1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng - Cơ điện nông nghiệp-chương 5 pps

31 3,9K 41
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phía trước khung cày lắp chốt móc kéo hoặc các bộ phận để nối với cơ cấu treo của máy kéo.. Các bộ phận chính của cày chảo loại treo gồm có: Khung cày, trục lắp các chảo cày, các chảo cà

Trang 1

Chương 5

MÁY NÔNG NGHIỆP 5.1 MÁY LÀM ĐẤT

5.1.1 Máy cày

5.1.1.1 Nhiệm vụ - yêu cầu nông học và phân loại

Trong qui trình trồng trọt, cày đất là một nguyên công đầu nhằm các nhiệm vụ:

Giảm độ chặt, diệt cỏ dại, sâu bệnh và gốc cây vụ trước, tăng độ thoáng, độ phì cho đất

Yêu cầu kỹ thuật nông học đối với máy cày là: Độ cày sâu đồng đều, mặt đồng

phải bằng phẳng, lớp đất cày đều, tơi, không sót lõi và phải lật hoàn toàn để úp hết

cỏ dại và gốc cây vụ trước xuống dưới

Khi làm việc, máy cày phải chuyển động ổn định Lực cản riêng của cày phải nhỏ và máy phải thuận tiện trong sử dụng và chăm sóc

Hiện nay, máy cày có nhiều loại khác nhau Căn cứ theo bộ phận làm việc chia ra: cày lưỡi và cày chảo Căn cứ theo cách liên kết với máy kéo có các loại cày treo, cày móc và cày nửa treo Cày treo là cày mà toàn bộ trọng lượng được treo sau máy kéo qua cơ cấu treo và nâng, hạ để làm việc và vận chuyển Cày móc chỉ liên kết với máy kéo tại một điểm móc kéo Cày nửa treo là loại cày kết hợp giữa hai loại trên Ở thế vận chuyển, cày này được nâng phần trước lên, còn phần sau vẫn tựa trên các bánh xe của cày

5.1.1.2 Cấu tạo và quá trình làm việc của cày lưỡi

Cày lưỡi có hai loại: Cày treo và cày móc Cày treo gọn nhẹ, có thể làm việc với vận tốc cao hơn, quay vòng hẹp, hơn nữa cấu tạo ít chi tiết so với cày móc Tuy nhiên, cày treo có những nhược điểm: Chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi chuyển động của máy kéo theo mặt đồng làm cho độ cày sâu không đều; máy kéo phải có hệ thống nâng, hạ cày và không có chốt an toàn nên khi gặp những chướng ngại vật lớn như đá, gốc cây có thể bị gãy trụ cày

Cấu tạo chung của cày lưỡi gồm có các bộ phận chính: Khung c ày, dao cày, thân cày, bánh tựa đồng (hình 5-1)

- Khung cày là những thanh thép định hình được nối ghép lại với nhau tạo

thành khung, dùng để lắp các bộ phận làm việc của cày Khung cày treo có kết cấu đơn giản hơn khung cày móc Phía trước khung cày lắp chốt móc kéo hoặc các bộ phận để nối với cơ cấu treo của máy kéo

- Dao cày: Thông dụng hiện nay là dao đĩa Dao cày đi trước thân cày chính,

cắt đất theo mặt phẳng thẳng đứng tạo thành luống cày, làm cho thỏi đất lật gọn, không vướng cỏ rác, không kéo vỡ đất xuống đáy luống Thường chỉ lắp dao cày cho thân cày sau cùng khi cày ruộng khô để bánh máy kéo đi vào đáy luống bằng phẳng

- Thân cày là bộ phận làm việc chủ yếu của cày lưỡi Thân cày có nhiệm vụ

cắt đất đáy luống, nâng thỏi đất lên, đồng thời chuyển sang bên và lật Trong quá

Trang 2

trình đó đất bị biến dạng, và tơi vỡ ra Thân cày gồm có lưỡi cày, diệp cày, trụ cày

và thanh tựa đồng

Hình 5.1 Cày lưỡi 1- Khung cày, 2- Cơ cấu treo

3- Bánh tựa đồng, 4-Trụ cày, 5-Lưỡi cày, 6- Diệp cày

Lưỡi cày cắt đất và tách đất khỏi đáy luống, đưa lên diệp Lưỡi cày có dạng hình thang, được chế tạo bằng thép tốt Phía dưới lưới cày có phần kim loại dự trữ dùng để đàn ra khi lưỡi cày bị mòn

Diệp cày tiếp nhận đất từ lưỡi cày, nâng dần lên, tách đ ất sang bên và lật đất xuống đáy luống

Trụ cày để gá lắp lưỡi, diệp và thanh tựa đồng Trụ cày liên kết với khung bằng các bulông và ngàm Khi cày làm việc, thanh tựa đồng miết lên thành luống, chống lại hiện tượng xoay cày

- Bánh tựa đồng có nhiệm vụ đỡ một phần trọng lượng, giữ thăng bằng cho

cày và để giới hạn độ sâu cày (khi cày ruộng khô) Ở cày treo có một bánh tựa đồng, ở cày móc có hai hoặc ba bánh tựa Khi làm việc bánh tựa lăn trên mặt đồng

và cố định vị trí bánh với khung cày bằng một trục vít có tay quay điều chỉnh

5.1.1.3 Cấu tạo và quá trình làm việc của cày chảo

Cày chảo có hai loại: Cày móc và cày treo Hiện nay chủ yếu dùng loại cày chảo treo

