Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại công ty Xi măng Bỉm Sơn chuyên đề: hạch toán nguyên vật liệu và một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng NVL tại công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn ’’. Gồm 3 chương chính: Chương I: Tổng quan về công ty CP Xi Măng Bỉm Sơn Chương II : Thực trạng kế toán nguyên vật liệu tại công ty CP Xi Măng Bỉm Sơn. Chương III : Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu tại công ty CP Xi Măng Bỉm Sơn.
Trang 2đó công tác quản lý và hoạch toán nguyên vật liệu được coi là nhiệm vụ quan trọngcủa mỗi doanh nghiệp.
Chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá thành sản xuất, vìthế nó mang tính trọng yếu Mỗi sự biến động về chi phí nguyên vật liệu làm ảnhhưởng đến sự biến động của giá thành sản phẩm Vì thế sử dụng tiết kiệm nguyênvật liệu là rất quan trọng Đối với sản phẩm xi măng thì chi phí nguyên vật liệuchiếm tỷ trọng tương đối lớn trong giá thành, do đó việc sử dụng hợp lý, tiết kiệmnguyên vật liệu trên cơ sở các định mức kỹ thuật và dự toán chi phí có ý nghĩa vôcùng quan trọng trong mục tiêu hạ giá thành sản phẩm, tăng tích luỹ cho công ty
Từ nhận thức đó mà công tác tổ chức kế toán nguyên vật liệu ở Công ty Cổ phần ximăng Bỉm Sơn luôn được coi trọng đúng mức
Trong thời gian thực tập ở công ty Cổ phần xi măng Bỉm Sơn được sựhướng dẫn tận tình của cô giáo Dương Thị Vân Anh, sự giúp đỡ của lãnh đạo công
ty và các cán bộ trong phòng kế toán, tôi đã đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu công tác
kế toán tất cả các bộ phận của công ty, đặc biệt là công tác kế toán nguyên vật liệu
và chọn làm đề tài là: ‘‘ hạch toán nguyên vật liệu và một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng NVL tại công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn ’’ làm chuyên đề
thực tập tốt nghiệp
Trang 3Chuyên đề thực tập của tôi được xây dựng với kết cấu gồm 3 chương :
Chương I: Tổng quan về công ty CP Xi Măng Bỉm Sơn
Chương II : Thực trạng kế toán nguyên vật liệu tại công ty CP Xi Măng BỉmSơn
Chương III : Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu tại công ty CP Xi MăngBỉm Sơn
Do thời gian thực tập có hạn ,bản thân chưa có nhiều kiến thức thực tế ,kinhnghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sótnhất định Bởi vậy tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp chỉ bảo của các thầy côgiáo và các anh các chị phòng kế toán của công ty để bài viết của em được hoànthiện hơn
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của ThS.DươngThị Vân Anh cũng như sự nhiệt tình của ban giám đốc và các anh chị tại công tytrong thời gian thực tập vừa qua đã giúp tôi hoàn thành được chuyên đề này
Sinh viên
Nguyễn Thị Trang
Trang 4Tên công ty: Công ty cổ Phần xi măng Bỉm Sơn
Địa chỉ: P.Ba Đình – TX.Bỉm Sơn – T Thanh Hóa
I Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
* Quá trình hình thành của công ty:
Đất nước ta từng trải qua những năm dài chiến tranh khốc liệt và hậu quả màchiến tranh đã để lại là sự đổ nát, hoang tàn, cơ sở vật chất bị tàn phá nặng nề Để
có thể khôi phục lại được đất nước thì việc đầu tiên là phải khôi phục lại các cơ sở
hạ tầng và nhu cầu không thể thiếu trong cuộc kiến thiết này chính là xi măng
Qua một quá trình thăm dò địa chất kéo dài từ năm 1968 đến năm 1976Công ty xi măng Bỉm Sơn bắt đầu được thi công Công ty Cổ phần xi măng BỉmSơn nằm tại Thị xã Bỉm Sơn – là một thị xã nằm ở phía bắc của tỉnh Thanh Hóacách thành phố Thanh Hoá 35 km về phía nam, cách Thủ đô Hà nội 120 km vềphía bắc Tổng diện tích mặt bằng của nhà máy chiếm khoảng 50 ha, nằm ngaytrong một thung lũng đá vôi và đất sét với trữ lượng lớn Đây là hai nguyên liệuchính để sản xuất xi măng Với một tiềm năng về tài nguyên như vậy thì việc xâydựng một Nhà máy là một điều kiện thuận lợi cho sản xuất xi măng
Nhà máy xi măng Bỉm Sơn được khởi công xây dựng từ năm 1976 đến năm
1980 do Liên xô (cũ) thiết kế và trang bị máy móc thiết bị đồng bộ Chính Phủ đã
ra quyết định số 334/BXD-TCCB ngày 04/3/1980 thành lập Nhà máy xi măng Bỉm
Sơn Ngày 22/12/1981 hoàn thành dây chuyền số 1, năm 1982 hoàn thành dâychuyền số 2, với công suất thiết kế là 1,2 triệu tấn/năm Hiện nay, Công ty đangđầu tư mở rộng nhà máy, xây dựng dây chuyền số 3 với công suất 2 triệu tấn/năm.Sau khi kết thúc xây dựng dây chuyền mới sẽ đưa công suất nhà máy lên 3,2 triệutấn/năm
Tháng 08/1993 Nhà Nước có quyết định sát nhập hai đơn vị là nhà máy ximăng Bỉm Sơn và công ty Cung ứng vật tư số 4 thành Công ty xi măng Bỉm Sơn
Trang 5trực thuộc Tổng công ty xi măng Việt Nam Ngày 13/1/2006 công ty tiến hành cảitạo dây chuyền số 2 theo phương pháp khô Sau khi cải tạo dây chuyền 2, đã đưacông suất của nhà máy lên 1,8 triệu tấn/năm Công ty hiện có 2.520 người, trong
đó có 245 người làm công tác quản lý
Thưc hiện quyết định số 486 BXD ngày 23 tháng 3 năm 2006 của Bộ XâyDựng về việc điều chỉnh phương án cổ phần hóa và chuyển đổi Công ty xi măngBỉm Sơn thuộc Tổng Công ty xi măng Việt Nam thành Công ty cổ phần xi măngBỉm Sơn
