ĐẶT VẤN ĐỀViệc xác định các chỉ tiêu sinh học nói chung, nhất là các chỉ tiêu nhân trắc làmột công việc quan trọng và cần được tiến hành thường qui khoảng 10 năm 1 lần [2],[12], [16] v.v
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Việc xác định các chỉ tiêu sinh học nói chung, nhất là các chỉ tiêu nhân trắc làmột công việc quan trọng và cần được tiến hành thường qui khoảng 10 năm 1 lần [2],[12], [16] v.v…nhằm:
Làm cơ sở đánh giá hình thái, thể lực và dinh dưỡng của các đối tượng nghiêncứu trong quần thể, từ đó có hướng quan tâm và lập kế hoạch sát thực để cải thiệntình trạng dinh dưỡng, nâng cao thể lực, chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng đượcnghiên cứu; Tìm hiểu sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng ở các vùng miền và cácthời điểm nghiên cứu khác nhau; So sánh giữa các nhóm tuổi tìm ra qui luật của sựphát triển; Kịp thời cập nhật các chỉ số, các kích thước nhân trắc để áp dụng trongnhiều lĩnh vực như: khám tuyển quân, tuyển sinh, sắp xếp cán bộ, bổ sung các chỉtiêu nhân trắc áp dụng trong sản xuất, trong thiết kế kích cỡ máy móc, dụng cụ sảnxuất, đồ dùng sinh hoạt v.v…
Trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước trên phạm vi toàn quốc đã có một
“Dự án điều tra cơ bản một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam bình thường”[10], [11], mà kết quả của Dự án có giá trị lớn trong thực tiễn cũng như cho khoa học:góp phần bổ sung cho hằng số sinh học người Việt Nam, là tài liệu tham khảo tronggiảng dạy, nghiên cứu…Từ sau Dự án đó, cho tới nay chưa có cuộc tổng điều tra vềcác chỉ tiêu sinh học được thực hiện trên phạm vi toàn quốc
Ở Hà Nội, trong khoảng 10 năm trở lại đây đã có nhiều công trình nghiên cứu,
đề cập tới một số chỉ tiêu sinh học, ở những quần thể trên phạm vi nhỏ hẹp (cấp xã,phường hay quận, huyện) [5], [ 7], [ 9] hoặc thực hiện ở những đối tượng là học sinh,hay người lớn tuổi: [ 7], [ 9]…
Nhất là từ 2 năm nay, Hà Nội đã được mở rộng địa giới hành chính, bao gồm
Hà Nội và toàn bộ tỉnh Hà Tây trước kia, theo Nghị quyết của Quốc Hội số: 15/2008/QH12 Do vậy, những nghiên cứu trên chưa đại diện đầy đủ cho người Hà Nội vớiđầy đủ thành phần, tuổi giới, khu vực v.v…
Trang 2Hơn nữa, năm 2010, năm cả nước kỷ niệm Đại Lễ 1000 năm Thăng Long;Chính vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Hà Nội,không những rất cần thiết về mặt khoa học, mà còn có ý nghĩa xã hội, chính trị sâusắc, góp phần chào mừng thành công Đại Lễ của cả dân tộc.
Đề tài này nhằm mục tiêu:
1, Xác định giá trị của một số chỉ tiêu nhân trắc cơ bản người Hà Nội trưởng thành theo tuổi và giới.