Các bộ phận chính của cày chảo loại treo gồm có: Khung cày, trục lắp các chảo cày, các chảo cày, bánh đuôi, cơ cấu treo và một số bộ phận phụ trợ khác như các dao gạt đất dính trong chảo, cơ cấu điều chỉnh bánh sau,

Trang 3

Hình 5.2 Cày chảo

1- Khung cày, 2- Trụ chảo, 3- Chảo cày, 4- Thanh gạt, 5- Bánh sau

- Khung của cày chảo treo tương tự như của cày lưỡi P hía trước khung có các

bộ phận để nối với cơ cấu treo của máy kéo Phía cuối khung liên kết với bánh sau, được giảm chấn và điều chỉnh độ sâu bởi lò xo - đai ốc

- Trục của các chảo cày liên kết với khung bằng hai ổ đỡ con lăn côn Các

chảo cày lắp cứng trên trục và định vị khoảng cách với nhau bởi các ống bích nối

- Chảo cày làm nhiệm vụ của lưỡi và diệp như ở cày lưỡi Chảo cày có dạng

hình chỏm cầu, thường được chế tạo bằng thép tốt hoặc bằng gang chất lượng cao Tùy loại cày mà chảo lớn hay nhỏ Đường kính mép ngoài của chảo (đến cạnh sắc) trong khoảng từ 600 ÷ 1000 mm Khi làm việc mặt phẳng đi qua cạnh sắc của chảo đặt lệch so với mặt phẳng thẳng đứng dọc theo phương tiến của máy một góc 

Bánh sau của cày chảo được đặt xiên so với mặt phẳng thẳng đứng dọc theo

hướng tiến của cày Bánh sau có nhiệm vụ chống xoay cày, giống như thanh tựa đồng ở cày lưỡi

Các thanh gạt được bắt chặt với khung và có một phần rà gần sát với mặt cong

trong lòng các chảo cày Khi chảo cày quay bị dính đất thì các thanh gạt sẽ gạt đất

để chảo làm việc tốt hơn

Sự làm việc của chảo cày cũng giống như cày lưỡi: cắt, nâng, tách, lật đất Song ở đây, chảo cày vừa quay vừa tịnh tiến để làm tất cả công việc trên Cạnh sắc

ở mép ngoài của chảo cắt đất trượt lên lòng chảo và nâng rồi hất sang bên Trong quá trình đó đất biến dạng, tơi vỡ nhiều hơn so với cày lưỡi Góc tiến  càng tăng thì độ tơi vỡ đất càng lớn Tuy nhiên, góc  chỉ nằm trong một khoảng nhất định Ở cày chảo, cạnh sắc không chỉ cắt đất ở đáy luống (thay cho lưỡi cày) mà cả ở thành luống (thay cho dao cày) thành những cung cong nối tiếp Do kết cấu của bộ phận làm việc là chảo cày nên loại cày này làm việc tốt trên đất nhiều cỏ rác, nhiều bùn hay trên đất nhẹ Lực cản kéo của cày chảo nhỏ hơn cày lưỡi khi cùng độ sâu, bề rộng và tốc độ cày trên cùng loại đất

Tuy nhiên, những yếu điểm chính của loại cày này là không làm việc tốt trên đất cứng, đất có nhiều đá, rễ cây Khi tăng góc tiến  sẽ làm tăng độ sâu cày và tăng lực cản rất lớn Mặc khác, đáy luống không bằng phẳng như ở cày lưỡi, làm ảnh

Trang 4

hưởng đến sự phát triển bộ rễ cây trồng Quá trình lật không hoàn toàn và phụ thuộc góc tiến 

5.1.2 Máy bừa

5.1.2.1 Nhiệm vụ, yêu cầu nông học và phân loại

Bừa là nguyên công làm đ ất thường sử dụng sau khi cày, cuốc Nhiệm vụ của bừa là làm tơi vỡ đất đến độ nhỏ cần thiết cho việc gieo trồng Bừa còn có thể cắt, dìm cỏ rác, diệt sâu bệnh, phá hủy gốc cây vụ trước còn lại Một số loại bừa có khả năng phá váng cho đất, giảm mật độ cây khi gieo hoặc vơ cỏ rác, san phẳng mặt đồng v.v

Yêu cầu kỹ thuật nông học đối với máy bừa là: Sau khi bừa bảo đảm tơi nhỏ đất, vơ hết cỏ dại ở ruộng khô và nhuyễn bùn, nhấn chìm cỏ dại ở ruộng nước, mặt đồng bằng phẳng, độ sâu lớp đất bừa đồng đều, bảo đảm giữ ẩm, thoáng khí, cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cây

Khi bừa ruộng khô tránh hiện tượng bụi bột (quá tơi) sẽ làm đất chóng kết dính, tăng độ chặt, nhất là khi thủy phần trong đất lớn, sẽ không bảo đảm chu kỳ sinh trưởng và phát triển của cây trồng

Ta biết rằng, sau khi cày đúng độ ẩm đất đã được tơi vỡ một phần Tuy nhiên trong nông nghiệp, làm đất sau khi cày, cuốc là một công việc cũng tốn kém năng lượng và thời gian Với một số loại cây hoa màu, yêu cầu đất phải tơi nhuyễn hơn

do đó phải bừa nhiều lần, có thể kết hợp c ày trở dưới lên để độ tơi nhuyễn đồng đều

Máy bừa có nhiều cách phân loại Theo cấu tạo bộ phận làm việc, có bừa răng, bừa đĩa, bừa thanh cắt (trục lăn) Theo tính chất chuyển động của bộ phận làm việc,

có loại bừa tịnh tiến, bừa quay Theo công dụng có bừa ruộng nước, bừa ruộng khô, bừa chuyên làm vườn, bừa phá váng, v.v Theo sự liên kết với máy kéo chia ra bừa treo, bừa móc và bừa nửa treo