Ngày 12/4/2006 công ty đã tiến hành đại hội cổ đông thành lập ra hội đồngquản trị và ban kiểm soát Được sở kế hoạch đầu tư tỉnh Thanh Hoá cấp giấychứng nhận đăng ký KD số 2603000429 ngày 01/5/2006 Với vốn điều lệ là 900 tỷđồng trong đó nhà nước nắm quyền chi phối 89,58% vốn điều lệ (tương đương806,223 tỷ đồng) Từ nay tên gọi của công ty là: Công ty cổ phần xi măng BỉmSơn
Trụ sở chính: phường Ba Đình – TX Bỉm Sơn – Thanh Hóa
Website: http://www.ximangbimson.com.vn
Trải qua một quá trình hình thành và phát triển hơn 28 năm, Công ty cổ phần
xi măng Bỉm Sơn hiện nay đã thực sự trưởng thành Sản phẩm của công ty đã đượcnhà nước cấp giấy chứng nhận là hàng Việt Nam chất lượng cao và đạt nhiều huychương vàng trong các cuộc triển lãm về vật liệu xây dựng trong nước cũng nhưquốc tế, được công nhận là đơn vị anh hùng trong thời kỳ đổi mới, góp phần vào sựphát triển của Tổng công ty xi măng Việt Nam nói riêng và ngành xi măng nóichung
Xi măng Bỉm Sơn với nhãn hiệu “Con Voi” đã và đang mang lại niềm tin
Trang 6* Chức năng nhiệm vụ và ngành nghề kinh doanh:
Công ty CP xi măng Bỉm Sơn với chức năng chính là sản xuất xi măngPC30, PCB30, PC40, PCB40 chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn của nhà nướcvới thông số kỹ thuật hàm lượng thạch cao SO3 nằm trong xi măng đạt 1,3% đến3% Sản phẩm của công ty đã góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng vàkiến thiết đất nước Công ty không những cung cấp xi măng cho nhiều công trìnhquan trọng, trọng điểm mang tính chất quốc gia như: Thủy điện Hòa Bình, Bảotàng Hồ Chí Minh, cầu Thăng Long, đường dây 500kw Bắc – Nam …mà còn đápứng nhu cầu xây dựng dân dụng phổ biến của nhân dân Đặc biệt công ty có đủ khảnăng phục vụ nhu cầu xuất khẩu xi măng và Clinker cho các nước trong khu vực(chủ yếu hiện nay là xuất khẩu sang Lào) Ngoài ra, công ty còn một nhiệm vụcung cấp xi măng cho địa bàn theo sự điều hành của Tổng công ty xi măng ViệtNam nhằm bình ổn thị trường xi măng trong nước
Sản phẩm chính hiện nay Công ty đang sản xuất là xi măng Pooclăng hỗnhợp PCB30 và PCB40 theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 6260 năm 1997, xi măng
PC 40 theo TCVN 2682 năm 1999 và Clinker thương phẩm theo TCVN 7024 năm
2002 Các sản phẩm này công ty đã công bố sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn và chấtlượng hàng hóa tại Chi cục đo lường chất lượng Thanh Hóa và được Chi cục tiếpnhận Đặc biệt đối với hai sản phẩm xi măng chủ đạo là PCB 30 và PCB 40 đãđược Trung tâm chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn QUACERT thuộc tổng cục đolường chất lượng cấp chứng nhận sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn
Với một chính sách nhất quán, Công ty CP xi măng Bỉm Sơn đã và đang có
uy tín với người tiêu dùng, do đó sản phẩm của công ty đã tạo được vị thế vữngchắc trên thị trường
II Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn
1 Chức năng ,nhiệm vụ của từng bộ phận trong hệ thống sản xuất:
Trang 7Bộ máy quản lý của công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn gồm: Đại hội đồng
cổ đông, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, ban giám đốc và 18 phòng ban, 11 phânxưởng được chia thành 4 khối: Khối phòng ban, khối sản xuất chính, khối sản xuấtphụ trợ và khối tiêu thụ (gồm: Trung tâm giao dịch tiêu thụ và 8 văn phòng đạidiện được đặt ở 7 tỉnh thành trong cả nước và nước bạn Lào)
Đại hội đồng cổ đông:
Đại hội đồng cổ đông bao gồm tất cả những cổ đông có quyền biểu quyết, là
cơ quan quyết định cao nhất của công ty Đại hội đồng cổ đông quyết định tất cảnhững vấn đề thuộc về công ty theo pháp luật qui định như: Cơ cấu tổ chức sảnxuất, qui mô sản xuất kinh doanh, kế hoạch, nhiệm vụ, cổ tức, phương hướng đầu
tư phát triển
Hội đồng quản trị:
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý của công ty gồm 5 thành viền do đạihội cổ đông bầu, là cơ quan quản lý cao nhất của công ty Hội đồng quản trị đạidiện cho các cổ đông, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đềliên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm quyềncủa đại hội cổ đông
Ban kiểm soát:
Ban kiểm soát là cơ quan trực thuộc đại hội cổ đông, do đại hội cổ đông bầu
ra, hoạt động độc lập với hội đồng quản trị và ban giám đốc Ban kiểm soát cónhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong điều hành hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty
Ban giám đốc:
Ban giám đốc bao gồm Giám đốc và 5 phó giám đốc Giám đốc là người đạidiện theo pháp luật của công ty, chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về việc
Trang 8- Phó giám đốc phụ trách sản xuất kiêm bí thư đảng uỷ có trách nhiệm chỉđạo điều hành và tổ chức sản xuất các đơn vị trong công ty, đảm bảo cho quá trìnhsản xuất được liên tục, an toàn, đảm bảo chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầunhiệm vụ kế hoạch sản xuất hàng tháng, quý, năm.
