1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cuộc Khởi Nghĩa Của Triệu Thị Trinh ( 248) ppt

9 2,1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 248
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 213,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hay tin khởi nghĩa ở Cửu Chân và thứ sử Châu Giao mất tích, vua Ngô hốt hoảng phái ngay Lục Dận, một tướng từng kinh qua trận mạc, lại rất quỷ quyệt sang làm thứ sử.. Nước Vạn Xuân độc L

Trang 1

Cuộc Khởi Nghĩa Của Triệu

Thị Trinh ( 248)

Bà Triệu, Triệu Trinh Nương hay Triệu Thị Trinh đều là tên các đời sau gọi nữ anh hùng dân tộc đầu thế kỷ thứ lll Theo dã sử Bà Triệu sinh ngày 2 tháng 10 năm Bính Ngọ ( 225) Bà là em gái Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng lớn ở miền núi Quan Yên, quận Cửu Chân ( Thanh Hóa) Ở đó đến nay vẫn lưu truyền nhiều truyền thuyết về thời

Trang 2

kỳ bà chuẩn bị khởi nghĩa chống giặc Ngô Đó là chuyện Bà Triệu thu phục được con voi trắng một ngà, chuyện “ Đá biết nói” rao truyền lời thần nhân mách bảo từ trên núi yên Quan Yên

Có bà tướng Triệu

Vâng lệnh trời ra

Trị voi một ngà

Dựng cờ mở nước

Lệnh truyền sau trước

Theo gót Bà Vương

Triệu Thị Trinh là người có sức khỏe, gan dạ và mưu trí Năm 19 tuổi

Bà cùng người anh tập hợp nghĩa quân, lập căn cứ Phú Yên ( Hậu Lộc – Thanh Hóa) Đấy là một thung lũng ở giữa hai núi đá vôi, vừa gần biển lại vừa là cửa ngõ từ đồng bằng phía Bắc vào Lúc đầu anh bà có

ý can ngăn lo phận gái khó đảm nđang trọng trách, bà trả lời

Tôi muốn cưỡi con gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá tràng kinh ở biển Đông, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không thèm cúi đầu, còng lưng làm tì thiếp người ta

Mến mộ bà, nghĩa quân ngày đêm mài gươm luyện võ, chờ ngày nổi dậy

Ru con con ngủ cho lành

Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi

Muốn con lên núi mà coi

Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng

Trang 3

Năm Mậu Thìn ( 248) nghĩa quân bắt đầu tấn công quân Ngọ Các thành ấp của quân Ngô đều bị phá tan tành Bọn quan cai trị, kẻ bị giết, kẻ chạy trốn hết Từ Cửu Chân, cuộc khởi nghĩa lan rộng nhanh chóng Thứ sử Châu Giao hoảng sợ bỏ chạy mất tích Sử sách của nhà Ngô phải thú nhận : Toàn thể Châu Giao chấn động

Mỗi lần ra trận Triệu Thị Ninh thường mặc áo giáp đồng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi dẫn quân xông trận, oai phong lẫm liệt Quân Ngô kinh hồn bạt vía, đã phải thốt lên

Hoành qua đương hổ dị

Đối diện Bà Vương nan

Nghĩa là :

Vung giáo chống hổ dễ

Giáp mặt vua Bà khó

Hay tin khởi nghĩa ở Cửu Chân và thứ sử Châu Giao mất tích, vua Ngô hốt hoảng phái ngay Lục Dận, một tướng từng kinh qua trận mạc, lại rất quỷ quyệt sang làm thứ sử Lục Dận đem thêm 8.000 quân tinh nhuệ sang đàn áp Lục Dận vừa đánh mạnh vừa đem của cái của chức tước ra dụ dỗ mua chuộc các thủ lĩnh người Việt Một số kẻ dao động mắc mưu theo địch Mặc dù vậy Triệu Thị Trinh vẫn kiên cường đánh nhau với giặc không nao núng Sau 6 tháng chống chọi vì có kẻ phản bội, bà đã hy sinh trên núi Tùng ( Hậu Lộc – Thanh Hoá, bấy giờ bà mới có 23 tuổi )

Về sau vua Lý Nam Đế khen là người trung dũng, sai lập miếu thờ,

Trang 4

phong là : Bật chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân Nay ở Phú Điền ( Thanh Hóa) còn có đền thờ bà

Nước Vạn Xuân độc Lập NHÀ TIỀN LÝ ( 544 – 602)

Niên hiệu Thiên Đức

Dẹp yên cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh, nhà Ngô lấy đất Nam Hải, thượng Ngô và Uất Lâm làm Quảng Châu, đặt châu trị ở Phiên

