Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước.Chuyên ngành: Kinh tế công nghiệpLuận án tiến sỹ, tài liệu dành cho các bạn, nghiên cứu, học tập, cũng như tham khảo trong quá trình học
Trang 1Trường đại học xây dựng
Nguyễn MINH Đức
Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư
xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước
Chuyên ngành: Kinh tế công nghiệp
Trang 2Tác giả luận án xin cam đoan bản luận án này là công trình khoa học độc lập của cá nhân tác giả Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án
là trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng Tác giả luận án
Nguyễn Minh Đức
Trang 3Mục lục
Chương 1: Nghiên cứu tổng quan về chất lượng quản lý dự án
1.2 Lý luận chung về dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà
1.2.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của dự án đầu tư xây dựng công
1.2.2.1 Khái niệm về vốn đầu tư nhà nước và dự án đầu tư xây dựng công
1.2.2.2 Các đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn
1.3 Lý luận chung về quản lý dự án dự án đầu tư xây dựng công trình sử
Trang 41.3.2 Néi dung qu¶n lý dù ¸n 33
1.3.8 C¸c h×nh thøc tæ chøc qu¶n lý dù ¸n ®Çu t− x©y dùng c«ng tr×nh sö
1.4 ChÊt l−îng qu¶n lý dù ¸n ®Çu t− x©y dùng c«ng tr×nh sö dông vèn
2.1.2 Vèn ®Çu t− tõ NSNN vµ t×nh h×nh vèn ®Çu t− x©y dùng tõ NSNN ë mét
Trang 52.2.1 Thực trạng quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng công trình
2.2.2 Tình hình thực hiện các quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng
2.2.3 Những kết quả đạt được và tồn tại trong quản lý Nhà nước đối với dự
2.3 Thực trạng chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử
2.3.1 Thực trạng chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử
2.3.1.1 Thực trạng về chất lượng sản phẩm của dự án đầu tư xây dựng
2.3.1.2 Thực trạng tuân thủ các quy định về quản lý chất lượng sản phẩm
2.3.1.3 Thực trạng quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình
2.3.1.4 Phân tích nguyên nhân của những tồn tại trong quản lý chất lượng
2.3.2 Thực trạng chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử
dụng vốn nhà nước từ điểm nhìn chất lượng quản lý chi phí đầu tư xây dựng
2.3.2.1 Thực trạng chất lượng quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
2.3.2.2 Phân tích nguyên nhân của những tồn tại trong quản lý chi phí dự
2.3.3 Thực trạng chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử
dụng vốn nhà nước từ điểm nhìn chất lượng quản lý tiến độ (thời gian) thực
2.3.3.1 Thực trạng tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình sử
2.3.3.2 Thực trạng xác định thời gian thực hiện các công việc của dự án
2.3.3.3 Phân tích nguyên nhân của những tồn tại trong quản lý tiến độ
Trang 62.4 Thực trạng công tác giải phóng mặt bằng trong quá trình triển khai
2.5.2 Những kết quả đạt được và những tồn tại trong hoạt động đấu thầu xây
2.6 Đánh giá chung về thực trạng chất lượng quản lý dự án đầu tư xây
Chương 3: giải pháp nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư
3.1 Định hướng chiến lược đầu tư phát triển trong tương lai ở một số lĩnh
3.1.2 Chiến lược đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vận tải trong
3.3 Giải pháp nâng cao năng lực quản lý dự án đầu tư xây dựng công
3.3.1 Lập kế hoạch quản lý thực hiện dự án làm cơ sở lập kế hoạch đấu thầu
3.3.1.1 Vận dụng phương pháp sơ đồ mạng PERT để lập kế hoạch quản lý
3.3.1.2 Lợi ích của việc lập kế hoạch quản lý thực hiện dự án đầu tư xây
Trang 73.3.1.3 Ví dụ lập kế hoạch quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng công
3.3.2 Đề xuất phương pháp đánh giá chất lượng quản lý dự án đầu tư xây
3.3.3 Nâng cao năng lực sử dụng các công cụ quản lý dự án trong việc theo
3.3.3.1 Sử dụng biểu đồ đường chéo để theo dõi tiến độ thực hiện dự án và
3.3.3.2 Sử dụng phương pháp giá trị thu được để đánh giá trạng thái dự án
3.4.2 Hoàn thiện quy định áp dụng các hình thức quản lý dự án đối với các
3.4.3 Hoàn thiện cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất nhằm
3.4.4 Hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý chất lượng dự án đầu tư xây
3.4.5 Hoàn thiện nội dung và phương pháp xác định một số chi phí trong
3.4.5.2 Hoàn thiện phương pháp xác định chi phí tư vấn đầu tư xây dựng 144 3.4.5.3 Bổ sung chi phí thuê, mua phần mềm có bản quyền vào chi phí
Trang 8Danh mục các bảng
Bảng 2.2: Tỷ lệ các nguồn vốn trong vốn đầu tư nhà nước giai đoạn
Bảng 2.5: Vốn đầu tư từ NSNN cho một số ngành chủ yếu giai đoạn
Bảng 2.9: Thống kê tình hình thực hiện quy định về quản lý chất lượng dự
Bảng 2.10: Tổng hợp tình hình các dự án sử dụng 30% vốn nhà nước chậm
Bảng 2.11: Tổng hợp mức độ của các nguyên nhân làm sai lệch về thời gian
Bảng 3.2: Kế hoạch đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi trong tương lai 102
Bảng 3.5: Tổng hợp kế hoạch đấu thầu của dự án đầu tư xây dựng nhà ở 5
Trang 9Bảng 3.6: Phiếu điều tra đánh giá chất lượng dự án đầu tư xây dựng công
Bảng 3.7: Bảng điểm và trọng số dùng để đánh giá chất lượng quản lý dự án
Bảng 3.8: Kết quả đánh giá chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình X 122
Bảng 3.11: Bảng tính chỉ số giá xây dựng công trình bình quân theo phương
Trang 10Danh mục các Hình vẽ
Hình 1.3: Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả dự án đầu tư xây dựng công
Hình 1.7: Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng quản lý dự án đầu tư xây
Hình 2.1: Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chất lượng dự án đầu tư xây dựng
Hình 2.2: Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tồn tại trong quản lý chi phí dự án
Hình 2.3: Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến dự án đầu tư xây dựng công trình
Hình 3.2: Đồ thị đánh giá trạng thái dự án đầu tư xây dựng công trình bằng
Trang 11Danh mục biểu đồ và sơ đồ
Sơ đồ 3.1: Danh mục giải pháp đề xuất nâng cao chất l−ợng quản lý dự án
Sơ đồ 3.2: Mô hình cấu trúc phân việc quản lý dự án đầu t− xây dựng công
Sơ đồ 3.4: Các nội dung quản lý chất l−ợng trong Nghị định về quản lý chất
Trang 12Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
PERT : Kü thuËt −íc l−îng vµ kiÓm tra dù ¸n (Program Evaluation and
Review Technique) QLDA : Qu¶n lý dù ¸n
SCCT : Sù cè c«ng tr×nh
TCVN : Tiªu chuÈn ViÖt Nam
UBND : ñy ban nh©n d©n
Trang 13Mở đầu
1- Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm thực hiện chủ trương của Đảng là đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, vì vậy trong những năm vừa qua, vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản chiếm một tỷ trọng rất lớn trong GDP, bình quân từ 25-30% [41] Với số vốn đầu tư rất lớn như vậy thì hàng năm có hàng nghìn dự án đầu tư xây dựng công trình được triển khai [26]
Thực tế ở nước ta, việc quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình trong thời gian qua đ đạt được nhiều thành tựu đáng kể Nhiều khu đô thị mới, khu công nghiệp, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, công trình văn hoá được xây dựng mới, cải tạo, mở rộng thời gian qua trên phạm vi cả nước là những minh chứng cụ thể cho những thành tựu ấy
Tuy nhiên, thực tiễn cũng chỉ ra rằng bên cạnh những thành tựu đ đạt được, vẫn còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, đặc biệt là vấn đề chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước chưa cao Điều này được thể hiện trên thực tế ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, việc đầu tư dàn trải vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi, chất lượng công trình xây dựng của không ít dự án còn thấp dẫn đến nhiều công trình mới xây dựng xong, chưa sử dụng đ xuống cấp hoặc không sử dụng được
Thứ hai, chi phí đầu tư xây dựng công trình thường vượt tổng mức đầu tư, nhiều chi phí phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng Đặc biệt là tình trạng lng phí, thất thoát vốn đầu tư nhà nước xảy ra ở nhiều dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế, gây ra nhiều hậu quả không tốt về mặt kinh tế và x hội
Thứ ba, tình trạng nhiều dự án, nhiều công trình kéo dài thời gian do thiếu vốn, do không giải phóng được mặt bằng,… vẫn diễn ra ở nhiều nơi
Nhiều dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước chưa được quản
lý tốt từ khi nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi đến khi đưa công trình vào khai thác, sử dụng mà các phương tiện thông tin đại chúng đ chỉ ra thời gian qua là những minh chứng cụ thể phản ánh chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình còn nhiều vấn đề tồn tại cần phải được nghiên cứu khắc phục
