháp can thiệp trực tiếp, ví dụ như bổ sung viên nang vitamin A, bổ sung thực phẩm cho trẻ, hoặc các chương trình phòng chống bệnh tật thường là những giải pháp đặc hiệu ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ, tuy nhiên nếu chỉ triển khai đơn thuần chương trình bổ sung, tính duy trì và bền vững có thể lại không cao Những giải pháp can thiệp về kinh tế, môi trường, văn hoá xã hội thường ít đặc hiệu hơn Tuỳ từng trường hợp cụ thể của địa phương, theo từng giai đoạn của can thiệp mà lựa chọn giải pháp thích hợp

nhất

Trang 36

Tính khả thi: để có thể đảm bảo tính khả thi của chương trình can thiệp,

cần phân tích, đánh giá cụ thể tình hình thực tế về nguồn nhân lực, vật lực cũng như điều kiện kinh tế, xã hội, tập quán và địa lý của địa bàn định can thiệp Những giải pháp có tính khả thi cao sẽ được ưu tiên lựa chọn

Dễ chọn đối tượng: một dự án can thiệp muốn thành công thì đối tượng

phải dễ tiếp cận về mặt địa lý, dễ chọn được đúng đối tượng và có khả năng tiếp xúc được đối tượng

Sự quan tâm, tham gia và chấp nhận của cộng đồng: để đảm bảo sự

thành công của chương trình can thiệp, vấn đề can thiệp cần phải được cộng đồng quan tâm, cộng đồng tham gia trong khâu phân tích tình hình, lựa chọn giải pháp can thiệp, triển khai, quản lý, theo dõi giám sát và đánh giá hoạt động của chương trình can thiệp Những giải pháp can thiệp được cộng đồng chấp nhận thì có tính ưu tiên cao hơn

Tính bền vững: tính bền vững phản ánh khả năng địa phương tự duy trì

hoạt động của chương trình khi dự án đã kết thúc, người dân tiếp tục tự giác duy trì những hành vi có lợi cho sức khoẻ Một chương trình có thể duy trì được lâu dài thường chỉ khi năng lực của cán bộ địa phương tham gia chương trình được nâng cao, cần có sự cam kết của địa phương và cần có sự tham gia của người dân

Dễ đánh giá: khi thực hiện chương trình can thiệp dinh dưỡng cần cân

nhắc cả điều kiện theo dõi, giám sát, đánh giá, đảm bảo chương trình thực hiện đúng mục tiêu

Giá thành: nếu các chương trình can thiệp có cùng hiệu lực, chương

trình nào có giá thành thấp hơn thì thường được ưu tiên hơn

1.6.3 Các chương trình can thiệp dinh dưỡng

Những can thiệp về thực phẩm

Trang 37

Mục tiêu của chương trình can thiệp thực phẩm nhằm đảm bảo cho mọi đối tượng có được chế độ dinh dưỡng đủ về số lượng và chất lượng, để người dân có sức khoẻ tốt Các chương trình can thiệp nhằm đảm bảo an ninh thực phẩm với mong muốn đảm bảo cho mọi người dân có sẵn lương thực thực phẩm ở mọi nơi và mọi thời điểm Chính vì vậy mà những yếu tố ảnh hưởng của thực phẩm liên quan với chính sách thực phẩm, đến tiêu thụ, sức mua của người tiêu dùng

Những can thiệp về dinh dưỡng

Bổ sung các chất dinh dưỡng

Các chất dinh dưỡng được sản xuất dưới dạng thuốc, sử dụng trong các chương trình ngắn hạn, nhằm bổ sung cho những đối tượng có nguy cơ

bị thiếu hụt cao và thường ở những nơi mà tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng ở tỷ lệ cao, có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng Biện pháp này nhằm cải thiện nhanh tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng ở cộng đồng đối với những nhóm đối tượng có nguy cơ được xác định rõ

Những chương trình bổ sung các chất dinh dưỡng đã được thực hiện là

bổ sung viên nang vitamin A, viên nang iod, viên sắt, vitamin K ở nước ta, chương trình bổ sung viên nang vitamin A liều cao cho trẻ nhỏ, phụ nữ ngay sau sinh, bổ sung viên sắt cho phụ nữ có thai đã thu được những thành công khả quan