Một đặc điểm chung của các loại bừa máy là thường có độ sâu làm việc tối đa bằng độ sâu cày Ở một số loại bừa còn có khả năng xáo trộn lớp đất mặt tơi nhuyễn với phân bón lót sau khi c ày Ngoài ra bừa không chỉ làm tơi nhỏ đất, mà còn làm tơi nhỏ các sản phẩm khác lẫn trong lớp đất đó và không lật đất

5.1.2.2 Bừa răng

Bừa răng được chia ra hai loại là bừa răng khung cứng và bừa răng khung lưới, nhưng chủ yếu là bừa răng khung cứng Bừa răng thường dùng trên ruộng khô với yêu cầu độ sâu làm đất nhỏ Thường một bừa răng gồm có ba mảng nối với nhau (hình 5.3) và móc vào một xà ngang liên kết với máy kéo dạng móc kéo Răng bừa thường chế tạo bằng thép cứng có tiết diện tròn hoặc vuông, hình thoi Để tăng khả năng ăn sâu vào đất người ta làm nhọn các đầu răng

Ở bừa răng khung cứng cần chú ý khi bố trí răng Răng đ ược bố trí xen kẽ trên khung sao cho số vết răng đi qua dày, đều mà số răng trên một hàng ngang vẫn ít để không bị dồn đất hoặc vướng cỏ rác khi bừa Vì vậy răng được cắm tại điểm giao nhau của các thanh khung với các đường xoắn nhiều đầu mối Tùy theo yêu cầu làm

Trang 5

5.1.2.3 Bừa đĩa

Bừa đĩa được dùng nhiều hơn bừa răng Nó kết hợp làm đất trên ruộng khô, và ruộng nước Hiện nay đã có các loại bừa do Việt Nam sản xuất như: BĐT-2,2; BRN-2,4; BĐ-2,2 v.v

Các bộ phận chủ yếu của bừa đĩa là: Khung bừa, các trục, trên đó có lắp các đĩa bừa, bộ phận treo hoặc móc, các bánh xe vận chuyển (ở bừa móc) với các trục vít điều khiển,

Đĩa bừa có 3 loại: Đĩa phẳng, đĩa chỏm cầu và đĩa chỏm cầu cắt cạnh khế ở mép ngoài của đĩa Đĩa phẳng thường dùng để cắt đất theo phương dọc với hướng tiến của liên hợp máy, hoặc dùng làm dao cày hay bộ phận rạch hàng của máy gieo Đĩa chỏm cầu để làm tơi nhỏ đất Còn đĩa chỏm cầu cắt cạnh khế để tăng cạnh sắc cắt, thường lắp trên bừa đĩa nặng để cắt nhỏ đất cày

a Bừa ruộng khô

b Bừa ruộng nước

Trang 6

Khi đĩa bừa làm việc, người ta điều chỉnh vị trí của trục lắp đĩa để mặt phẳng

Lắp như vậy để tăng khả năng đẩy ngang (hất đất) và tăng độ tơi vỡ đất Góc  càng tăng, chất lượng làm đất càng tốt nhưng lực cản cũng tăng lên

Mỗi máy bừa có từ 2 đến 4 trục bừa đ ược bắt vào khung bởi các giá đỡ và quay trong các ổ trượt hoặc ổ lăn Các đĩa bừa lắp vào trục bừa và giữa các đĩa có ống ngăn cách Mỗi trục thường có từ 5-10 đĩa

Thường các trục bừa được bố trí đối nhau để lực cản bừa cân đối và bừa sẽ chuyển động ổn định Chiều lõm của đĩa bừa trên 2 trục ngang nhau cũng phải đối xứng và trục đi sau phải có chiều lõm ngược lại để việc hất đất trả về cho mặt đồng được bằng phẳng (hình 5-4)

Đối với bừa ruộng nước, ngoài các trục lắp đĩa bừa, phía sau thường lắp thêm trục lăn Trục lăn có cấu tạo dạng hình trụ, có đường kính từ 350-360 mm, dài từ 1800-2400 mm Dọc theo đường sinh của trụ là các thanh sắc cắt đất được nối với trục bởi các vành Số thanh sắc cắt đất của trục lăn thường từ 6 đến 10 Trục lăn được gá lắp với khung bừa bởi các giá đỡ kiểu ổ trượt Loại trục lăn này làm việc tốt với yêu cầu dìm cỏ rác cũng như làm tơi nhuyễn đất

5.1.3 Máy phay đất

5.1.3.1 Nhiệm vụ và so sánh phay với cày và bừa

Để làm đất, ngoài phương pháp cày, bừa như hiện nay, phay đất cũng được dùng phổ biến bởi vì phương pháp làm đất này có nhiều ưu điểm nổi bật Hiện nay,

ở nước ta đã có một số cơ sở chế tạo được máy phay cho ruộng khô, ruộng nước với

bề rộng làm việc là 0,6m; 0,8m; 1,6m hay 2,2m Nhưng phần lớn máy phay đất vẫn được nhập từ nước ngoài như Nhật, Hàn Quốc, Nga, Bungari

Trang 7

lớp đất, phân, phá hủy gốc cây dại và băm nát các sản phẩm còn lại của chu trình gieo trồng vụ trước một cách nhanh chóng Phải nói rằng, độ tơi nhuyễn của đất làm bằng phay lớn hơn nhiều so với cày hoặc bừa khi cùng một lần đi qua Đó chính là yếu tố rút ngắn thời gian làm đất và giảm số lần liên hợp máy di chuyển trên mặt đồng, nâng cao tính kinh tế trong quá trình cơ giới hóa khâu làm đất