Trang 14Trong các dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước, tác giả luận
án cho rằng cần đặc biệt quan tâm nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng
sử dụng vốn ngân sách vì vốn ngân sách nhà nước dùng cho đầu tư xây dựng các công trình phục vụ lợi ích công cộng thuộc chi phí công, nếu không quản lý chặt chẽ thường dễ đưa đến lng phí, thất thoát, sử dụng không có hiệu quả, làm tăng nợ công luỹ tiến đưa đến mức vượt ngưỡng kiểm soát sẽ làm mất ổn định nền kinh tế và không
đảm bảo an sinh x hội
Xuất phát từ thực tiễn trên và những đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đối với việc nâng cao hiệu quả đầu tư vốn nhà nước vào lĩnh vực xây dựng cơ bản, đề tài “Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý
dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước” do tác giả lựa chọn mang tính thời sự và cấp thiết
2- Mục đích và định hướng nghiên cứu của đề tài
Như tên đề tài đ lựa chọn, mục đích nghiên cứu chính của đề tài là tìm ra các giải pháp hữu hiệu và khả thi để nâng cao chất lượng quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước của chủ đầu tư dự án nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư nhà nước, đặc biệt là vốn Ngân sách nhà nước trong lĩnh vực xây dựng cơ bản
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu được đặt ra, định hướng nghiên cứu đề tài
được đề ra là tiếp cận và giải quyết đề tài theo lối truyền thống:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung liên quan đến phạm trù quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước, trong đó tập trung làm rõ một số khái niệm và những vấn đề liên quan đến chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, đến vốn nhà nước và dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước và các tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước
- Phân tích thực trạng chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ở Việt Nam thời gian qua, chỉ ra những kết quả/ thành tựu đ đạt được và những yếu kém còn tồn tại cần khắc phục, những nguyên nhân chủ yếu của những thành công và
đặc biệt là nguyên nhân của những yếu kém trong quản lý dự án của chủ đầu tư làm giảm chất lượng quản lý dự án
- Nghiên cứu đề xuất giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng quản lý các
dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước của chủ đầu tư dự án, góp phần nâng cao hiệu quả vốn đầu tư nhà nước trong lĩnh vực xây dựng cơ bản
Trang 153- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án:
Đối tượng nghiên cứu chính được xác định là chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước, đặc biệt là vốn ngân sách nhà nước của chủ đầu tư dự án theo các giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng công trình và theo chức năng quản lý của chủ đầu tư
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án:
Chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình là một phạm trù rộng cả
về phương diện lý luận lẫn thực tiễn mà trong khuôn khổ của một luận án tiến sĩ, theo tác giả luận án khó có thể nghiên cứu toàn diện Vì thế, luận án được giới hạn nghiên cứu trong phạm vi sau:
+ Về nội dung nghiên cứu:
Luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chất lượng quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước ở giai đoạn thực hiện đầu tư tính
từ khi dự án khả thi được thẩm định, phê duyệt và quyết định đầu tư cho đến khi công trình xây dựng (đối tượng đầu tư) hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng
Luận án đề cập đến vấn đề chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước đối với tất cả các loại công trình xây dựng (không kể công trình xây dựng đặc thù), trong đó tập trung chủ yếu vào 3 loại công trình: nhà ở, giao thông, thủy lợi là những loại công trình được đầu tư nhiều bằng vốn nhà nước
+ Về không gian: Luận án nghiên cứu chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước trong phạm vi cả nước
+ Về thời gian: Luận án nghiên cứu trên cơ sở các thông tin, số liệu thứ cấp thu thập được trong 5 năm gần đây (từ 2006 đến 2010)
4- ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- ý nghĩa khoa học của đề tài được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Một là, kết quả nghiên cứu có cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài góp phần
bổ sung và làm phong phú thêm kho tàng lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình nói chung và quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước nói riêng
Hai là, phương pháp phân tích định lượng mức độ chất lượng quản lý dự án
đầu tư xây dựng công trình được xây dựng góp phần tăng thêm cơ sở khoa học cho việc đánh giá chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình của các chủ đầu tư trên thực tế
Trang 16- ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Thứ nhất, đề tài nghiên cứu được lựa chọn xuất phát từ thực tiễn chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước và những đòi hỏi khách quan phải nâng cao chất lượng quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước của chủ đầu tư dự án
Thứ hai, đề tài được hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng trong việc hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước nhằm tạo nên hành lang pháp lý chặt chẽ điều chỉnh hoạt động quản lý dự án của chủ
đầu tư dự án sử dụng vốn nhà nước
Thứ ba, đề tài được hoàn thành sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư dự
án xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước áp dụng các giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng quản lý dự án của chủ đầu tư và nâng cao hiệu quả vốn đầu tư nhà nước trong lĩnh vực xây dựng cơ bản
5- Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục đích nghiên cứu đ đề ra, trong quá trình thực hiện các nhiệm
vụ nghiên cứu đ được định hướng, trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, tác giả luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Vận dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích so sánh, kết hợp phân tích định tính với phân tích định lượng để phân tích phê phán thực trạng chất lượng quản lý dự án
đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước ở nước ta
- Vận dụng các kiến thức tổng hợp của các môn khoa học kinh tế và quản lý,
đặc biệt là các kiến thức về quản trị học và kinh tế đầu tư, pháp luật liên quan đến lĩnh vực quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình để đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước có cơ sở khoa học và thực tiễn
6- Những đóng góp mới của luận án
Luận án có những đóng góp mới sau:
(1) Luận giải rõ nội hàm các khái niệm “chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình” và “chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình” làm cơ sở lý luận cho những phân tích, đánh giá chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình của chủ đầu tư trên thực tế
Trang 17(2) Phân tích và làm sáng tỏ các đặc điểm đặc thù và tính chất phức tạp của dự
án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước cũng như các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước
(3) Chỉ ra những kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế về chất lượng quản
lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước đồng thời chỉ rõ nguyên nhân của chúng
(4) Đề xuất phương pháp định lượng đánh giá chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình có cơ sở khoa học và khả thi
(5) Đề xuất 2 nhóm giải pháp khoa học và khả thi nhằm nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước
- Nhóm giải pháp nâng cao năng lực quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
sử dụng vốn nhà nước của chủ đầu tư dự án
- Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
sử dụng vốn nhà nước
Trang 18Chương 1 Nghiên cứu tổng quan về chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng
công trình sử dụng vốn nhà nước
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý dự án
Quản lý dự án từ khi ra đời đến nay đ trải qua một thời kỳ dài phát triển và đ
đạt được những thành công đáng kể, được sử dụng rộng ri trong các lĩnh vực quản lý như hiện nay Theo tác giả Gilles Le Beau et Pierre Menard viết trong “Conception de Projet” [92], quá trình tiến triển của quản lý dự án được chia thành 4 giai đoạn:
Giai đoạn xuất hiện (1900-1960), giai đoạn này được đánh dấu bằng sự xuất hiện 3 kỹ thuật rất nổi tiếng nhằm quản lý tốt hơn “thời gian” của một dự án đó là: Biểu đồ Gantt, phương pháp CPM, sơ đồ mạng PERT