- Phó giám đốc nội chính phụ trách chung về bộ phận bảo vệ an ninh và bộphận y tế, đời sống quản trị chăm lo đời sống sức khỏe cho công nhân
- Phó giám đốc phụ trách cơ điện quản lý kỹ thuật về điện và cơ khí trong
sản xuất của công ty
- Phó giám đốc phụ trách tiêu thụ giúp giám đốc điều hành kinh doanh tiêuthụ sản phẩm của công ty
- Phó giám đốc phụ trách công tác đầu tư quản lý dự án xây dựng nhà máymới của công ty
Khối sản xuất chính (6 phân xưởng):
Khối sản xuất chính gồm có: Xưởng Mỏ, xưởng Ô tô, xưởng Tạo nguyên liệu,
xưởng Lò nung, xưởng Nghiền xi măng, xưởng Đóng bao Các xưởng này cónhiệm vụ khai thác đá vôi, đá sét và vận chuyển từ nơi khai thác về nhà máy Quacác công đoạn sản xuất của từng xưởng, cuối cùng cho bán thành phẩm klinhker,klinker được trộn với một số phụ gia khác và nghiền ra xi măng bột sau đó đóngthành bao xi măng
Khối sản xuất phụ trợ (gồm 5 phân xưởng):
Bao gồm xưởng Sửa chữa thiết bị, Xưởng Công trình, Xưởng Điện tự động,Xưởng Cấp thoát nước - Nén khí, Xưởng Cơ khí Các xưởng này có nhiệm vụ cungcấp lao vụ phục vụ cho sản xuất chính
Nhiệm vụ của một số phòng ban chủ yếu:
Trang 9- Phòng Kỹ thuật sản xuất: Có nhiệm vụ theo dõi điều độ sản xuất, phụ trách cácphân xưởng sản xuất chính và sản xuất phụ, chịu trách nhiệm về chất lượng sảnphẩm theo TC ISO 9002
- Phòng Cơ khí: Theo dõi tình hình hoạt động của máy móc thiết bị, sửa chữa, chếtạo thiết bị, phụ tùng thay thế
- Phòng Năng lượng: Theo dõi tình hình cung cấp năng lượng cho sản xuất
- Phòng quản lý xe máy: Theo dõi toàn bộ các loại phương tiện vận tải, thiết bịđộng lực
- Phòng Kế toán-Thống kê-Tài chính: Có nhiệm vụ giám sát bằng đồng tiền đối vớitài sản và các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
- Phòng Vật tư thiết bị: Cung ứng vật tư, phụ tùng thay thế, máy móc thiết bị chosản xuất
- Phòng Kế hoạch: Có nhiệm vụ lập và tổ chức thực hiện kế hoạch SXKD, tiêu thụcủa công ty
- Phòng Tổ chức lao động: Theo dõi, quản lý lao động và tiền lương, các chế độchính sách
Khối tiêu thụ có 8 Văn phòng đại diện và Trung tâm giao dịch tiêu thụ:
- Trung tâm tiêu thụ có nhiệm vụ ký hợp đồng huy động phương tiện vận tải vớicác cá nhân, tập thể bên ngoài để vận chuyển xi măng đến các địa bàn tiêu thụ, viếthoá đơn kiêm phiếu xuất kho để lưu chuyển xi măng đi các Văn phòng đại diện vàviết hoá đơn bán xi măng cho các đối tượng mua xi măng tại đầu nguồn
- Các Văn phòng đại diện có nhiệm vụ bán xi măng trên địa bàn của mình phụtrách, chịu trách nhiệm theo dõi số hàng nhập về và bán ra cũng như các chi phí
Trang 10Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty cổ phần xi măng Bỉm sơn : (Trang bên )
Trang 11Giám đốc
Phó Giám đốc Cơ điện
Phó Giám đốc Tiêu thụ
Trang 12III Đặc điểm tổ chức ,quy trình công nghệ sản xuất của công ty cổ phần
xi măng Bỉm Sơn
1 QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ CÓ THỂ BIỂU DIỄN THEO SƠ ĐỒ SAU
Qua quy trình công nghệ sản xuất xi măng của công ty ta có thể thấyđây không phải là quy trình công nghệ phức tạp, song đối với công ty xi măng
do công xuất thiết kế lớn, quy trình công nghệ mang tính liên tục
2.Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận trong hệ thóng sản xuất