Trang 5

Ngung, lấy đất Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam làm Giao Châu, đặt châu trị ở Long Biên Đất Nam Việt của nhà Triệu ngày

trước thành ra Giao Châu và Quảng Châu từ đó

Năm Ất Dậu ( 265) nhà Tấn đánh bại Ngụy, Thục, Ngô, đất Giao Châu lại thuộc về nhà Tấn Nhà Tấn phong cho họ hàng ra trấn trị các nơi, nhưng các thân vương cứ dấy binh đánh giết lẫn nhau, làm cho anh

em cốt nhục tương tàn, nước Tấn nhanh chóng suy yếu Nhân cơ hội

ấy, các nước Triệu, nước Tần, nước Yên, nước Lương, nước Hạ, nước Hán v.v… nổi lên chiếm lấy cả vùng phía Bắc sông Trường Giang, nhà Tấn chỉ còn lại đất ở đông nam, phải dời đô về Kiến Nghiệp ( Nam

Kinh ngày nay) gọi là Đông Tấn

Năm Canh Thân ( 420), Lư Du cướp ngôi nhà Đông Tấn, lập ra nhà Tống ở phía nam, nước Trung Quốc phân chia ra làm Nam Triều và Bắc Triều có nhà Ngụy, nhà Tề, nhà Chu, nối nhau làm vua Nam Triều có nhà Tống, nhà Tề, nhà Lương và nhà Trần kế nghiệp trị vì Năm Kỷ mùi ( 479) nhà Tống mất ngôi, nhà Tề kế nghiệp, trị vì được

22 năm thì nhà Lương lại cướp ngôi nhà Tề

Nhà Lương sai Tiêu Tư sang làm thứ sử Giao Châu Cũng như các triều đại phong kiến Trung Quốc thưở trước, các viên quan lại nhà Lương sang cai trị Giao Châu đã áp dụng những biện pháp khắt khe, độc ác khiến dân Giao Châu cực khổ trăm bề, người người đều oán giận Bởi vậy, năm 542 Lý Bí đã đạo dân Giao Châu nổi lên đánh đuổi Tiêu Tư, chiếm giữ thành Long Biên, lập nên nhà nước độc lập đầu tiên, nước

Vạn Xuân

Lý Bôn còn gọi là Lý Bí quê ở huyện Thái Bình ( nay thuộc đất Quốc

Trang 6

Oai, Hà Tây) Bí là người Trung Quốc, lánh nạn sang nước ta từ cuối thời Tây Hán, khoảng đầu công nguyên, Trải qua 7 đời, đến Lý Bí thì dòng họ Lý đã ở Việt Nam hơn 5 thế kỷ Chính sử Trung Quốc đều coi

Lý Bí là : Giao Châu thổ nhân

Lý Bí sinh ngày 12 tháng 9 năm Quý Mùi ( 17 – 10 – 503) Ông là con độc nhất trong gia đình Bố là Lý Toản, trưởng bộ lạc, mẹ là Lê Thị Oách người Ái Châu ( Thanh Hóa) Từ nhỏ Lý Bí đã tỏ rõ là cậu bé thông minh, sớm hiểu biết Khi Lý Bí 5 tuổi thì cha mất, 7 tuổi mẹ lại qua đời Cậu bé bất hạnh phải đến ở với chú ruột Một hôm có một vị Pháp tổ thiền sư đi qua, trông thấy Lý Bí khôi ngô, tuấn tú liền xin Lý

Bí đem về chùa Linh Bảo nuôi dạy Quả hơn mười năm đèn sách chuyên cần, lại được vị thiền sư gia công chỉ bảo Lý Bí trở thành người học rộng, hiểu sâu, ít người sánh kịp.Nhờ có tài văn võ kiêm toàn Lý Bí được tôn lên làm thủ lĩnh địa phương Có thời kỳ Lý Bí ra làm quan cho nhà Lương, nhận chức giám quân ( kiểm soát quân sự)

ở Cửu Đức, Đức Châu ( Đức Thọ, Hà Tĩnh) Nhưng do bất bình với bọn

đô hộ tàn ác Lý Bí bỏ quan về quê, chiêu binh mãi mã chống lại chính quyền đô hộ Tù trưởng ở Chu Diên ( Hưng Yên ) là Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục, mến tài đức Lý Bí đã đem quân nhập với đạo quân của ông Rồi Tinh Thiều, Phạm Tu và hào kiệt các nơi cũng nổi

dậy hưởng ứng

Tháng Giêng năm Nhâm Tuất ( 542), Lý Bí khởi binh tấn công giặc Không đương nổi sức mạnh của đoàn quân khởi nghĩa, thứ sử Tiêu Tư khiếp sợ không dám chống cự, vội mang của cải, vàng bạc đút lót cho

Lý Bí xin được toàn tính mạng, chạy về Trung Quốc, không đầy ba tháng, Lý Bí đã chiếm được hầu hết các quận, huyện và Thành Long Biên Được tin Long Biên thất thủ, vua Lương lập tức hạ lệnh cho quân