Giai đoạn tăng nhanh (1960-1980), giai đoạn này tương ứng với sự ra đời của quản lý dự án như một ngành nghề riêng biệt và việc sáng lập ra Học viện Quản lý dự
án ở Mỹ đ đóng góp rất nhiều cho lĩnh vực này
Giai đoạn truyền bá (1980-1990), giai đoạn này quản lý dự án được truyền bá nhanh chóng trong các lĩnh vực xây dựng, hàng không, kỹ thuật vũ khí và nhiều lĩnh vực hoạt động khác, giai đoạn này cũng là giai đoạn của quản lý dự án, nó được người
ta nhắc đến nhiều Quản lý dự án được xác định là một phương pháp quản lý hiệu quả hơn của các doanh nghiệp để quản lý các dự án
Giai đoạn phổ cập toàn cầu (1990 đến nay), đây là thời kỳ của kinh tế toàn cầu, cạnh tranh quốc tế, sự phát triển mạnh của công nghệ thông tin, đ đưa quản lý
dự án trở thành một khoa học quản lý, một mô hình quản lý phát triển rộng ri khắp thế giới
Ngày nay ở các nước tiên tiến đều có các tổ chức chuyên nghiên cứu về quản
lý dự án Có nhiều tài liệu nghiên cứu về quản lý dự án ở nhiều khía cạnh khác nhau
đ được xuất bản, song chủ yếu tập trung vào: Phân tích hiệu quả kinh tế, tài chính dự
án ([81], [93]); các kỹ thuật và công cụ quản lý dự án ([78], [80], [86]), đặc biệt là các
kỹ thuật và công cụ trong giai đoạn hình thành dự án ([87, [91], [92]) và các công cụ lập kế hoạch, tổ chức, kiểm tra dự án [96]; các quy trình quản lý dự án [80], [95]; quản lý rủi ro của các dự án [92], [94]
Trang 19ở Việt Nam từ năm 1986, nhờ thực hiện chính sách kinh tế mở cửa của Đảng
và Nhà nước, đ tạo điều kiện để nhiều nhà đầu tư quốc tế vào Việt Nam Quản lý dự
án theo chuẩn mực quốc tế đ được du nhập và dần dần xuất hiện ở Việt Nam Một số tác giả trong nước đ nghiên cứu tài liệu nước ngoài kết hợp với thực tiễn ở Việt Nam
để viết một số sách liên quan đến dự án, quản lý dự án, song các tài liệu này chỉ tập trung vào các nội dung: Phân tích, đánh giá dự án về tài chính và kinh tế x hội ([11], [22], [23], [24], [50], [68]); các khái niệm cơ bản về dự án và quản lý dự án ([1], [11], [30], [36], [37], [61], [63], [75]); lập dự án đầu tư ([22], [30], [48], [49], [68]); những vấn đề tổ chức và điều hành dự án [74]; kinh nghiệm quản lý dự án ([12], [47], [73]); quản trị thực hiện dự án đầu tư ([3], [28], [30], [39], [49], [70]) trong đó đề cập đến các kỹ thuật và công cụ lập kế hoạch thực hiện dự án, kiểm soát tài chính và tiến độ của dự án; phần mềm quản lý dự án [31]
Trong lĩnh vực xây dựng cũng có một số tài liệu, sách của một số tác giả viết
về quản lý dự án xây dựng như: Quản lý dự án xây dựng ([30], [46]); quản lý dự án công trình xây dựng [72]; quản lý dự án xây dựng giai đoạn thi công [64] Đây là những tài liệu đ đề cập đến những vấn đề về quản lý dự án áp dụng trong lĩnh vực xây dựng, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở những nguyên lý chung Một số tài liệu có đi sâu hơn theo từng nội dung quản lý dự án trong xây dựng như: Quản lý dự án nhìn từ góc độ Nhà nước, nhà đầu tư, nhà tư vấn, nhà thầu [35]; quản lý chất lượng dự án công trình ([52], [71]); quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình [32]; quản lý rủi ro trong dự án đầu tư xây dựng [33]; quản lý thời gian trong xây dựng [59], Những tài liệu này đ đề cập đến những nội dung chủ yếu của quản lý dự án trong xây dựng, tuy nhiên chưa đề cập và phân tích sâu đến mối quan hệ giữa các nội dung trong quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Do nhận thấy quản lý dự án trong lĩnh vực đầu tư xây dựng còn có nhiều vấn
đề cần nghiên cứu, nên trong thời gian dài vừa qua đ có không ít các tác giả của những đề tài Nghiên cứu khoa học ở các cấp, các luận văn Cao học, luận án Tiến sỹ
đ chọn lĩnh vực quản lý dự án trong đầu tư xây dựng công trình làm đối tượng nghiên cứu Những tác giả này đ đi sâu nghiên cứu và giải quyết các vấn đề như: Nâng cao cơ sở khoa học của việc lập dự án đầu tư [58]; Nâng cao cơ sở khoa học của việc phân tích dự án ([2], [29], [76]); Hoàn thiện phương pháp đánh giá hiệu quả dự án đầu tư [62]; Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư [60]; Hoàn thiện công tác thẩm định dự án [44]; Hoàn thiện các thủ tục trong đầu tư dự án xây dựng [25] Một số tác giả đi sâu nghiên cứu từng nội dung trong quản lý dự án đầu tư xây dựng ở trong từng giai đoạn thực hiện đầu tư hoặc trong hình thức đầu tư cụ thể, như: Quản lý rủi ro trong khâu lập
Trang 20dự án [42]; quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng [67]; quản lý chất lượng dự án theo hình thức tổng thầu [27]; Mô hình quản lý dự án [34]; Quản lý Nhà nước đối với dự
án đầu tư xây dựng [45] Cũng có tác giả nghiên cứu chuyên sâu nhiều nội dung quản
lý dự án cho lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông [43]
Những nghiên cứu nói trên đ giải quyết được phần nào những vấn đề đặt ra trong thực tế quản lý dự án đầu tư xây dựng ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, từ điểm nhìn thực tiễn cho thấy, quản lý dự án đầu tư xây dựng là một lĩnh vực phức tạp, đòi hỏi sự phối kết hợp quản lý của nhiều chủ thể và nhiều nội dung quản lý đan xen nhau Trong thực tế hiện nay, nhiều dự án đầu tư xây dựng công trình đang gặp phải những vấn đề nổi cộm về chất lượng, chi phí, tiến độ, rủi ro cần phải có những nghiên cứu tìm hướng giải quyết Cho đến nay chưa có một nghiên cứu toàn diện nào có thể giải quyết một cách thỏa đáng những vấn đề hết sức thời sự đó của thực tế
Vấn đề vận dụng các công cụ quản lý dự án hữu hiệu và các phần mềm quản lý
dự án trong quản lý các dự án đầu tư xây dựng còn ít được chú ý Tuy đ có một số tài liệu nghiên cứu về quản trị dự án đầu tư giới thiệu về các công cụ lập kế hoạch như: Biểu đồ Gantt, phương pháp CPM, sơ đồ mạng PERT ([30], [59], [61], [68], [70]) cũng như phương pháp kiểm tra tiến độ và tài chính của dự án, song chỉ dừng ở mức
độ phổ biến lý thuyết Các nguyên lý lập kế hoạch và kiểm tra tiến độ và tài chính dự
án không thể ứng dụng cho dự án đầu tư xây dựng nếu không có những nghiên cứu thêm về cách thức áp dụng
Một hệ thống các văn bản pháp quy làm cơ sở, căn cứ cho công tác quản lý dự
án đầu tư xây dựng được ban hành trong thời gian qua đ góp phần quan trọng trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng ([8], [9], [10], [13], [14], [15], [16], [17], [18], [19], [21], [54], [55], [56], [57]), song những văn bản này vẫn còn có những bất cập cần nghiên cứu hoàn thiện từng bước
Có thể nói, lĩnh vực quản lý dự án đ được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
từ khá lâu và đ có nhiều công trình nghiên cứu được công bố, song hầu hết các công trình nghiên cứu đó chỉ tập trung vào vấn đề nâng cao cơ sở khoa học của việc phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án; hoàn thiện việc lập dự án đầu tư cho các ngành sản xuất hoặc là quản lý dự án cho một số lĩnh vực như nông nghiệp, khai khoáng, đóng tàu, Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới vấn đề chất lượng và nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước Vì vậy, việc nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượng quản lý các
dự án đầu tư xây dựng công trình có ý nghĩa thực tiễn cao
Trang 211.2 Lý luận chung về dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước
1.2.1 Dự án đầu tư và dự án đầu tư xây dựng công trình
1.2.1.1 Thuật ngữ “Dự án đầu tư” và “Dự án đầu tư xây dựng công trình”
Theo Bách khoa toàn thư, từ tiếng Anh “Project” được dịch ra tiếng Việt là “Dự
án” có nghĩa là “điều mà người ta có ý định làm” [38]
Theo từ điển Oxford của Anh định nghĩa: Dự án (project) là một ý đồ, một nhiệm vụ được đặt ra, một kế hoạch vạch ra để hành động
Theo tiêu chuẩn của Australia (AS 1379-1991) định nghĩa: Dự án là một dự kiến công việc có thể nhận biết được, có khởi đầu, có kết thúc bao hàm một số hoạt
động có liên hệ mật thiết với nhau
Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO trong tiêu chuẩn ISO 9000:2000 được Việt Nam chấp thuận trong tiêu chuẩn TCVN ISO 9000:2000:
“Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và
được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí
và nguồn lực” [66]
Theo tài liệu Quản lý dự án (QLDA) của tác giả Eric Verzuh (Mỹ): Một dự án
được định nghĩa là “công việc mang tính chất tạm thời và tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ độc nhất” Công việc tạm thời sẽ có điểm bắt đầu và kết thúc Mỗi khi công việc được hoàn thành thì nhóm dự án sẽ giải tán hoặc di chuyển sang những dự án mới [69]
Luật Đấu thầu hiện hành giải thích: “Dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định” [56]