Máy phay đất gọn nhẹ hơn, chi phí tổng cộng cho một đơn vị làm đất khi phay nhỏ hơn so với các phương pháp khác Ngoài ra, mặt đồng sau khi phay bằng phẳng hơn, có thể làm đất bằng phay trên lô thửa hẹp (vì bán kính quay vòng liên hợp máy phay nhỏ hơn khi cùng một loại máy kéo)

Những nhược điểm chính của làm đất bằng máy phay là: Chi phí công suất cho việc quay trống hoặc trục phay lớn Máy phay đòi hỏi công nghệ chế tạo phức tạp, chính xác và đắt tiền hơn cày hoặc bừa Kỹ thuật sử dụng cũng đòi hỏi cao hơn Phay không có khả năng lật hoàn toàn đất do đó khó phơi ải Khi tăng độ sâu phay thì công suất tiêu hao cho liên hợp máy tăng nhanh do đó độ sâu phay bị hạn chế Nguồn động lực liên hợp với máy phay phải có trục thu công suất và các bộ phận điều khiển kèm theo Tuy vậy, thực tiễn đã cho thấy phay dần dần thay cho cày, bừa hoặc lồng trên ruộng màu, ruộng cấy lúa nước

5.1.3.2 Cấu tạo chung, nguyên tắc làm việc của máy phay đất

Máy phay đất thường có các bộ phận chính sau:

- Trục phay, trên đó được lắp các lưỡi phay

- Khung và các tấm che chắn, bộ phận treo với máy kéo

- Bộ phận truyền lực để truyền mômen quay từ trục thu công suất của máy kéo đến trục phay

- Bộ phận giới hạn độ sâu

- Ly hợp an toàn

Lưỡi phay là chi tiết làm việc nặng nề nhất, chịu tác dụng mài mòn mãnh liệt của đất khi cắt Lưỡi phay có nhiều loại: Lưỡi dao thẳng, lưỡi dao cong, lưỡi dạng máng nhọn, lưỡi dạng xoắn Do đó, lưỡi phay thường chế tạo bằng thép tốt và được tôi cạnh sắc Hình dáng, kích thước lưỡi phay phụ thuộc vào tính năng của máy phay cũng như tính chất đất đai, yêu cầu kỹ thuật nông học

Các lưỡi phay có thể lắp trực tiếp lên trục hoặc các đĩa trên trục Lưỡi có thể lắp hướng tâm, tiếp tuyến nhưng phải đảm bảo việc phân li đất ra ngoài, không quấn

cỏ rác khi làm việc và đảm bảo độ sâu phay tối đa cho từng loại máy phay Ngoài

ra, khi phay đi qua để mặt đồng bằng phẳng, cần bố trí chiều cong ngang của các lưỡi phay hợp lý, không tạo rãnh hoặc thành luống cũng như đất đã phay không lấp lên phần đất sắp được phay của lần đi sau

Để điều chỉnh độ sâu phay thường dùng bộ phận thuyền trượt gắn hai bên máy phay (với ruộng ướt) và các bánh xe (với ruộng khô) thông qua các lỗ bắt bulông hoặc trục vít điều chỉnh

Trên khung máy, ngoài gá lắp trục phay, các bộ phận truyền lực, bộ phận treo, còn có các tấm che chắn phía trước, phía sau để tăng sự va đập tơi vỡ của đất khi lưỡi cắt hất lên

Trang 8

Hình 5.6 Bố trí các loại lưỡi phay trên trống

Ở một số máy phay, phía sau còn kết cấu một hàng răng chắn va đập phụ và san mặt đồng (phay khô) Các máy phay có bề rộng làm việc lớn thường được kết cấu thêm cụm li hợp ma sát trượt bảo vệ an toàn cho phay ở trước hộp giảm tốc (phay ruộng nước) hoặc ngay trên trục phay (phay ruộng khô) Khi lực cản quay trống phay quá lớn, mômen quay từ động cơ truyền đến sẽ bị trượt nhờ li hợp ma sát này Khi phay đi qua chướng ngại vật, phay lại làm việc bình thường

5.1.4 Máy lồng đất (Máy kéo bánh lồng)

5.1.4.1 Nhiệm vụ, đặc điểm của làm đất bằng máy kéo bánh lồng

Làm đất ruộng nước bằng máy kéo bánh lồng đã và đang được sử dụng phổ biến ở nước ta và một số nước trên thế giới Bánh lồng vừa làm bộ phận công tác (làm tơi nhuyễn đất) vừa thay cho bánh chuyển động của máy kéo Cấu tạo của bánh lồng đơn giản nên dễ chế tạo Bánh lồng có nhiều cỡ, phù hợp với máy kéo lớn hay nhỏ Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các loại bánh lồng sản xuất ở nước ta, lắp với các máy kéo có công suất từ 40 đến 80 mã lực để làm đất cho ruộng lúa nước sau khi đất đã cày hoặc cuốc Trên một số chân ruộng dầm ngấm và có nền có thể lồng đất làm tơi nhuyễn, dìm cỏ rác mà không cần cày

Ưu điểm nổi bật của bánh lồng là hoàn toàn khắc phục hiện tượng không đủ bám của các loại máy kéo vạn năng khi làm việc trên ruộng nước Ngoài ra, bánh lồng còn có những ưu điểm khác như: Năng suất làm đất cao, sử dụng đơn giản, tuổi thọ của cặp bánh lồng cao hơn hẳn các loại máy làm đất khác