Sản phẩm chính của công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn là xi măngPCB30, PCB 40 Sản phẩm được sản xuất trên dây chuyền công nghệ số 1đồng bộ do Liên Xô (cũ) cung cấp Đây là dây chuyền sản xuất xi măng theophương pháp ướt lò quay và dây chuyền số 2 mới cải tạo theo phương phápkhô lò quay với quy trình công nghệ kiểu liên tục Có thể tóm tắt các côngđoạn của quy trình công nghệ như sau:
- Khai thác nguyên liệu: Nguyên liệu sản xuất ra xi măng là đá vôi vàđất sét được khai thác bằng phương pháp khoan nổ mìn, sau đó vận chuyển vềnhà máy bằng ôtô
- Nghiền nguyên liệu: Hỗn hợp hai nguyên liệu (đá vôi và đất sét) đượccho vào máy nghiền Theo phương pháp ướt lò quay phối liệu ra khỏi máy
Khai thác nguyên
liệu
Nghiền nguyên liệu
Nung Clinker
Trang 13nghiền có độ ẩm từ 35%-36% được điều chỉnh thành phần hoá học trong tám
bể chứa có dung tích 800 m3/bể, sau đó được chuyển vào hai bể dự trữ códung tích 8000 m3/bể Còn theo phương pháp khô lò quay, hỗn hợp hainguyên liệu được sấy, lắng bụi
- Nung clinker và nghiền xi măng: Phối liệu dưới dạng bùn hoặc bộtđược đưa vào lò quay thành clinker (ở dạng hạt) Trong quá trình này người tacho thêm thạch cao và một số chất phụ gia khác để tạo ra thành xi măng bột.Tuỳ theo từng chủng loại xi măng mà người ta sử dụng các chất phụ gia và tỷ
lệ pha khác nhau
- Đóng bao: Xi măng bột ra khỏi máy nghiền, dùng hệ thống nén khí đểchuyển vào 8 xilô chứa sau đó được chuyển sang xưởng đóng bao Lúc đó thuđược thành phẩm là xi măng bao, hoàn thành quy trình công nghệ sản xuất ximăng
IV Tổ chức công tác kế toán của công ty
1.Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
Do đặc diểm Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn là doanh nghiệp sảnxuất có quy mô lớn, tổ chức sản xuất kinh doanh thành nhiều bộ phận, đơn vịtrực thuộc nên công ty đã chọn hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung –phân tán Với mô hình này, công tác kế toán của công ty sẽ gọn nhẹ hơn,thông tin kế toán được đảm bảo chính xác và cung cấp kịp thời cho các banlãnh đạo quản lý hoạt động kinh doanh của công ty cũng như chủ đầu tư vàcông ty kiểm toán
Phòng Kế toán – thống kê – tài chính của công ty cổ phần xi măng BỉmSơn: gồm 37 người trong đó gồm một kế toán trưởng, hai phó phòng, năm tổchuyên môn và các bộ phận kế toán ở các chi nhánh và trung tâm tiêu thụ
Trang 14Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán của công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn
2.
Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận :
- Kế toán trưởng phụ trách chung về mọi hoạt động tài chính củacông ty, có nhiệm vụ tổ chức bộ máy kế toán đảm bảo hoạt động có hiệu quả
- Phó phòng giúp việc cho kế toán trưởng, trong đó:
+ Phó phòng tổng hợp: phụ trách việc lập báo cáo tổng hợp, báo cáotài chính
+ Phó phòng phụ trách tiêu thụ: phụ trách về công tác tiêu thụ sảnphẩm
- Năm tổ kế toán được phân chia nhiệm vụ như sau:
Tổ
tài
chính
Tổkếtoánvậttư
Tổkếtoánnhàăn
Tổkếtoántiêuthụsảnphẩm
TổTổngHợpVàTínhgiáthành
Trang 15 Tổ kế toán tổng hợp: gồm 8 người phụ trách việc lập báo cáo tàichính, tính giá thành sản phẩm, theo dõi tài sản cố định, theo dõi việc thanhtoán với người bán.