Như vậy có thể nhận thấy, thuật ngữ “Dự án” được giải thích theo nhiều cách diễn đạt khác nhau, hàm chứa những nội dung khác nhau Tuy nhiên, điểm chung về nội hàm dễ nhận thấy của “dự án” đó là: Mỗi dự án là một nỗ lực đồng bộ, có giới hạn (có ngày bắt đầu và ngày hoàn thành cụ thể), thực hiện một lần nhằm tạo mới hoặc nâng cao khối lượng, chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của khách hàng hay của x hội
Thách thức chính của QLDA là phải đạt được tất cả các mục tiêu đề ra của dự
án trong điều kiện bị khống chế bởi phạm vi công việc (khối lượng và các yêu cầu kỹ
Trang 22thuật), thời gian hoàn thành (tiến độ thực hiện) và ngân sách (mức vốn đầu tư) cho phép
Nếu tổng hợp lại từ nội hàm của dự án xuất phát từ một số cách giải thích hay quan niệm nêu trên thì có thể nhận thấy những đặc điểm chủ yếu sau của dự án:
- Dự án có mục tiêu và kết quả xác định (mục tiêu và kết quả cần đạt được đ
được xác định trước)
- Dự án khi kết thúc để lại một kết quả duy nhất (không lặp đi lặp lại)
- Dự án có tính cá biệt (không có các dự án hoàn toàn giống nhau)
- Dự án có khoảng thời gian thực hiện xác định trước (có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc)
- Nguồn lực (tài chính, nhân lực, vật lực) để thực hiện dự án được ấn định trước (chi phí xác định)
Thông qua việc nghiên cứu, tham khảo nhiều tài liệu trong nước và một số tài liệu nước ngoài, tác giả luận án nhận thấy: Thuật ngữ “Dự án đầu tư” hầu như không
được sử dụng ở các tài liệu nước ngoài nhưng trong các văn bản pháp luật của Việt Nam và nhiều công trình nghiên cứu đ được công bố trong nước lại được sử dụng khá phổ biến
Dự án đầu tư (DAĐT), về mặt bản chất, có thể hiểu là một chương trình hay kế hoạch chi tiết của hoạt động đầu tư - Hoạt động bỏ vốn đầu tư (chi phí) để tạo nên đối tượng đầu tư (vật chất hay tài chính) để thông qua quá trình vận hành, khai thác đối tượng đầu tư có thể đạt được những lợi ích mong muốn (mục đích đầu tư) Mục đích
đầu tư vì thế cũng chính là mục tiêu/ kết quả cần đạt tới của DAĐT Mục tiêu của DAĐT luôn phản ánh lợi ích cần đạt được, các lợi ích này có thể là lợi ích về kinh tế tài chính, lợi ích về kinh tế x hội và môi trường hoặc đồng thời các lợi ích đó
Theo Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam thì: “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” [55]
Đối với DAĐT, ngoài các đặc điểm chung của dự án như đ nêu trên còn có những đặc điểm riêng, đó là tính dài hạn và tính rủi ro cao Một DAĐT thường có thời gian tồn tại dài nhiều năm, bao gồm thời gian tạo dựng nên đối tượng đầu tư và thời gian khai thác đối tượng đầu tư (thời gian vận hành DAĐT) Do đó, DAĐT thường
được hình thành và triển khai thực hiện trong những điều kiện rủi ro bởi tính dài hạn của hoạt động đầu tư
Trang 23DAĐT có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau:
- Về mặt hình thức nó là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết,
có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
- Trên góc độ quản lý, DAĐT là một công cụ quản lý sử dụng vốn, vật tư, lao
động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - x hội trong một thời gian dài
- Trên góc độ kế hoạch, DAĐT là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - x hội, làm tiền đề cho cho các quyết định đầu tư và tài trợ
- Về mặt nội dung, DAĐT là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau
được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đ định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định
Cũng như thuật ngữ “Dự án đầu tư”, thuật ngữ “Dự án đầu tư xây dựng công trình”, theo nghiên cứu của tác giả luận án, cũng là một thuật ngữ rất ít được sử dụng nếu không muốn nói là không được sử dụng trong các tài liệu nước ngoài ở nước ta, thuật ngữ này xuất hiện từ khi Luật Xây dựng được Quốc hội thông qua năm 2003
Theo giải thích của Luật Xây dựng Việt Nam hiện hành: “Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới,
mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định
Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở”
Về phương diện lý luận, DAĐT xây dựng công trình (XDCT) được hiểu là các DAĐT mà đối tượng đầu tư là công trình xây dựng, nghĩa là dự án có liên quan tới hoạt động xây dựng cơ bản (XDCB) như xây dựng nhà cửa, đường sá, cầu cống, Không phải tất cả các DAĐT đều có liên quan tới hoạt động XDCB Vì thế, đối với những DAĐT không liên quan tới hoạt động XDCB không gọi là DAĐT xây dựng
DAĐT XDCT (Báo cáo nghiên cứu khả thi), xét về mặt hình thức là một tập hợp các hồ sơ, tài liệu thuyết minh chi tiết kế hoạch khả thi XDCT và các tài liệu liên quan khác xác định chất lượng công trình cần đạt được, tổng mức đầu tư của dự án và thời gian thực hiện dự án, hiệu quả kinh tế tài chính, hiệu quả kinh tế x hội và đánh giá tác động môi trường của dự án
DAĐT XDCT, xét theo quan điểm hệ thống, có thể hiểu là một hệ thống, gồm nhiều phân hệ/ phần tử (hoạt động/ công việc) có mối liên hệ chặt chẽ về thời gian và không gian, vận hành trong những điều kiện ràng buộc/ giới hạn về nguồn lực và thời
Trang 24gian, chịu sự tác động của các yếu tố môi trường bên ngoài (môi trường kinh tế, x hội, luật pháp, công nghệ, tự nhiên) và môi trường bên trong (sự tác động qua lại của các phần tử trong hệ thống - các lực lượng tham gia dự án: Chủ đầu tư (CĐT), nhà thầu tư vấn, nhà thầu cung cấp, nhà thầu xây lắp, nhà tài trợ tài chính,…)
DAĐT XDCT, xét theo quan điểm động, có thể hiểu là một quá trình biến ý tưởng đầu tư XDCT thành hiện thực trong sự ràng buộc về kết quả (chất lượng), tiến
độ (thời gian) và nguồn lực (chi phí) đ xác định trong hồ sơ dự án và được thực hiện trong những điều kiện không chắc chắn (rủi ro) DAĐT XDCT xét theo quan điểm
động được mô tả ở Hình 1.1
DAĐT XDCT bao gồm dự án xây dựng mới công trình, dự án cải tạo nâng cấp
mở rộng các công trình đ đầu tư xây dựng
Hình 1.1: Dự án đầu tư xây dựng công trình theo quan điểm động [51]
1.2.1.2 Các giai đoạn hình thành và thực hiện một dự án đầu tư
Một DAĐT, từ khi hình thành ý tưởng đến khi kết thúc dự án, thông thường phải trải qua các giai đoạn sau:
b/ Phân tích và lập dự án
Phân tích và lập dự án là giai đoạn nghiên cứu chi tiết ý đồ đầu tư đ được đề xuất trên mọi phương diện: kỹ thuật, tổ chức - quản lý, thể chế x hội, thương mại, tài chính, kinh tế
ý tưởng đầu tư
xây dựng
Quá trình thực hiện đầu tư xây dựng (rủi ro)
Trang 25Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là nghiên cứu một cách toàn diện tính khả thi của dự án Trong giai đoạn này gồm hai bước: nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi Các dự án lớn và quan trọng thường phải thông qua hai bước này, còn các
dự án nhỏ và không quan trọng thì trong giai đoạn này chỉ cần thực hiện bước nghiên cứu khả thi
Thực tế đ xác nhận tầm quan trọng của công tác chuẩn bị và phân tích dự án Chuẩn bị tốt và phân tích kỹ lưỡng sẽ làm giảm những khó khăn trong giai đoạn thực hiện cũng như cho phép đánh giá đúng đắn hơn tính hiệu quả và khả năng thành công của dự án
c/ Thẩm định và phê duyệt dự án
Giai đoạn này thường được thực hiện với sự tham gia của các cơ quan nhà nước, các tổ chức tài chính và các thành phần khác tham gia dự án, nhằm xác minh lại toàn bộ kết luận đ được đưa ra trong quá trình chuẩn bị và phân tích dự án, trên cơ sở
đó chấp nhận hay bác bỏ dự án Dự án sẽ được thông qua và đưa vào thực hiện nếu nó
được xác nhận là có hiệu quả và khả thi Ngược lại, trong trường hợp còn có những bất hợp lý trong khâu lập dự án, thì tùy theo mức độ, dự án có thể được sửa đổi hay buộc phải làm lại
d/ Triển khai thực hiện dự án
Theo thông lệ quốc tế, giai đoạn triển khai thực hiện dự án được xác định từ khi kinh phí đầu tư được đưa vào dự án đến khi dự án chấm dứt hoạt động Giai đoạn này có thể được chia ra làm nhiều giai đoạn bộ phận khác nhau tùy theo tính chất của từng dự án, thông thường được chia ra 3 giai đoạn bộ phận: (1) Giai đoạn thi công XDCT, (2) Giai đoạn phát triển của dự án và (3) Giai đoạn vận hành hết công suất
Thực hiện dự án thực chất là việc tiến hành các công việc cũng như quản lý việc thực hiện các công việc liên quan đến dự án đ được hoạch định trong dự án đ
được thẩm định và quyết định đầu tư Thực hiện dự án là kết quả của một quá trình chuẩn bị và phân tích kỹ lưỡng, song thực tế rất ít khi được tiến hành đúng như hoạch
định Nhiều dự án không đảm bảo được tiến độ thời gian và chi phí dự kiến, thậm chí một số dự án phải thay đổi thiết kế ban đầu do giải pháp kỹ thuật không thích hợp Nhiều khó khăn và các biến động thường xảy ra trong giai đoạn thực hiện dự án, nên