2, Đánh gía tình trạng dinh dưỡng và thể lực người Hà Nội trưởng thành theo tuổi giới dựa trên một số chỉ tiêu nhân trắc
Trang 3CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu nhân trắc học trên thế giới:
Nhân trắc học là khoa học nghiên cứu các kích thước cơ thể con người Nhântrắc học ra đời từ rất lâu, có thể nói từ khi con người biết đo chiều cao và cân nặngcủa mình [12]
Theo Tanner, công trình đầu tiên nghiên cứu về sự tăng trưởng con người làcủa Christian Friedrich Jampert (dẫn theo [1]), với luận án “ Nguyên nhân giới hạncủa sự phát triển cơ thể động vật” (De causa incrememtum corporis animalislimitates) C.F Jampert đã đưa ra lý thuyết cho rằng sự tăng trưởng là do áp lực củacác chất dịch trong mạch máu lớn hơn sức cản của các tổ chức sợi cơ thể, đặc biệt là
tổ chức xương Vì vậy, cơ thể tăng trưởng (căng ra) theo mọi chiều và chỉ ngừng tăngtrưởng khi có sự cân bằng áp lực.Về mặt thực hành, ông đã mô tả kỹ thuật và mốc đo,như: chiều cao đứng, cân nặng, chiều dài chi, vòng cánh tay, vòng ngực qua númvú…và sử dụng hệ đếm cơ số 12 thay vì hệ thập phân Tuy nhiên công trình củaJampert không được biết đến trong một thời gian dài
Song theo Geogres Olivier, đến cuối thế kỷ XIX, Topinard (1885), trong cuốn
“Các yếu tố nhân trắc học đại cương” mới là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “Nhântrắc học cơ thể”, đánh dấu một mốc quan trong trong nghiên cứu nhân trắc học (dẫntheo [1])
Tiếp đó, Bowdich (1891) đã công bố chuẩn mẫu tham khảo đầu tiên về sự tăngtrưởng, sử dụng các đường cong biểu diễn dựa trên các bách phân vị của Galton (dẫntheo [1])
Vào năm 1914, R Martin được xem là người đặt nền móng cho nhân trắc họchiện đại với tác phẩm “ Giáo trình về nhân học”, trong đó ông đã đề xuất và hoàn chỉnhmột hệ thống dụng cụ đo đạc, các phương pháp nghiên cứu trong nhân trắc học, đặc biệt làứng dụng toán thống kê sinh học trong nghiên cứu nhân trắc (dẫn theo [21])
Trang 4Kể từ đó các nghiên cứu nhân trắc ngày càng phong phú, phát triển song songvới lịch sử phát triển nhân chủng học Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà người tachia ra: nhân trắc nhân chủng học, chuyên nghiên cứu hình thái các chủng tộc loàingười; Nhân trắc học đường, nghiên cứu sự phát triển và các tiêu chuẩn kiểm tra sứckhoẻ học sinh; Nhân trắc y học, nghiên cứu sự phát triển cơ thể trẻ em theo từng lứatuổi, phân loại tình trạng thể lực và dinh dưỡng, xác định những thay đổi do tình trạngbệnh lý…; Nhân trắc công nghiệp hay ergonomie phục vụ cho lĩnh vực đồ dùng,dụng cụ và phương tiện sản xuất… [12], [19].
1.2 Tình hình nghiên cứu nhân trắc ở người Việt Nam trưởng thành:
Để tiện theo dõi, chúng tôi xin chia tình hình nghiên cứu nhân trắc ở ngườiViệt Nam làm 3 giai đoạn, theo các thời kỳ bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước:Trước năm 1954 ( giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp); từ năm 1954- 1975( giai đoạn chiến tranh chống đế quốc Mỹ); và sau 1975 ( giai đoạn hòa bình trênphạm vi cả nước)
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trước năm 1954
Việc nghiên cứu nhân trắc được quan tâm từ khá sớm, từ những năm 30 củathế kỷ XX, tại viện Giải phẫu Hà Nội và ban Nhân học thuộc viện Viễn Đông Bác
Cổ, với những công trình nghiên cứu của Đỗ Xuân Hợp, Bigot, Huard P, được công
bố chủ yếu trong nội san “ Các công trình nghiên cứu của Viện Giải phẫu học, Đạihọc Y khoa Đông Dương” từ năm 1936 đến 1944 Tuy nhiên, các công trình trongthời kỳ này vẫn còn ít nhiều hạn chế, vì chưa vận dụng toán thống kê vào việc trìnhbày và nhận định kết quả Đồng thời các phương tiện nghiên cứu cũng không đượcnói tới [6]
Trang 5những bước tiến đáng kể Toán thống kê đã được vận dụng để nhận định kết quảđược chính xác hơn (dẫn theo [21]).