Tổ kế toán vật tư: gồm 7 người có nhiệm vụ theo dõi việc nhập –xuất – tồn kho nguyên vật liệu của công ty và được hạch toán nội bộ
Tổ tài chính: gồm 11 người (trong đó có 2 thủ quỹ và 1 người quản
lý toàn bộ máy vi tính của phòng), có nhiệm vụ theo dõi việc thanh toán vớicán bộ công nhân viên, thanh toán tạm ứng, các khoản phải thu, phải trả vàtheo dõi việc thanh toán đối với ngân sách nhà nước
Tổ kế toán tiêu thụ: gồm 3 người có nhiệm vụ theo doic và hạchtoán đối với khâu tiêu thụ sản phẩm và các chi nhánh, đại lý của công ty
Tổ kế toán nhà ăn: gồm 5 người có nhiệm vụ làm công tác thống kêtại các bếp ăn của công ty
Ngoài ra còn các bộ phận kế toán nằm ở các cho nhánh và trung tâmgiao dịch tiêu thụ làm nhiệm vụ kế toán bán hàng và thực hiện các khoảnđược giám đốc và kế toán trưởng phân cấp
3.Hình thức sổ kế toán áp dụng tại công ty :
Trang 16Công ty áp dụng hình thức sổ kế toán nhật ký chung
Chú thích:
Ghi hàng ngàyGhi cuối thángKiểm tra, đối chiếu
Hình thức NKC thuận tiện cho việc áp dụng kế toán trên máy vi tính.Phần mềm kế toán mà Công ty đang sử dụng la phần mềm kế toán FastAccounting do công ty phần mềm tài chính kế toán FAST cung cấp phầnmềm kế toán này với những đặc tính nổi bật được xây dựng theo đúng chế độ
kế toán do nhà nước ban hành như:
Cung cấp đầy đủ hệ thống báo cáo tài chính theo quy định của Nhànước, cung cấp một loạt các báo cáo theo yêu cầu của khách hàng như: Báocáo thống kê, Báo cáo nhanh, …báo cáo quản trị và phân tích, đáp ứng đượccác giải pháp toàn diện trong công tác kế toán quản trị tài chính của doanhnghiệp
Fast Accounting được thiết kế để dễ dàng sửa đổi và mở rộng khi có
sự thay đổi quy mô, cách thức quản lý, mô hình kinh doanh, cách hạch toán
Báo cáo tàichính
Bảng tổnghợp chi tiết
Sổ, thẻ kếtoán chi tiết
CHỨNG TỪGỐC
Sổ quỹ
NKC (nhật ký chuyên dùng)
Bảng cân đốitài khoản
Sổ cái
Trang 17hay khi khách hàng có yêu cầu mới Phần mềm còn tự động xử lý các chứng
từ trùng trong quá trình nhập số liệu, tự động phân bổ, kết chuyển…giúp choviệc tổng hợp dữ liệu thuận lợi hơn
Trình tự kế toán trên máy vi tính được tiến hành theo các bước sau :
Phân hệ kế toán hàng tồn kho quản lý phiếu nhập, phiếu xuất, thực hiệntính vào cập nhật giá hàng tồn kho Phân hệ này cho phép lên các báo cáo vềhàng nhập, hàng xuất (tổng hợp và chi tiết) theo mặt hàng, vụ việc,…lên báocáo tồn kho (tổng hợp và chi tiết theo kho)
Chuẩn bị thu thập, xử lý các tài liệu, chứng từ cần
thiết, định khoản kế toán
Nhập dữ liệu vào máy, nhập mọi thông tin về cácnghiệp vụ kinh tế phát sinh theo yêu cầu
Khai báo yêu cầu với máy
Máy tự xử lý thông tin
In sổ sách, báo cáo theo yêu cầu
Trang 18CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI
CÔNG TY CP XI MĂNG BỈM SƠN
I Khái quát chung về nguyên vật liệu tại công ty CP Xi Măng Bỉm Sơn
1 Khái niệm NVL trong doanh nghiệp
Trong quá trình tham gia vào sản xuất kinh doanh, NVL chỉ tham giavào một chu kỳ sản xuất nhất định, NVL bị tiêu hao toàn bộ và không giữnguyên hình thái vật chất ban đầu mà giá trị của NVL được chuyển toàn bộmột lần vào chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm mới làm ra
1.2 Đặc điểm, Vai trò của NVL trong doanh ngiệp
NVL trong doanh nghiệp chỉ tham gia vào một chu kì sản xuất chế tạo vàcung cấp dịch vụ Và khi tham gia vào quá trình sản xuất NVL thay đổi hoàntoàn hình thái vật chất ban đầu và giá trị được chuyển toàn bộ, một lần vàochi phí sản xuất kinh doanh
Chính vì vậy NVL có vai trò là cơ sỏ hình thành nên sản phẩm, là một trong
ba yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh Việc cung cấpNVL có kịp thời hay không, số lượng chủng loại có phù hợp hay không, điềunày ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh Mặt khác chi phíNVL thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng chi phí sản xuất Vì vậy trongquá trình sản xuất kinh doanh cần phải theo dõi quản lý chặt chẽ NVL về cảmạt hiện vật và giá trị ở tất cả các khâu mua sắm dự trữ, bảo quản và sử dụng
Ở khâu mua hàng phải quản lí việc thực hiện kế hoạc mua hàng về số lượng,khối lượng, chất lượng, quy cách, phẩm chất, chủng loại, giá mua, chi
Trang 19phí mua cũng như đảm bảo đúng tiến độ thười gian đáp ứng kịp thời nhu cầucủa sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Ở khâu bảo quản phải tổ chứctốt kho tăng bến bãi, trang bị đầy đủ các phương tiện đo lường cần thiết, tổchức và kiểm tra việc thực hiện chế độ bảo quản với từng loại NVL tránh hưhỏng, mất mát đảm bảo an toàn tài sản Ở khâu sử dụng đòi hỏi phải sử dụnghợp lý, tiết kiệm chấp hành tốt các định mức dự toán nhằm tiết kiệm chi phíNVL góp phần quan trọng vào việc hạ giá thành sản phẩm, tăng doanh thu vàtích lũy cho đơn vị.