Nhược điểm chính của làm đất bằng máy kéo bánh lồng là không điều chỉnh được độ sâu làm đất và ruộng phải ngập nước, có nền Ngo ài ra, bánh lồng không làm việc được trên ruộng khô, ruộng cứng chưa cày Với lô thửa hẹp, khi lồng đất thì độ tơi nhuyễn không đều Ở vùng hai đầu bờ, máy phải quay vòng nhiều nên đất quá nhuyễn nát, dễ gây hiện tượng nghẹt rễ sau này cho cây trồng Làm nhiều vụ liên tiếp có thể gây ra hiện tượng phá nền, làm sâu thêm tầng đất canh tác, giảm độ phì của đất Mặt khác máy kéo bánh lồng có bán kính quay vòng lớn, hay gây quá tải cho hệ thống truyền lực của máy kéo như hộp số, ly hợp, phanh và cầu hướng dẫn

V

Trang 9

Hình 5.7 Bánh lồng

1 Thanh cắt bá

m, 2.Vành bánh, 3 Nan hoa, 4 Mâm bánh

5.1.4.2 Cấu tạo và quá trình làm việc của bánh lồng

Bánh lồng thay cho bánh chủ động của máy kéo, do đó về cấu tạo nó phải đảm bảo chức năng chịu nặng (hơn 70% trọng lượng máy kéo và máy công tác truyền lên bánh lồng xuống nền đất) Do vậy bánh lồng gồm có các vành bánh, các thanh cắt bám chống lún, các thanh chống (nan hoa) nối với mâm bánh Mâm bánh bắt chặt vào bán trục của máy kéo bằng các bulông có đai ốc côn định vị (hình 5-7) Trong những năm gần đây, người ta cải tiến bánh lồng thẳng thành bánh lồng xoắn (thanh cắt bám đặt xiên một góc so với đường sinh của bánh lồng) đã cho hiệu qua rõ rệt: Lực cản riêng giảm, máy di chuyển ít va đập bởi mặt đ ường nên có lợi cho hệ thống truyền lực, tiêu thụ nhiên liệu giảm và khả năng cuốn đất vào trong bánh khi đi trên ruộng lầy thụt cũng giảm Đường kính D ngoài của bánh lồng thường tương đương với đường kính của bánh lốp (ngoài) hoặc lớn hơn chút ít vì bánh lồng có độ lún lớn hơn Cấu tạo của bánh lồng bên trái và bên phải khác nhau

về chiều của thanh bám, do đó cần lắp đúng chiều quay của bánh lồng Vì điểm này

ta hạn chế lùi khi sử dụng máy kéo bánh lồng

Do cấu tạo, mà quá trình làm tơi nhuyễn đất ở các bánh lồng không liên tục

mà còn một khoảng bụng giữa hai bánh lồng Khoảng đất này sẽ được làm đất trong lần đi xen kẽ sau

Khi máy kéo bánh lồng làm việc trên đồng, bánh lồng vừa cắt đất, vung lên gây xáo trộn, tơi nhuyễn Nước có tác dụng rửa không cho đất bám dính vào bánh

và làm xáo động để thành bùn, do đó khi lồng phải đủ nước Nếu là đất cày, nước phải ngập hoàn toàn thỏi đất Trong quá trình đó, cỏ, rác, gốc rạ sẽ bị thanh bám cắt hoặc dìm sâu dưới bùn, tăng độ phì cho đất

Để tăng độ tơi nhuyễn có thể tăng số lượt đi lại của bánh lồng, hoặc kết hợp lắp thêm trang hoặc trục lăn cạnh khế phía sau máy

Khi sử dụng máy kéo bánh lồng cần chú ý: Không đi trên đường cứng, khi qua bờ phải giảm tốc độ di chuyển Khi lên dốc cao phải đi lùi và đi thật chậm Khi làm việc trên ruộng nặng nên lắp cơ cấu chống lật phía sau Trên ruộng lầy thụt, nước lớn phải lắp thêm thuyền phao

4

1

2

3

Trang 10

Ngoài các máy làm đất như máy cày, máy bừa, máy phay, bánh lồng còn có một số máy làm đất khác như máy xới, máy đào hố trồng cây, máy ủi đất,

5.2 MÁY GIEO TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

5.2.1 Máy gieo hạt

5.2.1.1 Yêu cầu kỹ thuật, các hình thức gieo và phân loại máy gieo

Quá trình gieo hạt bằng máy phải đảm bảo các yêu cầu sau đây: Hạt gieo đều trên các hàng, hốc hoặc trên toàn bề mặt cả về mật độ, độ sâu gieo Bộ phận làm việc của máy không làm ảnh hưởng đến hạt, mầm non Máy gieo phải gieo được nhiều loại hạt, phải điều chỉnh được lượng gieo, độ sâu gieo trong một giới hạn rộng, tức là máy phải vạn năng Việc sử dụng và chăm sóc phải đơn giản, an toàn

Tùy theo loại hạt, điều kiện đất đai, mùa vụ mà có thể áp dụng một trong các hình thức gieo hạt sau: Gieo vãi toàn bề mặt, gieo hàng, gieo hốc, gieo ô vuông và gieo điểm

Hiện nay gieo hàng là hình thức gieo phổ biến nhất Gieo hàng hẹp khi khoảng cách giữa hàng <10cm Gieo hàng vừa khi khoảng cách giữa hàng từ 11- 20cm Gieo hàng rộng khi khoảng cách giữa hàng từ 40- 80cm Gieo hàng chữ thập là vừa gieo dọc vừa gieo ngang