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về hình thái thể lực trên nhiều đối tượng
khác nhau, đáng chú ý trong giai đoạn này có thể kể tới: Hằng số, hình thái nhân trắc học của Đỗ Xuân Hợp và Nguyễn Quang Quyền [6]; Nhận xét về chiều cao, vòng ngực, cân nặng của công nhân Hà Nội của Lê Gia Khải, Bùi Thụ và Phạm Quí Soạn
(dẫn theo [21])…Những công trình này đã được tổng kết ở hai hội nghị hằng số sinhhọc người Việt Nam (thực chất chỉ là số liệu người miền Bắc) vào các năm 1967 và
1972 Sau hai hội nghị này, các kết quả nghiên cứu được bổ sung vào cuốn “ Hằng
số sinh học người Việt Nam” Theo Nguyễn Tấn Gi Trọng: đây là cuốn sách đầu tiên
về hằng số sinh học người Việt Nam mà trước kia các thầy thuốc phải sử dụng các chỉ
số sinh học được nghiên cứu từ người châu Âu [16]
Tuy nhiên, do việc thu thập số liệu phải thực hiện trong hoàn cảnh đất nướcđang có chiến tranh, các phương tiện nghiên cứu, xử lý số liệu thiếu thốn và khôngđồng bộ, ngoài ra do các nghiên cứu giai đoạn này còn nhỏ lẻ, tự phát và chỉ nghiêncứu trên người miền Bắc, nên tính đại diện của các hằng số sinh học chưa cao [15]
1.2.4 Tình hình nghiên cứu từ năm 1975 – 2000
Sau ngày đất nước thống nhất, các nghiên cứu điều tra hình thái, thể lực càngđược đẩy mạnh và hoàn thiện ở miền Bắc, bắt đầu mở rộng và phát triển ở miền Nam
và miền Trung Có nhiều công trình nghiên cứu trên một nhóm đối tượng nhỏ, quầnthể nghiên cứu hẹp (dẫn theo [21]), nên trong phạm vi phần này, xin được tập trungvào 2 cuộc tổng điều tra trên phạm vi toàn quốc đại diện cho 2 thập kỷ 80 và 90
Trong thập kỷ 80
Đây là công trình nghiên cứu trên người trưởng thành của viện Khoa Học KỹThuật Bảo Hộ Lao Động, đã cho ra đời cuốn “ Atlat nhân trắc học người Việt Namtrong lứa tuổi lao động” [19] Công trình này được tiến hành 4 năm từ 1981 đến 1984,trên 13.223 người ( 6.493 nam và 6730 nữ), ở 15 tỉnh rải khắp 3 miền: Bắc, Trung,Nam; 5 nhóm tuổi được nghiên cứu là: 17- 19; 20-29; 30-39;40-49; 50-55 Kết quả củacông trình này được xem như là chuẩn mẫu tham khảo thứ hai sau hằng số sinh học
Trang 6Song đây là công trình ứng dụng vào ergonomie ( thiết kế dụng cụ và nơi làmviệc), nên đối tượng nghiên cứu đa số là công nhân, tuổi tập trung chủ yếu 30- 39.Như vậy, đối tượng nghiên cứu ít nhiều cũng mang tính chọn lọc, chưa thể đại diệncho người Việt Nam trưởng thành và cũng do mục tiêu nghiên cứu thiên về tầm vóc
cơ thể, công trình đã ít đề cập tới các chỉ tiêu sinh học khác liên quan tới sức khỏe,bệnh tật
Trong thập kỷ 90
Kể từ sau công trình nghiên cứu các chỉ tiêu nhân trắc của viện Khoa Học KỹThuật Bảo Hộ Lao Động, sang thập kỷ 90 chưa có cuộc điều tra toàn diện nào đượcthực hiện trên phạm vi toàn quốc Chính vì vậy, năm 1994 dự án cấp nhà nước về