đòi hỏi các nhà QLDA phải hết sức linh hoạt, thường xuyên đánh giá và giám sát quá trình thực hiện để kịp thời thấy được các khó khăn và đề ra các biện pháp giải quyết thích hợp, xem xét điều chỉnh lại các mục tiêu và phương tiện nếu cần
Trang 26e/ Nghiệm thu dự án, tổng kết và giải thể
Khi dự án kết thúc giai đoạn vận hành, tiến hành đánh giá nghiệm thu dự án
Đánh giá nghiệm thu khác với việc đánh giá và giám sát trong quá trình thực hiện dự
án Đánh giá nghiệm thu có nhiệm vụ làm rõ những thành công và thất bại trong toàn
bộ quá trình xác định, phân tích và lập dự án, cũng như trong khi thực hiện để rút ra những kinh nghiệm và bài học cho quản lý các dự án khác trong tương lai Kết thúc và giải thể dự án phải giải quyết việc phân chia sử dụng kết quả của dự án, những tài sản
mà dự án còn để lại và bố trí lại công việc cho các thành viên tham gia dự án
1.2.1.3 Ba phương diện cơ bản của một dự án đầu tư
Một DAĐT có thể được xem như một hệ thống gồm nhiều phân hệ có mối liên
hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, trong đó có 3 phân hệ (thường được gọi là phương diện) cơ bản: (1) Kết quả cần đạt được (chất lượng dự án); (2) Chi phí nguồn lực để đạt được kết quả đ được xác định (nhân lực, vật lực, tài chính) và (3) Thời gian
để đạt được kết quả đ được ấn định
1 Kết quả cần đạt được (chất lượng dự án):
Mỗi một dự án thường đặt ra một hay nhiều mục tiêu cuối cùng cần đạt được (mục tiêu kỹ thuật công nghệ, mục tiêu kinh tế tài chính, mục tiêu kinh tế x hội, quốc phòng, ) Để đạt được mục tiêu cuối cùng của DAĐT (chất lượng dự án) đ
được xác định, trong từng giai đoạn của quá trình đầu tư (chuẩn bị đầu tư, thực hiện
đầu tư, khai thác vận hành đối tượng đầu tư) - giai đoạn của chu trình dự án - đều
được xác định mục tiêu chất lượng cần đạt được như: chất lượng dự án được lập trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư; chất lượng khảo sát, thiết kế, chất lượng thi công XDCT,… trong giai đoạn thực hiện đầu tư; chất lượng vận hành dự án trong giai đoạn khai thác
đối tượng đầu tư
Đảm bảo chất lượng dự án nghĩa là đảm bảo mục tiêu chất lượng ở tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư và khai thác dự án, nó là mục tiêu được quan tâm hàng
đầu của quản lý DAĐT
2 Chi phí nguồn lực để đạt được kết quả đF được xác định (giới hạn chi phí):
Để có thể đạt được kết quả dự kiến của DAĐT, mỗi dự án đều phải dự trù chi phí nguồn lực đủ lớn huy động cho dự án (nhân lực, vật lực, kinh phí, ) Chi phí nguồn lực để đạt được kết quả đ dự kiến được xác định trước được xem là giới hạn nguồn lực được sử dụng cho dự án Nhiệm vụ của các nhà QLDA là phải huy động đủ
và kịp thời nguồn lực cho dự án và quản lý chi phí nguồn lực sao cho chi phí thực tế không vượt giới hạn chi phí đ xác định để đạt được kết quả đ dự kiến Trên thực tế,
Trang 27do những biến cố không lường trước được (bất định/ rủi ro) làm cho chi phí nguồn lực thực tế thường có nguy cơ vượt quá dự kiến ban đầu Cũng có những trường hợp không đủ nguồn lực huy động cho dự án như đ dự kiến làm cho dự án triển khai không thuận lợi, phải điều chỉnh, thay đổi lại mục tiêu so với dự kiến ban đầu,
Đạt được kết quả dự kiến với chi phí nguồn lực tiết kiệm trong giới hạn chi phí
đ xác định sẽ ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả đầu tư dự án, nghĩa là đến chất lượng
dự án đạt được Vì thế, quản lý chi phí đầu tư dự án là một nội dung quản lý cực kỳ quan trọng của quản lý DAĐT
3 Thời gian để đạt kết quả được ấn định trước (khống chế thời gian):
Để thực hiện một dự án đòi hỏi phải có một thời gian nhất định và thường bị ấn
định/ khống chế do nhiều lý do (cạnh tranh thị trường, tranh thủ thời cơ, chớp lấy cơ hội, ) Để đạt được kết quả dự kiến trong khoảng thời gian đ được khống chế đòi hỏi ngay trong từng giai đoạn của chu trình dự án phải khống chế về thời gian thực hiện Thông thường, tiến trình thực hiện một dự án theo thời gian có thể chia ra 3 thời kỳ: Khởi đầu, triển khai và kết thúc Thời kỳ khởi đầu và thời kỳ kết thúc dự án thường được tiến hành với tốc độ chậm hơn so với thời kỳ triển khai Cũng có trường hợp có dự án thời kỳ khởi đầu rất dài so với thời kỳ triển khai, có dự án không triển khai được hay có dự án bị bỏ dở không đi đến thời kỳ kết thúc,
Để đảm bảo thời gian thực hiện các công việc của dự án đ dự kiến, từ đó đảm bảo thời gian hoàn thành dự án, việc đáp ứng nguồn lực cho dự án phù hợp với tiến độ thời gian đ lập kế hoạch có vai trò đặc biệt quan trọng Mặt khác, việc quản lý tiến
độ thời gian thực hiện dự án theo kế hoạch đ xác định, đảm bảo cho các công việc (đặc biệt là các công việc “găng” - công việc không có dự trữ thời gian) là vô cùng quan trọng, trong đó việc cảnh báo kịp thời nguy cơ kéo dài thời gian là rất cần thiết
để các nhà QLDA có những quyết định điều chỉnh kịp thời kế hoạch tiến độ là nhiệm
vụ quan trọng của các nhà quản lý thuộc cấp “quản lý tác nghiệp” trong bộ máy QLDA
Cũng như việc đảm bảo chi phí nguồn lực tiết kiệm, đảm bảo tiến độ thời gian thực hiện dự án đ được khống chế được xem là vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí nguồn lực cho dự án và do đó ảnh hưởng đến chất lượng dự án đạt được Từ điểm nhìn này, quản lý tiến độ thời gian hoàn thành dự án là nội dung quản lý DAĐT có vai trò đặc biệt quan trọng
Ngoài 3 phương diện cơ bản nêu trên, liên quan đến dự án và ảnh hưởng đến chất lượng dự án đạt được còn một số phân hệ (yếu tố) khác như: đặc điểm sáng tạo, quy mô, độ phức tạp (dự án liên quan đến nhiều mối quan hệ đa dạng, sự phụ thuộc
Trang 28lẫn nhau của các bên tham gia dự án, nhiều nguồn lực được huy động, ), tính thử thách (tác động về mặt x hội của dự án khi phải di dân ra khỏi khu vực địa điểm của
dự án, khi phải thay đổi nhân sự trong các dự án cải cách tổ chức, cải cách hành chính, ) cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dự án hoàn thành Vì thế, quản lý hiệu quả sự thay đổi và các mối quan hệ nảy sinh trong quá trình thực hiện DAĐT có
ý nghĩa hỗ trợ tích cực cho việc đạt được chất lượng DAĐT như dự kiến
1.2.1.4 Phân loại dự án đầu tư và dự án đầu tư xây dựng công trình
• Phân loại dự án đầu tư:
Có nhiều loại DAĐT khác nhau tùy thuộc vào mỗi cách phân loại Thông thường, DAĐT được phân loại theo một số cách sau:
a/ Phân loại DAĐT theo mức độ mới của dự án [23], [24]
Để quản lý một tập hợp nhiều dự án, có thể phân loại dự án căn cứ vào hai tiêu chí phản ánh mức độ mới sau đây:
- Mức độ đổi mới trong sản phẩm
- Mức độ đổi mới trong quá trình sản xuất
Theo hai tiêu chí này dự án được phân thành bốn loại:
+ Các dự án đổi mới: Các dự án loại này được lập nhằm tạo ra các sản phẩm mới hoặc thiết lập các quy trình sản xuất khác về căn bản so với hiện tại
+ Các dự án phát triển: Đây là những dự án thực hiện một mức độ đổi mới nhất
định về sản phẩm và quy trình sản xuất Nó cho phép đồng thời cải tiến nhiều chỉ tiêu
b/ Phân loại DAĐT theo nguồn vốn đầu tư:
Tuỳ theo nguồn vốn đầu tư, có các loại DAĐT sau:
- Các dự án sử dụng vốn Ngân sách nhà nước
- Các dự án sử dụng vốn tín dụng do nhà nước bảo lnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước
Trang 29- Các dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp nhà nước
- Các DAĐT của tư nhân, của các tổ chức kinh tế không thuộc doanh nghiệp nhà nước
- Các dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức từ các tổ chức quốc tế (vốn ODA)
- Các dự án sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
- Các dự án sử dụng vốn hợp tác liên doanh với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước
c/ Phân loại DAĐT theo đối tượng đầu tư:
Theo đối tượng đầu tư, DAĐT được chia thành 2 loại:
- DAĐT XDCT gồm những DAĐT mà đối tượng đầu tư là các công trình xây dựng như nhà cửa, vật kiến trúc, đường sá, cầu cống, đê đập,
- DAĐT vào các đối tượng khác gồm những DAĐT không có XDCT như DAĐT trồng rừng, DAĐT khai thác tài nguyên, DAĐT mua sắm máy móc, thiết bị, DAĐT tài chính,
• Phân loại dự án đầu tư XDCT:
Đối với DAĐT XDCT thường được phân loại theo quy mô đầu tư, theo tính chất công trình xây dựng của dự án, theo nguồn vốn hay phân loại theo hình thức đầu tư
a/ Phân loại DAĐT XDCT theo quy mô đầu tư:
Tuỳ theo tính chất của dự án và quy mô đầu tư, DAĐT trong nước được phân loại thành: Dự án quan trọng quốc gia; dự án nhóm A; dự án nhóm B; dự án nhóm C
Tiêu chí chủ yếu để phân nhóm dự án là tổng mức đầu tư bên cạnh đó còn căn