Trang 7

phản công chiếm lại Bọn xâm lược vừa kéo sang đã bị Lý Bí cho quân

mai phục đánh tan

Đầu năm Quý Dậu ( 543) vua Lương lại huy động binh mã sang xâm lược một lần nữa Tướng sĩ giặc khiếp sợ mà còn dùng dằng chưa dám tiến quân, thì Lý Bí đã chủ động ra quân, đón đánh giặc ở bán đảo Hợp Phố, miền cực bắc Châu Giao Quân Lương mười phần chết bảy, tám Tướng địch bị giết gần hết, kẻ sống sót cũng bị vua Lương bắt

phải tự tử

Tháng hai năm Giáp Tý ( 544) Lý Bí tự xưng là hoàng đế lấy hiệu là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân ( ước muốn xã tắc truyền đến muôn đời ), đặt kinh đô ở miền cửa sông Tô Lịch ( Hà Nội) và cho dựng điện Vạn thọ làm nơi vua quan họp bàn việc nước Triều đình gồm có hai ban văn võ Phạm Tu được cử đứng đầu hàng quan võ Tinh Thiều đứng đầu hàng quan văn, Triệu Túc làm thái phó, Triệu

Quang Phục là tướng trẻ có tài cũng được trọng dụng

Lý Nam Đế sai dựng một ngôi chùa lớn ở phường Yên Hoa ( Yên Phụ) lấy tên là chùa Khai Quốc, sau này trở thành một trung tâm phật giáo

và phật học lớn của Chùa Khai Quốc là tiền thân của chùa Trấn Quốc,

trên đảo Cá Vàng ( Kim Ngư) ở Hồ Tây Hà Nội

Việc Lý Bí đặt tên nước là Vạn Xuân, tự xưng là hoàng đế, định niên hiệu, lập một triều đình riêng ngang hàng với nước lớn phương Bắc là

sự khẳng định chủ quyền độc lập dân tộc, sự bền vững lâu đời của đất

trời phương Nam

Triều Lý khởi nghiệp từ đây

Trang 8

Đầu năm Ất Sửu ( 545), nhà Lương sau khi đàn áp những cuộc nổi dậy của nông dân Trung Quốc đã dồn sức mở cuộc tấn công xâm lược nước Vạn Xuân non trẻ nhằm chiếm lại Châu Giao Dương Phiêu được

cử làm thứ sử Châu Giao cùng với Trần Bá Tiên, một viên tướng khát máu, chia hai đường thủy bộ phối hợp cùng tiến sâu vào nước ta Lý Nam Đế đem quân chặn đánh ở vùng Lục Đầu ( thuộc Hải Dương) nhưng không cản được giặc Vua cho quân lui về giữ thành ở cửa sông

Tô Lịch ( Hà Nội) Song thành bằng đất, lũy bằng tre gỗ mới dựng nên không giữ được lâu Quân địch hung hãn tấn công ác liệt Thành Tô Lịch bị vỡ, lão tướng Phạm Tu tử trận Lý Nam Đế phải lui quân, ngược sông Hồng về giữ thành Gia Ninh ( ở vùng Bạch Hạc – Việt Trì – Phú Thọ) Quân Lương đuổi theo, vây hãm rồi chiếm được thành Gia Ninh Lý Nam Đến đem quân chạy vào thành Tân Xương ( huyện Phong Châu – Phú Thọ), quân Lương lại tiến đến đuổi đánh, Lý Nam

Đế yếu thế lại rút quân vào đóng ở động Khuất Lão Được nhân dân các dân tộc ủng hộ, chỉ vài tháng sau Lý Nam Đế đã khôi phục được lại lực lượng, quân lên tới vài vạn người, Lý Nam Đế đem quân và thuyền bè ra đóng ở hồ Điển Triệt ( thuộc xã Tứ Yên-Lập Thạch – Vĩnh Phúc Nơi đây có con ngòi thông sông Lô với hồ, ba mặt Đông Nam, Bắc của hồ là các đồi cao, phía Tây là các đồi thấp và cách đồng trũng Từ sông Lô chỉ có một đường đi vào phía Bắc của hồ

Quân Lương từ Gia Ninh ngược dòng sông Lô kéo lên tấn công Bị quân của Lý Nam Đế đánh trả quyết liệt không tiến lên được, chúng phải đóng giữa đồng trũng Lúc này quân lính nhà Lương đã mệt mỏi, tướng lĩnh chán nản, nhưng Trần Bá Tiên vốn xảo quyệt, nhân một đêm trời mưa to gió lớn đã thúc quân vào đánh úp quân Lý Nam Đế

Lý Nam Đế lại phải lui quân vào động Khuất Lão ( Tam Nông – Phú

Trang 9

Thọ) Anh vua là Lý Thiên Bảo cùng Lý Phật Tử ( một người trong họ)

và là tướng của Lý Nam Đế đem một cánh quân lui vào Thanh Hóa Ở động Khuất Lão, Lý Nam Đế bị đau yếu luôn nên ông trao lại binh quyền cho Triệu Quang Phục tiếp tục cuộc kháng chiến chống quân Lương, Hai năm sau, Lý Nam Đế mất vào ngày 29 tháng 3 năm Mậu

Thìn ( 13 – 3 – 548)

Tưởng nhớ Lý Nam Đế, người anh hùng mở đầu nền độc lập, tự chủ của đất nước, nhân dân nhiều nơi lập đền thờ ông theo nghi lễ thờ vua Tính riêng ở miền Bắc đã có hơn 200 đền, miếu thờ Lý Bí và các

tướng của ông

Ngày đăng: 25/07/2014, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w