“Điều tra cơ bản một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam bình thường ở thập kỷ 90”
đã được tiến hành Đây là công trình nghiên cứu toàn diện và đầy đủ hơn cả (khôngchỉ đại diện đầy đủ các vùng miền trên cả nước mà còn cả những nhóm chỉ tiêunghiên cứu) Dự án đã thực hiện ở 19 tỉnh, thành phố, 11 nhóm chỉ tiêu sinh học.Riêng nhóm chỉ tiêu hình thái có 43.991 người (21.443 nam; 22.548 nữ) được nghiêncứu, mỗi đối tượng được đo 10 kích thước nhân trắc cơ bản và 4 chỉ số hình thái - thểlực và dinh dưỡng được tính toán
Kết qủa dự án không chỉ là một chuẩn tham khảo có giá trị và cập nhật nhất,
mà làm cơ sở cho những nghiên cứu chuyên sâu của nhiều chuyên nghành…
1.3 Tình hình nghiên cứu nhân trắc ở Hà Nội
Cho tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nhân trắc được thực hiệntrên địa bàn Hà Nội (dẫn theo [21]) Ở đây xin tổng quan một số nghiên cứu trongkhoảng 10 năm trở lại đây
Trang 7Tiếp theo, 2.925 phụ nữ mãn kinh và 1.136 phụ nữ đang ở tuổi sinh đẻ ( tuổi
20 – 35) được nghiên cứu ở 7 tỉnh, thành phố, trong đó có Hà Nội Các đối tượngđược nghiên cứu chiều cao, cân nặng, BMI Nguyễn Thị Minh Đức và CS đã có kết
luận “Phụ nữ mãn kinh có chiều cao, cân nặng giảm so với phụ nữ sinh sản và giảm dần theo thời gian mãn kinh BMI của phụ nữ mãn kinh ở nội thành Hà Nội, Huế và Cần Thơ tăng” [4]
Tháng 9 năm 2007, 2100 học sinh tại 4 trường tiểu học và trung học cơ sởhuyện Sóc Sơn, Hà Nội, tuổi 6 đến 14 tuổi được nghiên cứu một số chỉ số hình tháinhằm đánh gía tình trạng dinh dưỡng, tỷ lệ thấp còi…Hồ thu Mai và CS đã đưa rakhuyến nghị về tỷ lệ đáng báo động học sinh thấp còi và thiếu năng lượng ở một sốtrường học thuộc huyện Sóc Sơn [ 9]
Để đánh giá tình trạng rối loạn dinh dưỡng Lipid và một số yếu tố liên quan ởngười từ 25-74 tuổi tại nội thành Hà Nội, năm 2008, Nguyễn Thị Lương Hạnh,Nguyễn Công Khẩn và CS đã thu thập các chỉ tiêu nhân trắc và xét nghiệm máu trên
599 đối tượng gồm 195 nam và 304 nữ tại 4 quận nội thành của Hà Nội Kết quả cho41,6 % đối tượng ở mức thừa cân và béo phì (BMI) ≥23 [5], có mối liên quan giữatình trạng rối loạn lipid máu với vòng eo/vòng mông (VE/VM) cao, thừa cân, béo phì(TC-BP)…
Như vậy, trong khoảng 10 năm trở lại đây, có thể nói, các công trình nghiêncứu trên chưa đại diện đầy đủ cho người Hà Nội về tuổi, giới, nghề nghiệp, địa bàndân cư… Chính vì thế một nghiên cứu toàn diện hơn về một số chỉ tiêu sinh học chongười Hà Nội cần được tiến hành
Trang 8CHƯƠNG II:
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn mẫu:
* Về đối tượng nghiên cứu:
- Đó là những người bình thường về mặt nhân trắc, cụ thể như sau:
+ Không có những dị dạng, dị tật bẩm sinh hay mắc phải làm ảnh hưởng tớinhững số liệu được thu thập, như: gù, vẹo, thọt, …
+ Không có những bệnh hay trong tình trạng làm ảnh hưởng tới kích thướcđược đo, như: hen, teo đét, phụ nữ có thai …