cứ vào tầm quan trọng của lĩnh vực đầu tư, nội dung cụ thể như trong phụ lục “Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình” ban hành kèm theo Nghị định số 12/2009/NĐ-
CP ngày 10 tháng 2 năm 2009 của Chính phủ [17]
ứng với mỗi loại dự án này Nhà nước quy định những quy chế quản lý riêng
được quy định trong Luật Xây dựng và nghị định của Chính phủ về quản lý DAĐT XDCT
b/ Phân loại DAĐT XDCT theo tính chất công trình xây dựng:
Theo cách phân loại này, các DAĐT XDCT được phân thành 5 nhóm:
- Dự án đầu tư XDCT dân dụng
Trang 30- Dự án đầu tư XDCT công nghiệp
- Dự án đầu tư XDCT giao thông
- Dự án đầu tư XDCT thủy lợi
- Dự án đầu tư XDCT hạ tầng kỹ thuật khác
c/ Phân loại DAĐT XDCT theo cách thức quản lý vốn:
Vốn đầu tư XDCT có nhiều nguồn khác nhau, do đó có nhiều cách phân loại chi tiết khác nhau theo nguồn vốn đầu tư như: phân loại theo nguồn vốn trong nước và nước ngoài; phân loại theo nguồn vốn nhà nước và nguồn vốn ngoài nhà nước; phân loại theo nguồn vốn đơn nhất (sử dụng 1 nguồn vốn duy nhất) và nguồn vốn hỗn hợp, Tuy nhiên trong thực tế quản lý, phân loại DAĐT XDCT theo cách thức quản
lý vốn được sử dụng phổ biến hơn Theo cách phân loại này, DAĐT XDCT được phân thành:
- DAĐT xây dựng sử dụng vốn nhà nước: Là những dự án có sử dụng từ 30% vốn nhà nước trở lên trong tổng vốn đầu tư của dự án
- DAĐT xây dựng sử dụng vốn trong nước khác: Là những dự án sử dụng vốn trong nước khác mà trong tổng vốn đầu tư của dự án không sử dụng vốn nhà nước hoặc sử dụng vốn nhà nước với tỷ lệ ít hơn 30%
- DAĐT xây dựng sử dụng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Là những DAĐT mà nguồn vốn là của các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
d/ Phân loại DAĐT XDCT theo hình thức đầu tư:
Theo cách phân loại này, DAĐT XDCT được phân thành DAĐT xây dựng mới công trình; DAĐT sửa chữa, cải tạo hoặc DAĐT mở rộng, nâng cấp công trình
1.2.1.5 Các yêu cầu của dự án đầu tư xây dựng công trình
DAĐT nói chung phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:
- Tính khoa học: Người soạn thảo DAĐT phải có một quá trình nghiên cứu tỷ
mỷ, kỹ càng, tính toán thận trọng, chính xác từng nội dung của dự án, đặc biệt là nội dung về tài chính, nội dung về công nghệ kỹ thuật Tính khoa học còn thể hiện trong quá trình soạn thảo DAĐT cần có sự tư vấn của các cơ quan chuyên môn
- Tính thực tiễn: Các nội dung của DAĐT phải được nghiên cứu, xác định trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư
- Tính pháp lý: DAĐT cần có cơ sở pháp lý vững chắc tức là phù hợp với chính
Trang 31sách và luật pháp của Nhà nước Muốn vậy phải nghiên cứu kỹ chủ trương, chính sách của Nhà nước, các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động đầu tư
- Tính đồng nhất: Các DAĐT phải tuân thủ các quy định chung của các cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư, kể cả các quy định về thủ tục đầu tư Với các DAĐT quốc tế còn phải tuân thủ quy định chung mang tính quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc ký kết các Hiệp ước quốc tế
Đối với DAĐT XDCT, ngoài việc phải đảm bảo các yêu cầu của DAĐT nói chung còn phải bảo đảm các yêu cầu sau đây: [54]
- Phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - x hội, quy hoạch phát triển ngành
và quy hoạch xây dựng
- Có phương án thiết kế và phương án công nghệ phù hợp
- An toàn trong xây dựng, vận hành, khai thác, sử dụng công trình, an toàn phòng, chống cháy, nổ và bảo vệ môi trường
- Bảo đảm hiệu quả kinh tế - x hội của dự án
Đối với những công trình xây dựng có quy mô lớn (quy định hiện hành là các
dự án, công trình quan trọng quốc gia), trước khi lập DAĐT XDCT chủ đầu tư phải lập báo cáo đầu tư XDCT (Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi) để trình Quốc hội xem xét quyết định chủ trương đầu tư Nội dung chủ yếu của báo cáo đầu tư XDCT bao gồm
sự cần thiết đầu tư, dự kiến quy mô đầu tư, hình thức đầu tư; phân tích, lựa chọn sơ bộ
về công nghệ, xác định sơ bộ tổng mức đầu tư, phương án huy động các nguồn vốn, khả năng hoàn vốn và trả nợ; tính toán sơ bộ hiệu quả đầu tư về mặt kinh tế - x hội của dự án
1.2.1.6 Các đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình
DAĐT XDCT ngoài những đặc điểm chung của DAĐT còn có nhiều đặc điểm
đặc thù sau:
a/ Dự án đầu tư XDCT có tính đa mục tiêu:
Trong mỗi DAĐT XDCT thường tồn tại nhiều mục tiêu khác nhau, các mục tiêu ấy có thể không đồng hướng thậm chí mâu thuẫn nhau Thông thường DAĐT XDCT có các mục tiêu sau:
- Mục tiêu về kỹ thuật - công nghệ: quy mô, cấp công trình, các yêu cầu về độ bền chắc, về công năng sử dụng, về công nghệ sản xuất, về mỹ thuật, chất lượng,
- Mục tiêu về kinh tế tài chính: chi phí nguồn lực tối thiểu, thời gian xây dựng ngắn,
Trang 32- Mục tiêu về kinh tế x hội: cảnh quan, môi trường sinh thái, khả năng thu hút lao động, tạo việc làm, tiết kiệm đất đai,
- Các mục tiêu khác: mục tiêu chính trị, an ninh, quốc phòng, trật tự, an toàn x hội,
b/ Dự án đầu tư XDCT có tính duy nhất và gắn liền với đất:
Mỗi công trình xây dựng đều có những đặc điểm kiến trúc, kết cấu, địa điểm xây dựng, không gian và thời gian xây dựng không giống nhau, đặc điểm này tạo ra tính duy nhất của DAĐT xây dựng Tính duy nhất của DAĐT XDCT phản ánh tính không lặp lại của dự án, gây khó khăn không ít cho việc tiên liệu chi phí và thời gian trong quá trình thực hiện dự án cũng như cho việc tiên liệu các rủi ro có thể xảy ra đối với dự án Mỗi công trình xây dựng đều có địa điểm xây dựng riêng xác định và gắn liền với đất Đặc điểm này đòi hỏi phải có mặt bằng thì mới có thể thực hiện được DAĐT xây dựng
c/ Dự án đầu tư XDCT có thời gian xây dựng dài, vốn đầu tư lớn:
Sản phẩm cuối cùng của DAĐT XDCT là công trình được xây dựng xong hoàn thành bàn giao cho khai thác, sử dụng Do khối lượng công việc rất lớn và phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau nên thời gian XDCT thường dài Vốn đầu tư cho XDCT cũng thường rất lớn
d/ Dự án đầu tư XDCT chịu sự ràng buộc về thời gian và chi phí nguồn lực: Thời gian thực hiện dự án, thời điểm khởi công và kết thúc, tổng mức chi phí cho việc thực hiện dự án đ được xác định Thường các yêu cầu về thời gian và chi phí thực hiện DAĐT xây dựng là hạn hẹp vì các CĐT dự án luôn muốn có những công trình chất lượng cao nhưng chi phí thấp và được thực hiện trong một thời gian ngắn Những ràng buộc này thường gây sức ép đối với các nhà thầu xây dựng trong quá trình thực hiện dự án, mặt khác nó thường mâu thuẫn với các mục tiêu của nhà thầu xây dựng, vì thế việc hoàn thành mục tiêu tổng thể (kết quả, thời gian, chi phí) của DAĐT xây dựng thường rất khó khăn trong thực tế
e/ Dự án đầu tư XDCT luôn tồn tại trong một môi trường không chắc chắn (tiềm ẩn nhiều rủi ro):
DAĐT xây dựng thường phải thực hiện trong một thời gian dài, thậm chí kéo dài nhiều năm và thực hiện trong điều kiện môi trường tự nhiên Vì thế, có rất nhiều yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến DAĐT xây dựng Các yếu tố này có thể làm cho dự án không thành công như dự kiến ban đầu Dự án có thể bị tăng chi phí, kéo dài thời gian thực hiện hoặc giảm sút hiệu quả đầu tư
Trang 33Các đặc điểm của DAĐT XDCT được mô tả tóm tắt ở Hình 1.2
Hình 1.2: Các đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình
(Nguồn: Tác giả)
1.2.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của dự án đầu tư xây dựng công
trình
Tùy theo quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau về sự thành công của dự án
mà mỗi lĩnh vực, mỗi ngành, mỗi loại dự án, có tiêu chí đánh giá cụ thể khác nhau ở góc độ chung, dự án được xem là thành công (dự án đạt kết quả dự kiến) phải thỏa mn ba tiêu chí là chi phí, thời gian và chất lượng [88], [89] Tuy nhiên, có tác giả cho rằng, ba tiêu chí này chưa đủ để đo lường một dự án thành công mà còn thêm tiêu chí
về chất lượng quá trình QLDA và thỏa mn yêu cầu của các bên liên quan [79], [85] Theo các tác giả Pinto và Slevin thì dự án thành công phải có thêm tiêu chí thỏa mn yêu cầu khách hàng và đem lại lợi ích cho một nhóm khách hàng riêng biệt [83] Đối với DAĐT xây dựng các tiêu chí đánh giá sự thành công của dự án gồm các tiêu chí sau: thời gian, chi phí, chất lượng, thỏa mn yêu cầu của các bên tham gia, đáp ứng kỳ vọng người dùng, không ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, đem lại giá trị kinh doanh và an toàn khi thi công [77]
Kết quả cuối cùng của dự án chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Trong kết quả nghiên cứu của Hughe [90], tác giả đ kết luận rằng sự thất bại của dự