2 Tính giá NVL
Khi xuất kho NVL để sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kế toán phải tính toán, xác định chính xác trị giá thực tế của NVL xuất kho cho các nhu cầu, đối tượng khác nhau nhằm xác định chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc tính giá thực tế xuất kho cóthể áp dụng theo một số phương pháp sau:
* Phương pháp tính giá thực tế đích danh
Theo phương pháp này giá thực tế NVL xuất kho được tính trên cơ sở sốlượng NVL xuất kho và đơn giá thực tế nhập kho của chính lô hàng NVL đó.Phương pháp này sẽ nhận diện được từng loại NVL xuất và tồn kho từngdanh đơn mua vào riêng biệt Do đó giái trị của NVL xuất và tồn kho đượcxác định chính xác và tuyệt đối, phản ánh đúng thực tế phát sinh Nhưng nhưvậy thì việc quản lý tồn kho sẽ rất phức tạp đặc biệt khi doanh nghiệp dự trữnhiểu loại NVL với giá trị nhỏ Khi đó chi phí cho quản lý tồn kho sẽ tốn kém
và đôi khi không thể thực hiện được Chính vì vậy chỉ nên áp dụng phươngpháp tính giá này đối với những loại vật liệu đặc trưng có giá trị cao
- Phương Pháp đơn giá bình quân gia quyềnTheo phương pháp này, giá thực tế NVL xuất kho trong kỳ được tính
Trang 20Giá thực tế từng loại
NVL xuất kho =
Số lượng từng loại NVL xuất kho
X Giá đơn vị
bình quân
Trong đó, giá đơn vị bình quân có thể tính theo một trong ba cách sau:
- Đơn giá bình quân cuối kỳ trước (hoặc đầu ký này)n giá bình quân cu i k trối kỳ trước (hoặc đầu ký này) ỳ trước (hoặc đầu ký này) ước (hoặc đầu ký này)c (ho c ặc đầu ký này) đầu ký này)u ký n y)ày)
Đơn giá bình quân cuối kỳ
trước (hoặc đầu kỳ này )
= Trị giá NVL tồn cuối kỳ trước(hoặc đầu kỳ này)
Số lượng NVL tồn cuối kỳ trước(hoặc đầu kỳ này)
Phương pháp này có ưu điểm là giảm nhẹ được việc hạch toán chi tiết NVL
và không phụ thuộc vào số lần nhập- xuất của từng danh điểm NVL
Nhưng nhược điểm là độ chính xác không cao, tăng khối lượng công việctính toán đặc biệt là vào cuối kì, gây ảnh hưởng đến công tác quyết toán nóichung, vì phương pháp này không tính đến sự biến động giá cả NVL trong kỳ
Do vậy, chúng chỉ thích hợp với các DN có ít danh điểm NVL
- Đơn giá bình quân cuối kỳ trước (hoặc đầu ký này)n giá bình quân c k d tr :ả kỳ dự trữ: ỳ trước (hoặc đầu ký này) ự trữ: ữ:
Đơn giá bình
quân cả kỳ dự trữ =
Giá thực tế NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Số lượng thực tế NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Phương pháp này đơn giản, dễ làm, không phụ thuộc vào mỗi lần nhập, xuấtcủa từng danh điểm NVL và thích hợp với những doanh nghiệp có ít danhđiểm NVL nhưng số lần nhập, xuất của mỗi danh điểm nhiều
Tuy vậy, do công việc tính giá dồn vào cuối kỳ nên việc cung cấpthông tin không đảm bảo tính kịp thời và độ chính xác không cao Đồng thời
sử dụng phương pháp này cũng phải tiến hành tính giá theo từng danh điểmNVL nên khối lượng công việc lớn
- Đơn giá bình quân sau mỗi lần nhập
Sau mỗi lần nhập, kế toán phải xác định giá bình quân của từng danhđiểm NVL Căn cứ vào giá bình quân và lượng NVL xuất kho giữa hai lầnnhập kế tiếp để kế toán xác định giá thực tế NVL xuất kho Phương pháp này
Trang 21khắc phục được nhược điểm của phương pháp trên, là việc tính giá NVL xuất
kho rất kịp thời và chính xác Nhưng nó cũng có nhược điểm là tốn nhiều
công sức, do khối lượng công việc tính toán nhiều và phải tiến hành tính giátheo từng danh điểm NVL Vì vậy phương pháp này chỉ sử dụng được ởnhững doanh nghiệp có ít danh điểm NVL và số lần nhập phát sinh trong kỳhạch toán của mỗi danh điểm NVL không nhiều
Phươn giá bình quân cuối kỳ trước (hoặc đầu ký này)ng pháp n y ày) được xác định theo công thức:c xác định theo công thức:nh theo công th c:ức:
Đơn giá bình quân
sau mỗi lần nhập =
Giá thực tế từng loại NVL sau mỗi lần nhập
Số lượng thực tế từng loại NVL sau mỗi lần
nhập
* Phương pháp tính theo giá nhập trước xuất trước (FIFO)
Theo phương pháp này ta phải xác định được đơn giá thực tế nhập khocủa từng lần nhập và giả thiết tài sản nào nhập trước thì xuất trước, hàng nàonhập sau thì xuất sau Sau đó căn cứ vào số lượng xuất kho để tính ra giá thực
tế xuất kho theo nguyên tắc: tính theo đơn giá thực tế nhập trước đối vớilượng xuất kho đối với lần nhập trước, số còn lại được tính theo đơn giá thực
tế lần nhập tiếp theo Như vậy, giá thực tế của NVL tồn cuối kỳ chính là giáthực tế của NVL nhập kho thuộc các lần mua vào sau cùng
Điều kiện áp dụng:
- Chỉ dùng phương pháp này để theo dõi chi tiết về số lượng và đơn giácủa từng lần nhập - xuất kho
* Phương pháp tính theo giá nhập sau xuất trước (LIFO)
Theo phương pháp này những NVL nhập kho sau thì xuất trước và khitính toán mua thực tế của NVL xuất kho theo nguyên tắc: tính theo đơn giá
Trang 22lần nhập đầu kỳ.