Hiện nay, trên thế giới có nhiều kiểu, loại máy gieo khác nhau Theo hình thức gieo, có máy gieo vãi, máy gieo hàng, gieo hốc, gieo ô vuông Theo khả năng làm việc, có máy gieo chuyên dùng (chỉ gieo một loại hạt) và máy gieo vạn năng (gieo được một số loại hạt)

5.2.1.2 Cấu tạo chung và nguyên tắc làm việc của máy gieo hàng

Các bộ phận làm việc chủ yếu của một máy gieo hàng là: Thùng chứa và cung cấp hạt giống, bộ phận phân phối hạt, ống dẫn hạt, bộ phận rạch hàng, bộ phận san lấp và nén hạt Ngoài ra trên một máy gieo còn có khung, bộ phận treo hay móc, các bánh xe máy gieo, bộ phận rạch tiêu, v.v Ở máy gieo có khả năng gieo hốc và gieo ô vuông thì còn trang bị thêm các bộ phận để gieo hốc và gieo ô vuông trên cơ

sở máy gieo hàng Một số máy gieo hàng kiểu khí động hoặc chân không còn có hệ thống truyền động từ trục thu công suất của máy kéo, quạt gió hay bơm hút chân không

Nguyên tắc làm việc của máy gieo hàng như sau: Khi liên hợp máy di chuyển trên đồng, các lưỡi rạch sẽ rạch các hàng có độ sâu được điều chỉnh trước Nhờ bộ phận truyền động, bộ phận phân phối hạt làm việc Hạt được rơi vào ống dẫn hạt xuống đáy rãnh Bộ phận lấp hạt đi sau sẽ lấp và nén đất với độ chặt nhất định Khi liên hợp máy quay vòng hoặc di chuyển thì các nhánh gieo ở vị trí không làm việc Hình 5.8 giới thiệu sơ đồ cấu tạo một nhánh của máy gieo hàng và hình 5.9 giới thiệu công cụ gieo hàng cho lúa nước đang được sử dụng phổ biến ở nước

ta

Trang 11

Hình 5.8

Sơ đồ cấu tạo một nhánh gieo hàng

5.2.2.1 Yêu cầu kỹ thuật, phân loại máy cấy

Máy cấy cần đạt các yêu cầu kỹ thuật sau:

- Cấy đều số cây mạ, có thể điều chỉnh nhiều hay ít tùy theo cây mạ lớn hay bé

- Cấy đều khoảng cách và độ sâu Máy có thể điều chỉnh độ sâu cấy cho phù hợp đất đai, giống lúa, mùa vụ

- Cây lúa đứng thẳng, bám chắc vào bùn, không nổi lên

- Không làm thương tổn đến sự phát triển của cây mạ

- Máy di chuyển được trên ruộng bùn và không tạo vết bánh khi di chuyển

- Máy tự động cung cấp mạ và máy dễ sử dụng, an toàn

Tùy theo độ lớn của máy, chia ra máy cấy 2 hàng hoặc 3, 4, 6, 8 hàng hay nhiều hơn nữa Máy cấy có loại một người điều khiển, có loại hai người điều khiển, v.v Máy có thể vừa cấy lúa vừa cấy các loại cây khác tương đương trên ruộng nước

5.2.2.2 Cấu tạo chung và nguyên tắc làm việc của máy cấy lúa

Một máy cấy nói chung gồm có các bộ phận chính:

- Thùng đựng mạ đã cắt xén lá và rũ sạch đất

- Bộ phận cung cấp mạ

- Bộ phận cấy

- Hệ thống truyền động cho máy cấy

- Hệ thống di chuyển máy và thuyền trượt

- Bộ phận điều chỉnh nông sâu và nâng hạ máy

Trang 12

Thùng mạ dùng để đựng mạ, có thể là thùng liền hoặc chia nhiều ngăn nhỏ Bộ phận cung cấp mạ có nhiệm vụ cung cấp mạ cho bộ phận cấy Mạ được cung cấp theo hai hướng dọc và ngang Cung cấp dọc tức là dồn mạ từ trên xuống thành trước của thùng mạ Cung cấp ngang là dịch chuyển mạ theo chiều ngang so với phương tiến của máy Mỗi lần răng cấy lấy mạ xong, cấy xuống ruộng thì thùng mạ dịch chuyển ngang một bước bằng hoặc lớn hơn bề rộng răng chải hay độ mở của răng kẹp

Có hai nguyên tắc cấy: Kẹp cấy và chải cấy Bộ phận cấy loại kẹp có hai hàng răng Khi cặp răng thọc vào thùng đựng mạ (ở phần gốc cây mạ) ở tư thế mở, kẹp lấy môt số dảnh mạ, khép lại kéo ra đưa xuống ruộng Sau đó cặp răng mở ra để nhả mạ xuống ruộng và trở lên lấy mạ cho lần cấy tiếp theo Bộ phận chải cấy có cấu tạo đơn giản hơn Nó chỉ là một thanh hay guồng gồm nhiều thanh nhỏ, trên đó lắp các răng chải Răng chải ở đầu có ba móng nhọn Khi làm việc, răng thọc qua rèm, chải vào mạ, kéo một số cây mạ xuống ruộng Để khóm mạ cấy xuống đứng thẳng, không tỏa ra thì trên máy còn trang bị thêm hàng lông cản mạ kèm răng vuốt

mạ và máng hướng dẫn

Hình 5 10 Máy cấy mạ khay của Nhật Bản

5.2.3 Máy bón phân

5.2.3.1 Yêu cầu kỹ thuật và phân loại máy bón phân

Bón phân là một công việc quan trọng trong chăm sóc cây trồng Bón phân nhằm cải tạo đất và tăng năng suất cho cây trồng Có thể bắt đầu bón từ khi làm đất

và kết thúc bón khi cây trồng sắp thu hoạch

Phân bón có nhiều loại, nhiều dạng khác nhau, có tác dụng khác nhau Phân hóa học (vô cơ) và phân hữu cơ có thể bón vào trong đất trước, trong hoặc sau khi gieo trồng Bón trước khi gieo trồng hoặc cùng lúc đó gọi là bón lót, còn bón trong quá trình chăm sóc gọi là bón thúc