Chương trình thức ăn bổ sung

Chương trình thức ăn bổ sung thường cung cấp hay hỗ trợ bữa ăn hoặc thực phẩm với giá thấp hay miễn phí cho các nhóm đối tượng có nguy cơ cao với các mục tiêu sau: Để cải thiện tốc độ phát triển, tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ nói chung; Để tăng sức đề kháng với nhiễm trùng cho nhóm có nguy

cơ cao, đặc biệt là ở các hộ gia đình có thu nhập thấp

Trang 38

Chương trình dinh dưỡng tập trung vào các đối tượng trẻ em trước tuổi đến trường, phụ nữ có thai, bà mẹ cho con bú, những người có nguy cơ cao bị thiếu dinh dưỡng Các đối tượng này nhận thức ăn bổ sung trong giai đoạn nhất định và giáo dục dinh dưỡng trong thời điểm đó đóng vai trò rất quan trọng

Chương trình thức ăn bổ sung thường được đưa vào bữa ăn trưa hay bữa ăn giữa ca hay bữa ăn thường xuyên Các chương trình này chú ý tới những khu vực bị thiên tai, mất mùa và cả những khu vực công nghiệp mà người công nhân ít việc hoặc thất nghiệp

Thực phẩm sử dụng trong chương trình bổ sung dinh dưỡng có thể là

có nguồn gốc từ địa phương thường được cộng đồng chấp nhận và nguồn thực phẩm tiếp tục được sử dụng ngay cả khi chương trình kết thúc hoặc mang từ nơi khác đến hoặc các thực phẩm nhập khẩu có thể rất nhiều loại từ sữa gầy, các loại bột mì, gạo, bột đậu Điều thuận lợi là các thực phẩm nhập khẩu có giá trị dinh dưỡng cao nhưng chương trình sẽ có thể tạo nên sự phụ thuộc của cộng đồng vào nguồn thực phẩm không sẵn có và ảnh hưởng tới tính duy trì bền vững của chương trình

Chương trình thức ăn bổ sung thường được lồng ghép với những hoạt động của trạm y tế, trường học, các tổ chức phụ nữ và luôn khuyến khích tham gia của cha mẹ, các thành viên cộng đồng tham gia vào việc chuẩn bị bữa ăn bổ sung cho trẻ Nơi thực hiện đảm bảo yêu cầu chuẩn bị thức ăn sạch, thuận tiện và tổ chức được việc giáo dục sức khoẻ

Chương trình phục hồi dinh dưỡng

Chương trình phục hồi suy dinh dưỡng nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ và cung cấp cho bà mẹ và những người nuôi dưỡng trẻ kiến thức kỹ năng cần thiết để duy trì và cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ ở

hộ gia đình Trước đây việc điều trị và phục hồi dinh dưỡng cho trẻ thường ở

Trang 39

bệnh viện, ngày nay việc đó chỉ thực hiện khi thấy thật cần thiết đối với trẻ

ốm nặng, còn phần lớn là ở hộ gia đình hiệu quả cao hơn để tránh lây nhiễm chéo cho trẻ

Tăng cường các chất dinh dưỡng vào thực phẩm

Tăng cường các chất vào thực phẩm là đưa thêm các chất dinh dưỡng, nhằm duy trì hay cải thiện chất lượng thực phẩm Tăng cường các chất dinh dưỡng vào thực phẩm có một vị trí quan trọng trong chiến lược phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng như thiếu iod, vitamin A, sắt Biện pháp tăng cường các chất dinh dưỡng có những ưu điểm về giá thành thấp và có sự tham gia của người tiêu dùng trong quá trình theo dõi và kiểm soát

Tăng cường các chất dinh dưỡng đã thành công như chương trình tăng cường iod vào muối Một số chương trình tăng cường vitamin A vào một số thực phẩm như margarin, sữa, đường, mì chính cũng đã có những thử nghiệm

ở một số nước Sắt cũng đã được tăng cường vào các loại bột, bánh qui và mì sợi Hiện nay đang có những nghiên cứu hiệu quả của việc tăng cường sắt vào đường, nước chấm đã có những hiệu quả đáng khuyến khích

Một số vitamin như thiamin, riboflavin, niacin được bổ sung vào bột, một số chất dinh dưỡng khác như vitamin D, vitamin C, calci cũng thường được đưa vào bột, các loại bánh hoặc dầu, nước quả tuy nhiên phần lớn các biện pháp tăng cường các chất dinh dưỡng này dẫn đến giá thành sản phẩm đắt hơn