* Phương pháp tính theo giá hạch toán
Do NVL có nhiều loại, thường tăng giảm trong quá trình sản xuất mà
yêu cầu của công tác kế toán NVL phải phản ánh kịp thời tình hình biến động
và số liệu có của NVL nên trong công tác hạch toán NVL có thể sử dụng giáhạch toán để hạch toán tình hình nhập xuất NVL hàng ngày
Khi áp dụng phương pháp này toàn bộ NVL biến động trong kỳ đượctính theo giá hạch toán (giá kế toán hay một loại giá ổn định trong kỳ) Hàngngày kế toán sử dụng giá hạch toán để ghi sổ chi tiết giá trị NVL nhập xuất.Cuối kỳ phải tính toán để xác định giá trị NVL xuất dùng trong kỳ theo cácđối tượng theo giá mua thực tế bằng cách xác định hệ số giá giữa giá muathực tế và giá mua hạch toán của NVL luân chuyển trong kỳ
- Trước (hoặc đầu ký này)c h t ph i xác ết phải xác định hệ số giữa thực tế và giá hạch toán của ả kỳ dự trữ: định theo công thức:nh h s gi a th c t v giá h ch toán c aệ số giữa thực tế và giá hạch toán của ối kỳ trước (hoặc đầu ký này) ữ: ự trữ: ết phải xác định hệ số giữa thực tế và giá hạch toán của ày) ạch toán của ủa
v t li uật liệu ệ số giữa thực tế và giá hạch toán của
Hệ số giá =
Giá thực tế NVL tồn đầu kỳ +
Tổng giá thực tế NVL nhập trong kỳ Giá NVL tồn đầu
kỳ hạch toán +
Tổng giá hạch toán NVL nhập trong kỳ
- Sau ó tính giá th c t c a h ng xu t kho trong k , c n c v o giáđ ự trữ: ết phải xác định hệ số giữa thực tế và giá hạch toán của ủa ày) ất kho trong kỳ, căn cứ vào giá ỳ trước (hoặc đầu ký này) ăn cứ vào giá ức: ày)
h ch toán xu t kho v h s giá.ạch toán của ất kho trong kỳ, căn cứ vào giá ày) ệ số giữa thực tế và giá hạch toán của ối kỳ trước (hoặc đầu ký này)
Giá thực tế NVL
xuất kho trong kỳ =
Giá hạch toán NVL xuất kho trong kỳ x Hệ số giá
Phương pháp này sử dụng trong điều kiện:
- Doanh nghiệp dùng hai loại giá thực tế và giá hạch toán
- Doanh nghiệp không theo dõi được về số lượng NVL
- Tính theo loại nhóm vật liệu
3 Phân loại nguyên vật liệu:
Trang 23Trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sử dụng nhiều loại, thứ nguyên vậtliệu có vai trò, chức năng và có đặc tính lí hóa khác nhau Để tiến hành côngtác quản lý và hạch toán nguyên vật liệu có hiệu quả thì cần phải phân loạinguyên vật liệu Phân loại nguyên vật liệu là căn cứ vào vai trò các tiêu thứcnhất định để chia nguyên vật liệu sử dụng trong doanh nghiệp thành từng loại,từng thứ, từng nhóm.
3.1: Phân loại NVL theo công dụng :
Trong thực tế quản lý và hạch toán NVL ở các doanh nghiệp, đặc trưng thôngdụng nhất để phân loại vật liệu và vai trò, tác dụng của NVL trong sản xuất vàyêu cầu quản lý theo đặc trưng này NVL được chia thành các loại sau:
- Nguyên vật liệu chính: ( bao gồm cả nửa thành phẩm mua
ngoài) Là những đối tượng lao động chủ yếu mà sau quá trình gia công, chếbiến cấu thành thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm như: xi măng, sắt théptrong xây dựng cơ bản NVL chính dùng vào sản xuất sản phẩm hình thànhnên chi phí NVL trực tiếp
- Nguyên vật liệu phụ: Cũng là đối tượng lao động, nhưng khi
tham gia vào quá trình sản xuất không cấu thành nên thực thể của sản phẩm
mà được sử dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để làm tăng chất lượngsản phẩm
- Nhiên liệu: Về thực chất nhiên liệu là một loại nguyên vật liệu phụ nhưng nó được tách ra thành một loại vật liệu riêng biệt Nó là những vật
liệu được sử dụng để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, kinh doanhnhư phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị hoạt động trong quá trình sản xuất.Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể rắn, lỏng hoặc khí như: xăng dầu chạy máy,than củi, khí đốt
- Phụ tùng thay thế: Là những vật tư dùng để thay thế, sửa chữa,
Trang 24- VL và thiết bị xây dựng cơ bản: Là thiết bị ( cần lắp và không
cần lắp, vật kết cấu, công cụ ) bao gồm các loại vật liệu và thiết bị phươngtiện lắp đặt vào các công trình xây dựng cơ bản của doanh nghiệp
- Phế liệu: Là những loại nguyên vật liệu thu được trong quá
trình sản xuất, thanh lý tài sản có thể sử dụng hay bán ra ngoài
- VL khác: Là các loại vật liệu còn được xem xét vào các loại kể
trên như bao bì, vật đóng gói, loại vật tư đặc trưng