Mỗi loại phân có kết cấu định hình và đặc điểm cơ lý tính khác nhau, do đó yêu cầu về phương pháp bón, đối tượng bón, lượng bón cũng khác nhau

Yêu cầu kỹ thuật đối với máy bón phân:

Trang 13

- Máy phải đảm bảo bón đều, bón đúng lượng phân qui định

- Không làm ảnh hưởng do tác động cơ học đến cây trong quá trình bón phân

- Máy có khả năng tự bốc dỡ phân và điều chỉnh được lượng bón trong một giới hạn rộng

- Máy bón phân cần vạn năng và sử dụng dễ dàng, thuận tiện và an toàn

Máy bón phân có nhiều loại, có máy bón phân hóa học và máy bón phân hữu

cơ Trong các loại máy đó có máy bón phân toàn bề mặt và có máy bón phân theo hàng, theo hốc

Phần lớn các máy bón phân thường móc hoặc treo sau máy kéo Tuy nhiên quá trình cơ giới hóa khâu bón phân trên ruộng nước rất phức tạp, vì vậy chỉ giới thiệu các dạng máy bón phân dùng trên ruộng khô

5.2.3.2 Máy tung phân chuồng

Hình 5.11 Sơ đồ cấu tạo rơ móc tung phân chuồng

1 Phân, 2 Dây chuyền cung cấp, 3 Trục tung phân, 4 Bánh xe

Phân chuồng thường bón lót và được tung trên toàn bề mặt đồng Các nước có nền công nghiệp phát triển đã chế tạo nhiều loại máy tung phân chuồng như ôtô tung phân hoặc rơmóoc tung phân (hình 5.11) Đặc điểm của loại rơmóoc tung phân

là khi tháo bỏ bộ phận tung, nó trở thành loại rơmóoc vận chuyển bình thường Nguyên tắc hoạt động của rơmoóc tung phân chuồng như sau: Khi máy làm việc, qua trục thu công suất, dây chuyền cung cấp chuyển động, phân trên thùng sẽ dịch chuyển từ trước ra sau, trục tung phân có những cánh tung đặt chéo nhau sẽ tung phân ra mặt đồng

5.2.3.3 Máy bón phân hóa học

Máy bón phân hóa học có thể dùng bón lót hoặc bón thúc, có loại bón theo hàng hay bón toàn bề mặt Cấu tạo từng loại máy có khác nhau, tùy theo chức năng của máy, v.v

Cấu tạo chung của một máy bón phân hóa học toàn bề mặt, gồm có các bộ

Trang 14

- Bộ phận điều chỉnh lượng phân bón

Bộ phận bón phân của máy bón phân hóa học toàn bề mặt thường có hai loại: Loại trục tung phân và loại đĩa tung

Hình 5.12 Bộ phận bón phân hóa học

a Kiểu trục tung phân: 1 Khung, 2 Bộ phận truyền động, 3 Đĩa cung cấp,

4 Tấm chắn, 5 Trục tung phân

b Kiểu đĩa tung: 1 Thùng chứa phân, 2 Cánh khuấy trộn, 3 Đĩa tung phân

Loại trục tung phân (hình 5.12a) thì việc cung cấp phân cho trục tung là một đĩa quay, được dẫn động từ bánh xe máy bón phân Trục tung là một trục dài, trên

đó gắn các cánh xiên để tung phân Thường mỗi đĩa cung cấp có hai cánh tung quay với tốc độ lớn Tấm chắn phía sau có tác dụng làm tơi, đều phân khi rơi xuống mặt đồng Lượng phân bón được điều chỉnh bằng cách thay đổi tốc độ quay đĩa cung cấp

Loại đĩa tung (hình 5-12b) thì trục đĩa được dẫn động từ trục thu công suất của máy kéo và quay với tốc độ lớn để tung phân ra đồng Lượng phân bón được thay đổi bằng cách điều chỉnh độ mở cửa ra phân và tốc độ di chuyển của liên hợp máy trên đồng

Trong thực tế sử dụng, nếu là bón lót thường kết hợp máy gieo - bón, nếu là bón thúc thường kết hợp máy xới - bón, v.v

5.2.4 Máy bơm nước

Trong sản xuất nông nghiệp, ai cũng biết vai trò của nước đối với cây trồng Nước để hòa tan các chất dinh dưỡng trong đất cho cây hấp thụ, nước để cải thiện điều kiện tiểu khí hậu trong đất cho bộ rễ phát triển tốt, v.v

Ở nước ta, sản xuất nông nghiệp với diện tích lớn và khí hậu khắc nghiệt (hạn hán và lũ lụt thường xuyên) nên yêu cầu về tưới, tiêu nước là rất quan trọng Máy bơm nước là một thiết bị không thể thiếu trong toàn bộ hệ thống thủy lợi

5.2.4 1 Nhiệm vụ, phân loại máy bơm nước

Trong nông nghiệp, máy bơm dùng để đưa nước từ sông, hồ, mương máng, giếng đào lên ruộng, tưới vườn cây, hay để bơm xả úng từ ruộng ra bên ngoài

3

5 4

Trang 15

Máy bơm có nhiều loại Dựa theo nguyên lý làm việc, ta có: Máy bơm cánh quạt (như bơm ly tâm, bơm hướng trục), máy bơm pittông, máy bơm rôto (như bơm lệch tâm, bơm cánh trượt, bơm bánh răng), máy bơm tia, máy bơm nước va.