Các chương trình giáo dục dinh dưỡng

Giáo dục dinh dưỡng có vai trò quan trọng trong tất cả các loại biện pháp can thiệp nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng ở mọi lứa tuổi ở bất kì cộng đồng nào Áp dụng các tiến bộ khoa học dinh dưỡng diễn ra hàng ngày trong cuộc sống của người dân, nó liên quan đến điều kiện kinh tế, xã hội và

Trang 40

các giá trị văn hoá của thực phẩm, cũng như quan niệm của người dân về lựa chọn thực phẩm để có sức khoẻ tốt

Đối với giáo dục dinh dưỡng cộng đồng nhằm thay đổi các hành vi liên quan đến dinh dưỡng, tạo lập hành vi mới, người cán bộ dinh dưỡng cần lưu ý việc khuyến khích cộng đồng thay đổi các tập tục chưa hợp lý Để làm được điều đó phải chuyển tải những thông tin mới về dinh dưỡng, tạo ra được động lực thúc đẩy cộng đồng thay đổi các tập quán dinh dưỡng chưa hợp lý Quá trình giáo dục tập trung vào bảo vệ và tạo nên tình trạng dinh dưỡng tốt hơn

và tập trung vào các hoạt động chăm sóc dinh dưỡng Giáo dục dinh dưỡng là quá trình liên tục theo chu kỳ vòng đời với việc bổ sung liên tục những hiểu biết mới

Lồng ghép can thiệp dinh dưỡng với các chương trình y tế

Các chương trình lồng ghép tập trung những cố gắng phối hợp những chương trình can thiệp dinh dưỡng với các chương trình y tế, nước sạch, vệ sinh môi trường và kế hoạch hoá gia đình

Lồng ghép can thiệp dinh dưỡng với các chương trình y tế nhằm cung cấp được dịch vụ chăm sóc sức khoẻ toàn diện có hiệu quả cao hơn Lồng ghép các hoạt động của các chương trình y tế với can thiệp dinh dưỡng là một trong những nguyên lý của chăm sóc sức khoẻ ban đầu

Phối hợp chương trình can thiệp dinh dưỡng với các hoạt động của các chương trình phúc lợi khác sẽ làm tăng sức mạnh của chương trình can thiệp dinh dưỡng đồng thời sẽ nâng hiệu quả của các chương trình phúc lợi

Lồng ghép được thể hiện ở mục tiêu và sự phối hợp ở từng hoạt động đồng thời với chương trình y tế, chăm sóc sức khoẻ ban đầu, nước sạch và vệ sinh môi trường Từ những phối hợp đó sẽ tạo ra được những động lực cho cả cộng đồng chăm sóc sức khoẻ và dinh dưỡng cho các đối tượng có nguy cơ cao thiếu dinh dưỡng Kết quả phối hợp sẽ thể hiện trong việc cải thiện tình