án tập trung chủ yếu vào sự sai lầm của hệ thống quản lý, do việc thực hiện sai lầm các hoạch định, cũng như việc thông tin bị giới hạn và sai lệch khi truyền đạt mục tiêu Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng việc nhận ra những sai lầm này không đảm bảo
Đặc điểm của dự án đầu tư
DAĐT XDCT có thời gian xây dựng dài, VĐT lớn
DAĐT XDCT chịu
sự ràng buộc về thời gian và chi phí nguồn lực
DAĐT XDCT tiềm ẩn nhiều rủi
ro
Trang 34cho sự thành công của những dự án trong tương lai, mà chỉ có thể nâng cao cách QLDA hiệu quả hơn Các tác giả Pinto và Slevin [84] đ nêu ra mười yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của dự án, bao gồm các yếu tố về: nhiệm vụ dự án, sự hỗ trợ của quản lý cấp cao, công tác lập kế hoạch/tiến độ dự án, ý kiến khách hàng, công tác tuyển dụng, công tác kỹ thuật, sự chấp nhận của khách hàng, giám sát và phản hồi thông tin, sự giao tiếp truyền đạt thông tin và khả năng ứng phó của nhà quản lý
Có thể chia các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của DAĐT XDCT thành 6 nhóm yếu tố sau: (1) nhóm yếu tố liên quan đến đặc trưng của dự án, (2) nhóm yếu tố liên quan đến tổ chức bên trong dự án, (3) nhóm yếu tố liên quan đến năng lực nhà QLDA và năng lực thành viên tham gia dự án, (4) nhóm yếu tố liên quan
đến năng lực các tổ chức tham gia dự án, (5) nhóm yếu tố liên quan đến môi trường bên ngoài dự án và (6) nhóm yếu tố liên quan đến các tổ chức bên ngoài dự án
(1) Yếu tố liên quan đến đặc trưng của dự án:
Mỗi dự án đều có những đặc trưng riêng, rất ít các dự án có sự giống nhau Chính những nét đặc trưng riêng này cũng ảnh hưởng đến kết quả của dự án, vì không thể áp dụng nguyên si những công việc của dự án này cho dự án khác Những nét đặc trưng riêng của dự án, gồm: loại dự án, mục tiêu dự án, quy mô dự án, giá trị dự án,
địa điểm đặt dự án, tính độc nhất của dự án, độ khó và tính mới của dự án, mức độ quan trọng của dự án, vòng đời dự án và tính cấp thiết của dự án
(2) Yếu tố liên quan đến tổ chức bên trong dự án:
Các yếu tố thuộc về tổ chức bên trong dự án, bao gồm: sự hỗ trợ/ can thiệp của quản lý cấp cao, sự hỗ trợ của cơ cấu tổ chức, sự hỗ trợ của nhà quản lý chức năng và
sự hỗ trợ của người đứng đầu dự án Một trong những yếu tố quan trọng nhất để dự án thành công là sự hỗ trợ nhiệt tình của quản lý cấp cao Kết quả dự án thường phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc tổ chức của dự án, đối với dự án thuộc cấu trúc tổ chức theo chức năng thường không có mâu thuẫn về nguồn lực, tuy nhiên dự án mang tính cục bộ, không phân biệt rõ trách nhiệm cụ thể, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các bên tham gia Đối với tổ chức dạng dự án thuần túy hay dạng ma trận, vấn đề phân bổ nguồn lực là điều rất quan trọng Vì những dạng tổ chức này cùng lúc thực hiện rất nhiều dự án khác nhau, tiến độ và khối lượng công việc cũng khác nhau, đòi hỏi phải
có đủ nguồn lực và ai cũng đòi phải được ưu tiên, chính vì thế mà thường xảy ra mâu thuẫn về nguồn lực Để giải quyết vấn đề này, đòi hỏi nhà quản lý phải có kỹ năng thương thảo, khả năng phân chia quyền lực và nguồn lực hợp lý trong tổ chức để giải quyết các mâu thuẫn trong tổ chức nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho dự án thành công
Trang 35(3) Yếu tố liên quan đến năng lực nhà QLDA và năng lực thành viên tham gia
dự án:
Các yếu tố về năng lực nhà QLDA, bao gồm: khả năng phân quyền, khả năng thương lượng, khả năng phối hợp, khả năng ra quyết định và khả năng nhận thức vai trò và nhiệm vụ quản lý Việc chọn một nhà quản lý cho dự án, tiêu chí quan trọng nhất là năng lực về kỹ thuật và kỹ năng quản lý Năng lực nhà quản lý trở nên cực kỳ quan trọng trong giai đoạn lập kế hoạch và giai đoạn kết thúc dự án Năng lực thành viên cũng đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn thực hiện dự án Đối với các thành viên cần có các kỹ năng: nền tảng kỹ thuật chuyên môn, kỹ năng giao tiếp, khả năng dàn xếp rắc rối, khả năng cam kết, khả năng tự giải quyết vấn đề, khả năng làm việc nhóm
(4) Yếu tố liên quan đến năng lực các tổ chức tham gia dự án:
Hiện nay, các bên tham gia vào các DAĐT xây dựng thường bao gồm: CĐT,
đơn vị tư vấn thiết kế, đơn vị tư vấn giám sát, nhà thầu xây lắp và nhà thầu cung cấp vật tư thiết bị CĐT là người quản lý toàn diện mọi mặt của dự án Các nhà thầu là những người trực tiếp triển khai các công việc của dự án Chính vì vậy, yếu tố năng lực của các đơn vị này có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công của DAĐT xây dựng CĐT có năng lực tốt sẽ quản lý tốt dự án và đảm bảo dẫn dắt dự án đến thành công tốt hơn những CĐT năng lực kém Năng lực của các bên tham gia dự án như tư vấn, nhà thầu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện dự án, do đó ảnh hưởng đến kết quả của
dự án
(5) Yếu tố liên quan đến môi trường bên ngoài dự án:
Các yếu tố về môi trường bên ngoài dự án, bao gồm: điều kiện tự nhiên, môi trường chính trị, môi trường x hội, môi trường kinh tế, môi trường công nghệ và môi trường pháp luật Môi trường bên ngoài dự án ổn định sẽ ảnh hưởng tốt đến kết quả của dự án, ngược lại sự bất ổn của môi trường bên ngoài tất yếu sẽ ảnh hưởng tiêu cực
đến kết quả của dự án
(6) Yếu tố liên quan đến các tổ chức bên ngoài dự án:
Các yếu tố liên quan đến các tổ chức bên ngoài ảnh hưởng đáng kể đến kết quả
dự án, gồm: sự hỗ trợ của chính quyền địa phương nơi xây dựng dự án trong công tác
đền bù đất đai, giải phóng mặt bằng thi công cho công trình, giúp đẩy nhanh tiến độ thi công dự án; sự hỗ trợ của các đơn vị trong ngành; sự hỗ trợ của các bên ngoài ngành liên quan đến dự án trong công tác giải quyết các thủ tục liên quan khi triển khai thực hiện dự án
Trang 36Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả DAĐT XDCT được mô tả tóm tắt ở Hình 1.3
Hình 1.3: Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả dự án đầu tư xây dựng công trình
(Nguồn: Tác giả)
1.2.2 Dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước
1.2.2.1 Khái niệm về vốn đầu tư nhà nước và dự án đầu tư xây dựng công
trình sử dụng vốn nhà nước
Vốn đầu tư nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do Nhà nước quản lý
DAĐT XDCT sử dụng vốn nhà nước là những DAĐT XDCT có vốn nhà nước tham gia chiếm từ 30% tổng mức đầu tư của dự án trở lên
Như vậy có thể hiểu DAĐT XDCT sử dụng vốn nhà nước không chỉ là những
dự án sử dụng toàn bộ vốn nhà nước mà có thể là những dự án sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn, trong đó vốn có nguồn gốc nhà nước chiếm trên 30% trở lên Hiện nay, trong thực tế việc xác định xem một DAĐT xây dựng có phải là dự án sử dụng vốn nhà nước hay không trong nhiều trường hợp cũng không hề đơn giản và có nhiều quan
điểm khác nhau Vấn đề này sẽ được tác giả luận án phân tích và đưa ra cách xác định DAĐT XDCT sử dụng vốn nhà nước trong một số tình huống cụ thể ở mục 3.4.1 trong chương 3 của luận án
1.2.2.2 Các đặc điểm của DAĐT xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước
DAĐT XDCT sử dụng vốn nhà nước ngoài những đặc điểm đặc thù chung của DAĐT XDCT như đ nêu trên còn có những đặc điểm riêng xuất phát từ tính chất sử dụng vốn của DAĐT XDCT sử dụng vốn nhà nước
đến tổ chức bên trong dự
án
Yếu tố liên quan đến năng lực nhà QLDA và thành viên tham gia dự
án
Yếu tố liên quan
đến năng lực các
tổ chức tham gia
dự án
Yếu tố liên quan
đến môi trường bên ngoài
dự án
Yếu tố liên quan
đến các
tổ chức bên ngoài
dự án
Trang 37DAĐT XDCT sử dụng vốn nhà nước chịu sự ràng buộc chặt chẽ của các quy
định về quản lý ngân sách, quản lý đầu tư, quản lý chi phí, như Luật Ngân sách nhà nước, các nghị định của Chính phủ về quản lý DAĐT, quản lý chi phí DAĐT, Các quy định này sẽ chi phối đến việc cấp phát vốn; lập, thẩm định, phê duyệt dự án; lập, thẩm định, phê duyệt tổng mức đầu tư, dự toán XDCT; lựa chọn nhà thầu; ký kết và thực hiện hợp đồng; thanh quyết toán vốn đầu tư; giám sát và đánh giá đầu tư,
Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng đối với DAĐT XDCT sử dụng vốn nhà nước, từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, tổng dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng
CĐT không phải là chủ sở hữu vốn, CĐT được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao quản lý, sử dụng vốn CĐT dự án XDCT sử dụng vốn nhà nước được quy định chặt chẽ tùy thuộc từng nguồn vốn cụ thể DAĐT XDCT sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì CĐT do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập DAĐT và phải phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước Dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư, CĐT là cơ quan cấp Bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp nhà nước; Dự án do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư, CĐT là đơn vị quản