- Hợp tác tốt khi được đo
* Về địa điểm nghiên cứu:
Là các xã thuộc 2 huyện: Mỹ Đức, Ba Vì và các phường thuộc 2 quận Đống
Đa, Hoàn Kiếm
2.1.2 Số lượng đối tượng nghiên cứu: xem bảng 1
Bảng 1: Đối tượng nghiên cứu theo khu vực và giới
Quận / Huyện
ChungHoàn Kiếm Đống Đa Mỹ Đức Ba Vì
Nữ %n 13,6%2048 13,8%2076 13,6%2035 12,9%1939 53,9%8098
Trang 9- Cân nặng: Cân bàn Trung Quốc, độ chính xác tới 0,1kg, được kiểm tra độchính xác của cân với một quả cân chuẩn (thường 2 lần trong ngày là đầu mỗi buổi đo,nhất là sau khi di chuyển cân tới 1 địa điểm đo xa khác, bắt buộc phải chuẩn lại cân)
- Bộ thước đo nhân học Martin do Thụy Sỹ sản xuất gồm:
+ Thước đo chiều cao (chiều cao đứng, chiều cao ngồi…)
+ Compa đo BDLMDD: Đó là dụng cụ đo lý tưởng hiện nay - một loại compađặc biệt được gọi là: Hapenden Skinfold Caliper mà được lưu hành trên thị trườngdưới tên gọi là "Holtain" Compa có 2 đầu là 2 diện phẳng, mỗi đầu có diện tích1cm2, có áp lực kế gắn vào compa để khi 2 đầu compa kẹp vào nếp gấp da sao cho áplực bao giờ cũng khoảng 10 - 20g/ mm2 [11] + Thước dây nhựa của Trung Quốc hoặccủa Nhật Bản không co giãn, độ chính xác tới 1mm và được đối chiếu chuẩn đúngvới thước chuẩn kim loại Thuỵ Sĩ vào đầu mỗi buổi đo
- Phiếu điều tra nhân trắc
- Máy tính cá nhân (Calculator)
- Máy vi tính (Computor)
2.2.2 Nội dung nghiên cứu:
2.2.2.1 Các kích thước nhân trắc và kỹ thuật đo đạc:
Cân nặng:
- Kỹ thuật đo: người được đo không mang giày dép, đối với nam cởi trần chỉ
mặc quần đùi, nữ có phòng đo riêng và chỉ mặc quần áo lót Cân được đặt ở vị tríbằng phẳng, kim của cân được kiểm tra thường xuyên và được chỉnh chuẩn về mức
“0” Đối tượng được đo đứng nhẹ nhàng, chân gọn trong chu vi mặt cân
- Lưu ý: trước mỗi buổi đo hoặc sau khi di chuyển cân, cân phải được kiểm tra
và điều chỉnh lại ( nếu có) với quả cân chuẩn
Chiều cao đứng:
- Mốc đo: từ mặt đất tới đỉnh đầu (Vertex)
-Tư thế và kỹ thuật đo: đối tượng được đo đứng thẳng, tư thế tự nhiên, đầu
thẳng sao cho đuôi mắt và ống tai ngoài nằm trên một đường nằm ngang song songvới mặt đất; bốn điểm: chẩm, lưng, mông và gót chạm vào thước đo
Chiều cao ngồi:
Trang 10Tư thế và kỹ thuật đo: người được đo ngồi thoải mái trên một ghế mặt phẳngcao chừng 50cm, đầu thẳng, mắt nhìn ra trước sao cho cho đuôi mắt và ống tai ngoàinằm trên một đường nằm ngang song song với mặt đất, thân buông lỏng tự do, chân
mở tự nhiên, giữa thân và đùi, giữa đùi và cẳng chân tạo thành góc vuông Thước đođặt trên mặt ghế, sao cho 3 điểm: chẩm, lưng và mông chạm vào thước đo
Vòng ngực:
- Mốc đo: có nhiều mốc đo vòng ngực, song để thống nhất với các công trình nghiên cứu gần đây và với “dự án điều tra cơ bản một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam bình thường ở thập kỷ 90”, mốc đo là qua mũi ức.