Ngày đăng: 25/07/2014, 02:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Y tế - Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương (2006), Hội nghị tổng kết công tác phòng chống sốt rét và giun sán 2001 - 2005, triển khai kế hoạch 2006 - 2010”, Hà Nôi, tr 28-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị tổng kết công tác phòng chống "sốt" rét và giun sán 2001 - 2005, triển khai kế hoạch 2006 - 2010”
Tác giả: Bộ Y tế - Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương
Năm: 2006
3. Cao Thu Hương, Nguyễn Xuân Ninh, Hoàng Khải Lập, Phạm Văn Hoan, Nguyễn Văn Nhiên, và CS (2003), “Tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu, thiếu vitamin A và một số yếu tố liên quan ở trẻ em 5 - 8 tháng tuổi thuộc huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên”, Tạp chí Y học Việt Nam, số 9, tr 62-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu, thiếu vitamin A và một số yếu tố liên quan ở trẻ em 5 - 8 tháng tuổi thuộc huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên”", Tạp chí Y học Việt Nam
Tác giả: Cao Thu Hương, Nguyễn Xuân Ninh, Hoàng Khải Lập, Phạm Văn Hoan, Nguyễn Văn Nhiên, và CS
Năm: 2003
4. Đỗ Kim Liên, Bùi Thị Nhung, Nguyễn Văn Khang, Đỗ Vân Anh, Lê Thị Hợp, Nguyễn Công Khẩn (2006), Hiệu quả của uống sữa và sữa giàu đa vi chất lên tình trạng dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng của học sinh tiểu học, Hội thảo khoa học: Cải thiện Dinh dưỡng và gia tăng tăng trưởng ở người Việt Nam, tr 85-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của uống sữa và sữa giàu đa vi chất lên tình trạng dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng của học sinh tiểu học
Tác giả: Đỗ Kim Liên, Bùi Thị Nhung, Nguyễn Văn Khang, Đỗ Vân Anh, Lê Thị Hợp, Nguyễn Công Khẩn
Năm: 2006
5. Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Xuân Ninh, Nghiêm Nguyệt Thu, Đào Tố Quyên, Nguyễn Thị Lan Anh, và CS (2000), Diễn biến tình hình thể lực của học sinh một số trường tiểu học Hà Nội từ 1995 - 1998, Một số công trình nghiên cứu về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 77-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Xuân Ninh, Nghiêm Nguyệt Thu, Đào Tố Quyên, Nguyễn Thị Lan Anh, và CS (2000), "Diễn biến tình hình thể lực của học sinh một số trường tiểu học Hà Nội từ 1995 - 1998, Một số công trình nghiên cứu về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Xuân Ninh, Nghiêm Nguyệt Thu, Đào Tố Quyên, Nguyễn Thị Lan Anh, và CS
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2000
6. Đỗ Thị Hòa, Lê thị Hương, Đỗ Mạnh Cường, Trần Hoàng Tùng (2000), “Tình trạng dinh dưỡng và nhiễm giun của học sinh 2 trường tiểu học ngọai thành Hà Nội”, Tạp chí Y học thực hành, số 6, tr 45-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Thị Hòa, Lê thị Hương, Đỗ Mạnh Cường, Trần Hoàng Tùng (2000), “Tình trạng dinh dưỡng và nhiễm giun của học sinh 2 trường tiểu học ngọai thành Hà Nội”, "Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Đỗ Thị Hòa, Lê thị Hương, Đỗ Mạnh Cường, Trần Hoàng Tùng
Năm: 2000
7. Đỗ Thị Hòa, Hà Huy Khôi (2000), “Một số nhận xét về tình trạng thiếu máu của học sinh tiểu học Đông Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội 2 năm 1997 và 1999”, Tạp chí Y học Thực hành, số 5 (381), tr 49-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Thị Hòa, Hà Huy Khôi (2000), “Một số nhận xét về tình trạng thiếu máu của học sinh tiểu học Đông Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội 2 năm 1997 và 1999”, "Tạp chí Y học Thực hành
Tác giả: Đỗ Thị Hòa, Hà Huy Khôi
Năm: 2000
8. Đỗ Thị Hòa (2001), Nghiên cứu hiệu quả sinh học của một lọai thực phẩm được tăng cường vi chất dinh dưỡng (vitamin A và sắt) đối với học sinh trường tiểu học, Luận án Tiến sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Thị Hòa (2001), "Nghiên cứu hiệu quả sinh học của một lọai thực phẩm được tăng cường vi chất dinh dưỡng (vitamin A và sắt) đối với học sinh trường tiểu học
Tác giả: Đỗ Thị Hòa
Năm: 2001
9. Hà Huy Khôi (2004), Đánh giá một số yếu tố dinh dưỡng có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và các giải pháp can thiệp, Báo cáo tổng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Huy Khôi (2004)
Tác giả: Hà Huy Khôi
Năm: 2004
10. Hà Huy Khôi (1997), Phương pháp dịch tễ học dinh dưỡng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Huy Khôi (1997), "Phương pháp dịch tễ học dinh dưỡng