lý, sử dụng công trình
Thẩm quyền quyết định đầu tư các DAĐT XDCT sử dụng vốn Ngân sách nhà nước được quy định cụ thể và được phân cấp theo nhóm dự án DAĐT XDCT sử dụng vốn Ngân sách nhà nước chịu sự thẩm định của người quyết định đầu tư
DAĐT XDCT sử dụng vốn Ngân sách nhà nước, khi có khối lượng phát sinh ngoài thiết kế, dự toán XDCT làm vượt tổng mức đầu tư thì CĐT phải báo cáo người quyết định đầu tư để xem xét, quyết định
DAĐT XDCT sử dụng vốn nhà nước phải tuân theo các quy định về quản lý chi phí DAĐT xây dựng, quy định về lựa chọn nhà thầu, quy định về thanh quyết toán vốn đầu tư do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành
DAĐT XDCT sử dụng vốn nhà nước trên 30% tổng mức đầu tư thì phải được giám sát, đánh giá đầu tư chặt chẽ hơn các dự án sử dụng vốn khác
1.2.3 Chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình
Khi nói đến chất lượng DAĐT XDCT thì cách hiểu thông thường hiện nay là chất lượng của dự án được lập, nghĩa là chất lượng của hồ sơ dự án Các quy định pháp luật về việc thẩm định, phê duyệt và quyết định đầu tư DAĐT XDCT cũng nhằm
Trang 38vào mục tiêu đảm bảo chất lượng của hồ sơ dự án Pháp luật yêu cầu đầu mối thẩm
định DAĐT XDCT phải thẩm định 3 nội dung: (i) Thẩm định các yếu tố đảm bảo tính hiệu quả của dự án, (ii) Thẩm định các yếu tố đảm bảo tính khả thi của dự án và (iii) Thẩm định thiết kế cơ sở
Trên thực tế, hầu hết các DAĐT XDCT đều thực hiện đầy đủ các thủ tục thẩm
định, phê duyệt và quyết định đầu tư theo quy định của pháp luật nhưng không ít dự
án khi triển khai thực hiện bị kéo dài thời gian xây dựng, chi phí được quyết toán gấp nhiều lần chi phí đầu tư XDCT dự kiến, dẫn đến hệ quả là hiệu quả đầu tư thực tế đạt
được thấp hơn rất nhiều so với hiệu quả dự kiến Từ điểm nhìn này, tác giả luận án cho rằng cần có cách nhìn đúng đắn hơn về chất lượng DAĐT XDCT để việc đảm bảo
và nâng cao chất lượng DAĐT XDCT trở thành mục tiêu tổng quát của quá trình quản
lý DAĐT XDCT
Theo tác giả luận án, chất lượng DAĐT XDCT phải được nhìn nhận một cách
hệ thống xuất phát từ quan điểm nhận thức “Dự án đầu tư XDCT là một hệ thống” Tác giả luận án quan niệm rằng DAĐT XDCT từ khi ý tưởng đầu tư XDCT được hình thành đến khi công trình xây dựng được hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng trên thực tế phải trải qua một quá trình khá dài, trong đó rất nhiều công việc phải được tiến hành trong mối liên quan mật thiết với nhau, do rất nhiều tổ chức, cá nhân tham gia và phối hợp thực hiện Mỗi công việc phải thực hiện của dự án đều được xác định những tiêu chuẩn chất lượng, chẳng hạn công việc khảo sát, thiết kế, thi công phải tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng phù hợp, tuân thủ các thủ tục pháp lý quy định có liên quan như thủ tục nghiệm thu công việc hoàn thành Việc không tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng ở một công việc nào đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của các công việc liên quan khác ở những mức độ khác nhau và ảnh hưởng đến chất lượng của toàn bộ dự án
Từ điểm nhìn hệ thống, tác giả luận án có các quan điểm sau về vấn đề đánh giá chất lượng DAĐT XDCT:
Thứ nhất, chất lượng DAĐT XDCT cần được nhìn nhận một cách toàn diện với phạm vi rộng, xuyên suốt quá trình đầu tư và XDCT
Thứ hai, việc đánh giá chất lượng DAĐT XDCT vì thế cũng phải được đánh giá một cách toàn diện chất lượng của các công việc của dự án trong tất cả các giai
đoạn của quá trình đầu tư và XDCT
Thứ ba, chất lượng DAĐT XDCT không thể được đánh giá là cao khi không
đảm bảo chất lượng các công việc liên quan đến việc lập hồ sơ dự án (hồ sơ dự án lập
Trang 39sơ sài, thiếu luận chứng kinh tế, kỹ thuật hoặc việc luận chứng thiếu cơ sở tin cậy, thẩm định thiếu trách nhiệm, báo cáo thẩm định không đảm bảo chất lượng,…) hoặc chất lượng thực hiện các công việc chuẩn bị XDCT không đảm bảo (chất lượng công tác giải phóng mặt bằng, chất lượng công tác khảo sát, thiết kế, chất lượng lựa chọn nhà thầu,…) hay chất lượng thi công XDCT không đảm bảo Vì thế, các tiêu chuẩn chất lượng của từng công việc của dự án được xem là các tiêu chí đánh giá chất lượng công việc hoàn thành
Từ những phân tích trên, tác giả luận án quan niệm rằng “chất lượng DAĐT XDCT” cần được hiểu là kết quả tổng hợp của mức độ đảm bảo chất lượng (đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng được xác định) của các công việc của dự án so với dự kiến hoặc so với các quy định pháp luật (nếu có)
Tiêu chuẩn chất lượng của các công việc của dự án không chỉ là các tiêu chuẩn
kỹ thuật phải tuân thủ mà còn bao gồm nhiều tiêu chuẩn khác cần phải đáp ứng như tiêu chuẩn về chi phí (mức chi phí giới hạn), tiêu chuẩn về thời gian hoàn thành Điều này có nghĩa là, khi đánh giá chất lượng của một công việc của dự án cần thiết đánh giá sự đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng có liên quan trên 3 phương diện: (i) Sự đáp ứng các yêu cầu về kết quả cần đạt được của công việc, (ii) Sự đáp ứng yêu cầu về giới hạn chi phí để hoàn thành công việc và (iii) Sự đáp ứng yêu cầu về giới hạn thời gian thực hiện công việc
Các công việc phải thực hiện của một DAĐT XDCT là rất nhiều và được thực hiện trong những giai đoạn khác nhau của quá trình đầu tư và XDCT Vì thế, theo tác giả luận án, việc đánh giá chất lượng DAĐT XDCT cần được đánh giá tổng hợp theo từng nhóm công việc trong từng giai đoạn đầu tư và XDCT
Nhóm công việc của dự án được xác định từ điểm nhìn chức năng QLDA của CĐT dự án bao gồm những công việc liên quan (kể cả các công việc quản lý) phải thực hiện để tạo ra một hoặc một số “sản phẩm” phải được “nghiệm thu chất lượng” trước khi tiến hành các công việc tiếp theo Việc đánh giá chất lượng đạt được của từng nhóm công việc thực chất là đánh giá chất lượng đạt được của các “sản phẩm” của nhóm công việc đ được xác định
Khi đánh giá chất lượng “sản phẩm” của nhóm công việc cần phải đánh giá sự
đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng có liên quan đến “sản phẩm” trên 3 phương diện: (i) Sự đáp ứng các yêu cầu về kết quả cần đạt được của “sản phẩm”, (ii) Sự đáp ứng yêu cầu về giới hạn chi phí để hoàn thành “sản phẩm” và (iii) Sự đáp ứng yêu cầu về giới hạn thời gian hoàn thành “sản phẩm”
Trang 40Với quan điểm này, tác giả luận án chia các nhóm công việc trong từng giai
đoạn đầu tư và XDCT như sau:
- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư:
Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, các công việc của dự án cần chia ra 2 nhóm công việc :
(1) Nhóm công việc phải thực hiện trước khi lập dự án, gồm các công việc như lập Báo cáo đầu tư trình Quốc hội (nếu có), thỏa thuận về quy hoạch (nếu cần),…
Sản phẩm của nhóm công việc này bao gồm: Báo cáo đầu tư được lập (nếu có), văn bản thỏa thuận về quy hoạch
(2) Nhóm công việc lập, thẩm định, phê duyệt DAĐT XDCT, gồm các công việc như lập hồ sơ dự án (nghiên cứu sự cần thiết đầu tư, nghiên cứu thị trường, sản phẩm của dự án, thiết kế cơ sở, nghiên cứu về vốn đầu tư và nguồn vốn, hiệu quả đầu tư, tác động môi trường của dự án,…), trình người quyết định đầu tư thẩm định, phê duyệt và ra quyết định đầu tư dự án
Sản phẩm của nhóm công việc này bao gồm: DAĐT XDCT được lập, văn bản phê duyệt dự án, quyết định đầu tư dự án
- Giai đoạn thực hiện đầu tư:
Các công việc phải thực hiện của dự án trong giai đoạn thực hiện đầu tư - Giai
đoạn biến phương án đầu tư “trên giấy” thành hiện thực - cần chia thành 3 nhóm công việc sau:
(1) Nhóm công việc liên quan đến giải phóng mặt bằng và giấy phép xây dựng, gồm các công việc như thành lập Hội đồng giải phóng mặt bằng, thỏa thuận phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư (nếu có), thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái
định cư, giải phóng mặt bằng để bàn giao cho nhà thầu xây dựng, xin giấy phép xây dựng
Sản phẩm của nhóm công việc này là mặt bằng XDCT đ được giải phóng để bàn giao cho nhà thầu thi công XDCT, giấy phép xây dựng được cấp
(2) Nhóm công việc liên quan đến công tác khảo sát, thiết kế XDCT, gồm các công việc như lập và phê duyệt nhiệm vụ khảo sát, nhiệm vụ thiết kế; lựa chọn nhà thầu khảo sát, thiết kế; nghiệm thu, phê duyệt kết quả khảo sát, nghiệm thu hồ sơ thiết kế
Sản phẩm của nhóm công việc này bao gồm: Kết quả khảo sát XDCT, hồ sơ thiết kế XDCT