- Kỹ thuật đo: cũng giống như các kích thước vòng khác, khi đo cần đảm bảo
chắc chắn thước dây không bị xoắn, bị lệch, thước dây phải nằm vuông góc với trụccủa thân, nghĩa là nằm trên mặt phẳng nằm ngang (song song với mặt đất)
+ Vòng ngực hít vào hết sức (HVHS), đo lúc đối tượng vừa hít vào hết sức + Vòng ngực thở ra hết sức (TRHS), đo lúc đối tượng vừa thở ra hết sức
- Những điểm cần lưu ý: theo kinh nghiệm của chúng tôi, khi đo vòng ngực
cần lưu ý những điểm sau:
+ Khi người đo vòng thước dây qua ngực và luồn thước dây vào bên trong 2tay người được đo, người được đo thường giơ 2 tay lên cao mà không thả tay về tưthế đứng tự nhiên, làm cho số đo lúc đó thường nhỏ hơn từ 2- 3 cm so với số đo đúng( tức là lúc đối tượng đứng thẳng, 2 tay duỗi thẳng dọc theo 2 bên đùi – tư thế đứng
tự nhiên)
+ Với phụ nữ, nhất là phụ nữ cao tuổi, vú thường xệ (vú mướp), nên khi luồndây, cần đảm bảo chắc chắn là dây ở sau vú, tránh dây đè lên hai tuyến vú làm sai số đo
Trang 11Vòng đầu:
- Mốc đo: qua hai điểm glabella và opisthocranion Glabella (g), (lồi trên gốc
mũi) là điểm lồi nhất ở phía trước nằm trên gai mũi của xương trán, trên đường giữa.Opisthocranion (op) là điểm lồi nhất ở sau xương chẩm trên đường giữa (ụ chẩm ngoài)
- Kỹ thuật đo: người đo đứng phía bên của người được đo, dây đo áp sát vào
đầu và đi qua 2 điểm lồi trên gốc mũi và ụ chẩm ngoài Cần lưu ý dây đo không vẹo,lệch, không bị xoắn v.v…
2.2.2.2 Các chỉ số đánh giá dinh dưỡng thể lực:
- Chỉ số Pignet = cao đứng - (cân nặng + vòng ngực trung bình)
- Chỉ số khối cơ thể (Body mass index = BMI)
BMI = (chiều cao)cân nặng2 m
2.2.3 Cách tính tuổi và phân chia nhóm tuổi nghiên cứu.
Cách tính tuổi
Theo “Dự án điều tra cơ bản” [11], ví dụ:
16 tuổi là từ 15 năm 6 tháng 15 ngày đến 16 năm 6 tháng 14 ngày
17 tuổi là từ 16 năm 6 tháng 15 ngày đến 17 năm 6 tháng 14 ngày
và tương tự như vậy
60 tuổi là từ 59 năm 6 tháng 15 ngày đến 60 năm 6 tháng 14 ngày
Những trường hợp chỉ nhớ ngày "âm lịch", chúng tôi quy ra theo "dương lịch".Nhiều trường hợp không nhớ chính xác ngày tháng sinh, việc tính tuổi thường dựavào những sự kiện nào đó như theo mùa, dịp tết, dịp quốc khánh 2/9 v.v… như vậynhững trường hợp này tuổi không được chính xác tuyệt đối mà chỉ là tương đối,song cũng có thể chấp nhận được vì những trường hợp này thường là người lớn tuổi(mà ở những tuổi này là 10 năm xếp vào 1 nhóm)
Phân chia nhóm tuổi nghiên cứu:
Theo cách phân chia tuổi của dự án "Điều tra cơ bản" [11] để thuận lợi choviệc so sánh kết quả giữa các vùng, các miền, cũng như trên phạm vi toàn quốc của
Trang 12dự án Đồng thời cách chia này cũng cho phép so sánh được với nhiều nghiên cứu củathế giới, cụ thể như sau:
Từ 16-24 tuổi: Mỗi năm 1 nhóm tuổi, nhằm đánh giá sự tăng trưởng của cáckích thước nhân trắc, giai đoạn sau dậy thì đến tuổi hết lớn 1 cách chính xác
Từ 25 tuổi trở đi: 5 - 10 năm cho một nhóm tuổi (25 - 29; 30- 39; 40 -49… 60)
2.2.4 Xử lý số liệu:
2.2.4.1 Xử lý thô
Nhằm loại bỏ những phiếu sai, những số liệu bất thường, những nhầm lẫn vốnthường gặp trong điều tra nhân trắc Xử lý thô gồm 2 bước:
Bước 1: xử lý thô với từng phiếu đo, nên làm ngay sau khi đo đạc
Bước 2: xử lý thô trên máy tính Số liệu sau khi đã được nhập vào máy tính,phải được kiểm tra và xử lý thô theo từng kích thước và từng đối tượng được đo Ví
dụ, kiểm tra về kích thước chiều cao đứng hay chiều cao ngồi cần phải loại bỏ hoặcđiều chỉnh những trường hợp bất thường Có thể do nhập nhầm số liệu, do sai từphiếu đo chưa được xử lý v.v…Với từng đối tượng cũng phải kiểm tra lại từng sốliệu, sự tương quan giữa các kích thước đó; thường do nhập nhầm hay lộn số đo,chẳng hạn vòng ngực HVHS phải lớn hơn vòng ngực TRHS, chiều cao ngồi phải nhỏhơn chiều cao đứng
2.2.4.2 Phân tích và xử lý kết quả:
Bằng phần mềm: Epidata 3, SPSS 16.0 và STATA 8.0
Trang 13
CHƯƠNG III:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Chiều cao đứng:
Chiều cao đứng người Hà Nội được thể hiện qua bảng 2 và hình 1 dưới đây:
Bảng 2: Chiều cao đứng theo tuổi và giới
Trang 14Hình 1: Chiều cao đứng theo tuổi và giới
Ở nam, chiều cao tăng lên khá nhanh từ tuổi 16 đến tuổi 18-19, sau đó chiềucao tiếp tục tăng song tốc độ giảm dần và đạt lớn nhất ở tuổi 23-24 (x= 167,31cm).Sau tuổi này chiều cao nhìn chung duy trì cho hết nhóm tuổi 30 – 39, chiều cao giảmkhá rõ rệt sau tuổi 40
Ở nữ nhìn chung tăng trưởng chiều cao tương tự như nam giới, tức là sau tuổi
16 chiều cao tiếp tục tăng lên và đến tuổi 21 thì đạt ở cao nhất với ( x= 156,04cm).Sau tuổi này chiều cao duy trì, tuy có giao động ít nhiều cho tới nhóm tuổi 30-39 Vàcũng sau tuổi 40, chiều cao nữ giảm xuống khá nhanh chóng
Trang 153.2 Chiều cao ngồi:
Chiều cao ngồi người Hà Nội theo tuổi và giới được thể hiện qua bảng 3
Bảng 3: Chiều cao ngồi người Hà Nội theo tuổi và giới
Cân nặng người Hà Nội được thể hiện ở bảng 4 và hình 2 dưới đây:
Bảng 4: Cân nặng theo tuổi và giới
Trang 17Hình 2: Cân nặng theo tuổi và giới
Qua hình 2 và bảng 3 cho thấy, cân nặng của cả hai giới tăng dần theo tuổi,tuy có giao động ít nhiều ở một số nhóm tuổi, và cân nặng người Hà Nội đạt cao nhất
ở nhóm tuổi 40-49 (x lần lượt cho nam và nữ là 58,53; 50,86 kg) , sau tuổi này cânnặng giảm đi khá nhanh chóng
Trang 183.4 Vòng đầu:
Vòng đầu người Hà Nội theo tuổi và giới được thể hiện qua bảng 5
Bảng 5: Vòng đầu người Hà Nội theo tuổi và giới
Trang 19Vòng ngực trung bình người Hà Nội theo tuổi và giới được thể hiện qua bảng 7.
Bảng 7: Vòng ngực trung bình người Hà Nội theo tuổi và giới.
Trang 2250 - 59 203 21.63 2.81 398 21.69 2.73
- Về diễn biến BMI theo tuổi: ở cả hai giới BMI nhìn chung tăng dần theotuổi, tuy có giao động ít nhiều ở nam giới và đạt cao nhất vào tuổi 50- 59 với BMItrung bình của nam và nữ tương ứng là: 21,6 và 21,69 Sau tuổi này BMI ở cả 2 giớigiảm đi khá rõ nét
- Về tình trạng dinh dưỡng của người Hà Nội được trình bày cùng với phầnbàn luận