3.2: Phân loại theo nguồn hình thành:
Ngoài cách phân loại phổ biến trên các doanh nghiệp có thể phân loại vật liệutheo nhiều cách khác Mỗi cách đều có ý nghĩa riêng và phục vụ các yêu cầuquản lý khac nhau Phân loại theo nguồn hình thành được chia thành nhữngloại sau:
- Nguyên vật liệu do DN tự sản xuất
- Nguyên vật liệu mua ngoài
- Nguyên vật liệu từ các nguồn khác như: Nhận cấp phát, gópvốn liên doanh, biếu, tặng thưởng
Tùy theo từng doanh nghiệp, cách quản lý mà doanh nghiệp lựa chọn nhữngcách phân loại khác nhau nhằm đánh giá được hiệu quả sử dụng vật liệu trongsản xuất
II.Hạch toán chi tiết NVL tại công ty CP Xi Măng Bỉm Sơn
1 Chứng từ sử dụng:
Để đáp ứng nhu cầu quản lý doanh nghiệp, kế toán chi tiết NVLphải được thực hiện theo từng kho, từng loại, nhóm NVL và được tiến hànhđồng thời ở kho và phòng kế toán trên cùng một cơ sở chứng từ
Theo chế độ chứng từ kế toán quy định vận hành theo Quyết định số15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính,các chứng từ kế toán vật liệu công ty sử dụng bao gồm:
- Phiếu nhập kho (Mẫu số 01- VT)
Trang 25- Phiếu xuất kho (Mẫu số 02 – VT)
- Biên bản kiểm nghiệm (Mẫu số 03 – VT)
- Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ (Mẫu số 04 – VT)
- Biên bản kiểm kê vật tư (Mẫu số 05 – VT)
- Bảng kê mua hàng (Mẫu số 06 – VT)
- Bảng phân bổ NVL (Mẫu số 07 – VT)
- Chứng từ, hoá đơn thuế GTGT (Mẫu 01 – GTGT – 3LL)
2.Thủ tục nhập,xuất kho:
* Thủ tục nhập kho nguyên vật liệu
Theo quy định, tất cả các nguyên vật liệu khi về đến công ty đều phải làm thủtục kiểm nhận và nhập vào kho của công ty Tại công ty xi măng Bỉm Sơn,khi nguyên vật liệu được giao đến, cán bộ phòng TN - KCS kiểm tra về sốlượng, chất lượng, quy cách nguyên vật liệu rồi viết phiếu kiểm tra phân tíchKCS, biên bản kiểm nghiệm
Phiếu phân tích kết quả sử dụng để phân tích chất lượng của cácnguyên vật liệu chính là thành phần cấu tạo nên thành phẩm của công ty, cácnguyên vật liệu này được quy định chặt chẽ về hàm lượng các chất trongnguyên vật liệu phải phù hợp với yêu cầu kỹ thuật Ví dụ như: Phiến silic,thạch cao, quặng, xỷ pirit, đá bazan Đối với các nguyên vật liệu này công tyyêu cầu phân tích thành phần cấu tạo hoá học một cách nghiêm ngặt trước khitiến hành nhập kho và chấp nhận thanh toán Còn các nguyên vật liệu kháckhông ảnh hưởng tới việc cấu thành nên thực thể sản phẩm, bằng trực quan cóthể xác định chất lượng của chúng, công ty chỉ tiến hành làm thủ tục kiểmnghiệm và nhập kho ngay sau khi có sự đồng ý của hội đồng kiểm nghiệm
Một hội đồng kiểm nghiệm bao gồm:
Trang 26- Một nhân viên kế toán đại diện cho phòng KT-TK-TC.
- Một thủ kho của kho vật tư
Hội đồng căn cứ vào:
- Hợp đồng kinh tế
- Hoá đơn GTGT
- Phiếu báo kết quả phân tích (nếu cần)
Sau khi kiểm tra các chứng từ, đối chiếu với nguyên vật liệu nhập trên thực tếthông qua một số phương pháp nhất định như: cân, đo, đong, đếm màkhông có sự sai lệch giữa chứng từ và thực tế, tiến hành viết biên bản kiểmnghiệm, các bên tham gia kiểm nghiệm ký tên vào biên bản Biên bản này lậpthành 3 liên
- 1 liên lưu theo phiếu nhập kho để làm cơ sở thanh toán
- 1 liên lưu ở phòng cơ khí hoặc các bên có liên quan
- 1 liên giao cho khách hàng
* Thủ tục xuất kho nguyên vật liệu:
Kế toán căn cứ vào nhu cầu của vật tư đơn vị lập, nhu cầu này đã đượcvăn phòng cơ khí hay văn phòng năng lượng duyệt theo yêu cầu thực tế củasản xuất, hoặc giám đốc duyệt, nhằm theo dõi chặt chẽ số lượng vật tư sảnphẩm hàng hoá xuất kho cho các bộ phận sử dụng trong công ty, làm căn cứ
để hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm và kiểm tra việc sửdụng, thực hiện định mức tiêu hao vật tư
Phiếu xuất kho vật tư được lập cho một hoặc nhiều thứ vật tư cùng mộtkho hoặc cùng một mục đích sử dụng, khi lập phiếu, phiếu xuất kho phải ghi
rõ họ tên, địa chỉ của đơn vị, số và ngày, tháng lập phiếu, lý do sử dụng vàkho xuất vật tư
Phiếu xuất kho được lập thành 3 viết trên máy vi tính Sau khi lậpphiếu xuất kho xong phụ trách đơn vị sử dụng, chủ nhiệm tổng kho ký (ghi rõ
họ tên) giao cho người đi lĩnh vật tư xuống kho để nhận vật tư, sau khi xuấtkho thủ kho ghi vào cột hai số lượng thực xuất của từng thứ, ghi ngày