Tác giả: Hà Huy Khôi
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1997
11. Hà Huy Khôi (1985), “Lý luận dinh dưỡng cân đối và ứng dụng thực hành”, Tạp chí Y học thực hành, Tổng Hội Y Dược Việt Nam, số 2/1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Huy Khôi (1985), “Lý luận dinh dưỡng cân đối và ứng dụng thực hành”", Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Hà Huy Khôi
Năm: 1985
12. Hà Huy Khôi (2001), Dinh dưỡng trong thời kỳ chuyển tiếp, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng trong thời kỳ chuyển tiếp
Tác giả: Hà Huy Khôi
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2001
13. Hà Huy Khôi (1997), Phương pháp dịch tễ học dinh dưỡng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Huy Khôi (1997), "Phương pháp dịch tễ học dinh dưỡng
Tác giả: Hà Huy Khôi
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1997
14. Hà Huy Khôi (2004), Đánh giá một số yếu tố dinh dưỡng có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và các giải pháp can thiệp, Báo cáo tổng kết khoa học kỹ thuật đề tài cấp Nhà nước, mã số KC 10.05, Bộ Y tế, Viện Dinh dưỡng, tr 94-99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Huy Khôi (2004), "Đánh giá một số yếu tố dinh dưỡng có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và các giải pháp can thiệp
Tác giả: Hà Huy Khôi
Năm: 2004
15. Lê Danh Tuyên (1999), Đặc điểm dịch tễ học của suy dinh dưỡng thể thấp còi ở các vùng sinh thái nước ta, Luận án Tiến sĩ Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Danh Tuyên (1999), "Đặc điểm dịch tễ học của suy dinh dưỡng thể thấp còi ở các vùng sinh thái nước ta
Tác giả: Lê Danh Tuyên
Năm: 1999
16. Lê Bạch Mai, Hà Huy Khôi, Nguyễn Công Khẩn, Trần Thành Đô, Vũ Quỳnh Hoa, Hồ Thu Mai, Nguyễn Thị Lạng và cộng sự (2002), “Một số nhận xét về tình hình tiêu thụ lương thực thực phẩm của nhân dân Việt Nam năm 2000”, Tạp chí Y học Thực hành, số 2, tr 2-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Bạch Mai, Hà Huy Khôi, Nguyễn Công Khẩn, Trần Thành Đô, Vũ Quỳnh Hoa, Hồ Thu Mai, Nguyễn Thị Lạng và cộng sự (2002), “Một số nhận xét về tình hình tiêu thụ lương thực thực phẩm của nhân dân Việt Nam năm 2000”, "Tạp chí Y học Thực hành
Tác giả: Lê Bạch Mai, Hà Huy Khôi, Nguyễn Công Khẩn, Trần Thành Đô, Vũ Quỳnh Hoa, Hồ Thu Mai, Nguyễn Thị Lạng và cộng sự
Năm: 2002
17. Lê Nguyễn Bảo Khanh, Trương Hồng Sơn, Nguyễn Quang Dũng, Nguyễn Duy Toàn (2001), Hiệu quả của tẩy giun định kỳ 6 tháng một lần lên sự phát triển thể lực và trí lực của học sinh tiểu học, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, KH-11.09.07A. 200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Nguyễn Bảo Khanh, Trương Hồng Sơn, Nguyễn Quang Dũng, Nguyễn Duy Toàn (2001), "Hiệu quả của tẩy giun định kỳ 6 tháng một lần lên sự phát triển thể lực và trí lực của học sinh tiểu học
Tác giả: Lê Nguyễn Bảo Khanh, Trương Hồng Sơn, Nguyễn Quang Dũng, Nguyễn Duy Toàn
Năm: 2001
18. Lê Thi Hợp, Nguyễn Thị Lạng và CS (2006), Xu hướng tăng trưởng về thể lực và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ sơ sinh đến 17 tuổi-nghiên cứu chiều dọc tại Hà Nội, Hội thảo KH: Cải thiện Dinh dưỡng và gia tăng tăng trưởng ở người Việt Nam, 26/2/2006, tr 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thi Hợp, Nguyễn Thị Lạng và CS (2006), "Xu hướng tăng trưởng về thể lực và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ sơ sinh đến 17 tuổi-nghiên cứu chiều dọc tại Hà Nội
Tác giả: Lê Thi Hợp, Nguyễn Thị Lạng và CS
Năm: 2006
19. Lê Thị Hương (1999), Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em hai trường tiểu học Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ dinh dưỡng cộng đồng, trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thị Hương (1999), "Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em hai trường tiểu học Hà Nội
Tác giả: Lê Thị Hương
Năm: 1999
20. Lê Thị Hải, Phan Thị Kim, Trần Ngọc Hà, Nguyễn Thanh Hà, Hoàng Thế Yết (2000), "Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ bệnh béo phì ở học sinh 6-11 tuổi tại hai trường tiểu học nội thành Hà Nội", Một số công trình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ bệnh béo phì ở học sinh 6-11 tuổi tại hai trường tiểu học nội thành Hà Nội
Tác giả: Lê Thị Hải, Phan Thị Kim, Trần Ngọc Hà, Nguyễn Thanh Hà, Hoàng Thế Yết
Năm: 2000
21. Lại Đức Trường (2004), Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố nguy cơ suy dinh dưỡng ở học sinh tiểu học huyện Khoái Châu, Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại Đức Trường (2004), "Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố nguy cơ suy dinh dưỡng ở học sinh tiểu học huyện Khoái Châu
Tác giả: Lại Đức Trường
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Dinh dưỡng theo chu kì vòng đời - Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện việt yên   bắc giang, 2006 2008
Hình 1.1 Dinh dưỡng theo chu kì vòng đời (Trang 8)
Bảng 1.2. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam qua các  cuộc điều tra quốc gia [35], [42] - Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện việt yên   bắc giang, 2006 2008
Bảng 1.2. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam qua các cuộc điều tra quốc gia [35], [42] (Trang 11)
Bảng 1.4. Nhu cầu chất khoáng và vitamin khuyến nghị cho trẻ em [11]: - Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện việt yên   bắc giang, 2006 2008
Bảng 1.4. Nhu cầu chất khoáng và vitamin khuyến nghị cho trẻ em [11]: (Trang 14)
Bảng 1.5. Tình hình bú sữa mẹ ở các khu vực trên thế giới và Việt Nam  (Viện Dinh dưỡng) [93] - Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện việt yên   bắc giang, 2006 2008
Bảng 1.5. Tình hình bú sữa mẹ ở các khu vực trên thế giới và Việt Nam (Viện Dinh dưỡng) [93] (Trang 17)
Hình 2.1. Địa điểm nghiên cứu - Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện việt yên   bắc giang, 2006 2008
Hình 2.1. Địa điểm nghiên cứu (Trang 43)
Bảng 2.1. Nội dung nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chậm  tăng trưởng trong nghiên cứu - Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện việt yên   bắc giang, 2006 2008
Bảng 2.1. Nội dung nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chậm tăng trưởng trong nghiên cứu (Trang 45)
Bảng 3.1. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi (từ 0-59 tháng tuổi)  tại huyện Việt Yên - Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện việt yên   bắc giang, 2006 2008
Bảng 3.1. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi (từ 0-59 tháng tuổi) tại huyện Việt Yên (Trang 62)
Hình 3.1. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi - Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện việt yên   bắc giang, 2006 2008
Hình 3.1. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi (Trang 63)
Bảng 3.3. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi phân theo xã    Thể loại SDD - Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện việt yên   bắc giang, 2006 2008
Bảng 3.3. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi phân theo xã Thể loại SDD (Trang 64)
Hình 3.4: Mức tiêu thụ gạo theo nhóm tuổi (g/trẻ/ngày) - Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện việt yên   bắc giang, 2006 2008
Hình 3.4 Mức tiêu thụ gạo theo nhóm tuổi (g/trẻ/ngày) (Trang 66)
Hình 3.3:  Mức tiêu thụ gạo theo tình trạng dinh dưỡng (g/trẻ/ngày) - Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện việt yên   bắc giang, 2006 2008
Hình 3.3 Mức tiêu thụ gạo theo tình trạng dinh dưỡng (g/trẻ/ngày) (Trang 66)
Bảng 3.6: Giá trị dinh dưỡng của khẩu phần - Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện việt yên   bắc giang, 2006 2008
Bảng 3.6 Giá trị dinh dưỡng của khẩu phần (Trang 68)
Bảng 3.7. Mức đáp ứng nhu cầu khuyến nghị khẩu phần ăn   của trẻ 24-59 tháng - Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện việt yên   bắc giang, 2006 2008
Bảng 3.7. Mức đáp ứng nhu cầu khuyến nghị khẩu phần ăn của trẻ 24-59 tháng (Trang 69)
Bảng 3.7 cho thấy mức đáp ứng nhu cầu khuyến nghị khẩu phần trẻ thì  cao  nhất  đối  với  nhóm  năng  lượng,  vitamin  B1,  vitamin  B2,  canxi…  nhưng  lại rất thấp đối với nhóm vitamin C - Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện việt yên   bắc giang, 2006 2008
Bảng 3.7 cho thấy mức đáp ứng nhu cầu khuyến nghị khẩu phần trẻ thì cao nhất đối với nhóm năng lượng, vitamin B1, vitamin B2, canxi… nhưng lại rất thấp đối với nhóm vitamin C (Trang 69)
Bảng 3.11. Nhận thức về dinh dưỡng của các bà mẹ - Thực trạng thiếu dinh dưỡng, một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện việt yên   bắc giang, 2006 2008
Bảng 3.11. Nhận thức về dinh dưỡng của các bà mẹ (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w