Ngoài ra có thể phân loại máy bơm theo năng suất bơm, theo chiều cao đưa nước hoặc theo áp lực của bơm

5.2.4.2 Cấu tạo và nguyên tắc làm việc của máy bơm nước ly tâm

Máy bơm nước ly tâm có các phần chính sau:

- Ống hút bằng cao su hoặc ống kim loại, phần đầu hút được đặt ngập sâu trong nước gồm có lưới chắn rác và van một chiều để giữ nước trong ống hút khi bơm ngưng làm việc Từ đầu hút đến buồng bơm phải kín, không được lọt khí vào

- Buồng bơm (còn gọi là buồng công tác) được hình thành bởi vỏ bơm hình xoáy ốc, thường chế tạo bằng kim loại P hía trong vỏ bơm có bánh công tác Bánh công tác có nhiều cánh được gắn vào một đầu trục và được truyền động từ động cơ qua khớp nối trục hoặc dây đai

- Ống xả nước (còn gọi là ống đẩy) được đặt tiếp tuyến với vỏ bơm Ống xả nước thường làm bằng ống cứng (kim loại) hoặc ống mềm (cao su cốt thép)

Hình 5.13 Máy bơm nước ly tâm

Nguyên tắc hoạt động của bơm ly tâm: Khi trong buồng bơm đã mồi đầy nước, cho bánh công tác quay, các phần tử nước phải quay theo và xuất hiện lực li tâm, trượt theo cánh bơm của bánh công tác, theo phương tiếp tuyến và được đẩy lên ống

xả Khi đó ở trung tâm buồng bơm xuất hiện độ chân không Vì vậy nước từ bên ngoài qua ống hút vào đây chiếm chỗ Qúa trình liên tiếp xẩy ra như vậy tạo thành dòng chảy liên tục từ ống hút qua buồng bơm đến ống xả

5.2.4.3 Cấu tạo và nguyên tắc làm việc máy bơm hướng trục

Máy bơm hướng trục còn gọi là máy bơm cánh quạt Do có cấu tạo đặc biệt, cánh quạt cong ở ba chiều trong không gian, nên khi cánh quạt quay, chất lỏng nhận được năng lượng và chuyển động theo phương dọc trục máy bơm

Ngày đăng: 24/07/2014, 23:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5.2  Cày chảo - Bài giảng - Cơ điện nông nghiệp-chương 5 pps
Hình 5.2 Cày chảo (Trang 3)
Hình 5.3  Bừa răng - Bài giảng - Cơ điện nông nghiệp-chương 5 pps
Hình 5.3 Bừa răng (Trang 5)
Hình 5.4  Bừa đĩa - Bài giảng - Cơ điện nông nghiệp-chương 5 pps
Hình 5.4 Bừa đĩa (Trang 5)
Hình 5.5   Máy phay đất B-2,2 (hãng KUBOTA- Nhật Bản) - Bài giảng - Cơ điện nông nghiệp-chương 5 pps
Hình 5.5 Máy phay đất B-2,2 (hãng KUBOTA- Nhật Bản) (Trang 6)
Hình 5.6  Bố trí các loại lưỡi phay trên trống - Bài giảng - Cơ điện nông nghiệp-chương 5 pps
Hình 5.6 Bố trí các loại lưỡi phay trên trống (Trang 8)
Hình 5.7  Bánh lồng. - Bài giảng - Cơ điện nông nghiệp-chương 5 pps
Hình 5.7 Bánh lồng (Trang 9)
Sơ đồ cấu tạo một nhánh gieo hàng - Bài giảng - Cơ điện nông nghiệp-chương 5 pps
Sơ đồ c ấu tạo một nhánh gieo hàng (Trang 11)
Hình 5. 10  Máy cấy mạ khay của Nhật Bản - Bài giảng - Cơ điện nông nghiệp-chương 5 pps
Hình 5. 10 Máy cấy mạ khay của Nhật Bản (Trang 12)
Hình 5.11  Sơ đồ cấu tạo rơ móc tung phân chuồng - Bài giảng - Cơ điện nông nghiệp-chương 5 pps
Hình 5.11 Sơ đồ cấu tạo rơ móc tung phân chuồng (Trang 13)
Hình 5.12   Bộ phận bón phân hóa học - Bài giảng - Cơ điện nông nghiệp-chương 5 pps
Hình 5.12 Bộ phận bón phân hóa học (Trang 14)
Hình 5.13   Máy bơm nước ly tâm - Bài giảng - Cơ điện nông nghiệp-chương 5 pps
Hình 5.13 Máy bơm nước ly tâm (Trang 15)
Hình 5.15 Bình phun thuốc - Bài giảng - Cơ điện nông nghiệp-chương 5 pps
Hình 5.15 Bình phun thuốc (Trang 18)
Hình 5.17  Máy gặt lúa rải hàng - Bài giảng - Cơ điện nông nghiệp-chương 5 pps
Hình 5.17 Máy gặt lúa rải hàng (Trang 20)
Hình 5.19  Máy đập lúa dọc trục - Bài giảng - Cơ điện nông nghiệp-chương 5 pps
Hình 5.19 Máy đập lúa dọc trục (Trang 22)
Hình 5.20  Máy gặt đập liên hợp của Hàn Quốc - Bài giảng - Cơ điện nông nghiệp-chương 5 pps
Hình 5.20 Máy gặt đập liên hợp của Hàn Quốc (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm